1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế biến đổi khí hậu

73 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đó là những ước lượng thận trọng của ấm nóng kỳ vọng, vì trong việc vắng mặt chính sách khí hiệu hiệu quả, những thay đổi về sử dụng đất và tăng trưởng dân số và tiêu thụ năng

Trang 1

BỘ MÔN KINH TẾ

*****

BÀI GIẢNG KINH TẾ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

(Lưu hành nội bộ)

Biên soạn: Bùi Thị Thu Hòa

Hà Nội, 2015

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Error! Bookmark not defined.

A BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 4

1.1 Giới thiệu 4

1.2 Khí hậu trái đất đang thay đổi 5

1.3 Sự liên kết giữa khí nhà kính và nhiệt độ 7

1.4 Các giải phóng hiện tại 8

1.5 Những thay đổi quy mô lớn và tác động vùng 10

B- BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 10

CHƯƠNG 2- KINH TẾ, ĐẠO ĐỨC VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 12

1 Thất bại thị trường, dẫn đến biến đổi khí hậu 12

2 Đạo đức, phúc lợi và chính sách kinh tế 12

3 Những tác động dài hạn của biến đổi khí hậu: đánh giá theo thời gian và chiết khấu 13

4 Rủi ro và bất định 14

5 Những quyết định chính sách phi cận biên 14

6 Chính sách công khuyến khích giảm thiểu 15

CHƯƠNG 3 – TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 17

A GIỚI THIỆU 17

B BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: QUAN SÁT VÀ DỰ BÁO Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 17

C- Tác động biến đổi khí hậu: quan sát và dự báo 23

Tài nguyên nước 23

Nông nghiệp 27

Lâm nghiệp 29

Sức khỏe 30

CHƯƠNG 4 KINH TẾ HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 31

1 Các tài nguyên chung và quyền sở hữu 31

2 Các đánh-đổi kinh tế 33

Trang 3

2.3 Đối phó với bất định 34

3 Những vấn đề phân phối 35

3.1 Các vấn đề giữa các thế hệ 35

3.2 Mối quan tâm trong và giữa các quốc gia 36

3.3 Tính toán phương pháp đánh giá tổng hợp 37

CHƯƠNG 5 – VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 38 1 Thuế carbon và mua bán xả thải 38

2 Trên cả cạnh tranh hoàn hảo 42

2.1 Tính bất định 42

2.2 Quyền lực thị trường 42

2.3 Thay đổi công nghệ 43

2.4 Tăng trưởng kinh tế 43

3 Tạo nguồn thu 44

4 Thiết kế thuế carbon và chương trình mua bán phát thải cho biến đổi khí hậu 44

CHƯƠNG 6 - ỨNG DỤNG TIẾP CẬN TỐI ƯU HÓA ĐỘNG CHO CHÍNH SÁCH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 46

1 Phương pháp Lagrange 47

2 Tiếp cận quy hoạch động 52

CHƯƠNG 7: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ VẤN ĐỀ TỔN THƯƠNG 62

1 Đánh giá tác động và tính tổn thương 62

1.1 Sự phát triển và phổ biến của các công cụ và phương pháp 62

1.2 Cung cấp số liệu và thông tin: Từ các quan sát và kịch bản 63

1.3 Đánh giá tác động khí hậu và tính dễ tổn thương 64

2 Kế hoạch thích ứng 65

3 Thực hiện các hành động thích ứng theo mục tiêu 65

4 Đánh giá sự can thiệp thích ứng 66

CHƯƠNG 8 PHỐI HỢP QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH KHÍ HẬU 67

1 Chính sách quốc tế 67

2 Các thể chế quốc tế đề cập tới biến đổi khí hậu 68

Nghị định Kyoto 68

Các thương lượng kế theo 68

Trang 4

3 Các hành động của Hoa kỳ 69

4 Các tiếp cận khác 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Kinh tế biến đổi khí hậu được cho là mũi nhọn bởi khoa học Điều đó là những gì chỉ ra cấu trúc phân tích kinh tế và chính sách, từ đó chúng ta bắt đầu với khoa học Thay đổi khí hậu

do con người là do xả thauri khí CO2 và khí nhà kính (GHGs) bị tích lũy trong không khí hơn 100 năm nay

Bằng chứng khoa học chỉ ra rằng thay đổi khí hậu là nghiêm trọng và là vấn đề nghiêm trọng Nó chỉ dẫn hành động mạnh mẽ để làm giảm phát thải khí nhà kính trên toàn thế giới nhằm giảm rủi ro những tác động tiềm ẩn nguy hiểm và không thể đảo ngược được đến hệ sinh thái, xã hội và kinh tế Trong chương này, người đọc sẽ có cách nhìn nhận rõ hơn cơ chế gây ra biến đổi khí hậu, cũng như các kịch bản biến đổi khí hậu trên thế giới và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt nam

A BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

Chương này bắt đầu bằng việc mô tả những thay đổi được quan sát trong hệ thống Trái đất, kiểm tra ngắn gọn tranh luận giữa thẩm quyền của những thay đổi do hoạt động của con người Đó là một tranh luận, sau hơn một thế kỷ nghiên cứu và thảo luận, đã đi đến k ết luận rằng không có lời giải thích hợp lý cho hiện tượng ấm nóng được quan sát ít nhất trong 50 năm qua Câu hỏi chính xác là thế giới sẽ ấm nóng lên bao nhiêu trong tương lai vẫn là vùng còn đang nghiên cứu Báo cáo đánh giá thứ ba (TAR) về Biến đổi khí hậu Ban Hội thẩm liên hợp quốc ((IPCC) năm 2001 là đánh giá toàn diện cuối cùng về hiện trạng khoa học Chương này dùng báo cáo 2001 như là cơ sở và xây dựng nên với nhiều nghiên cứu gần đây, thể hiện

xử lý rõ ràng rủi ro Những nghiên cứu này hỗ trợ cho kết luận của báo cáo nhưng tập trung vào xác suất khá lớn rằng độ nhạy của khí hậu đến khí nhà kính lớn hơn so với họ nghĩ trước đây Những nhà khoa học cũng bắt đầu để lượng hóa những tác động phản hồi với vòng quay

đất như thế nào Những loại phản hồi được dự đoán mở rộng ấm nóng nhưng không được t

Trang 6

ính trong mô hình khí hậu cho đến nay Phần cuối cùng mô tả khoa học cơ bản thể hiện gì về

ấm nóng sẽ tác động đến con người trên thế giới như thế nào

1.2 Khí hậu trái đất đang thay đổi

Một minh chứng thuyết phục là các mức khí nhà kính gia tăng sẽ làm ấm nóng khí hậu thông qua tăng lượng lưu trữ tia hồng ngoại: tác động nhà kính” (hình 1.2) Nhìn chung, tác động

ấm nóng cũng do khí nhà kính phát ra bởi các hoạt động con người tương đương 430 ppm CO2 (sau đó, CO2 tương đương CO2e)(hình 1.1) và tăng khoảng 2.3ppm /năm Các mức khí nhà kính hiện tại cao hơn so với bất cứ thời điểm nào ít nhất trong vòng 650.000 năm trước đây

Hình 1.1 Các mức tăng của khí nhà kính

Hình 1.1 thể hiện tình trạng ấm nóng tác động của khí nhà kính dưới dạng tập trung tương đương của CO2 (khối lượng biết như là tương đương CO2) Đường xanh chỉ thể hiện giá trị CO2 Đường đỏ thể hiện giá trị của 6 khí nhà kính theo Kyoto (CO2, CH4,

đường này lên đến 10% Tỷ lệ tăng mức khí nhà kính là biến đổi hàng năm nhưng tăng dần

Trang 7

Hình 1.2- Tác động nhà kính

kỷ, nhiệt độ trung bình toàn cầu gần như đạt hoặc gầm mức ấm nhất trong thời kỳ băng hà, bắt đầu khoảng 12,000 năm trước đây Tất cả 10 năm ấm nhất được ghi lại được xảy ra kể từ năm 1990 Dấu hiệu đầu tiên của những thay đổi này có thể được thấy ở nhiều hệ thống vật

lý và sinh học, ví dụ nhiều loài đã di chuyển hướng về địa cực trung bình 6km trong từng thập kỷ trong 30 – 40 năm vừa qua Dấu hiệu khác là những sự kiện mùa vụ thay đổi như là mùa nở hoa hoặc đẻ trứng, thường sớm hơn 2-3 ngày mỗi thập kỷ ở nhiều vùng có nhiệt độ Bắc Bán cầu

Hình 1.3 Trái đất ấm lên 0.7 0 C kể từ 1900

Hình dưới đây thể hiện thay đổi nhiệt độ trung bình toàn cầu từ 1850 đến 2005 Trung bình hàng năm được thể hiện như cột đỏ và đường xanh có xu hướng phẳng Nhiệt độ được chỉ ra liên quan đến mức trung bình trong khoảng từ 1861 – 1900

Trang 8

IPCC đã kết luận rằng trong năm 2001 có minh chứng mới và mạnh hơn rằng hầu hết các hiện tượng ấm nóng quan sát được trong ít nhất 50 năm qua có thể quy cho là các hoạt động con người Tự tin của họ được dựa trên vài thập kỷ về tranh luận và nỗ lực nghiên cứu cẩn thận chi tiết minh chứng và để điều tra rộng rãi các giả thiết

1.3 Sự liên kết giữa khí nhà kính và nhiệt độ

nó có Nếu không có tác động này, Trái đất sẽ rất lạnh cho sự duy trì sự sống Hiểu biết hiện nay về tác động nhà kính có gốc rễ của nó trong việc tính toán đơn giản ở thế kỷ 19 bởi các nhà khoa học như là Fourier, Tyndall and Arrhenius Những nghiên cứu đi trước những năm

