1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp ứng phó biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai qua thực tế dạy học địa lí 12 THPT ở tỉnh hà giang

143 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiên tai là thuộc tính của tự nhiên và nó có từ ngàn đời nay, con người không thể ngăn chặn thiên tai không xảy ra mà chỉ có thể chủ động trong việc phòng, tránh thiên tai từ đó hạn chế các tác hại vô cùng nghiêm trọng do thiên tai mang lại. Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm gia tăng thiên tai cả về cường độ và phạm vi ảnh hưởng. Ở nước ta, chưa bao giờ người dân phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai bất thường như những năm gần đây. Nhiều cơn bão có diễn biến bất thường; các đợt lũ lụt gây ngập úng, sạt lở; đặc biệt mưa lớn kéo dài gây lũ quét và sạt lở đất ở miền núi…gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo thống kê năm 2018, cả nước ta có 13 cơn bão và áp thấp nhiệt đới; 212 trận dông, lốc, sét; 14 trận lũ quét, sạt lở đất; 9 đợt gió mạnh trên biển; xuất hiện 4 đợt rét đậm rét hại; 11 đợt nắng nóng; 23 đợt không khí lạnh và 30 đợt mưa lớn trên diện rộng …Thiên tai đã gây ra thiệt hại ước đạt 20.000 tỷ đồng, làm 218 người chết và mất tích. Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng năng nề nhất của biến đổi khí hậu (theo báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 1322019). Trước những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và thiên tai bất thường, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách ứng phó với BĐKH, phòng tránh và giảm nhẹ rủ ro thiên tai trong đó có chính sách “tăng cường về giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai”. Tuyên truyền, giáo dục nhân dân chủ động PTTT và ứng phó với BĐKH là cách tốt nhất để hạn chế thiết hại do thiên tai gây ra và đối tượng tuyên truyền, giáo dục tốt nhất là học sinh THPT đây là lực lượng chủ lực và là nhân tố cơ bản để lan tỏa xã hội, những hành động của các em có tính động viên, khích lệ lớn đối với gia đình và xã hội và do đó có tác động tới việc thay đổi hành vi cách ứng xử của mọi người trước vấn đề PTTT và ứng phó với BĐKH. Mặt khác dạy học tích hợp trong giáo dục phổ thông là vấn đề không mới nhưng luôn được đặt ra trong các lần thay đổi chương trình giáo dục gần đây. Nghị quyết số 29 của ban chất hành TW lần thứ 8 khóa XI đã xác định: “Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ THANH

TÍCH HỢP ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI QUA THỰC TẾ DẠY HỌC

ĐỊA LÍ 12 - THPT Ở TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ THANH

TÍCH HỢP ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI QUA THỰC TẾ DẠY HỌC

ĐỊA LÍ 12 - THPT Ở TỈNH HÀ GIANG

Ngành: LL và PP dạy học Địa lí

Mã số: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học trong đề tài là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Địa lí, Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo những điều kiện tốt nhất giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Phương Liên đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô giáo và các em học sinh

ở các trường thực nghiệm đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm

sư phạm

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 10

7 Cấu trúc của đề tài 11

NỘI DUNG 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI 12

1.1 Một số vấn đề về dạy họcvà dạy học tích hợp 12

1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học 12

1.1.2 Các phương hướng đổi mới phương pháp dạy học 12

1.1.3 Khái niệm dạy học tích hợp 15

1.1.4 Mục tiêu dạy học tích hợp 15

1.1.5 Các quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học 16

1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Địa lí 19

1.2 Một số vấn đề về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai 23

1.2.1 Biến đổi khí hậu, nguyên nhân, hậu quả, biện pháp 23

1.2.2 Thiên tai, các loại thiên tai, hậu quả, giải pháp 26

1.2.3 Mối quan hệ giữa ứng phó với BĐKH và PTTT 32

Trang 6

1.2.4 Sự cần thiết giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai

trong trường học 33

1.2.5 Mục tiêu của giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai 36

1.3 Biến đổi khí hậu và thiên tai ở tỉnh Hà Giang 38

1.4 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12- THPT 39

1.4.1 Về mặt tâm lí 39

1.4.2 Về mặt thể chất 40

1.4.3.Về mặt trí tuệ 40

1.4.4 Hoạt động học tập 40

1.5 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa Địa lí 12 - THPT 41

1.5.1 Đặc điểm chương trình 41

1.5.2 Đặc điểm sách giáo khoa 41

1.6 Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai trong môn Địa lí tại tỉnh Hà Giang 41

1.6.1 Về phía giáo viên 42

1.6.2 Đối với học sinh 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45

Chương 2: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 46

2.1 Khả năng giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai trong dạy học địa lí 12 46

2.2 Các nguyên tắc tích hợp giáo dục ứng phó biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai trong dạy học Địa lí 50

2.2.1 Nguyên tắc thống nhất tích hợp và phân hóa 50

2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 51

2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 51

2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 51

2.2.5 Nguyên tắc lấy người học làm trung tâm 52

Trang 7

2.3 Quy trình tích hợp giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT trong dạy học Địa

lí 12 52

2.4 Các phương pháp dạy học giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT 56

2.4.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở 56

2.4.2 Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan 57

2.4.3 Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề 58

2.4.4 Phương pháp khảo sát điều tra 60

2.4.5 Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục 61

2.4.6 Phương pháp hoạt động thực tiễn kết hợp giải quyết vấn đề cộng đồng 61

2.4.7 Phương pháp dạy học theo dự án 62

2.4.8 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 64

2.4.9 Phương pháp WebQuest -“Khám phá trên mạng” 65

2.5 Xây dựng một số kế hoạch dạy học giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT trong chương trình Địa lí 12 67

2.5.1 Kế hoạch dạy học “Bài 15:Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” 67

2.5.2 Kế hoạch dạy học bài 32: “Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ” 83

2.5.3 Kế hoạch dạy học bài 44,45: “Tìm hiểu địa lí tỉnh thành phố” 83

2.6 Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai của học sinh 83

2.6.1 Nội dung kiểm tra đánh giá 83

2.6.2 Hình thức kiểm tra, đánh giá 85

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 86

Chương 3: THỰC NGHỆM SƯ PHẠM 87

3.1 Mục đích thực nghiệm 87

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 87

3.3 Tổ chức thực nghiệm 87

3.3.1 Chuẩn bị thực nghiệm 87

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 89

3.3.3 Nội dung thực nghiệm 90

Trang 8

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 90

3.4.1 Phân tích định lượng 90

3.4.2 Phân tích định tính 96

3.4.3 Kết luận chung 96

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHẦN PHỤ LỤC 102

Trang 9

Học sinh

Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu Phòng tránh thiên tai

Môi trường Trung học phổ thông Thực nghiệm

Trung du và miền núi Bắc Bộ Giáo viên

Sách giáo khoa

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh dạy học tích hợp với dạy học đơn môn 20

Bảng 2.1 Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó BĐKH và PTTTqua các bài Địa lí 12 46

Bảng 2.2 Ví dụ về xây dựng công cụ đánh giá trong dạy học tích hợp 55

Bảng 2.3 công cụ đánh giá bài Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai 71

Bảng 2.4 bảng đánh giá theo cấp độ tư duy của học sinh 83

Bảng 3.1 Danh sách các lớp tham gia thực nghiệm 88

Bảng 3.2 Danh mục các bài thực nghiệm 89

Bảng 3.3 Danh sách giáo viên Địa lí dạy thực nghiệm 89

Bảng 3.4 Phân phối điểm lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 1 91

Bảng 3.5.Tỉ lệ xếp loại kết quả điểm lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 1 91

Bảng 3.6: Phân phối điểm của lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 2 92

Bảng 3.7.Tỉ lệ xếp loại kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 92

Bảng 3.8: Phân phối điểm điểm lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 3 93

Bảng 3.9.Tỉ lệ xếp loại kết quả điểm lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 3 93

Bảng 3.10 Bảng phân phối tần suất tổng hợp điểm các bài kiểm traở các lớp thực nghiệm và đối chứng 94

Bảng 3.11 Tổng hợp điểm trung bình và độ lệch chuẩn giữa lớp TN và ĐC 95

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Sơ đồ 2.1 Mục tiêu và sản phẩm đầu ra của chủ đề/ bài học tập 53

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % điểm của lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 1 91

Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện kết quả (%) điểm lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 2 92

Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện kết quả (%) điểm lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 3 93

Hình 3.4: Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm và đối chứngtại 3 trường thực nghiệm 94

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thiên tai là thuộc tính của tự nhiên và nó có từ ngàn đời nay, con người không thể ngăn chặn thiên tai không xảy ra mà chỉ có thể chủ động trong việc phòng, tránh thiên tai từ đó hạn chế các tác hại vô cùng nghiêm trọng do thiên tai mang lại

