DÂY THÔN VĨ DẠSao anh không về chơi thôn Vĩ?. Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền?. Ðơn vị tôi hành quân qua con đườn
Trang 1Tiết 53: CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG
PHẦN VĂN
Giáo viên dạy: HOÀNG THẾ HIẾN
Trang 21 Lập danh sách các nhà văn, nhà thơ quê ở xã, huyện, tỉnh mà em đang sinh sống theo mẫu sau:
thấy hay (Ưu tiên các tác phẩm viết về xã Thanh
Thạch trước mới đến huyện Tuyên Hóa và cuối cùng mới đến tỉnh Quảng Bình)
Trang 3T
Nhà văn,
nhà thơ Năm sinh Quê quán tác phẩm tiêu biểu
1 Trần Trọng Tri ́
(Hàn Mặc Tử) 1912-1940
Đồng Đồng Hới
Mỹ-Gái Quê (1936), Đây thôn Vi ̃ Dạ, Mùa xuân chi ́n
2 Lưu Trọng Lư 1912-1991 Hạ Trạch
– Bố Trạch
Tiếng Thu (1939), Người con gái sông Gianh(1946), Tỏa sáng đôi bờ(1959)
3 Lâm Thị Mỹ Dạ 18-9-1949 Lộc Thủy -
Lệ Thuỷ
Khoảng trời hố bom Hái tuổi em đầy tay… 4
Hoàng Vũ Thuật 10/1/1945 Hồng Thuỷ
- Lệ Thủy
Thơ viết từ mùa hạt(1948),
Trang 45 Hữu Phương 1949 Đồng Hới Đêm hoa Quỳnh nở, Hoa cúc dại…
6 Hải Kỳ 1949 Lệ Thuỷ Ngọn gió đi tìm,
Đối thoại lục bát…
7 Nguyễn VănDinh 5/3/1932 Quảng Phú –
Quảng Trạch
Trường ca Quảng Bình (1956), Cánh buồm, Quê Bác…
8 Lê Văn Chung 2/3/1948 Thanh Trạch-Bố Trạch Thời gian chưa xa, Tình xa…
9 Trần Nhật Thu 17-5-1945 Đồng Phú –
Đồng Hới
Gặp gỡ mùa gió chướng, hoa hồng gió mặn…
Trang 5Nhà Thơ Hàn Mặc Tử(1912-1940)
Trang 6DÂY THÔN VĨ DẠ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền?
(Hàn Mặc Tử)
Trang 7Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa.
Áo em trắng quá nhìn không ra,
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Trang 8Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ (18.9.1949)
Trang 9KHOẢNG TRỜI HỐ BOM
Lâm Thị Mỹ Dạ
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Ðể cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Ðánh lạc hướng thù Hứng lấy luồng bom
Ðơn vị tôi hành quân qua con đường mòn
Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái
Một nấm mộ, nắng ngời bao sắc đá
Tình yêu thương bồi đắp cao lên
Trang 10Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em
Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ Ðất nước mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Ðêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh
Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong Ðã hóa thành những làn mây trắng?
Và ban ngày khoảng trời ngập nắng
Trang 11Ði qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức
Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi
Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài?
Tên con đường là tên em gửi lại
Cái chết em xanh khoảng-trời-con-gái
Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em
Gương mặt em, bạn bè tôi không biết
Nên mỗi người có gương mặt em riêng!
Trường Sơn - 1972
Trang 12Nhà thơ Lưu Trọng Lư
(1912 - 1991)
Trang 13Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật (10.01.1945)
Trang 14Nhà Thơ Nguyễn Văn Dinh
(05.03.1932)
Trang 15Nghĩ mà thương mẹ cha sinh Thương chồng con laị thương mình xót xa…
(Tố Hữu)
Trang 16Bây chừ sông nước về ta
Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào
Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sướng, lòng nào chẳng xuân!
Ông nhà theo bạn "xuất quân"
Tui may cũng được vô chân "sẵn sàng"
Một tay lái chiếc đò ngang Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày
Sợ chi sóng nước tàu bay Tây kia ta đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!
Kể chi tuổi tác già nua Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng!
Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung Gió lay như sóng biển tung trắng bờ
Trang 17Gan chi, gan rứa, mẹ nờ?
Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?
Chẳng bằng con gái, con trai Sáu mươi còn một chút tài đò đưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò
Ghé tai mẹ, tôi tò mò:
Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?
Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu
Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!
Nghe ra, ông cũng vui lòng Tui đi, còn chạy ra sông dặn dò:
"Coi chừng sóng lớn, gió to Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình!"
Vui sao câu chuyện ơn tình Nắng trưa cồn cát Quảng Bình cũng say
(4-11-1965)
Trang 18NHÀ THƠ TỐ HỮU (1920 - 2002)
Trang 19MẸ SUỐT
Trang 20Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh năm 1949 tại Quảng Bình, hiện sống tại Huế Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1978, từng học Trường viết văn Nguyễn Du; tham gia khóa đào tạo tại Học viện Gorki (Liên Xô cũ), ủy viên BCH Hội nhà
văn Việt Nam khóa III và IV Giải Nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1971-1973; Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Bài thơ không năm tháng Giải A thơ của ủy ban toàn quốc các Hội LHVHNT Việt Nam năm 1999 Giải A thơ Giải thưởng
TÁC PHẨM CHÍNH
Trái tim sinh nở (thơ, 1974) Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983) Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984) Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987) Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987) Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)
Mẹ và con (thơ, 1994)
Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998) Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)
Trang 21- Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày
22.9.1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới. Thuở nhỏ ông học
trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935). Ông mắc bệnh
Trang 22ĐÂY THÔN VĨ DẠ
(Hàn Mặc Tử)