1820 cho rằng khí quyển có thể thấm qua được nhiều hơn đến tia mặt trời hơn là ra khỏi tia hồng ngoại và do đó giữ được sức nóng.30 năm sau, Tyndall xác định các loại phân tử (được biết như là khí nhà kính), chủ yếu là CO2 và hơi nước, tạo nên tác động giữ độ nóng Arrhenius lấy điều này như là bước tiếp theo để chỉ ra rằng gấp đôi lượng tập trung CO2 trong không khí sẽ dẫn đến những thay đổi đáng kể nhiệt độ bề mặt

Gia tăng nhiệt độ và những thay đổi kiểu mưa được cho là làm giảm khả năng chưa tự nhiên

Trang 9

lượng Những mô hình mới gồm tương tác giữa các bể chứa cacbon và khí hậu, cho rằng vào năm 2100, nồng độ khí nhà kính sẽ là 20-200 ppm cao hơn, họ sẽ có cách khác, gia tăng mức

ấm nóng lên 0,1-1,5°C Một số mô hình dự đoán giảm trong tương lai tại khu rừng mưa nhiệt đới, đặc biệt là Amazon, cũng xả thải nhiều carbon hơn khí quyển Chương 8 thảo luận hàm ý của các bể chứa cacbon yếu để ổn định nồng độ khí nhà kính

Hiện tượng tan băng trên diện rộng của các vùng đất đóng băng được đưa thêm vào gia tăng

ấm nóng gây ra bởi sự suy yếu của bồn hấp thụ cácbon Lượng lớn khí mêtan (và CO2) có thể được xả ra từ tan băng vĩnh cửu và đầm lầy than bùn đông lạnh Ví dụ, ước tính, nếu tất

cả lượng carbon được tích lũy chỉ riêng trong than bùn từ thời kỳ băng hà cuối cùng đã được

xả thải vào khí quyển, điều này sẽ làm tăng khí thải nhà kính lên mức 200 ppm CO2e Lượng

xả thải bổ sung có thể thấy từ ấm nóng vùng đầm lầy nhiệt đới, nhưng điều này không chắc chắn nhiều Hơn nữa, vùng đất ngập nước và vùng đất lạnh lưu trữ nhiều carbon hơn đã xả thải bởi các hoạt động của con người kể từ khi bắt đầu công nghiệp hóa Một phần đáng kể lớp băng vĩnh cửu ở một số khu vực đã bắt đầu phát thải khí methane tăng 60% ở miền bắc Siberia kể từ giữa những năm 1970s Các nghiên cứu về quy mô tổng thể và thời gian của tương lai rất hiếm, nhưng ước tính ban đầu cho thấy phát thải khí metan (hiện nay chiếm 15% tất cả các khí thải tương ứng với CO2) có thể tăng khoảng 50% vào năm 2100 (Hộp 1.3)

Vẫn có nhiều câu hỏi chưa được trả lời về phản hồi tích cực giữa khí quyển, đất và đại dương Tác động kết nối về độ nhạy khí hậu cao và vòng phản hồi carbon chỉ bắt đầu được thể hiện nhưng những chỉ dẫn đầu tiên là điều này có thể dẫn đến gia tăng nhiệt độ cao hơn

so với tác động giao động mà sẽ dẫn đến gia tăng nhiệt độ cao hơn hoặc thậm chí bỏ qua ấm nóng hoặc nếu để lượng hóa những tác động kết hợp của những loại phản hồi này

1.4 Các giải phóng hiện tại

Ấm nóng gia tăng rõ ràng do phát thải trong quá khứ và hiện tại

Ảnh hưởng ấm nóng toàn bộ của xả thải quá khứ được hiện thực Những quan sát cho thấy rằng đại dương chiếm khoảng 84% tổng sức nóng của hệ thống Mặt trời trong vòng 40 năm qua Nếu xả thải toàn cầu bị dừng ngày hôm nay, một số sức nóng này sẽ được chuyển đổi cùng khí quyển như là hệ thống quay lại cân bằng, nguyên nhân do ấm nóng gia tăng này Các mô hình khí hậu này được dự đoán ấm nóng lên 0,5 ° - 1 °C trong vài thập kỷ tới do khí thải trong quá khứ Ấm nóng lên này nhỏ hơn so với ấm nóng theo dự kiến nếu nồng độ được ổn định ở mức 430 ppm CO2e ,vì aerosol trong khí quyển một phần của ấm nóng hiện

Trang 10

nay tác động khí nhà kính Aerosol trong bầu khí quyển chỉ còn một vài tuần và hiện không được kỳ vòng ở mức ổn định đáng kể

Nếu mức xả thải hàng năm được tiếp tục tại mức hôm nay, mức khí nhà kính sẽ gần gấp đôi mức tiền công nghiệp đến giữa thế kỷ này Nếu nồng độ này được ổn định, nhiệt độ bị giải phóng ra đến mức 2-5 0 C hoặc thậm chí cao hơn

Raper (2001)), Hadley Centre (Murphy et al 2004) và khoảng trên tất cả 11 nghiên cứu

Chú ý rằng những nhiệt độ làm thay đổi cân bằng được kỳ vọng trước, ví dụ năm 2100 sẽ thấp hơn

Tuy nhiên, đó là những ước lượng thận trọng của ấm nóng kỳ vọng, vì trong việc vắng mặt chính sách khí hiệu hiệu quả, những thay đổi về sử dụng đất và tăng trưởng dân số và tiêu thụ năng lượng trên thế giời sẽ làm cho phát thải khí nhà kính cao hơn so với ngày hôm nay Điều này sẽ dẫn đến mức khí nhà kính đạt được ở mức cao hơn so với mức đã đề xuất ở trên Các dự án IPCC mà không có sự can thiệp của các mức khí nhà kính sẽ tăng từ 550-700ppm CO2e đến năm 2050 và 650 -1200 ppm CO2e đến năm 2100 Những kế hoạch được thảo luận ở chương 7, kết luận rằng không có giảm thiểu, mức khí nhà kính hầu như hướng đến

Trang 11

mức tiền công nghiệp, Trái đất sẽ được cam kết ấm nóng khoảng 3-100C hoặc hơn, thậm chí không có xét đến rủi ro của phản hồi tích cực (bảng 1.1)

1.5 Những thay đổi quy mô lớn và tác động vùng

Chương này cho đến nay chỉ xét đến những thay đổi kỳ vọng về nhiệt độ bề mặt trung bình Tuy nhiên, điều này thường có thể cả sự thay đổi về tính biến thiên thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất và những thay đổi cực đoan Hơn thế, những tác động đến con người chủ yếu thông qua nước, bị thay đổi bởi việc dịch chuyển kiểu thời tiết theo vùng miền, đặc biệt là lượng mưa và các sự kiện cực đoan (xem chi tiết phần II)

 Nhìn chung, những vùng lục địa và vĩ độ cao hơn sẽ tăng nhiệt độ đặc biệt cao hơn so

với mức trung bình toàn cầu

 Những thay đổi trong kiểu mưa và các sự kiện thời tiết cực đoan sẽ dẫn đến một số

tác động nghiêm trọng đến con người hơn là chỉ do ấm nóng

Lượng bốc hơi và mưa lớn hơn sẽ làm tăng rủi ro hạn hán và gập lụt ở những vùng dễ bị rủi

ro Điều này cũng làm tăng quy mô của vùng rủi ro; một nghiên cứu gần đây, đầu tiên ước lượng phần đất bị hạn ở mức trung bình ở bất cứ thời gian nào sẽ làm tăng từ 25% hiện tại đến 50% đến năm 2090s, phần hạn hán cực đoạn từ 3% đến 30%

Bão mạnh và các cơn bão khác có khả năng để trở nên mạnh hơn ở vùng ấm hơn, mãnh liệt hơn, do chu trình nước tăng cường , nhưng vị trí của chúng và phần còn lại vẫn chưa chắc chắn Ngày càng nhiều bằng chứng cho rằng gia tăng các cơn bão nghiêm trọng đã xảy ra, bất kỳ chu kỳ mười ngày Nghiên cứu gần đây cho thấy tần số của các cơn bão mạnh và bão lớn ( cấp 4 và 5 ) ở khuvực Đại Tây Dương đã tăng lên gấp đôi kể từ năm 1970 do tăng nhiệt

độ nước biển Điều này vẫn còn là phần thảo luận của khu vực nghiên cứu Ở vĩ độ cao hơn, một số mô hình cho thấy một sự thay đổi nói chung của các cơn bão mùa đông theo dõi về phía cực Ở Úc, có thể dẫn đến khan hiếm nước vì quốc gia này dựa trên những cơn bão mùa đông để cung cấp nước

B- BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức phát triển quan trọng nhất của khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ 21, gồm 11 quốc gia, khu vực được coi là dễ bị tổn thương nhất thế giới bởi biến đổi khí hậu Với dân số 563.1 triệu dân, tốc độ tăng trưởng dân số hàng năm là 2%,

so với trung bình toàn cầu là 1.4% Nơi có bờ biển dài, mức độ tập trung dân cư đông và hoạt động kinh tế ở khu vực bờ biển, nông nghiệp là ngành cung cấp sinh kế chính, đặc biệt

là những người ở mức hoặc dưới sự nghèo đói- nhiều quốc gia phụ thuộc vào nguồn tài