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm gia tăng thiên tai

cả về cường độ và phạm vi ảnh hưởng Ở nước ta, chưa bao giờ người dân phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai bất thường như những năm gần đây Nhiều cơn bão có diễn biến bất thường; các đợt lũ lụt gây ngập úng, sạt lở; đặc biệt mưa lớn kéo dài gây lũ quét và sạt lở đất ở miền núi…gây thiệt hại lớn về người và tài sản

Theo thống kê năm 2018, cả nước ta có 13 cơn bão và áp thấp nhiệt đới; 212 trận dông, lốc, sét; 14 trận lũ quét, sạt lở đất; 9 đợt gió mạnh trên biển; xuất hiện 4 đợt rét đậm rét hại; 11 đợt nắng nóng; 23 đợt không khí lạnh và 30 đợt mưa lớn trên diện rộng …Thiên tai đã gây ra thiệt hại ước đạt 20.000 tỷ đồng, làm 218 người chết và mất tích Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng năng nề nhất của biến đổi khí

hậu (theo báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 13/2/2019)

Trước những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu và thiên tai bất thường, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách ứng phó với BĐKH,

phòng tránh và giảm nhẹ rủ ro thiên tai trong đó có chính sách “tăng cường về giáo dục

ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai” Tuyên truyền, giáo dục nhân

dân chủ động PTTT và ứng phó với BĐKH là cách tốt nhất để hạn chế thiết hại do thiên tai gây ra và đối tượng tuyên truyền, giáo dục tốt nhất là học sinh THPT đây là lực lượng chủ lực và là nhân tố cơ bản để lan tỏa xã hội, những hành động của các em

có tính động viên, khích lệ lớn đối với gia đình và xã hội và do đó có tác động tới việc thay đổi hành vi cách ứng xử của mọi người trước vấn đề PTTT và ứng phó với BĐKH Mặt khác dạy học tích hợp trong giáo dục phổ thông là vấn đề không mới nhưng luôn được đặt ra trong các lần thay đổi chương trình giáo dục gần đây Nghị quyết số 29 của ban chất hành TW lần thứ 8 khóa XI đã xác định: “Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn”

Trang 13

Trong dạy học ở trường phổ thông nội dung giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu cho học sinh đã được tích hợp vào nhiều môn học như: Sinh học, Địa lí, Công nghệ…Trong đó môn Địa lí được coi là môn học có nhiều khả năng và cơ hội để tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT, đặc biệt là trong nội dung chương trình Địa lí 12, bởi vì nội dung của môn Địa lí 12 cung cấp cho học sinh kiến thức về Địa lí tổ quốc tập trung vào tất cả các vấn đề từ đặc điểm tự nhiên đến dân

cư, xã hội và sự phát triển kinh tế Đây là những nội dung có liên quan chặt chẽ với cơ chế hình thành, nguyên nhân, vùng phân bố một số thiên tai, biến đổi khí hậu tạo ra nhiều cơ hội để tích hợp lồng ghép giáo dục BĐKH và PTTT

Là một giáo viên giảng dạy môn Địa lí tại trường THPT ở Hà Giang tôi nhận thấy việc tích hợp nội dung giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT cho học sinh là rất cần thiết đặc biệt đối với học sinh THPT tỉnh Hà Giang, bởi Hà Giang là tỉnh miền núi, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, thiên tai tại đây đang có xu hướng diễn biến bất thường.Trong những năm qua, thiên tai làm cho cuộc sống của người dân ở đây đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Theo thống kê năm

2018, trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xảy ra nhiều đợt thiên tai làm thiệt hại lớn về người và tài sản Mưa lũ làm 10 người bị chết, 6 người bị thương, hơn 3 nghìn ngôi nhà và 44 điểm trường bị ảnh hưởng; hàng trăm diện tích hoa màu bị ngập úng …tổng thiệt hại khoảng hơn 300 tỷ đồng Từ đầu năm 2019 đến nay, tình hình thiên tai lại tiếp tục diễn biến phức tạp Thực tế đó cho thấy việc giáo dục phòng tránh thiên tai

và ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề rất cần thiết Khi có những kiến thức kĩ năng về vấn đề này sẽ giúp học sinh cũng như gia đình các em trong việc phòng tránh thiên tai, giảm thiểu rủi ro

Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy hiện nay đã có nhiều giáo viên tiến hành tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT cho học sinh qua môn học và đạt một

số hiệu quả nhất định Tuy nhiên cũng có một số giáo viên chưa coi trọng vấn đề này

do thời gian và phương tiện dạy học hạn chế Do đó, việc giáo dục ứng phó với BĐKH

và PTTTchưa đạt hiệu quả như mong muốn Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh

dạn chọn đề tài “Tích hợp ứng phó biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai qua

thực tế dạy học Địa lí 12 - THPT ở tỉnh Hà Giang” làm đề tài nghiên cứu

Trang 14

2 Lịch sử nghiên cứu

Dạy học tích hợp trở thành trào lưu sư phạm hiện đại của thế giới và Việt Nam bởi hình thức dạy học này giúp phát triển năng lực người học, tận dụng vốn kinh nghiệm của người học, thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học đồng thời giúp tinh giảm kiến thức tránh lặp lại nội dung ở các môn học Xuất phát từ vấn

đề cấp bách của thực tiễn dạy học tích hợp và vấn đề BĐKH và PTTT nên việc tích hợp nội dung ứng phó với BĐKH và PTTT vào các môn học đang thu hút sự quan tâm nghiên

cứu của nhiều nhà sư phạm trên thế giới cũng như ở Việt Nam

2.1 Trên thế giới

Trên thế giới, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về dạy học tích hợp Trước tiên phải kể đến Xavier Roegiers, Susan M Drake, đây là những tác giả tiên phong nghiên cứu về vấn đề dạy học tích hợp

Xavier Roegiers, ông cùng với đồng nghiệp của mình đã viết cuốn sách được dịch

ra tiếng Việt có tên “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển năng lực nhà trường” Nguyên bản tiếng Pháp - người dịch Đào Trọng Nguyên, Nguyễn Ngọc Nhi, NXB giáo dục năm 1996 Trong cuốn này, tác giả đã phân tích những căn cứ để dẫn tới việc tích hợp trong dạy học; lý thuyết về các quá trình học tập; lý thuyết về quá trình dạy học; cách xây dựng theo quan điểm tiếp cận tích hợp trong giáo dục tới khái niệm tích hợp, định nghĩa và mục tiêu; ảnh hưởng của cách tiếp cận này với việc xây dựng chương trình giáo dục, tới thiết kế mô hình sách giáo khoa và việc đánh giá kết quả học tập của học sinh Ông khẳng định “Tích hợp nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa hợp” tích hợp có nhiều mức độ khách nhau Ông còn nhấn mạnh “Trong đời sống hiện đại, giáo dục cần hướng tới dạy học tích hợp liên môn và xuyên môn để phát triển năng lực người học” Ngoài ra, ông cùng là người đưa ra quan điểm giáo dục nhà trường phải chuyển

từ dạy kiến thức đơn thuần sang phát triển ở người học các năng lực, xem “năng lực” là khái niệm cơ sở của khoa học sư phạm tích hợp Những quan điểm và tư tưởng của Xavier đã có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc xây dựng chương trình giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

Ngoài tác giả Xavier, chúng tôi cũng nghiên cứu quan điểm của Forgary Forgary cho rằng có ba dạng và 10 cách tích hợp Trong đó, dạng 1 là trong các môn

Trang 15

học, kết nối, lồng nhau; dạng 2 bao gồm mô hình khuôn chuỗi nối tiếp; dạng 3 là tích hợp xuyên môn Như vậy, theo ông việc dạy học tích hợp có thể tiến hành trong nội bộ môn học, thức hiện qua việc xây dựng các chủ đề

Quan niệm về dạy học tích hợp của tác giả Susan Mdrake có nhiều nét tương đồng với quan điểm của tác giả Xavier nhưng ông trình bày rõ ràng và chi tiết hơn đồng thời có các sơ đồ minh họa Ông cũng chú ý tới ngữ cảnh của đời sống thực

Vận dụng dạy học tích hợp vào giáo dục nhà trường, trên thế giới nhiều quốc gia đã tiến hành dạy học tích hợp như tích hợp liên môn, tích hợp kĩ năng sống và đặc biệt là tích hợp kiến thức về BĐKH và PTTT Nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sỹ…tích hợp giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu đã được đưa vào chương trình chính thức cũng như chương trình phổ thông với mục đích góp phần giáo dục, phòng tránh thiên tai bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài

nguyên … và góp phần làm giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu

