1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuong trinh dia phuong

22 486 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương trình địa phương
Tác giả Hữu Phương, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Văn Dinh, Lê Văn Chung, Trần Nhật Thu
Người hướng dẫn Thầy Hoàng Thế Hiến
Trường học Trường THPT Tuyên Hóa
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Tuyên Hóa
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 18,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DÂY THÔN VĨ DẠSao anh không về chơi thôn Vĩ?. Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền?. Ðơn vị tôi hành quân qua con đườn

Trang 1

Tiết 53: CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG

PHẦN VĂN

Giáo viên dạy: HOÀNG THẾ HIẾN

Trang 2

1 Lập danh sách các nhà văn, nhà thơ quê ở xã, huyện, tỉnh mà em đang sinh sống theo mẫu sau:

thấy hay (Ưu tiên các tác phẩm viết về xã Thanh

Thạch trước mới đến huyện Tuyên Hóa và cuối cùng mới đến tỉnh Quảng Bình)

Trang 3

T

Nhà văn,

nhà thơ Năm sinh Quê quán tác phẩm tiêu biểu

1 Trần Trọng Tri ́

(Hàn Mặc Tử) 1912-1940

Đồng Đồng Hới

Mỹ-Gái Quê (1936), Đây thôn Vi ̃ Dạ, Mùa xuân chi ́n

2 Lưu Trọng Lư 1912-1991 Hạ Trạch

– Bố Trạch

Tiếng Thu (1939), Người con gái sông Gianh(1946), Tỏa sáng đôi bờ(1959)

3 Lâm Thị Mỹ Dạ 18-9-1949 Lộc Thủy -

Lệ Thuỷ

Khoảng trời hố bom Hái tuổi em đầy tay… 4

Hoàng Vũ Thuật 10/1/1945 Hồng Thuỷ

- Lệ Thủy

Thơ viết từ mùa hạt(1948),

Trang 4

5 Hữu Phương 1949 Đồng Hới Đêm hoa Quỳnh nở, Hoa cúc dại…

6 Hải Kỳ 1949 Lệ Thuỷ Ngọn gió đi tìm,

Đối thoại lục bát…

7 Nguyễn VănDinh 5/3/1932 Quảng Phú –

Quảng Trạch

Trường ca Quảng Bình (1956), Cánh buồm, Quê Bác…

8 Lê Văn Chung 2/3/1948 Thanh Trạch-Bố Trạch Thời gian chưa xa, Tình xa…

9 Trần Nhật Thu 17-5-1945 Đồng Phú –

Đồng Hới

Gặp gỡ mùa gió chướng, hoa hồng gió mặn…

Trang 5

Nhà Thơ Hàn Mặc Tử(1912-1940)

Trang 6

DÂY THÔN VĨ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền?

(Hàn Mặc Tử)

Trang 7

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa.

Áo em trắng quá nhìn không ra,

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Trang 8

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ (18.9.1949)

Trang 9

KHOẢNG TRỜI HỐ BOM

Lâm Thị Mỹ Dạ

Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường

Ðể cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương

Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa

Ðánh lạc hướng thù Hứng lấy luồng bom

Ðơn vị tôi hành quân qua con đường mòn

Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái

Một nấm mộ, nắng ngời bao sắc đá

Tình yêu thương bồi đắp cao lên

Trang 10

Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em

Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ Ðất nước mình nhân hậu

Có nước trời xoa dịu vết thương đau

Em nằm dưới đất sâu

Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Ðêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng

Những vì sao ngời chói, lung linh

Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong Ðã hóa thành những làn mây trắng?

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng

Trang 11

Ði qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức

Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi

Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài?

Tên con đường là tên em gửi lại

Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái

Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em

Gương mặt em, bạn bè tôi không biết

Nên mỗi người có gương mặt em riêng!

Trường Sơn - 1972

Trang 12

Nhà thơ Lưu Trọng Lư

(1912 - 1991)

Trang 13

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật (10.01.1945)

Trang 14

Nhà Thơ Nguyễn Văn Dinh

(05.03.1932)

Trang 15

Nghĩ mà thương mẹ cha sinh Thương chồng con laị thương mình xót xa…

(Tố Hữu)

Trang 16

Bây chừ sông nước về ta

Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào

Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân!

Ông nhà theo bạn "xuất quân"

Tui may cũng được vô chân "sẵn sàng"

Một tay lái chiếc đò ngang Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Sợ chi sóng nước tàu bay Tây kia ta đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!

Kể chi tuổi tác già nua Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!

Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung Gió lay như sóng biển tung trắng bờ

Trang 17

Gan chi, gan rứa, mẹ nờ?

Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?

Chẳng bằng con gái, con trai Sáu mươi còn một chút tài đò đưa

Tàu bay hắn bắn sớm trưa Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò

Ghé tai mẹ, tôi tò mò:

Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu

Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!

Nghe ra, ông cũng vui lòng Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò:

"Coi chừng sóng lớn, gió to Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình!"

Vui sao câu chuyện ơn tình Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say

(4-11-1965)

Trang 18

NHÀ THƠ TỐ HỮU (1920 - 2002)

Trang 19

MẸ SUỐT

Trang 20

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh năm 1949 tại Quảng Bình, hiện sống tại Huế Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1978, từng học Trường viết văn Nguyễn Du; tham gia khóa đào tạo  tại Học viện Gorki (Liên Xô cũ), ủy viên BCH Hội nhà

văn Việt Nam khóa III và IV Giải Nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1971-1973; Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Bài thơ không năm tháng Giải A thơ của ủy ban toàn quốc các Hội LHVHNT Việt Nam năm 1999 Giải A thơ Giải thưởng

TÁC PHẨM CHÍNH

Trái tim sinh nở (thơ, 1974) Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983) Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984) Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987) Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987) Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)

Mẹ và con (thơ, 1994)

Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998) Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)

Trang 21

- Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 

22.9.1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới. Thuở nhỏ ông học 

trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc  điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài Gòn làm báo  rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935). Ông mắc bệnh 

Trang 22

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

(Hàn Mặc Tử)

Ngày đăng: 09/11/2013, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w