Trang 12

nguyên thiên nhiên và tài nguyên rừng Như là một khu vực năng động nhất thế giới, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong vài thập kỷ quả đã giúp hàng triệu người thoát khỏi nghèo đói cùng cực Nhưng tỷ lệ nghèo đói từ thu nhập và phi thu nhập ở nhiều nước vẫn còn cao,

và việc đạt tới các Mục tiêu Phát triển Thiên niên Kỷ (MDGs) vẫn là nhiệm vụ khó khăn Biến đổi khí hậu, nếu không được giải quyết thích đáng, có thể cản trở nghiêm trọng đến phát triển bền vững và nỗ lực xóa đói giảm nghèo của khu vực

Biến đổi khí hậu đang tác động đến khu vực IPCC (2007) báo cáo xu hướng gia tăng về nhiệt độ trung bình ở khu vực Đông Nam Á (SE) trong vòng vài thế kỷ qua tăng khoảng 0.1-

mực nước biển tăng (với tỷ lệ 1-3 mm/năm), và tần suất hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng: lượng mưa tăng đáng kể 1900-2005; và số lượng của các cơn bão nhiệt đới tăng trong thời gian 1990- 2003 Những thay đổi khí hậu đã dẫn đến lũ lụt, lở đất và hạn hán xảy ở nhiều nơi trong khu vực, gây thiệt hại lớn về tài sản, cuộc sống con người Biến đổi khí hậu cũng ngày làm trầm trọng tình trạng thiếu nước ở nhiều khu vực, hạn chế sản xuất nông nghiệp và đe dọa an ninh lương thực, gây cháy và suy thoái rừng, gây thiệt hại tài nguyên ven biển, và gia tăng nguy cơ bùng phát

bệnh truyền nhiễm

Đông Nam Á cũng giống như bất kỳ khu vực đang phát triển khác, cần phải thực hiện các hành động khẩn cấp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, xây dựng khả năng phục hồi, và giảm thiểu chi phí các tác động không thể tránh khỏi phát thải khí nhà kính đã có trong hệ thống khí hậu

Trang 13

CHƯƠNG 2- KINH TẾ, ĐẠO ĐỨC VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1 Thất bại thị trường, dẫn đến biến đổi khí hậu

Nhìn chung với nhiều vấn đề môi trường khác, biến đổi khí hậu do con người tại mức ngoại ứng căn bản nhất Những người tạo ra phát thải khí nhà kính đang làm thay đổi khí hậu, do

đó làm tăng chi phí cho thế giới và những thế hệ tương lai, nhưng chúng không đối mặt một cách trực tiếp, hoặc là thông qua thị trường hoặc theo cách khác, dẫn đến hậu quả toàn cục là chi phí của hành động của họ

Nhiều hành động kinh tế gồm khí nhà kính (GHGs) Do GHGs tích tụ trong khí quyển, nhiệt

độ tăng và thay đổi thời tiết dẫn đến tính thêm chi phí (và một số lợi ích) cho xã hội Tuy nhiên, chi phí toàn bộ của phát thải GHG, dưới góc độ biến đổi khí hậu, không ngay tức khắc- thậm chí chúng hầy như chưa từng như vậy – tạo ra bởi những người phát thải, vì thế chúng đối mặt ít hoặc không có động cơ kinh tế để làm giảm phát thải Tương tự như vậy, những người phát thải không phải đền bù cho những người mất mát bởi biến đổi khí hậu Theo nghĩa này, biến đổi khí hậy do con người là một ngoại ứng, điều mà không được làm đúng lại’ thông qua thị trường hoặc thể chế, ngoại trừ sự can thiệp chính sách

Khí hậu là hàng hóa công cộng: những người không thanh toán có thể không bị loại trừ khỏi việc hưởng lợi ích của nó và một sự ưa thích của người này về khí hậu không làm giảm khả năng của người khác cũng ưa thích nó Các thị trường không cung cấp tự động loại quyền và

số lượng hàng hóa công cộng vì khi vắng mặt chính sách công cộng, thì bị hạn chế hoặc không quay ngược lại đến người đầu tư tư nhân cho việc làm như vậy: trong trường hợp này, các thị trường của hàng hóa và dịch vụ liên quan (năng lượng, sử dụng đất, cải tiến, ) không phản ánh hậu quả của tiêu dùng khác nhau và lựa chọn đầu tư cho khí hậu Do đó, sự thay đổi của khí hậu và một ví dụ về thất bại thị trường liên quan đến ngoại ứng và hàng hóa công cộng Với độ lớn và bản chất của những tác động đã cho được mô tả ban đầu trong phần đầu chương này và hướng đến phần II, III, thì nó có hàm ý sâu sắc cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Tất cả điều này, nó phải được xem xét như là thất bại thị trường ở quy mô lớn nhất

mà thế giới nhận thấy

2 Đạo đức, phúc lợi và chính sách kinh tế

Chương 1 chỉ ra những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là toàn cầu, liên thời gian và bất công bằng cao Tính bất công bằng của biến đổi khí hậu được kiểm tra hơn ở phần II Nhìn chung, những nước nghèo, người nghèo ở bất kỳ quốc gia nào, phải gánh chịu nhiều nhất, cho dù những quốc gia giào có trách nhiệm với phần lớn lượng khí thải trong quá khứ

Trang 14

Những đặc điểm của biến đổi khí hậu, cùng với thực tế là chúng có tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống con người, buộc chúng ta phải xem xét một cách cẩn thận các phán xét đạo đức và suy đoán mà củng cố, thường là ẩn ý, khung tiêu chuẩn của phân tích chính sách Thật vậy, điều này quan trọng để xem xét khoảng rộng hơn tranh luận đạo đức và khung hơn

là tiêu chuẩn trong kinh tế, cả hai vì có nhiều cách để xem xét chính sách đạo đức đến biến đổi khí hậu, và cũng như vậy, vì làm như vậy chúng ta có thể học được điều gì đó về làm thế nào áp dụng cách tiếp cận kinh tế chuẩn tắc hơn Có sự phát triển về đạo đức của biến đổi khí hậu trong học thuật: phân tích chính sách không thể tránh vật lộn trực tiếp với những vấn khó phát sinh Những khuôn khổ đạo đức được thảo luận chính thức hơn trong phụ lục chương này,thảo luận ở đây chỉ là mang tính tóm tắt

Đạo đức cơ bản của kinh tế học phúc lợi, làm nền tảng cho nhiều phân tích chuẩn tắc của chính sách công, tập trung vào những kết quả của chính sách cho việc tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của các cá nhân trong cộng đồng Những hàng hóa và dịch vụ này được tạo ra do lao động, tiết kiệm trong quá khứ, kiến thức và nguồn tài nguyên thiên nhiên Khía cạnh này xem các cá nhân như có ích , hoặc phúc lợi, phát sinh từ việc tiêu thụ này

3 Những tác động dài hạn của biến đổi khí hậu: đánh giá theo thời gian và chiết khấu

Cách tiếp cận ở đây tương tự để đánh giá tác động đến nhiều người hoặc quốc gia khác nhau,

và ở một số khía cạnh tiếp tục thảo luận về đạo đức trong phần trước Khi chúng ta thực hiện điều này một cách chính thức, dưới khía cạnh tổng các lợi ích tiêu dùng Một lần nữa là vấn

đề kiểm tra hàm phúc lợi xã hội cho mục đích này, nhưng với việc tổng hợp mọi người với thu nhập khác nhau tại thời điểm hiện tại, có thể dùng ‘tư tưởng thực nghiệm’ để hỗ trợ phần này

Một cách điển hình, trong việc ứng dụng lý thuyết kinh tế phúc lợi để đánh giá dự án và chính sách, một sự gia tăng về tiêu dùng tương lai có giá trị ít hơn so với sự gia tăng trong tiêu dùng hiện tại, bởi 2 lý do Lý do thứ nhất, nếu tiêu dùng gia tăng, trong tương lai mọi người thích khấm khá hơn so với hiện tại và một đơn vị tiêu dùng gia tăng nhìn chung có giá trị ít hơn, mọi người giàu có hơn Thứ hai, đôi khi có gợi ý rằng mọi người thích có hàng hóa tốt sớm hơn là để sau – ‘ ưa thích theo thời gian thuần túy’ – có lẽ được dựa trên một số phần đánh giá về những thay đổi sự sống thích tiêu dùng sau hơn và một số phần ‘không kiên nhẫn’

Trang 15

4 Rủi ro và bất định

Hiện nay, chúng ta không đưa ra sự khác biệt giữa rủi ro và bất định, nhưng sự khác biệt là quan trọng và chúng ta xem xét ở dưới đây Những tác động bất định thường gắn với chuỗi

từ phát thải khí GHGs thông qua những tác động Ví dụ, đó là những bất định kết hợp với tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế, với khối lượng phát thải với gia tăng nhiệt độ do từ phát thải, với các tác động của gia tăng nhiệt độ và vân vân Tương tự như vậy, đó đã những bất định kết hợp với phản ứng kinh tế đến những đo lường chính sách và do đó sẽ mất bao nhiêu chi phí để giảm phát thải khí GHG

Xử lý của chúng tôi về tính bất định theo cách tiếp cận tương tự như đánh giá hoặc tổng hợp giữa không gian và thời gian Chúng tôi đã đưa tính bất định một cách chính thức trong mô hình, chúng tôi thêm lợi ích cho các trạng thái có thể của thế giới có thể khi có biến đổi khí hậu,mức độ bởi xác suất của các trạng thái này Điều này thu được những gì được biết như là lợi ích ‘kỳ vọng’

Điều này quan trọng cho mở rộng cách tiếp cận lợi ích xã hội đến môi trường bất định hoặc

‘ngẫu nhiên’ Như trong mô trường chắc chắn hoặc ‘tất định’, nó có những khó khăn về đạo đức, nhưng nó có tính minh bạch, rõ ràng và kiên định Một lần nữa, nó là tiêu chuẩn trong kinh tế ứng dụng