Do hoạt động kinh tế - xã hội của con người, mà nhiều năm trở lại đây vấn đề biến đổi khí hậu với biểu hiện chính là sự nóng lên của toàn cầu và hiện tượng nước biển dâng cùng với việc gia tăng các thiên tai trên toàn cầu đang là vấn đề toàn thế giới quan tâm tìm cách ứng phó Để ứng phó với hiện tường này Liên Hợp Quốc đã thành lập tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) Theo báo cáo của IPCC (2007) được đưa

ra trong “kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam” thì nhiệt độ trung

bình của trái đất tăng thêm 0,740C trong thời kì 1906- 2005 và tốc độ tăng nhiệt độ 50 năm gần đây nhanh gấp đôi 50 năm trước đó Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỉ 20 với tốc độ 1,8mm/ 1 năm Trong thập niên gần đây thiên tai xảy ra thường xuyên hơn trung bình mỗi năm có khoảng 300 thiên tai và 300 triệu người bị ảnh hưởng Năm 2007 báo cáo về phát triển con người của Liên Hợp Quốc đã dành nội dung chủ yếu cho biến đổi

khí hậu vấn đề được ghi nhận là “tình huống khẩn cấp”.Thế giới đã có các văn kiện quốc

tế về hoạt động giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí như: Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (1992); Từ chương trình hành động Hyogo (2005) đến khung Sendai (2015); Hiệp định chống biến đổi khí hậu; Hiệp định ASEAN

về quản lí thiên tai và ứng phó khẩn cấp; Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (Agenda 2030)

Trang 16

Vấn đề lồng ghép, tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT qua các môn

học trên thế giới có công trình nghiên cứu “Biến đổi khí hậu- giải thích cho con người”

Pháp (Phạm việt Hưng dịch năm 2011) Ngoài ra tại Nhật Bản, quốc gia có gần 70 năm thực hiện giáo dục tổng hợp, đây cũng là quốc gia luôn phải đối diện với rất nhiều thiên tai, do vậy họ rất đề cao việc phòng tránh tai nạn trong trường học cho học sinh và giáo viên Giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT là vấn đề rất được quan tâm tại Nhật Bản, điều này trở thành kinh nghiệm và những bài học quý báu cho các nước khác khi việc đưa giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT vào chương trình phổ thông

Việc tích hợp ứng phó BĐKH và PTTT qua các môn học trên thế giới vẫn tiếp đưa vào nghiên cứu

2.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia được Liên Hợp Quốc chọn để nghiên cứu điển hình về biến đổi khí hậu và phát triển con người bởi Việt nam là quốc gia đứng thứ 5 về khả năng bị tổn hại do tác động của biến đổi khí hậu, theo báo cáo Việt Nam có thể mất 12

% diên tích lãnh thổ và 17 triệu người bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Do vậy Việt

Nam đã công bố và thực thi “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí

hậu” (Quyết định số 158/2008/QĐ-TT ngày 02/ 12/2008); Ban hành Luật phòng chống

thiên tai ngày 19/6/2013; Đưa ra Quyết định 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của thủ tướng chính phủ phê duyệt về chiến lược phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; Quyết định 1474/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012- 2020; Quyết định 2734/QĐ-BGDĐT ngày 29/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo phê duyệt Đề án “Đưa kiến thức, kĩ năng phòng tránh thiên tai vào nhà trường

giai đoạn 2012-2020”; Quyết định số 5523/ QĐ- BGDĐT ngày 21/11/2014 về việc

phê duyệt khung kiến thức, kĩ năng và thái độ về giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu

và phòng tránh thiên tai trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và

cơ sở giáo dục thường xuyên…

Ở Việt Nam kiến thức về giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT, không tổ chức thành môn học cụ thể, nhưng được đưa vào chương trình giáo khoa theo hướng tích

hợp (tích hợp toàn phần, bộ phận và tích hợp liên hệ) ở các cấp học Ở trong chương

Trang 17

trình phổ thông tích hợp vào các môn Địa lí, Sinh học, Công nghệ, Hoạt động ngoài giờ lên lớp …

Đã có có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề lồng ghép, tích hợp

giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT các môn học như: “Một số điều cần biết về biến đổi

khí hậu”của tác giả Trương Quang Ngọc- Nguyễn Đức Ngữ (2009).Tài liệu này đề cập

rộng rãi đến các lĩnh vực khác nhau của biến đổi khí hậu, từ việc điều tra nghiên cứu đến quy hoạch và các vấn đề quản lí liên quan

“Tài liệu tập huấn viên biến đổi khí hậu” chủ biên Trương Quang Học (xuất bản

năm 2011), tài liệu đề cập tới biến đổi khí hậu toàn cầu ở Việt Nam, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các kế hoạch phát triển chương trình dự án, truyền thông về biến đổi khí hậu

Năm 2019 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra tài liệu “giáo dục phòng tránh

thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trong trường mầm non, trường phổ thông”

Tài liệu này đưa ra một số gợi ý về các phương pháp tổ chức dạy học, các biện pháp giáo dục theo định hướng mới qua các chủ đề minh hoa về giáo dục ứng phó với BĐKH

và phòng, tránh thiên tai cho học sinh

Tại Hà giang Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Hà Giang cũng đã biên soạn tài liệu

“Giáo dục kĩ năng sống và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số cho học sinh trung học của tỉnh Hà Giang” trong tại liệu này cũng đã đưa ra những thiên tai thường

gặp tại Hà Giang và cách ứng phó

Ngoài ra cũng đã có một số đề tài luận văn nghiên cứu vấn đề “Tích hợp biến

đổi khí hậu trong dạy học Địa lí 10” hoặc là “Xác định nội dung và phương pháp giáo dục kĩ năng phòng chống thiên tai qua môn Địa lí Việt Nam ở trường THPT”

Tuy chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về tích hợp giáo dục BĐKH và PCTT trong nhà trường đặc biệt là tích hợp ứng phó với BĐKH và PTTT trong dạy học Địa lí 12, nhưng các nghiên cứu về dạy học tích hợp, nghiên cứu về BĐKH và PCTTlà những nội dung để tác giả kế thừa và thực hiện nghiên cứu luận văn của mình

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về BĐKH và PTTT, đề tài tập trung nghiên cứu vào việc tích hợp các nội dung BĐKH và PTTT vào dạy học Địa lí lớp 12

Trang 18

nhằm nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng ứng phó với BĐKH và PTTTcho học sinh THPT tại Hà Giang

3.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học tích hợp

- Nghiên cứu các vấn đề về BĐKH và PTTT qua thực tế ở tỉnh Hà Giang

- Đánh giá thực trạng của việc giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT trong dạy học nói chung và dạy học địa lí nói riêng ở một số trường THPT tỉnh Hà Giang

- Nghiên cứu cấu trúc chương trình và nội dung môn Địa lí lớp 12 làm cơ sở để xây dựng nội dung tích hợp nội dung ứng phó BĐKH và PTTT

- Đề xuất nguyên tắc, biện pháp thích hợp các nội dung đã lựa chọn vào một số bài, nội dung cụ thể của chương trình Địa lí 12

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi cũng như tính hiệu quả của việc tích hợp giáo dục ứng phó BĐKH và PTTT trong dạy học Địa lý 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTT vào một số bài cụ thể trong chương trình địa lí lớp 12, chương trình hiện hành

- Thời gian nghiên cứu: Năm học 2019 - 2020

- Đối tượng khảo sát thực nghiệm: Một số trường THPT tại Tỉnh Hà Giang

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1.Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm lịch sử

Quan điểm lịch sử là quan điểm nghiên cứu về lịch sử ra đời, quá trình phát triển, của vấn đề nghiên cứu Vận dụng quan điểm này trong dạy học tích hợp nội dung ứng phó BĐKH và PTTT qua môn Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực

để thấy được những thay đổi của phương pháp, phương tiện dạy học trong từng giai đoạn phát triển và xu hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Từ đó đánh giá được hiện trạng và xu hướng phát triển trong tương lai Dạy học tích hợp cũng phải dựa trên lịch sử phát triển của phương pháp và hình thức dạy học tích hợp đã được nghiên cứu

Trang 19

5.1.2 Quan điểm hệ thống

Khi nghiên cứu sự vật hiện tượng, quá trình của thế giới phải xem xét một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệliên hệ trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng Việc nghiên cứu dạy học tích hợp nội dung ứng phó với BĐKH và PTTT qua môn địa

lí 12 cũng phải được đặt trong mối quan hệ với các thành tố của quá trình dạy học như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học,…

5.1.4 Quan điểm lãnh thổ

Do điều kiện tự nhiên và giáo dục khác nhau nên việctích hợp nội dung ứng phó BĐKH và PTTT qua môn Địa lí 12 ở mỗi nơi cũng theo đó mà khác nhau Tùy theo đặc trưng của từng địa phương mà GV nên lựa chọn nội dung tích hợp phù hợp nhất, giúp các em vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Mặt khác cũng tùy thuộc vào chất lượng của học sinh, phương tiện hỗ trợ học tập giảng dạy mà GV lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp Vì vậy, khi nghiên cứu về đối tượng nào đó cần xem xét lãnh thổ nơi mà đối tượng nghiên cứu tồn tại Chỉ khi xem xét một cách toàn diện về lãnh thổ ta mới nhận xét, đánh giá phù hợp nhất, cũng như định hướng, hoàn thiện phương pháp tích hợp nội dung ứng phó với BĐKH và PTTT qua môn địa lí 12 để đạt hiệu quả cao nhất