Nền tảng của những xác suất này nên được cập nhật kiến thức từ khoa học và kinh tế Điều này liên quan đến tiếp cận xác suất ‘chủ quan’ Đó là phản ứng thực dụng đến thực tế nhiều tính bất định ‘đúng’ xung quanh chính sách biến đổi khí hậu không thể tự quan sát và định lượng một cách chính xác, ví dụ vì chúng có thể trong nhiều vấn đề kỹ thuật

5 Những quyết định chính sách phi cận biên

Những tác động của biến đổi khí hậu đến nền kinh tế và xã hội trên toàn thế giới có thể lớn đến nền kinh tế toàn cầu Đặc biệt, điều này không thể được giả định rằng nền kinh tế toàn cầu, chi phí ròng biến đổi khí hậu, sẽ tăng tại tỷ lệ nhất định trong tương lai, không kể những quốc gia theo lối ‘kinh doanh như thường lệ’ hoặc chọn cùng nhau giảm phát thải khí GHG Theo nghĩa này, quyết định này không phải là cận biên

Trang 16

Hình 2.3 Cách tiếp cận lý thuyết để so sánh đường tăng trưởng khác nhau dài hạn

Vấn đề này được giới thiệu theo sơ đồ hình 2.4, so sánh hai đường, một đường là giảm thiểu

và một đường không có giảm thiểu Chúng ta nên chú thích trong biểu đồ này là bất định quanh mỗi đường, nên được phân tích dùng những cách tiếp cận của phần trước Điều này quan trọng để phân tích nhiều trong Tổng quan Thu nhập trên ‘đường có giảm thiểu’ thấp hơn đường không có giảm thiểu (‘kinh doanh thông thường’) của giai đoạn trước đó, vì phát sinh chi phí giảm thiểu Sau đó, do những thiệt hại từ tích tụ biến đổi khí hậu, tăng trưởng trên ‘đường không có giảm thiểu’ sẽ thấp và thu nhập sẽ giảm dưới mức trên đường khác Phân tích của phần III nỗ lực nhằm định lượng những tác động và thấy rằng đường ‘xanh hơn’ (với giảm thiểu) cho phép tăng trưởng tiếp tục nhưng với đường không có giảm thiểu, thu nhập sẽ giảm Phân tích đòi hỏi so sánh chính thức giữa các đường và phần III chỉ ra rằng những mất mát từ giảm thiểu trong tương lai gần bị lấn át bởi phần thu được về sau trong thiệt hại được ngăn ngừa

6 Chính sách công khuyến khích giảm thiểu

Ngoại ứng đòi hỏi giá phát thải: đó là nhiệm vụ đầu tiên của chính sách giảm thiểu Yêu cầu đầu tiên do đó đưa ra các mức thuế hoặc giá cho GHGs Cách xử lý Pigou của điểm ngoại ứng đến các loại thuế dựa trên những thiệt hại cận biên do phát thải khí carbon Trong hình 2.1, thuế xấp chỉ nên bằng với chi phí carbon xã hội tại điểm nó bằng với chi phí giảm thiểu cận biên Với thuế này, người xả thải nên chọn mức giảm thiểu thích hợp

Tuy nhiên, lý thuyết hiện đại về rủi ro chỉ ra rằng các mục tiêu số lượng dài hạn có thể là hướng đi đúng cho chính sách, với việc trao đổi trong những mục tiêu này hoặc sửa đổi thuế thường xuyên để giữ hướng tới mục tiêu dài hạn Với bản chất dài hạn của nhiều quyết định

Trang 17

Nhiệm vụ thứ hai của chính sách giảm thiểu là khuyến khích nghiên cứu, phát triển và triển khai Tuy nhiên, chính sách định giá GHG nhiều thập kỷ trong tương lai có thể cản trở đầu tư trong việc giảm phát thải, đặc biệt phát triển những công nghệ mới Hành động về biến đổi khí hậu đòi hỏi khẩn cấp và đó là những trở ngại tổng quát do các quyền sở hữu không đầy

đủ, ngăn cản các nhà đầu tư thu hồi toàn bộ lợi ích cho những ý tưởng mới Đặc biệt, đó là những lan tỏa trong học tập (ngoại ứng khác), kết hợp với phát triển và ứng dụng những công nghệ xả thải thấp mới có thể tác động đến bao nhiêu phát thải được tạo ra Do đó, kinh

tế của giảm thiểu biến đối khí hậu gồm am hiểu về quá trình của cải tiến

Những lan tỏa xảy ra theo một số cách Một công ty không có khả năng có được toàn bộ lợi ích, chủ yếu là vì kiến thức có một số đặc tính của hàng hóa công cộng Đặc biệt, khi thông tin mới đã được tạo ra, hầu như nó có thể không tốn gì để sao chép Điều này cho phép nhà cạnh tranh truy cập tới thông tin để có được lợi ích không cần nghiên cứu và phát triển (R&D) Bằng sáng chế thường được sử dụng để giảm bớt vấn đề này Hơn nữa, đó là những

‘ngoại ứng dùng’ cho các công ty khác gia tăng phát sinh mà chi phí công nghệ giảm bởi kết quả của việc ứng dụng gia tăng Những lan tỏa này đặc biệt quan trọng trong trường hợp những công nghệ phát thải thấp có thể giúp giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Các hàng rào tác động lẫn nhau hoặc vấn đề gồm:

 Thông tin phi đối xứng và không phù hợp – ví dụ về đo lường hiệu quả năng lượng

 Chính sách – những bất định- như là bất định về giá ẩn của carbon trong tương lai

 Suy đồi đạo đức hoặc ‘trò chơi’ – ví dụ các hãng phải nhanh chóng đầu tư giảm thiểu carbon để tránh khả năng điều chỉnh chặt chẽ hơn trong tương lai

 Động cơ điều chỉnh sai lầm - như là động cơ thiết lập cơ sở phát thải cao trong các cơ chế mà hạn ngạch carbon là ‘chính’

 Tính động của giá nội sinh về tài nguyên tự nhiên cạn kiệt – và rủi ro mà giá nhiên liệu có thể giảm tương ứng với chính sách biến đổi khí hậu, đe dọa phá hoại chúng Những vấn đề này gồm nhiều câu hỏi lý thuyết thú vị nhất được nhiều nhà kinh tế nghiên cứu trong các năm gần đây về công nghiệp, điều chỉnh và kinh tế tài nguyên

Những thách thức quan trọng của chính sách công công nhằm khuyến khích giảm thiểu với hai nhiệm vụ được mô tả Những điều này gồm điều chỉnh và tiêu chuẩn và am hiểu công cộng sâu sắc của hành vi chịu trách nhiệm

Trang 18

CHƯƠNG 3 – TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

A GIỚI THIỆU

nóng toàn cầu đã gây ra những biến đổi khí hậu lớn hơn như thay đổi về lượng mưa và tăng tần suất và cường độ của các sự kiện thời tiết khắc nghiệt và điều này đã dẫn đến gia tăng mực nước biển trung bình toàn cầu Những thay đổi này đã ảnh hưởng đến nhiều khu vực của thế giới, bao gồm cả khu vực Đông Nam Á

Trong chương này sẽ tổng kết minh chứng về những biến đổi khí hậu như thế nào ở khu vực Đông Nam Á (những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, điều kiện thời tiết cực đoan, tăng mực nước biển) và ảnh hưởng như thế nào đến nguồn nước, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên ven biển và sức khỏe con người Tổng quan được dựa trên báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007) và các nghiên cứu khác được thực hiện bởi chính phủ, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ Tổng quan này cũng được dựa trên thông tin thu thập được của các chuyên gia tư vấn quốc gia và vùng lãnh thổ

B BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: QUAN SÁT VÀ DỰ BÁO Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

Nhiệt độ trung bình ở khu vực Đông Nam Á tăng 0.1-0.3 0 C/thập kỷ trong vòng 50 năm qua (hình 3.1)

Cũng có minh chứng cho rằng nhiệt độ gia tăng mạnh trong những năm gần đây so với nửa đầu của thế kỷ 20 Các nghiên cứu quốc gia báo cáo rằng nhiệt độ đã tăng lên ở tất cả các nước Đông Nam Á (Bảng 3.1)

Trang 19

 Tại Indonesia, Rataq (2007) đã báo cáo rằng nhiệt độ trung bình tháng 1 tại Jakarta

Sự biến mất của tuyết bao phủ núi Jayawijaya của Irian Jaya là minh chứng rõ ràng sự ấm nóng lên

 Ở Philippines, theo IPCC(2007) kể từ năm 1971, nhiệt độ trung bình, cao nhất và thấp nhất tăng khoảng 0,14°C (2007) Các nghiên cứu của Tibig (2004) và Manton

và các cộng sự (2001) đã góp phần phát hiện này, cho thấy nhiệt độ hàng năm trung bình, tối đa,tối thiểu trong những năm gần đây tăng 0,61°C, 0,34°C, và 0,89°C, từ 1961-1990 giá trị trung bình cho thấy sự gia tăng nhiệt độ Tần suất những ngày nắng nóng và đêm ấm cũng đã tăng lên và số ngày lạnh và đêm mát

mẻ đêm giảm

Điều này cũng cùng xu hướng của toàn cầu

 Tại Thái Lan, nhiệt độ tăng trong khoảng từ 0,1-0,18 °C/thập kỷ trong vòng 5 thập

kỷ quan sát Cả nước hiện trải qua kinh nghiệm có nhiệt độ trung bình ban ngày lên đến 40°C, đặc biệt là tháng 4

 Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm tăng 0.1°C mỗi thập kỷ từ 1900 đến 2000,

và 0,7°C, hoặc 0,14°C mỗi thập kỷ từ 1951-2000, sự gia tăng nhiệt độ nhanh hơn

ở nửa thế kỷ sau Mùa hè đã nóng hơn trong những năm gần đây, với nhiệt độ trung bình hàng tháng tăng 0,1-0,3 ° C mỗi thập kỷ

Đông Nam Á dự kiến sẽ ấm hơn nữa trong thế kỷ này, tiếp bước với xu hướng toàn cầu về sự gia tăng về nhiệt độ trung bình không khí

Theo kịch bản phát thải cao (có nghĩa là, A1FI), trình bày trong IPCC (2000), vào cuối

2,5-6°C (Hộp 3.1) Xu hướng này có thể tăng lên đáng kể ở các vùng khác nhau của thế giới Theo dự báo IPCC (2007), nhiệt độ không khí trung bình không khí khu vực Đông Nam Á sẽ tăng từ 0,75-0,87 °C đến năm 2039, 1,32-2,01°C đến năm 2069, và 1,96-3,77°C năm 2100, tùy thuộc vào kịch bản cơ sở bình thường (BAU – business – as-

Trang 20

annual) (Bảng 3.2) Trong khi ở hầu hết các vùng châu Á, thời điểm nóng nhất là từ tháng

12 đến tháng 2, sự nóng lên trong tương lai ở khu vực Đông Nam

Châu Á dự kiến diễn ra trong suốt cả năm Có một xu hướng nóng lên mạnh hơn ở lục địa Đông Nam Á và phần lớn đất của quần đảo

Trang 22

Biến đổi khí hậu và tác động trực tiếp tại Việt Nam:

 Theo báo cáo đánh giá số 3 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC - International Panel on Climate Change), nhiệt độ trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,4 đến

đến các hiện tượng tự nhiên khắc nghiệt như lũ lụt và hạn hán

Trang 23

 Nhiệt độ ước tính tăng 2,5 oC đến năm 2070 Trong nhiệt độ nội địa Việt Nam (tập trung

tăng lên 1,5 oC

 Nhiệt độ trung bình hàng năm và nhiệt độ tuyệt đối tối thiểu cũng sẽ tăng, số lượng ngày

sản xuất nông nghiệp

 Các khu vực phía Bắc và phía Nam bị ảnh hưởng bởi gió mùa Tây Nam nhưng lượng mưa theo mùa giảm trong tháng Bảy và tháng Tám và ngược lại, có sự gia tăng trong tháng chín, tháng mười và tháng mười một Tại miền Trung, lượng mưa sẽ tăng trong mùa mưa, khoảng 19% trong 2070

 Cùng với sự tăng lên của nhiệt độ, tốc độ bốc thoát hơi nước cũng sẽ tăng lên Do lượng mưa sẽ tập trung trong mùa mưa, lượng mưa trong mùa khô sẽ giảm vào năm 2070 ở miền Trung Việt Nam, hạn hán sẽ xảy ra thường xuyên hơn

 Mực nước biển tại Việt Nam đã tăng lên 5cm trong vòng 30 năm qua Dự báo mực nước biển sẽ tăng 9cm trong năm 2010, 33 cm vào năm 2050, 45 cm năm 2070 và 1 mét vào năm 2100

 Trong những năm qua, các cơn bão đã đổ bộ và Việt Nam trong tháng 8 ở miền Bắc, trong tháng 10 ở miền Trung và vào tháng 11 ở miền Nam Tuy nhiên, theo quan sát những năm gần đâu mùa bão có xu hướng xảy ra muộn hơn dần vào phía Nam

 Biến đổi khí hậu cũng sẽ dẫn đến tăng nhiệt độ bề mặt biển taịc các khu vực có vĩ độ cao hơn của Thái Bình Dương Điều này sẽ dẫn đến nhiều cơn bão xảy ra ở phía tây bắc Thái Bình Dương và sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn nữa đến Việt Nam

 Trong những thập kỷ tới, nhiệt độ bề mặt nước biển được dự đoán sẽ ấm hơn, điều này sẽ duy trì tốc độ gió trong bão lâu hơn Do vậy, cường độ bão sẽ mạnh mẽ hơn, đặc biệt là trong những năm xảy ra hiện tượng "El Nino"

 Các nghiên cứu cho thấy rằng thay đổi khí hậu sẽ không chỉ liên quan đến việc thay đổi của thời tiết thông thường mà còn ảnh hưởng đến tần số và cường độ của các hiện tượng cực đoạn, điều này chắc chắn sẽ gây tổn hại cho sự phát triển lâu dài bền vững của đất nước

Trang 24

C- Tác động biến đổi khí hậu: quan sát và dự báo

Tài nguyên nước

Đông Nam Á có hệ thống nước tự nhiên rộng lớn, sông ngòi và các sông nhánh đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt hỗ trợ sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Sông Cửu Long, Sông Hồng, và sông Chaophraya là cái nôi của khu vực sản xuất gạo Khoảng 60 triệu người sinh sống ở hạ lưu sông Mê kông có cách sống của họ gắn liền với chu kỳ tự nhiên của sông Các con sông đã đem lại nguồn thủy hải sản và cung cấp hầu hết các nhu cầu protein của người dân

Bảng 3.8 tóm tắt các tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước trong khu vực Đông Nam Á Với sự gia tăng nhiệt độ, tỷ lệ bốc hơi và thoát hơi nước tăng lên Điều này sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nước hiện có cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ của con người Lượng mưa thất thường gây ra dòng chảy bất thường ở các con sông, từ đó ảnh hưởng đến trữ lượng nước, sản xuất điện, thủy lợi Trong khi những năm El Nino làm giảm dòng chảy, các năm La Nina thường có lượng mưa lớn và tập trung, dẫn đến sự gia tăng trong dòng chảy ngầm và nước chảy quá nhiều sẽ gây xói lở nghiêm trọng bờ sông và hiện tượng bồi lắng ở các hồ chứa Hiện tượng bồi lắng làm giảm khả năng trữ nước của các

hồ chứa để sử dụng trong tương lai Mực nước biển dâng gây ra hiện tượng xâm nhập mặn vào nguồn nước ngọt và các tầng ngậm nước và làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước ở một số nơi trong khu vực

Bảng 3.8 Tổng kết tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước ở Đông Nam Á

dẫn đến giảm lượng nước sẵn có cho tiêu thụ của con người, tưới tiêu nông nghiệp, và thủy điện

Sự thay đổi về lượng

mưa

(Bao gồm dao động El

Niño phía Nam)

-Giảm dòng chảy và mực nước ở nhiều đập và hồ chứa, đặc biệt trong những năm El Nino, dẫn đến giảm nguồn nước; tăng số dân thiếu nước

- Tăng lưu lượng dòng chảy đặc biệt là trong những năm La Niña dẫn đến nước sẵn có tăng ở một số nơi

Trang 25

đến chất lượng nước mặt và nước ngầm

ngầm dẫn đến giảm nguồn nước ngọt

Sources: Boer and Dewi (2008), Cuong (2008), Ho (2008), Jesdapipat (2008), Perez (2008)

Căng thẳng về nước đã gia tăng trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt những năm El Nino, gây thiệt hại cho cây trồng, thiếu nước uống, và sản xuất điện

Trong các năm gần đây, nguồn nước khu vực Đông Nam Á khan hiếm không chỉ do dân số nhanh chóng và tăng trưởng công nghiệp, mà còn từ giảm lượng mưa và nhiệt độ tăng, kết hợp với ENSO Các sự kiện ENSO đã tăng tình trạng thiếu nước trong khu vực vốn đã thiếu nước

- Ở Indonesia, các sự kiện ENSO đã tác động đáng kể đến dòng chảy và hồ chứa (Hình 3.7), đặc biệt vào mùa khô từ tháng 6-tháng 9 (Las et al 1999) Dữ liệu dòng chảy từ

52 con sông cho thấy sự gia tăng đáng kể số các con sông với dòng chảy tối thiểu do hạn hán Tương tự như vậy, số lượng các con sông có dòng chảy lớn gây lũ lụt cũng tăng đáng kể Do những thay đổi như vậy, nhiều đập chứa nước không thể thực hiện chức năng tối ưu, gây thiệt hại cho cây trồng, thiếu nước uống, và giảm sản xuất điện

- Tại Philippines, hạn hán tồi tệ nhất vào những năm El Nino1997-1998 dẫn đến tình trạng thiếu nước nghiêm trọng ở đập Angat, nguồn nước chính cho Metro Manila và các khu vực xung quanh Điều này đã giảm lượng chứa 10%, dẫn tới tỷ lệ nước (dịch

vụ hàng ngày bị rút ngắn khoảng 4 giờ) ở một số lĩnh vực Mức nước giảm ảnh hưởng đến hoạt động của các nhà máy thủy điện và cung cấp điện cho các thành phố chính

và các khu vực xung quanh Mực nước biển dâng cũng làm ảnh hưởng trầm trọng đến các khu vực vốn đã căng thẳng về nước

- Ở Singapore, do nguồn nước sẵn có cho sinh hoạt hạn chế, nước là vấn đề nghiêm trọng khi xét đến biến đổi khí hậu Với một nửa diện tích quốc gia coi như là một lưu vực để lấy nước cho các hồ chứa, bất kỳ sự giảm đáng kể lượng mưa thì tác động đáng kể đến nguồn cung cấp Tăng nhiệt độ toàn cầu đã thay đổi lượng mưa, ảnh hưởng đến lượng nước lấy và lưu trữ trong hồ chứa

- Thái Lan có nguồn nước dồi dào, nhưng biến đổi khí hậu thì cân bằng nước đã trở thành một vấn đề phổ biến hàng năm và trong những năm gần đây thì vấn đề này ngày càng nghiêm trọng Những thay đổi về kiểu mưa và tần suất và cường độ mưa đã