5.1.5 Quan điểm dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực thực chất là cách dạy hướng tới việc học tập tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh Dạy và học tích cực là một trong những mục tiêu chung và cũng là một tiêu chuẩn giáo

Trang 20

dục hiệu quả định hướng cho việc đổi mới cả phương pháp đào tạo giáo viên và dạy học trong trường phổ thông Trong dạy học tích cực, người học - chủ thể và hoạt động học tập được cuốn hút vào những hoạt động học tập do giáo viên học tập và chỉ đạo thông qua đó được tự lực khám phá những tri thức mình chưa biết, chứ không phải là tiếp thu kiến thức một cách thụ động

Tích hợp nội dung ứng phó với BĐKH và PTTT qua môn Địa lí 12 sẽ giúp tích cực hóa các hoạt động của HS, giúp rèn luyện những kĩ năng về sử dụng bản đồ, đồ dùng trực quan, kênh hình cho GV, tăng cường các kĩ năng địa lí và giúp bài học đạt hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó HS được đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho

HS để các em biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu

- Nghiên cứu các văn bản và các chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về ứng phó với BĐKH và PTTT

- Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc dạy học tích hợp nói chung và tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH và PTTTtrong chương trình địa lí

12 THPT

5.2.2 Phương pháp đều tra, khảo sát thực tế

- Điều tra thực trạng giáo dục BĐKH và PTTTở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Hà Giang để tìm hiểu mức độ nhận thức về vấn đề giáo dục phòng tránh thiên tai của giáo viên và học sinh Dự giờ, lên lớp của một số giáo viên dạy môn Địa lí THPT tỉnh Hà Giang, phỏng vấn giáo viên, học sinh, trao đổi với tổ chuyên môn, với cán bộ quản lý nhà trường về thực tế giảng dạy tích hợp kiến thức giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu qua dạy và học các môn học nói chung và dạy học phần Địa lí 12 nói riêng

- Sử dụng phiếu điều tra để xác định mức độ hiểu biết về thái độ và hành vi của học sinh trong học tập địa lí lớp 12 trước và sau khi thực hiện phương pháp tích hợp

- Tiến hành quan sát các hoạt động học tập của học sinh trong quá trình dạy học Địa lí 12

Trang 21

5.2.3 Phương pháp phân tích hệ thống

Đây là phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu phải đặt nó trong mối quan hệ tương quan với phương pháp khác, với các yếu tố trong hệ thống kiến trúc tư cao xuống thấp,

từ đơn giản đến phức tạp Việc nghiên tích hợp trong dạy học Địa lí cũng phải tuân theo nguyên tắc trên

5.2.4 Phương pháp toán thống kê

Đây là phương pháp cần thiết trong việc tiếp cận và nghiên cứu đề tài Trên cơ

sở thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực khác nhau đảm bảo thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng mục đích của đề tài, từ đó lựa chọn được các nội dung tiêu biểu phục vụ cho việc làm rõ các nội dung nghiên cứu của đề tài

5.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về sự thay đổi số lượng

và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học

tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được điều tra

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn và giả thuyết khoa học triển khai dạy thực nghiệm một số bài giảng trong chương trình Địa lí 12 để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài kiểm định giả thuyết khoa học

6 Đóng góp của đề tài

- Đã tổng quan có chọn lọc những vấn đề về lý luận của việc tích hợp giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trong dạy học nội dung Địa lí lớp 12

- Đã đánh giá được những đặc điểm cơ bản về thực trạng giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố

Hà Giang

- Đã xác định được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích hợp giáo dục phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trong dạy học một

số nội dung Địa lí lớp 12

- Đã thiết kế được một số kế hoạch dạy học tích hợp BĐKH và PCTT trong dạy học Địa lí 12

- Đề tài là tài liệu tham khảo cho GV và sinh viên Địa lí trong dạy học

Trang 22

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn của tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH

và PCTT trong dạy học Địa lí 12

Chương 2:Quy trình và phương phápgiáo dục ứng phó biến đổi khí hậu trong

và phòng tránh thiên tai trong dạy học Địa lí 12

Chương 3:Thực nghiệm sư phạm

Trang 23

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC ỨNG PHÓ

VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI

1.1 Một số vấn đề về dạy họcvà dạy học tích hợp

1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

Có nhiều khái niệm khác nhauvề phương pháp dạy học cụ thể như: Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong

đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Như vậy phương pháp dạy học gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học [13]

Phương pháp dạy là cách thức giáo viên trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học theo quan điểm công nghệ dạy học, phương pháp dạy học là phương pháp thiết kế và góp phần thi công các quá trình dạy học của người giáo viên.[13]

Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học.Cũng có thể nói phương pháp dạy học là cách thức tự thiết kế và thi công quá trình học tập của người học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học

- Mỗi phương pháp thường gồm mục đích định trước

- Hệ thống những hành động liên tiếp

- Phương pháp hành động (ngôn ngữ, thao tác…)

- Quá trình biến đổi của đối tượng bị tác động

- Kết quả thực tế đạt được

Bên cạnh những điểm chung nói trên, phương pháp dạy học còn có những điểm riêng có tính chất đặc thù của dạy học Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy, phương pháp học có quan hệ chặt chẽ với phương pháp khoa học và tâm lí xã hội của sự lĩnh hội [13]

1.1.2 Các phương hướng đổi mới phương pháp dạy học

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo cho phù hợp với những yêu cầu mới của thời đại, hiện nay ở trên thế giới, có một số phương hướng cải tiến phương pháp

Trang 24

dạy học chủ yếu sau đây: Tích cực hóa quá trình dạy học; Cá thể hóa việc dạy học; Công nghiệp hóa giáo dục và thực hiện công nghệ đào tạo; Dạy học lấy học sinh làm trung tâm; Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học

Đặc trưng cơ bản của “tích cực hóa quá trình dạy học” là dạy học thông qua quá

trình tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh; Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Đặc trưng cơ bản của“cá thể hóa việc dạy học” là mục tiêu dạy học phù hợp với

điều kiện, đặc điểm của từng học sinh; nội dung dạy học phù hợp với nhu cầu, hứng thú của từng học sinh

“Công nghệ đào tạo” là khoa học tổ chức một cách tối ưu quá trình đào tạo

nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất về số lượng cũng như chất lượng với sự chi phí ít nhất về thời gian, sức lực, tiền của nhằm đáp ứng có hiệu quả và kịp thời những yêu cầu của nền kinh tế xã hội ngày nay Công nghệ đào tạo là một phương thức quan trọng

để thực hiện quan điểm “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

Quan điểm “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đề cao vai trò tích cực chủ thể

cả người học nhưng không coi nhẹ vai trò người dạy Ở quan điểm này Học sinh tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình; Học sinh học cách học, cách giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành; HS nh tự đánh giá, tự điều chỉnh… Học sinh phát triển cao hơn ở các trình độ nhận thức, tình cảm, hành vi Học sinh tự tin, có tinh thần phê phán Biết xác định các giá trị …Do vậy theo quan điểm này chính là thực hiện phương pháp dạy học tích cực, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh Bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh

Trong nhưng năm gần đây,“dạy học dựa trên phát triển năng lực người học”trở

thành phương hướng đổi mới trong phương pháp dạy học Dạy học dựa trên phát triển năng lực người học là một sự thay đổi tất yếu khách quan phù hợp với sự phát triển của

xã hội Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế- xã hội đòi hỏi những con người mới có những năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu lao động trong tình hình mới Chính vì

Trang 25

vậy mà tại Đại hội XII của Đảng đã khẳng định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ

các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học” Quan điểm của Đảng thể hiện mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi

mới,chuyển quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, chú trọng dạy chữ, dạy người, dạy nghề Tập trung dạy học khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Giáo dục đào tạo phải thấm nhuần phương châm học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn [13]

Chương trình giáo dục phổ thông mới (Chương trình giáo dục phổ thông ban

hành kèm Thông tư số 32/2018/ TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) được xây dựng trên 5 quan điểm trong đó có quan điểm “Chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống” [2]

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là dạy học nhằm giúp cho học sinh phát triển năng lực hành động, nghĩa là học sinh có khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

Có ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về năng lực học sinh đó là: Năng lực không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, kĩ năng học được…, mà còn là khả năng hành động, ứng dụng/ vận dụng tri thức, kĩ năng học được vào giả quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với các em; Năng lực không chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ sống phù hợp với lứa tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này thể hiện ở khả năng hành động hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt được mục đích đề ra; Năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ở ngoài lớp học ngoài ra những môi trường khác như gia đình, cộng đồng… cũng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực của các em

Trang 26

Như vậy các phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đều nhằm phát triển phẩm chất (yêu nước,nhân ái, chăm chỉ,trung thực, trách nhiệm…) và năng lực (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác;giải quyết vấn đề và sáng tạo ) cho học sinh