Trang 26

ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nguồn nước từ một số lưu vực sông (ví dụ, Chaophraya Basin) đến cửa sông (Jesdapipat 2008)

- Ở Việt nam, cũng như các nước khác ở khu vực Đông Nam Á, gia tăng về lượng bốc hơi (bốc hơi từ đất và qua lá) dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ giảm nước sẵn có cho nước tưới và một số mục đích khác (Cường 2008)

La Niña (kết hợp với mưa lớn) và bão nhiệt đới đã gây ra lũ lụt lớn cho các sông lớn ở Đông Nam Á; những sự kiện này ngày càng thường xuyên hơn và gây ra những tổn thất về đời sống, con người và tài sản

Những sự kiện khắc nghiệt như La Nina và bão nhiệt đới đã đem đến lượng mưa khổng lồ ở khu vực Đông Nam Á, dẫn đến dòng chảy quá nhiều và dòng chảy vào hệ sinh thái mỏng (có nghĩa là, do quy hoạch sử dụng đất nghèo và sử dụng không bền vững) gây ra lũ lụt lớn, sạt

lở đất, xói mòn nghiêm trọng bờ sông, và bồi lắng

- Ở Indonesia, lũ lụt do La Nina năm 2003-2005 đã gây thiệt hại nhà cửa, cơ sở hạ tầng công cộng, đường xá, cầu, đập, kênh mương, đê, các công trình nguồn nước, các khu vực trồng lúa, tổng thiệt hại về cơ sở hạ tầng lên đến 205 triệu $ (BPSDA,2004)

- Mưa lớn, đặc biệt bởi các cơn bão nhiệt đới, gây ra các dòng chảy lớn, lũ lụt, sụt lở đất gây thiệt hại ở nhiều nơi ở Philippines Từ năm 1991 và 2006, khoảng 10.000 người chết do là nạn nhân của lũ quét và sạt lở đất Dựa trên báo cáo của Amadore (2005a), 1975-2002, lốc xoáy nhiệt đới tăng cường đã gây 593 người chết trung bình hàng năm và trị giá tài sản thiệt hại hàng năm 83 triệu $, bao gồm cả thiệt hại nông nghiệp khoảng 55 triệu $

- Thái lan cũng không nằm ngoại lệ bởi tác động của lũ lụt Năm 2001, 920.000 hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi lũ lụt.Trong một báo cáo của tổ chức Greenpeace (Amadore 2005a), nước này tuyên bố nền kinh tế đã bị thiệt hại hơn 1,75 tỷ $ liên quan đến lũ lụt, bão và hạn hán trong giai đoạn 1989-2002 Đa số những tổn thất này là từ khu vực nông nghiệp, thiệt hại lên đến hơn 1,25 tỷ $ trong 1991-2000

- Việt Nam báo cáo thiệt hại và mất mát do lũ lụt nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung Từ năm 1996 -2001, hàng triệu ngôi nhà bị bị hư hỏng do lũ lụt gồm hàng ngàn lớp học và hàng trăm bệnh viện Ít nhất 1.684 người chết Khu vực trồng lúa từ 20.690 ha lên 401.342 ha bị ngập và hư hỏng

Trang 27

do lũ quét và sạt lở đất ở vùng núi Việt Nam thường xuyên hơn Trung bình, khoảng 9.3 người/ 1 triệu chết hàng năm do các thảm họa liên quan đến khí hậu

Dự báo dòng chảy hàng tháng tối đa và tối thiểu ở các lưu vực sông lớn ở khu vực Đông Nam Á đề nghị tăng nguy cơ lũ lụt trong mùa mưa và tăng tình trạng thiếu nước trong mùa khô năm 2100

So với các mức của năm 1960-1990, dòng chảy tối đa hàng tháng của Sông Cửu Long được

dự kiến sẽ tăng từ 35% và 41% trong lưu vực và khoảng 16% - 19% ở khu vực đồng bằng Giá trị thấp hơn được dự báo xảy ra từ năm 2010 và 2038 và cao hơn từ năm 2070-2099 (IPCC 2007) Mặt khác, các dòng chảy thấp nhất hàng tháng, khoảng từ 17-24% trong lưu vực và 26-29% ở vùng đồng bằng Điều này gợi ý khả năng tăng nguy cơ lũ lụt trong mùa mưa và tăng tình trạng thiếu nước trong mùa khô (Hoành et al 2004)

- Jose và các cộng sự (1999), trong một nghiên cứu về tác động của thay đổi nhiệt độ và lượng mưa ở các hồ chứa nước Angat ở Philippines, dự báo giảm 6% về lượng mưa

và nhiệt độ tăng 2 °C sẽ dẫn đến sự sụt giảm 12% trong dòng chảy Tuy nhiên, nếu lượng mưa tăng 3-15% và nhiệt độ tăng 2,4-3,1°C, dòng chảy sẽ tăng 5-32% Dự báo này cho thấy nguồn nước sẽ biến động nghiêm trọng hơn trong tương lai và việc bảo tồn và quản lý nước trong thời gian với lượng mưa lớn sẽ rất quan trọng nhằm đối phó với thời kỳ khilượng mưa thiếu hụt

Những vùng thiếu nước nghiêm trọng được dự báo gia tăng ở khu vực Đông Nam Á, ảnh hưởng đến hàng triệu người, gây thách thức đến những thành quả của tăng trưởng bền vững của vùng

Những vùng dưới tình trạng thiếu nước hầu như gia tăng đáng kể, đưa ra thách thức lớn nhất

về biến đối khí hậu đến tài nguyên nước Theo như trong báo cáo về các kịch bản phát thải (IPCC,2000), khoảng 120 triệu đến 1,2 tỷ người ở khu vực Đông Nam và Nam Á sẽ thiếu nước đến năm 2020 và 185 triệu đến 981 triệu người đến năm 2050 (Arnell, 2004) Cuối thế

kỷ 21, dòng chảy hàng năm của sông Hồng được dự báo giảm 13-19% và sông Mê koong khoảng 16-24% Điều này có thể thấy sự căng thẳng về tình hình nước ở khu vực (ADB,1994)

Việc quản lý thích đáng về tài nguyên nước sẽ rất cần thiết để đạt được tăng trưởng bền vững

và xóa đói giảm nghèo ở Đông Nam Á Nhu cầu nước từ tăng trưởng dân số và các ngành, nếu không được quản lý bền vùng, sẽ dẫn đến sự suy kiệt ở những vùng khô hạn, sử dụng

Trang 28

nước và gia tăng xả thải ô nhiễm Với nhu cầu nước ngày càng gia tăng, gây gánh nặng môi trường, đe dọa đến biến đổi khí hậu, vùng sẽ phải đối mặt với thách thức này là làm thế nào

để quản lý tài nguyên nước nhằm bảo đảm đáp ứng được nhu cầu nước tương lai

Gia tăng nhiệt độ làm tăng tỷ lệ thoát hơi nước, gây thiếu nước cho cây trồng, đặc biệt là ở những khu vực lượng cung cấp hạn chế Việc kết hợp áp lực sức nóng và hạn hán làm giảm năng suất cây trồng Lượng mưa thất thường tác động đến việc chuẩn bị đất và thời gian trồng và

làm thay đổi chu kỳ sống của các loại sâu bệnh và bệnh ảnh hưởng các đến mùa vụ nông nghiệp

Hạn hán trong những năm El Nino gây ra căng thẳng nước và tăng khả năng sâu bệnh và nhiễm bệnh Mưa lớn trong những năm La Niña mang lại lũ lụt nghiêm trọng, dòng chảy lớn,

và xói mòn đất, làm giảm độ phì của đất và năng suất Việc gia tăng mực nước biển làm tăng

độ mặn của đất tại nhiều khu vực nông nghiệp thấp và thậm chí tăng sự xâm nhập của nước biển vào nguồn nước ngầm và tầng ngậm nước Mực nước biển cao hơn cũng gây ra mất đất canh tác trong khu vực Tác động của khu vực nông nghiệp ở Đông Nam Á được tóm tắt trong Bảng 3.9

Trang 29

Gia tăng nhiệt độ tăng dẫn đến giảm sản lượng cá, đe dọa toàn bộ khu vực tiềm năng – khu vực sản xuất cá và hải sản lớn nhất thế giới

Khu vực Châu Á và Thái Bình Dương là nhà sản xuất cá lớn nhất thế giới, từ ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Các nghiên cứu gần đây cho thấy sản xuất cá chính sẽ giảm ở các đại dương nhiệt đới do sự thay đổi dòng hải lưu với không khí ấm áp hơn Một sự thay đổi quy mô lớn của môi trường sống cá ngừ ở vùng xích đạo Thái Bình Dương dưới sự ấm lên kịch bản (Loukos et al 2003) Với những thay đổi dòng hải lưu tương lai cũng như

mực nước biển, nhiệt độ nước biển, độ mặn, tốc độ và hướng gió, và động vật ăn thịt phó với biến đổi khí hậu, tiềm năng của khu vực như sản xuất lớn nhất thế giới cá và hải sản gặp thách thức

Trang 30

Lâm nghiệp

Đất lâm nghiệp ở khu vực Đông Nam Á khoảng 203 triệu ha (đến năm 2005), chiếm 5.1% tổng số rừng trên thế giới Theo truyền thống, khu vực này là nhà sản xuất gỗ tròn công nghiệp chính trên thế giới, giấy và bìa, bột giấy và gỗ tấm Là nhà xuất khẩu lâm nghiệp chính chiếm 50% tổng châu Á và Thái Bình Dương (UNESCAP 2005) Nhiều người trong khu vực cư dân sinh kế của họ sống dựa vào rừng, do những ngành công nghiệp có nhu cầu lâm sản