1.1.3 Khái niệm dạy học tích hợp

Theo từ điển bách khoa “Le petit Larousse illustrée” (2002) và từ điển việt pháp thì nghĩa của từ “tích hợp” (Integrer) là: “Gộp lại, sát nhập vào thành một tổng thể”

Theo Xavier Roegiers (1996) “dạy học tích hợp là một quan niệm về quá trình

học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động -dạy học tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [22]

Hoặc cũng có quan niệm: dạy học tích hợp là hành động liên kết một cách hữu

cơ có hệ thống các đối tượng nghiên cứu học tập của một và lĩnh vực môn học khách nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở học sinh các năng lực cần thiết

Trong dạy học tích hợp, học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức kĩ năng và thao tác

để giải quyết một tình huống phức hợp - thường gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình

đó, học sinh nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và các phẩm chất cá nhân [16]

Mặc dù có các quan niệm khách nhau về dạy học tích hợp, song có thể thống nhất ở một tư tưởng: Tích hợp là một phương pháp sư phạm mà người học huy động (mọi) nguồn lực để giải quyết một “tình huống phức hợp - có vấn đề” nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cá nhân [10]

1.1.4 Mục tiêu dạy học tích hợp

- Làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa: Bằng cách đặt quá trình học tập vào hoàn cảnh (tình huống) để học sinh nhận thấy ý nghĩa của các kiến thức, kĩ năng, năng lực cần lĩnh hội Điều đó có ý nghĩa to lớn tạo động lực học tập cho học sinh Trong quá trình học tập các kiến thức, kĩ năng, năng lực đều được huy động và gắn với thực tế cuộc

Trang 27

sống Nghĩa là “Không còn hai thế giới riêng biệt, thế giới nhà trường và thế giới cuộc

sống” do vậy cần liên kết các môn học khác nhau trong nhà trường

- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: Phải lựa chọn các tri thức, kĩ năng cốt yếu xem là quan trọng đối với quá trình học tập của học sinh và giành thời gian cũng như là giải pháp hợp lí cho chúng

- Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống: Thể hiện cụ thể là nêu bật cách sử dụng kiến thức đã lĩnh hội; Tạo các tình huống học tập để học sinh vận dụng kiến thức một cách sáng tạo tự lực để hình thành người lao động có năng lực tự lập

Theo tư tưởng này, dạy học tích hợp quan tâm không chỉ đánh giá những kiến

thức mà học sinh lĩnh hội được, mà chủ yếu “Đánh giá học sinh có khả năng sử dụng

kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không Xavier Rogiers gọi khả năng như vậy của học sinh là năng lực hay còn gọi là mục tiêu tích hợp.” [10]

- Mối liên hệ giữa các khái niệm đã học:Ở đây lí thuyết dạy học tích hợp hướng tới thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học cũng như của các môn học khác nhau Đây là tư tưởng sư phạm quan trọng nhằm đào tạo học sinh có năng lực đáp ứng được thách thức lớn của xã hội ngày nay là học sinh có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất hiện hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp

Tư tưởng sư phạm đó gắn liền với việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.[10]

1.1.5 Các quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học

1.1.5.1 Các quan điểm tích hợp

- Tích hợp nội bộ môn: Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt Như vậy, nó ưu tiên các nội dung của môn học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ

- Tích hợp đa môn: Trong đó đề xuất những tình huống, những đề tài có thể

nghiên cứu theo các quan điểm khác nhau (môn học khác nhau) theo quan điểm này,

các môn học vẫn tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài (không thực sự tích hợp)

Trang 28

- Tích hợp “liên môn”, Trong đó đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học, ở đây có sự sự liên kết các môn học để giải quyết một tình huống cho trước

- Tích hợp“xuyên môn”, Chủ yếu quan tâm phát triển những kĩ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống Những kĩ năng đó gọi là kĩ năng “xuyên môn” Có thể lĩnh hội những kĩ năng này trong từng môn học hoặc trong những tình huống có những hoạt động chung cho nhiều môn học

Với quan điểm “Cần phải tích hợp cấp môn học”, một quan điểm đã được khẳng định từ nhu cầu xã hội thì xu hướng liên môn và xuyên môn là tất yếu:

1) Quan điểm “liên môn” đòi hỏi sự phối hợp, sự đóng góp của nhiều môn học

để nghiên cứu và giải quyết 1 tình huống

2) Quan điểm “xuyên môn” đòi hỏi tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng xuyên môn nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi

1.1.5.2 Các mức độ tích hợp trong môn học

Dạy học tích hợp được bắt đầu với việc xây dựng một chủ đề cần huy động kiến thức, kĩ năng, phương pháp của nhiều môn học để giải quyết vấn đề Lựa chọn được một chủ đề mang tính thách thức và kích thích được người học dấn thân vào các hoạt động là điều cần thiết trong dạy học tích hợp Có thể đưa ra 3 mức độ dạy học tích hợp như sau

- Lồng ghép/ liên hệ:Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã

hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ dạo của nội dung bài học của một môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học minh đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp

Dạy học tích hợp ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học, các chủ đề gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu của người học sẽ có nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép Sơ đồ “Xương cá” thể hiện quan

hệ giữa kiến thức của một môn học (trục chính) với kiến thức của các môn học khác

- Vận dụng kiến thức liên môn: ở mức độ này hoạt động học diễn ra xung quanh

các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết

Trang 29

vấn đề đặt ra Khi đó các chủ đề được gọi là chủ đề hội tụ

Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các môn học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ “mạng nhện” Như vậy nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống, mặt khác vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ

Việc liên kết kiến thức các môn học để giải quyết tình huống cũng có nghĩa là các kiến thức được tích hợp ở mức độ liên môn học Có hai cách thực hiện mức độ tích hợp này

Cách 1 Các môn học vẫn được dạy riêng ra nhưng ở cuối kì, cuối năm hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vẫn đề chung (của môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) và các thành tựu thực tiễn, cách này nhằm giúp học sinh xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội

Cách 2 Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học, nói cách khác sẽ bố trí xen kẽ nội dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho học sinh dần quen với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau

- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp Ở mức độ này tiến

trình dạy học là tiến trình “không môn học”,nghĩa là nội dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học

Ở mức độ hòa trộn, Giáo viên phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm mô, tạo thành các chủ đề học tập thích hợp.Trong quá trình thiết kế sẽ có những chủ đề học tập, trong đó các năng lực cần hình thành được thể hiện xuyên suốt toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề Các năng lực nay chính là các năng lực được hình thành xuyên môn học Ví dụ, với môn khoa học

xã hội, đó là năng lực giải quyết các vấn đề xã hội

Để thực hiện tích hợp ở mức độ hòa trộn cần sự hợp tác của các giáo viên đến

từ các môn học khác nhau Khi lựa chọn và xây dựng nội dung học,giáo viên phải có hiểu biết sâu sắc về chương trình và đặt chương trình các môn học cạnh nhau để so

Trang 30

sánh, để tôn trọng những đặc trưng nhằm dẫn học sinh đến mục tiêu dạy học xác định hướng tới việc phát triển năng lực Việc phân tích mối quan hệ giữa các môn học khách nhau trong chủ đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn học phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác

1.1.5.3 Các mức độ tích hợp trong một bài học

- Tích hợp toàn phần:Nội dung của bài trùng hợp phần lớn hay hoàn toàn với

nội dung tích hợp Tức là khi giảng dạy nội dung của một bài học thì kiến thức tích hợp

sẽ gắn liền với nội dung kiến thức của bài học đó

- Tích hợp bộ phận: Chỉ có một phần bài học có nội dung được tích hợp sử dụng

được thể hiện bằng mục riêng, một đoạn hay một vài câu trong bài học

- Lồng ghép/ liên hệ:Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với

xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ dạo của nội dung bài học của một môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học minh đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp Cũng có thể các kiến thức được tích hợp không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng dựa vào kiến thức bài học, giáo viên có thể bổ sung, liên hệ giáo dục học sinh

1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Địa lí

1.1.6.1 Ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Địa lí

Địa lí học là một ngành khoa học nghiên cứu về các vùng đất, điạ hình, thủy văn khí hậu, dân cư các hiện tượng tự nhiên và văn hóa xã hội khác Địa lí học hiện đại mang tính liên ngành bao gồm tất cả những hiểu biết trước đây về trái đất và tất cả những mối quan hệ phức tạp giữacon người và tự nhiên- không chỉ đơn thuần là nơi đó

có đối tượng đó, mà còn về cách chúng thay đổi và đến được như thế nào Địa lý còn

được gọi là “ngành học về thế giới” Địa lí được chia thành hai nhánhchính, địa lí tự

nhiên và địa lí kinh tế- xã hội

Các tri thức Địa lí được dạy trong trường học phổ thông gồm có hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo địa lí được lựa chọn trong khoa học Địa lí và được xắp xếp theo một trình tự nhất định, nhằm cung cấp một lượng kiến thức và giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Cũng như các môn học khác, Địa lí góp phần giáo dục và đào tạo những người công dân tương lai phù hợp với yêu cầu xã hội