Bảng 3.12: Tổng hợp những tác động về biến đổi khí hậu quan sát ở khu vực Lâm nghiệp trong Khu vực Đông Nam Á

tích cháy rừng

-Gia tăng côn trùng và bệnh tật

Sự thay đổi về lượng mưa

(Bao gồm dao động El Niño

phía Nam)

-Gia tăng tần suất cháy rừng, bệnh tật và mầm bệnh do hạn hán

- Thay đổi kiểu mưa, ảnh hưởng đến cây trồng

- Gia tăng xói mòn đất và suy thoái nguồn nước do hạn hạn và lũ lụt liên tục

- Tăng lượng các loại thực vật ngoại lai

Nguồn: Boer and Dewi (2008), Cuong (2008), Ho (2008), Jesdapipat (2008), Perez (2008)

Trang 31

Sức khỏe

Dân số Đông Nam Á khoảng 563 triệu người Tăng trưởng dân số cao theo chuẩn toàn cầu, trung bình 2,2%/ năm trong thập kỷ qua Năm 2005, khoảng 93 triệu người (18,8%) người dân vẫn sống dưới mức đói nghèo 1,25 $/ngày, và 221 triệu (44%) dưới mức nghèo đói $ 2 /ngày

Nhiều người nghèo sống trong ở khu vực ven biển và ở vùng thấp Thường là những hộ nông dân, ngư dân, và các hộ gia đình nghèo dễ bị tổn thương nhất với những rủi ro về biến đổi khí hậu, do thu nhập cận biên khiến cho việc truy cập của họ ít hoặc không có quyền truy cập vào các dịch vụ y tế hoặc mạng lưới an toàn khác để bảo vệ chống lại các mối đe dọa bởi các điều kiện thay đổi

Trang 32

CHƯƠNG 4 KINH TẾ HỌC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Bầu khí quyển và khí hậu của Trái đất là một bộ phận của kho tài nguyên thiên nhiên sẵn có cho mọi người để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ theo thời gian Từ một quan điểm kinh tế, chính sách khí hậu liên quan tới đo lường và so sánh đánh giá giá trị của mọi người

về tài nguyên khí hậu, qua những sử dụng thay thế nhau và tại các thời điểm khác nhau, và

áp dụng các kết quả để lựa chọn một chương trình hoạt động tốt nhất Chính sách khí hậu hiệu quả sẽ cân đối lợi ích và chi phí của việc sử dụng bầu khí quyển và khí hậu và sẽ phân phối theo một cách thức chấp nhận được

1 Các tài nguyên chung và quyền sở hữu

Các đại dương và không khí của Trái đất là đặc biệt khó chia cắt thành tài sản tư nhân, và trong quá trình tiễn triển của sự cố gắng phát triển các thể chế hiệu quả để quản lý chúng, việc tiếp cận tới các tài nguyên đó phần lớn vẫn còn là mở _ đối với phần lớn, không có ai sở hữu chúng, bất kỳ ai cũng có thể sử dụng chúng, và không ai phải thanh toán Đối với phần lớn lịch sử nhân loại, tiếp cận mở tới các đại dương và không khí là thích hợp vì dân số thế giới là quá nhỏ và các công nghệ của nó là quá hạn chế để có thể làm cạn kiệt các kho cá, làm hư hại chất lượng không khí, hoặc tác động tới khí hậu

Nhưng tăng trưởng dân số và công nghệ tiên tiến đã thay đổi cách thức mọi người sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và dễ bị tổn thương với sử dụng quá mức, cạn kiệt, và hư hại Nếu các tài nguyên được lấy một cách tự do, mọi người sẽ có xu hướng sử dụng quá chúng; nếu không có ai sở hữu chúng, không ai sẽ quan tâm tới chúng Hiện tượng đó được coi là tấn thảm kịch của bãi đất chung: mỗi người muốn sử dụng các tài nguyên miễn phí nhưng sẽ làm

hư hại chúng nếu họ làm như vậy, tới mức mọi người đều thiệt hại

Bầu khí quyển và khí hậu

Vấn đề biến đổi khí hậu liên quan tới các chi phí giao dịch rất tốn kém Xả thải xuất hiện từ các hoạt động sử dụng-đất đai hoặc –năng lượng thực tế là của tất cả mọi người trên trái đất,

và gánh nặng tiềm năng của các tác động của chúng sẽ phải gánh chịu trên toàn thế giới bởi các thế hệ người thậm chí còn chưa sinh ra Hơn nữa, nhiều tác động tiềm năng của biến đổi khí hậu _ ví dụ như sự phá hủy các hệ sinh thái và sự tuyệt chủng của các giống loài _ tự bản thân là công cộng về bản chất

Các nhân tố đó làm cho khó xác định rõ, nếu không nói là không thể xác định rõ _ các quyền

và trách nhiệm cá nhân cho nhiều hoạt động có thể góp phần vào biến đổi khí hậu và các tác động có thể từ đó Các loại quyền xác định, như các quyền xả các loại khí có hiệu ứng nhà

Trang 33

khu rừng hoặc trong đại dương, sẽ là phức tạp hơn trong việc xác định Còn các loại quyền khác _ như quyền tham gia vào một loại khí hậu cụ thể tại một vùng đặc biệt của trái đất tại một thời điểm đặc biệt _ sẽ là không thể Không có các quyền có thể cưỡng chế và được phác họa một cách rõ ràng, các cá nhân không thể dễ dàng đàm phán với nhau trên các thị trường để giải quyết các yếu sách xung đột của họ Và như Chương 2 đã thảo luận, tính bất định về khoa học và kinh tế học có liên quan làm cho các đánh-đổi khí hậu cực kỳ khó được tính toán

Tóm lại, những nhà làm chính sách có thể phải đối mặt với nhiệm vụ cực kỳ phức tạp trong việc quản lý một tài nguyên không có ai sở hữu, cái mà ai cũng phụ thuộc vào, và cái cung cấp một dải rộng các lợi ích rất khác nhau _ và thường là công cộng cho những người khác nhau trong các vùng khác nhau trong những giai đoạn rất dài, các lợi ích mà đối với chúng quyền sở hữu rất khó xác định, thỏa thuận, và cưỡng chế Các nguyên nhân và hậu quả của biến đổi khí hậu là có tính quốc tế, và sự kiện đó có một vài phân nhánh: các chính phủ dường như sẽ phải hợp tác để cho bất kỳ một tiếp cận quản lý nào có hiệu lực; bởi vì đối với một thời điểm, họ sẽ chỉ có thông tin rất không hoàn hảo để dựa các quyết định của mình vào; và các quyết định của họ có thể tác động thế giới trong hàng thế kỷ Nếu các chính phủ

đã quyết định rằng các rủi ro gắn với biến đổi khí hậu kêu gọi hành động, họ phải thuyết phục mọi người hy sinh ngày hôm nay để làm lợi cho các thế hệ mai sau

Việc đạt được thỏa thuận hợp tác về một chính sách liên quan tới sử dụng bầu khí quyển và biến đổi khí hậu là một thách thức to lớn vì mỗi người đều có một động cơ “ăn không” Một thỏa thuận thành công không cần yêu cầu các hành động ngang nhau bởi tất cả các bên, mà một sự đồng thuận bất kỳ kiểu nào sẽ bị phá vỡ nếu một số bên nào đó hy sinh để đáp ứng mục tiêu toàn cục trong khi một số bên khác lại lừa dối, làm tăng xả thải của họ làm vi phạm mục tiêu Hơn nữa, không có một khung cảnh rõ ràng về việc các xả thải như vậy có bị ràng buộc không, bao giờ và bao nhiêu, các quốc gia sẽ thấy rất khó đồng thuận tại các mức hoạt động thích hợp Một điều không kém phần quan trọng, các quốc gia có các tình huống lịch

sử và kinh tế khác nhau; họ thay đổi rộng trong năng lực và ý muốn gánh chịu chi phí giảm

xả thải _ hoặc các chi phí có thể của biến đổi khí hậu Các nhân tố này giúp cho giải thích khó khăn lớn lao mà các quốc gia sẽ phải gánh chịu trong việc cố gắng đạt được thỏa thuận

về phân phối các quyền và trách nhiệm

Một điều làm phức tạp thêm bất kỳ thỏa thuận tập thể nào là sự kiện là các chính phủ nói chung không chủ động với các lực thị trường dẫn dắt các công ty cạnh tranh cung cấp một cách có hiệu quả các hàng hóa và dịch vụ mà những người tiêu dùng muốn mua nhất Thay vào đó, các chính phủ có xu hướng đại diện cho các liên minh cho các lợi ích tư nhân và quan liêu thường có hành vi trục lợi (rent seeking) _ nỗ lực lái các tài nguyên của nền kinh tế theo các lợi thế riêng của họ Như một kết quả, các chính phủ không nhất thiết cung cấp các

Trang 34

dịch vụ công cộng được mong muốn nhất của những người tiêu dùng; họ cũng không cung cấp chúng với chi phí thấp nhất Hậu quả là không có bảo đảm nào rằng các chính phủ sẽ làm tốt hơn các thị trường trong việc quản lý các tài nguyên sở hữu chung

2 Các đánh-đổi kinh tế

Đánh giá giá trị kinh tế vốn là việc đo lường những đánh-đổi _ giữa những người và các nguồn tài nguyên và giữa các khoảng thời gian Các nguồn tài nguyên bị hạn chế, và mọi người bị bắt buộc phải lựa chọn giữa các sử dụng thay thế nhau, bán đi một vài thứ mà họ có thể thích để có những thứ có thứ tự ưu tiên cao hơn Giá trị kinh tế của một tài nguyên phản ánh những lựa chọn đó chứ không phải là một cái gì đó tự thân có trong nó Giá trị được đo lường bởi ý muốn thanh toán cho các lợi ích mà một tài nguyên cung cấp _ hoặc, gần như tương đương, ý muốn chấp nhận đền bù cho những lợi ích bị mất