Trang 31

Môn địa lí có khả năng cung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức phong phú về

tự nhiên, về kinh tế xã hội và những kĩ năng, kĩ xảo; môn Địa lí bồi dưỡng cho học sinh một thế giới quan khoa học và những quan điểm nhận thức đúng đắn; Môn địa lí hình thành cho học sinh nhân cách con người mới trong xã hội Như vậy, Địa lí có vị trí chức năng và nhiệm vụ rất quan trọng trong giáo dục phổ thông

Khoa học Địa lí gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nên nghiên cứu Địa

lí có rất nhiều mối liên hệ với các khoa học khác Hơn nữa khoa học Địa lí nghiên cứu các vấn đề rất gần gũi với học sinh, những vấn đề này mang tính thực tế cao, dễ dàng cho học sinh liên hệ, tìm hiểu Chính vì vậy Để cho quá trình nắm tri thức, học tập và rèn luyện những kĩ năng kĩ xảo Địa lí tốt hơn thì đổi mới phương pháp dạy học và nhất là áp dung hình thức dạy học tích hợp trong dạy học là rất cần thiết Dạy học tích hợp trong môn Địa

lý sẽ giúp: Góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông; Phát triển phẩm chất, năng lực người học; Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học; Thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của môn Địa lí; Góp phần giảm tải kiến thức lý thuyết cho học sinh cho học sinh

Như vậy vận dụng dạy học tích hợp trong dạy học nói chung và trong môn Địa

lí nói riêng còn giúp phát triển năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy của học sinh, vì nó luôn tạo ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức gần gũi với cuộc sống Nhờ vậy tạo nên hứng thú học tập cho học sinh, giúp việc học tập trở nên hiệu quả và có ý nghĩa hơn

1.1.6.2 Vai trò của tích hợp trong dạy học Địa lí

- Phát triển năng lực người học: Dạy học tích hợp là dạy học xung quanh một chủ đề đòi hỏi sử dụng kiến thức, kĩ năng phương pháp của nhiều môn học/ lĩnh vực khoa học trong tiến trình tìm tòi nghiên cứu điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc trao đổi

và làm giao thoa các mục tiêu dạy học của các môn học/ lĩnh vực khoa học khác nhau

Vì thế, tổ chức day học tích hợp mở ra triển vọng cho việc thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực

Bảng 1.1 So sánh dạy học tích hợp với dạy học đơn môn

Dạy học tích hợp Dạy học đơn môn

Mục

tiêu

Phục vụ cho mục tiêu chung của một số

nội dung thuộc các môn học khác nhau

Phục vụ cho mục tiêu riêng rẽ của từng môn học

Mục tiêu rộng, ưu tiên các mục tiêu

chung, hướng đến sự phát triển năng lực

Mục tiêu hạn chế hơn, chuyên biệt hơn (thường là các kiến thức và kĩ

Trang 32

năng của môn học) Xuất phát từ tình huống kết nối với lợi

ích và sự quan tâm của học sinh, của

cộng đồng liên quan tới nội dung của

hoạt động học thường xuất phát từ vấn

đề mở cần giải quyết hoặc một dự án cần

thực hiện Việc giải quyết vấn đề cần căn

cứ vào các kiến thức, kĩ năng thuộc các

môn học khác nhau

Hoạt động học thường được cấu trúc chặt chẽ theo trình tự đã dự kiến (trước khi thực hiện hoạt động)

Trung

tâm của

việc dạy

Nhận mạnh đặc biệt đến sự phát triển

năng lực và làm chủ mục tiêu lâu dài như

các phương pháp, kĩ năng và thái độ của

người học

Có quan tâm đến sự phát triển kĩ năng của người học nhưng đặc biệt nhằm tới việc làm chủ mục tiêu ngắn hạn như kiến thức, kĩ năng của một môn học

Hiệu

quả của

việc học

Dẫn đến việc phát triển phương pháp,

thái độ, kĩ năng và trí tuệ cũng như tình

cảm Hoạt động học dẫn đến việc tích

hợp các kiến thức

Dẫn đến việc tiếp nhận kiến thức

và kĩ năng mang đặc thù của môn học

[15] Các tình huống trong dạy học tích hợp thường gắn với thực tiễn cuộc sống, gần gũi và hấp dẫn với người học; người học cần phải giải thích, phân tích lập luận hoặc tiến hành các thí nghiệm, xây dựng các mô hình để giải quyết vấn đề Chính qua đó, tạo điều kiện phát triển các phương pháp và kĩ năng cơ bản ở người học như: Lập kế hoạch, phân tích, tổng hợp thông tin, đề xuất các giải pháp một cách sáng tạo…; Tạo

cơ hội kích thích động cơ, lợi ích và sự tham gia các hoạt động học, thậm chí với các học sinh trung bình và yếu về năng lực học

Dạy học tích hợp không chỉ đánh giá kiến thức đã lĩnh hội được, mà chủ yếu đánh giá xem học sinh có năng lực sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không Nói cách khác, người học phải có khả năng huy động có hiệu quả kiến thức

và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một vấn đề xuất hiện hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp

-Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học: Dạy học tích hợp tìm cách hòa nhập các hoạt động của nhà trường vào thực tế cuộc sống.Việc gắn với bối cảnh thực tế và gắn với nhu cầu người học cho phép dạy học tích hợp tạo nên sự tích cực và sự chịu trách nhiệm của người học Khi việc học được đặt gần gũi với bối cảnh thực tiễn, với cuộc sống sẽ cho phép tạo ra niềm tin ở người học, kích thích họ tích cực huy động và

Trang 33

tận dụng tối đa vốn kinh nghiệm của mình Chính điều đó sẽ tạo điều kiện cho học sinh đưa ra những lập luận có căn cứ, có lí lẽ, qua đó họ biết được vì sao hoạt động học tập diễn ra như vậy Đó là cơ hội để phát triển siêu nhận thức ở người học Có nghĩa khi người học có những đáp ứng tích cực với hoạt động cần thực hiện, hiểu rõ mục đích các hoạt động, thậm chí là kết quả cần đạt được thì hoạt động học sẽ trở thành nhu cầu

tự thân và có ý nghĩa

- Thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức kĩ năng và phương pháp của các môn học: Việc tích tụ giản đơn các khái niệm, sự lặp lại một cách đơn điệu các kiến thức sẽ trở nên không chấp nhận được bởi vì người học không thể thu nhận và lưu giữ tất cả các thông tin đến một cách riêng lẻ Điều này cho thấy cần tổ chức lại dạy học “xuất phát từ sự thống nhất” để người học có nhiều cơ hội tập trung vào hoạt động khai thác hiểu và phân tích thông tin nhằm giải quyết vấn đề thay vì việc phải ghi nhớ và lưu giữ thông tin

Dạy học tích hợp tạo mối liên hệ trong học tập bằng việc kết nối các môn học khác nhau, nhấn mạnh đến sự phụ thuộc và quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học đó Do vậy dạy học tích hợp là phương thức dạy học hiệu quả để kiến thức được cấu trúc có tổ chức và vững chắc

Khi tổ chức dạy học tích hợp, nếu khéo léo thiết kế các hoạt động học quá trình học sẽ diễn ra một cách thống nhất, tự nhiên Trong cuộc sống hàng ngày, các hiện tượng tự nhiên không bị chia cắt thành từng phần riêng biệt, các vấn đề xã hội luôn mang tính toàn cầu Học sinh sẽ học bằng cách giải thích và tiên đoán các hiện tượng

tự nhiên và xã hội qua mối liên hệ giữa các phần khác nhau của kiến thức thuộc các môn học khác nhau.Như vậy, học sinh sẽ nhìn thấy tiến trình phát triển logic của việc học trong mối quan hệ giữa các môn học

- Tinh giảm kiến thức tránh sự lặp lại các nội dung ở các môn học: Thiết kế các chủ đề tích hợp ngoài việc tạo điều kiện tích hợp mục tiêu của hai hay nhiều môn học, còn cho phép.Thiết kế các nội dung học để tránh sự lặp lại cùng một kiến thức ở các môn học khác nhau, do đó tiết kiệm thời gian khi tổ chức hoạt động học mà vẫn đảm bảo học tích cực, học sâu.Tạo điều kiện tổ chức các hoạt động học đa dạng, tận dụng các nguồn tài nguyên cũng như sự huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá

trình giáo dục

Trang 34

Bên cạnh những lợi ích dạy học tích hợp cũng đặt ra những thách thức:

- Dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên đầu tư nhiều thời gian, công sức cho việc xây dựng nội dung và thiết kế các hoạt động học Giáo viên phải có đầu óc cởi mở, mềm dẻo và sẵn sàng đối đầu với mọi nguy cơ Giáo viên cần tình nguyện đầu tư thời gian cần thiết cho việc thiết kế các hoạt động dạy học và sẵn sàng tiếp nhận các nguồn thông tin đến từ các môn học khác cũng như các nguồn thông tin mới các vấn đề về thực tiễn xã hội và khoa học

- Chủ đề tích hợp có thể phá vỡ cấu trúc logic của môn học truyền thống Do vậy tổ chức dạy học xung quanh các chủ đề tích hợp vẫn cần có sự hệ thống hóa kiến thức giúp người học vừa thấy được kiến thức theo chiều dọc của sự phát triển logic môn học, vừa thấy được kiến thức theo chiều ngang trong mối quan hệ với các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác, ví dụ kiến thức Lịch sử với kiến thức Địa lí

Dạy học tích hợp không loại bỏ sự cần thiết của “dạy trực tiếp của kiến thực của môn học” nhằm phát triển sự làm chủ kĩ năng cơ bản hoặc tiếp nhận một số kiến thức cho pháp giáo viên và học sinh giải tỏa sức ép của việc tiếp nhận phức hợp các kiến thức

1.2 Một số vấn đề về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng tránh thiên tai

1.2.1 Biến đổi khí hậu, nguyên nhân, hậu quả, biện pháp

1.2.1.1 Khái niệm biến đổi khí hậu

Khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một không gian nhất định và

một khoảng thời gian dài, thường vài thập kỉ hoặc vài trăm năm và lâu hơn Khí hậu mang tính ổn định tương đối Khí hậu bao gồm các thông tin về cả sự kiện thời tiết khắc nghiệt (như bão, mưa lớn, những đợt nắng nóng vào mùa hè và rét đậm vào mùa đông) xảy ra tại một vùng địa lý cụ thể [1]

Biến đổi khí hậu“chỉ những thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung bình

đã được duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là một vài thập kỉ hoặc dài hơn,

do các yếu tố tự nhiên hoặc do hoạt động của con người trong việc sử dụng đất và làm thay đổi thành phần của khí quyển Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của thời tiết thông thường sảy ra mở một nơi nào đó Nó có thể là sự biến đổi lượng mưa trong một năm,

có thể là biến đổi nhiệt độ trong một tháng hoặc trong một mùa Biến đổi khí hậu cũng

là một sự biến đổi trong khí hậu Trái Đất Nó có thể là sự biến đổi nhiệt độ thông thường

Trang 35

của Trái Đất hoặc là sự biến đổi mưa và tuyết thường rơi trên Trái Đất”.[1]

Những biểu hiện chính của biến đổi khí hậu toàn cầu là: Nhiệt độ không khí tăng; mực nước biển dâng; các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện bất thường, trái quy luật, có cường độ và quy mô lớn

Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm làm giảm

nhẹ các tác nhân gây ra biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu

Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là là các hoạt động của con người nhằm mức độ hoặc

- Nguyên nhân do các hoạt động của con người đã làm thay đổi thành phần của

khí quyểnTráiĐất, biểu hiện ở sự gia tăng các chất khí nhà kính (cacbonđiôxit, meeta,

Ozon, đinitơ oxit, hơi nước).Theo các nhà khoa học, thì biến đổi của khí hậu trong vòng

150 năm trở lại đây xảy ra chủ yếu do các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên không hợp lý của con người mà nguyên nhân sâu xa là do sự gia tăng dân số và sự phát triển của cách mang công nghiệp.Việc khai thác và sử dụng nguyên liệu hóa thạch cũng như các tài nguyên đất, tài nguyên rừng, những hoạt động này làm gia tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển Kết quả là, trong hơn 150 năm qua, khí hậu Trái Đất bắt đầu thay đổi nhanh hơn theo chiều hướng ấm dần lên làm băng tan, mực nước biển dâng; các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện bất thường, trái quy luật, có cường

độ và quy mô lớn

1.2.1.3 Hậu quả

Biến đổi khí hậu tác động lên mọi thành phần của Trái Đất bao gồm cả môi trường

tự nhiên, môi trường xã hội và sức khỏe của con người Tuy nhiên có thể nhận thấy hai mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là những tác động sơ cấp do ảnh hưởng của việc tăng nhiệt độ trong môi trường tự nhiên như: Các sông băng tan chảy nhanh hơn dự đoán; mực nước biển toàn cầu tăng lên, đặc biệt là ở các đồng bằng châu thổ thấp và các quốc

Trang 36

đảo nhỏ Số lượng các siêu bão cấp 4 và 5 tăng gần gấp đôi trong 30 năm qua

Bên cạnh đó do cuộc sống của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên như nước, thức phẩm, giao thông, năng lượng, công ăn việc làm…những tác động sơ cấp kể trên trở nên trầm trọng hơn và tạo ra những tác động thứ cấp ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên mà chúng ta cần như:

- Nguồn nước: Hạn hán, tác động liên quan đến chất lượng nước và nguồn cung cấp nước;

- Thực phẩm: Năng suất và chất lượng chăn nuôi và trồng trọt bị tác động bởi thiên tai, dịch bệnh, chất lượng đất…;

- Hệ sinh thái: Tác động tới các khu bảo tồn quốc gia, khu bảo tồn đa dạng loài, rừng tự nhiên và rừng trồng;

- Sức khỏe: các bệnh truyền nhiễm và các bệnh liên quan đến nhiệt độ

- Tác động đối với năng lượng: Công nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng: những hoạt đông công nghiệp dễ bị tổn thương sẽ xảy ra ở dải ven biển và những vùng đồng bằng châu thổ thường bị lũ lụt, nơi mà nền kinh tế của nó phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên khí hậu nhạy cảm và những nơi dễ xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, nhất là những vùng đang đô thị hóa nhanh Nhiệt độ tăng cùng với số ngày nắng nóng tăng lên làm tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng và để làm mát và thông gió cho các hoạt động công nghiệp giao thông và dân dụng, nhất là ở các thành phố, khu công nghiệp, những thay đổi trong phân bố mưa, bốc hơi ảnh hưởng đến tài nguyên nước sẽ tác động đến các hoạt động của các hồ chứa và nguồn năng lượng thủy điện Nước biển dâng, thiên tai nhất là bão, mưa lớn, ngập lụt, ảnh hưởng đến các dàn khoan và hệ thống vận chuyển dầu khí trên biển, các công trình xây dựng năng lượng, cảng biển, giao thông, dân dụng ở ven biển

1.2.1.4 Giải pháp

Có hai nhóm giải pháp đối với vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu:

Thứ nhất nhóm giải pháp tác động tới nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

Đây chính là các giải pháp nhằm giảm nhẹ các tác nhân gây biến đổi khí hậu nó bao gồm các biện pháp nhằm cắt giảm lượng khí thải nhà kính vào bầu khí quyển Đồng nghĩa với giải pháp này là con người cần: khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lý, kiềm chế gia tăng dân số và phát triển công nghiệp xanh không gây hại hoặc ít, rất ít

Trang 37

hại tới môi trường

Thứ hai là nhóm các giải pháp giúp con người thích ứng với biến đổi khí

hậu.Đây chính là các biện pháp nhằm điều chỉnh hệ thống tự nhiên và con người để phù hợp với môi trường mới hoặc môi trường bị thay đổi, để ứng phó với tác động thực tại hoặc tương lai của khí hậu.Do đó, làm giảm nhẹ tác hại hoặc tận dụng những mặt

có lợi do biến đổi khí hậu gây ra

Để thực hiện hai nhóm phương pháp trên thì giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu cho các cấp học từ mầm non đến THPT là biện pháp hiệu quả nhất

1.2.2 Thiên tai, các loại thiên tai, hậu quả, giải pháp

1.2.2.1 Khái niệm thiên tai

“Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế- xã hội” [1]

“Phòng, tránh thiên tai là quá trình mang tính hệ thống bao gồm các hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai”

1.2.2.2 Áp thấp nhiệt đới và bão

* Khái niệm: Áp thấp nhiệt đới và bão là vùng gió xoáy có phạm vi rộng, thường xảy ra gió lớn, mưa rất to và nước dâng Khi gió đạt tới cấp 6 và 7(từ 39 đến 62 km / h) thì được gọi là áp thấp nhiệt đới; đạt tới cấp 8 trở lên (từ 63 km / h) thì được gọi là bão

* Hậu quả của bão:

- Gió lớn: Thổi bay mãi nhà, sập nhà; làm cây cối bị đổ, gãy, gây cản trở giao thông; làm gãy đổ đứt đường dây điện, có thể gây ra cháy hoặc tai nạn điện

- Mưa lớn và lũ lụt: Có thể gây sạt lở đất, khiến cho giao thông bị gián đoạn; ngập lụt nhà cửa, làm hư hỏng đồ đạc