2.1 Cân đối các sử dụng cạnh tranh bầu khí quyển

Quản lý hiệu quả bầu khí quyển liên quan đến việc cân đối các lợi ích gia tăng của việc sử dụng nó như một bể chứa cho xả thải khí nhà kính_ tức là, các lợi ích gia tăng được cung cấp bởi tấn xả thải cuối cùng_ với các chi phí gia tăng (hoặc các lợi ích) của biến đổi khí hậu có thể được tạo ra từ tấn xả thải đó Tương tự, quản lý hiệu quả là cân đối chi phí gia tăng của việc đầu tư vào nghiên cứu biến đổi khí hậu đối chọi với lợi ích gia tăng của lợi thế trong kiến thức được tạo ra Việc cân đối chi phí hiện thời với lợi ích tương lai cũng bao gồm cả việc cân nhắc chi phí của việc làm giảm xả thải để ngăn ngừa các vấn đề liên-quan-tới khí hậu trong tương lai đối chọi với chi phí của việc thích nghi với biến đổi khí hậu sẽ xảy ra_ tức là cân đối giảm nhẹ và thích nghi Nếu chi phí gia tăng của việc làm xả thải ngày hôm nay cao hơn chi phí của việc thích nghi với các hậu quả xả thải trong tương lai _ ví dụ bằng cách chi tiêu nhiều hơn cho việc kiểm soát côn trùng để ngăn ngừa phát sinh dịch bệnh nhiệt đới _ thì sẽ là chi phí – hiệu quả hơn nếu làm giảm xả thải ít hơn và thích nghi nhiều hơn Các chính sách khí hậu bởi vậy liên quan đến việc cân đối các đầu tư có thể tạo ra các lợi ích liên quan đến khí hậu tương lai đối chọi với các đầu tư khác không liên quan tới khí hậu _ như giáo dục, phát triển công nghệ mới, và gia tăng dự trữ vốn hiện vật _ là những đầu tư cũng có lợi Nếu biến đổi khí hậu là tương đối ôn hoà, chính sách hạn chế xả thải với các chi phí rất cao có thể lái các quỹ khỏi các đầu tư khác có thể tạo ra các giao hoàn cao hơn Ngược lại nếu biến đổi khí hậu tỏ ra là một vấn đề rất nghiêm trọng thì chính chính sách này

có thể tạo ra một giao hoàn cao hơn nhiều bởi vì các tài nguyên được dành cho chính sách khí hậu sẽ bị phân kỳ khỏi các sử dụng khác, lợi ích tổng cộng từ tất cả các kiểu đầu tư sẽ là lớn nhất nếu các tỷ lệ giao hoàn là như nhau ở mức “cận biên” _ tức là, đối với đồng đô la

Trang 35

hậu Có rất ít các đầu tư khác có thể so sánh được với chính sách khí hậu trong việc tạo ra vô vàn các loại giao hoàn trên một quy mô toàn cầu và trong các giai đoạn dài hạn, hoặc trong việc có được các giao hoàn bất định đến như vậy Hơn nữa, các khoảng thời gian rất dài làm cho các kết quả phân tích chi phí – lợi ích cực kỳ nhạy cảm với tỷ lệ giao hoàn được giả định cho phân tích

2.2 Đánh giá tổng hợp chi phí và lợi ích

Trong suốt nhiều năm qua, một số lượng lớn các nghiên cứu đã phân tích các chi phí và lợi ích tiềm năng của việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu Một số nhà nghiên cứu đã cố gắng tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong các mô hình toàn cầu hoặc vùng lãnh thổ của tăng trưởng kinh tế và các tác động khí hậu và đã sử dụng các mô hình để xây dựng cái-gọi-là đánh giá tổng hợp của các đề nghị chính sách liên quan tới biến đổi khí hậu Họ cũng đã ước lượng chi phí của các chính sách giảm xả thải sẽ tạo ra những lợi ích ròng lớn nhất theo nghĩa tăng trưởng kinh tế, các xả thải được làm giảm, và các tác động khí hậu kéo theo

Những đánh giá đó và các phát hiện của chúng tốt nhất được nghĩ là các minh họa tổng quát chứ không phải là các tính toán chính xác cho các chi phí của các chính sách tối ưu Các nhà phân tích đưa ra nhiều các giả thiết đơn giản hóa cho các tính toán như vậy; hậu quả là, mỗi nghiên cứu đã bỏ qua một số khía cạnh quan trọng _ xử lý các loại khí, các công nghệ, các quốc gia, các thế hệ, các môi trường khác nhau và vân vân Tuy nhiên, các đánh giá tổng hợp cung cấp một quang cảnh về tầm quan trọng tương đối của các nhân tố khác nhau, nhấn mạnh các vấn đề có tầm quan trọng lớn nhất, và giúp cho các nhà làm chính sách tập trung vào các đánh-đổi có liên quan

Các đánh giá tổng hợp của các chi phí và lợi ích tiềm năng của việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu một cách điển hình đã tìm được các lợi ích ròng tương đối nhỏ từ các kiểm soát xả thải nghiêm ngặt theo trong tương lai gần, thậm chí mặc dù họ kết luận rằng tiếp tục tăng cường

xả thải có thể cuối cùng sẽ gây ra những thiệt hại hiện vật và kinh tế rộng lớn Trong việc cân bằng các đầu tư thay thế nhau, vác đánh giá kết luận, các ràng buộc khiêm tốn nhất về xả thải ngày hôm nay sẽ tạo ra những lợi ích ròng trong tương lai, nhưng ràng buộc rộng sẽ xua đuổi các kiểu đầu tư khác Đến lượt mình, sự mất mát của đầu tư sẽ làm giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và bởi vậy làm hại sự phồn vinh vật chất của thế hệ tương lai thậm chí nhiều hơn lợi ích mà việc tránh biến đổi khí hậu sẽ có được

Trang 36

người ghét rủi ro như thế nào _ tức là, họ muốn thanh toán bao nhiêu để tránh độ kết cục bất định nhưng quý giá Mức độ ghét rủi ro của họ càng lớn, càng có nhiều người sẽ muốn hy sinh ngày hôm nay để làm giảm khả năng xuất hiện các thay đổi xấu trong khí hậu

Các nghiên cứu tính một cách tường minh tới độ bất định nói chung khuyến cáo nỗ lực nhiều hơn để ngăn ngừa biến đổi khí hậu so với các phân tích không tính tới nó _ chủ yếu là vì các nghiên cứu có chứa tỷ lệ chiết khấu dài-hạn như một biến bất định Tuy nhiên, các thức mà những nghiên cứu đó xử lý độ bất định về tỷ lệ chiết khấu đang xem xét đơn giản là gán trọng số lớn hơn cho các thế hệ tương lai và do vậy khuyến cáo nhiều hành động hơn Vì vấn

đề chiết khấu chủ yếu là vấn đề phân phối, nhiều nhà phân tích hỏi xem liệu nó có nên được

xử lý như một vấn đề bất định theo cùng một nghĩa, ví dụ như, độ nhạy của khí hâu với độ tập trung carbon dioxide là bất định hay không

Một lĩnh vực khác của bất định _ thường bị bỏ qua trong các phân tích kinh tế _ liên quan tới các hành động của chính phủ trong tương lai Các đánh giá tổng hợp kết luận rằng chỉ có các hành động khiêm tốn nhất được khuyến cáo cho ngày hôm nay giả định rằng những nhà làm chính sách trên thực tế sẽ tiến hành hành động nghiêm ngặt-hơn trong tương lai, liệu điều có

là khôn ngoan Tuy nhiên, các chính phủ có thể không có khả năng cam kết với bản thân thực hiện các chính sách tương lai nghiêm ngặt gia tăng Vấn đề đó là một phần của khó khăn rộng lớn hơn trong việc đề cập tới những thách thức dài-hạn: các thế hệ hiện nay có ít phương tiện để ràng buộc hành vi của các thế hệ kế tiếp theo

Vì độ bất định và khung thời gian dài hạn có liên quan, chính sách khí hậu chắc chắn sẽ liên quan tới một chuỗi các quyết định Tại mỗi giai đoạn, những người làm chính sách sẽ xác định một kế hoạch trước-mắt (near-term), dựa trên thông tin được tích lũy tới ngày đó và được sắp đặt từ cả nghiên cứu để cải thiện tiếp hiểu biến lẫn hành động để làm giảm rủi ro Thông tin chưa được khám phá trong giai đoạn kế tiếp sẽ sắt đặt giai đoạn cho vòng làm quyết định kế tiếp

3 Những vấn đề phân phối

3.1 Các vấn đề giữa các thế hệ

Hành động để ngăn ngừa biến đổi khí hậu ngày hôm nay sẽ đặt ra gánh nặng cho những người đang sống bây giờ và sẽ dường như để lại cho các thế hệ sắp tới một khí hậu tương tự hơn với khí hậu ngày hôm nay _ nhưng với của cái đôi chút ít hơn so với của cải nhẽ ra họ sẽ nhận được nếu không phải như vậy Ngược lại, không hành động sẽ làm lợi cho những người ngày hôm nay và dường như tạo ra nhiều của cải hơn đôi chút trong tương lai _ nhưng nó cũng có thể để lại một thế giới với khí hậu khác và có thể xấu hơn cho nhiều thế hệ sắp tới

Ngày đăng: 21/03/2021, 18:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w