- Sóng lớn và triều cường: có thể làm đắm tàu, thuyền ngoài khơi, gây ngập lụt vùng ven biển; nước biển dâng làm nhiễm mặn đồng ruộng; làm ngập và hư hỏng giếng nước và các nguồn nước ngọt khác Làm chết gia súc, gia cầm; Làm người chết hoặc

bị thương, các hệ thống giao thông thông tin liên lạc bị gián đoạn

Trang 38

đổvào nhà khi bão xảy ra; bảo quản các giấy tờ quan trọng trong túi nilong dán kín; dự trữ lương thực, thực phẩm, chất đốt, nước sạch, thuốc men và các vật dụng cần thiết khác ở nơi an toàn cao ráo trong mùa mưa bão; nghe tin bão trên đài phát thanh, truyền hình và loa truyền thanh công cộng; mua pin để có thể sử dụng đài và đèn pin khi bị cắt điện; chắn chống nhà cửa để có thể chịu được gió to; cất tất cả những đồ vật có thể

bị gió bão thổi bay trong nhà; bảo vệ nguồn nước khỏi bị ô nhiễm (che đậy giếng nước,

bể chứa…); Xác định vị trí an toàn có thế trú ẩn được nếu phải sơ tán khỏi nhà; đưa gia súc, vật nuôi đến nơi an toàn; bảo vệ dụng cụ đánh bắt cả và khu vực nuôi thủy sản

- Trong khi có áp thấp nhiệt đới hoặc bão:Không ra khơi trong thời gian có áp thấp nhiệt đới hoặc có bão; tránh xa các ổ điện hoặc dây điện đứt; hãy ở trong các khu nhà kiên cố, không đi ra ngoài; trông nom trẻ nhỏ và đảm bảo các bạn nhỏ luôn gần người lớn; không trú ẩn dưới gốc cây; đứng gần cột điện; bởi vì chúng có thể đổ xuống gây thương tích

- Sau khi có áp thấp nhiệt đới hoặc bão: Tiếp tục nghe tin bão trên đài,vô tuyến, loa truyền thanh; kiểm tra lại nguồn điện trong nhà để đảm bảo an toàn trước khi sử dụng; kiểm tra để phát hiện ra những chỗ hư hỏng của nhà để kịp thời sửa chữa; kiểm tra xem nguồn nước có bị xác súc vật chết, nước bẩn hoặc nước mặt làm nhiễm bận không; kiểm tra xem gia đình và hàng xóm có bị ảnh hưởng gì không, kiểm tra xem vật nuôi có được an toàn không

1.2.2.3 Lũ lụt

* Khái niệm:

- Lũ là hiện tượng mực nước và tốc độ của dòng chảy trên sông, suối vượt quá mức bình thường.Lụt là hiện tượng nước ngập vượt quá mức bình thường, có ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống và môi trường Lụt xảy ra khi nước lũ dâng cao tràn qua sông, suối, hồ và đê đập vào các vùng, làm ngập nhà cửa, cây cối, ruộng đồng Có nhiều loại lũ:Lũ sông, lũ quét và lũ ven biển

- Lũ sông: Mục nước sông dâng cao tràn bờ, gây ngập lụt những vùng xung quanh Lũ có thể xuất hiện từ từ và theo mùa

- Lũ quét: Thường xảy ra trên các sông nhỏ hoặc suối ở miền núi, những nơi có

độ dốc cao; xuất hiện rất nhanh do mưa lớn đột ngột hoặc vỡ đập; dòng chảy rất mạnh,

có thể cuốn trôi mọi thứ nơi dòng nước đi qua

- Lũ ven biển, thường xảy ra khi có bão và bão gần bờ biển; sóng biển dâng cao

Trang 39

kết hợp với triều cường

* Hậu quả:

- Thiệt hại có thể xảy ra như: Có thể làm chết người, bị thương, nhà cửa bị ngập lụt, đồ đạc bị hư hỏng, gia súc gia cầm bị chết, dịch bệnh phát sinh; các hệ thống thông tin liên lạc bị gián đoạn; giao thông bị cản trở; hệ thống cung cấp nước sạch bị phá hỏng, nguồn nước bị nhiễm bẩn Ở vùng ven biển nước bị nhiễm mặn; Đàn gia súc, gia cầm bị chết, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi; Mùa màng có thể bị mất trắng Lũ lụt kéo dài có thể làm chậm chễ các vụ mùa mới Tuy nhiên, một số nơi như tại Đồng bằng sông Cửu Long, lũ cũng đem lại lợi ích cần thiết

* Giải pháp:

- Trước khi lũ lụt: Cần chuẩn bị tre và dây thừng để làm gác lửng trong nhà để ở tạm (chú ý phải để một đường ra ở sát mái hoặc trên mái nhà, để có lối thoát ra trong trường hợp nước lên quá cao; xác định địa điểm và phương tiện để di dời khi cần; bảo

vệ nguồn nước bằng cách che đậy giếng bể chứa…; dự trữ thuốc đề khử trùng Nếu có

ai đó bị thương, phải biết có thể nhờ và liên hệ với ai (như cán bộ y tế )

- Trong khi lũ lụt: Không được uống nước lụt mà hãy hứng lấy nước mưa để uống và nấu ăn, cố gắng đun sôi nước để uống Nếu không có nguồn nước nào hay sử dụng nước đã được lọc hoặc nước đã được khử trùng bằng thuốc; không được ăn thức

ăn đã bị ôi thiu, hoặc được ngâm trong nước lụt vì không đảm bảo vệ sinh (có nhiều vi khuẩn), có thể bị nhiễm bệnh

- Sau khi lũ lụt: Tham gia làm vệ sinh môi trường trong khu lũ lụt, trồng tre hoặc các loại cây thích hợp để bảo vệ và phòng tránh lũ lụt

1.2.2.4 Sạt lở đất/ đá

* Khái niệm: Sạt lở đất/ đá là khi bùn, đất và đá mất sự liên kết trượt từ trên sườn dốc, mái dốc xuống Nó thường xuất hiện ở các khu vực đồi núi nhất là ở những vùng bị chặt phá cây cối…

* Hậu quả: Có thể bị chết người hoặc bị thương do bị chôn vùi dưới lớp đất đá hoặc những căn nhà bị sập Nhà cửa, đồ đạc có thể bị phá hủy hoặc hư hỏng Giao thông bị cản trở Đất trồng trọt bị đất đá vùi lấp có thể không trồng trọt được, gia súc, gia cầm có thể bị chết hoặc bị thương

* Giải pháp:

Trang 40

- Trong thời gian không có sạt lở đất đá: Trồng cây mới tại những nơi cây đã chết hoặc bị chặt; không chặt cây, có thể tỉa bớt cành hoặc chặt phần cây đã chết nhưng không được róc vỏ thân cây; Tìm hiểu xem khu vực đã từng xảy ra sạt lở đất chưa; không nên xây dựng nhà ở những khu vực dễ sạt lở đất như dưới sườn dốc, vùng ven sông, hoặc gần bờ biển; thường xuyên quan sát đất quanh nhà và nơi ở để phát hiện các dấu hiệu của sạt lở đất như cây cối đang nghiêng dần, những vết nứt trên tường nhà hoặc sườn đồi; các vết lún trên mặt đất hoặc trên đường; nói chuyện với mọi người về việc cần phải làm nếu sạt lở đất xảy ra

- Những việc cần làm khác nếu trời đổ mưa to và kéo dài: Nếu sống trong khu vực thường xuyên có sạt lở đất, hãy đi sơ tán ngay nếu được yêu cầu; cần hết sức cảnh giác khi sống ở gần sông suối, hãy chú ý lắng nghe dự báo thời tiết và thông tin cảnh báo từ phương tiện truyền thông về các đợt mưa lớn; hãy tỉnh ngủ và sẵn sàng rời khỏi nhà để di chuyển đến nơi an toàn; hãy lắng nghe bất kì tiếng động không bình thường nào có thể do đất đá gây ra như tiếng cây gãy, hoặc đá va vào nhau; hãy chú ý sự thay đổi của nước từ trong thành đục bởi vì những thay đổi như vậy là do sạt lở đất đá ở phía đầu nguồn Hãy sẵn sàng rời khỏi nhà không được chậm trễ Điều quan trong trước tiên là phải tự bảo vệ mình không cần cứu đồ đạc; hãy tránh xa dòng chảy của sạt lở đất Nêu không kịp chạy thoát hãy tự bảo vệ mình bằng cách cuộn tròn mình lại, hai tay ôm lấy đầu và lăn như một quả bóng

- Sau sạt lở đất: Hãy tránh xa khu vực sạt lở đất vì có thể sẽ tiếp tục sạt lở nữa do nền đất chưa ổn định; không được vào bất kì ngôi nhà nào nếu chưa được kiểm tra

* Giải pháp:

- Trước khi hạn hán: Thường xuyên theo dõi dự bão thời tiết trên đài phát thanh

và truyền hình địa phương để biết thêm thông tin và cảnh báo hạn hán và đặc biệt là

Ngày đăng: 17/11/2020, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w