1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kịch bản phân cảnh

77 430 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự tham khảo, phối hợp và vận dụng của nhiều môn học như: Ngôn ngữ hình ảnh, Kịch bản Đa phương tiện, Kỹ thuật quay phim và Kỹ thuật quay phim nâng cao, môn học sẽ tạo một tài liệu p

Trang 1

KHOA THIẾT KẾ VÀ SÁNG TẠO ĐA PHƯƠNG TIỆN

LƯU HÀNH NỘI BỘ

Hà Nội, 12/2015

PTIT

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 4

LỜI NÓI ĐẦU 6

Chương I NGÔN NGỮ VÀ KỊCH BẢN ĐA PHƯƠNG TIỆN 7

I.1 Ngôn ngữ đa phương tiện 7

I.1.1 Ngôn ngữ 7

I.1.2 Ngôn ngữ đa phương tiện 8

I.2 Kịch bản đa phương tiện 10

I.2.1 Kịch bản đa phương tiện 11

I.2.2 Nghệ thuật viết kịch bản và cấu trúc của một kịch bản 11

I.2.3 Phân loại kịch bản 11

I.2.4 Một số cấu trúc khi viết kịch bản 13

I.2.5 Một số ghi nhớ khi viết kịch bản 13

I.3 Một số vấn đề trong tác phẩm Đa phương tiện 15

I.3.1 Nghệ thuật không gian và nghệ thuật tạo hình 15

I.3.2 Nghệ thuật về thời gian 17

I.3.3 Dựng phim 18

I.4 Các bước hình thành kịch bản 21

Chương II NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH 26

II.1 Ký hiệu 26

II.1.1 Hình ảnh 27

II.1.2 Dấu hiệu 29

II.1.3 Một số hiệu quả của dấu hiệu 31

II.1.4 Hệ thống mã hóa hình ảnh 31

II.2 Kể chuyện 33

II.2.1 Tổng quát 33

II.2.2 Cấu trúc 34

PTIT

Trang 3

II.2.3 Một số cách kể chuyện 39

II.3 Tu từ 40

II.3.1 Câu chữ 40

II.3.2 Trích dẫn 41

II.3.3 Ẩn ý 44

II.3.4 Văn hóa 44

II.4 Tư tưởng 46

II.4.1 Tổng quan về tư tưởng trong điện ảnh 46

II.5 Khung hình và hình ảnh 52

II.5.1 Cú máy 53

II.5.2 Khoảng ngoài khung hình 56

II.5.3 Nghệ thuật dàn dựng 58

II.5.4 Chuyển động máy quay 60

II.6 Ý nghĩa của kết cấu 61

II.6.1 Tổng quan 62

II.6.2 Dựng phim và kết cấu 64

Chương III KỸ THUẬT VIẾT KỊCH BẢN PHÂN CẢNH 66

III.1 Khái niệm kịch bản phân cảnh 66

III.2 Công cụ và hình thức thể hiện 68

III.2.1 Công cụ 68

III.2.2 Hình thức thể hiện 70

III.3 Một số yếu tố trong kịch bản phân cảnh 71

III.3.1 Một số câu hỏi cần trả lời khi viết kịch bản phân cảnh 71

III.3.2 Một số nguyên tắc khi viết kịch bản 72

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PTIT

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình I-1: Chữ của người Inca 7

Hình I-2: Chữ của người Trung Hoa 7

Hình I-3: Tranh của Claude Monet 9

Hình I-4: Bố cục, màu sắc ảnh hưởng đến tác phẩm 15

Hình I-5: Góc máy ảnh hưởng đến tác phẩm 16

Hình I-6: Thời gian trong Game show là thời gian thực 18

Hình I-7: Thời gian trong Kịch thường được dàn dựng 18

Hình I-8: Anh em nhà Lumierè với phim đầu tiên Đoàn tàu vào bến 19

Hình I-9: Come along, do! (1898) 20

Hình I-10: Ý tưởng 22

Hình I-11: Phần mềm dựng kịch bản Celtx 23

Hình I-12: Mỗi cú máy cần có một phân cảnh chi tiết 24

Hình I-13: Storyboard example 1 25

Hình I-14: Storyboard dạng có mô tả vị trí camera 25

Hình II-1: Hình ảnh trong phim Grease (1978) 27

Hình II-2: Phim hài về Robin Hood 28

Hình II-3: Hình ảnh trong phim Tom & Jerry 28

Hình II-4: Alfred Hitchcock (1899 - 1980) 29

Hình II-5: Tóm tắt nội dung nhân vật qua hình ảnh vết sẹo 30

Hình II-6: Chuỗi dấu hiệu trong phim The Pillow book (1996) 30

Hình II-7: Mã tượng trưng trong phim hoạt hình 32

Hình II-8: Mã văn hóa bị sai trong phim Karate kid 33

Hình II-9: Vladimir Propp (1895 - 1970) 36

Hình II-10: Tzevetan Todorov (1939) 38

Hình II-11: Phim Forrest Gump (Oscar 1994) 39

Hình II-12: Mỗi nền văn hóa sẽ có câu chữ riêng (Đông Nam Bộ) 41

PTIT

Trang 5

Hình II-13: To be or not to be (Hamlet - W.Shakespeare) 42

Hình II-14: Một số hình ảnh trong phim Seven 43

Hình II-15: Achilles 44

Hình II-16: Cinderella 45

Hình II-17: Romeo & Juliet 45

Hình II-18: Một số hình ảnh mang tính tư tưởng trong tác phẩm 47

Hình II-19: Sơ đồ các công việc trong sản xuất phim 49

Hình II-20: Người đàn bà xa lạ - Kramskoy 49

Hình II-21: Chủ nghĩa hiện thực sạn trong Dirty Harry 51

Hình II-22: Chủ nghĩa anh hùng dân tộc trong Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 51

Hình II-23: Đạo diễn Trương Nghệ Mưu (Trung Quốc) 53

Hình II-24: Quay phim thường là người có vị trí âm thầm 53

Hình II-25: Một số góc máy chủ quan 54

Hình II-26: Một số số dạng máy quay phim hiện đại 55

Hình II-27: Một số dạng cú máy phổ biến 56

Hình II-28: Một số hình ảnh ví dụ về hoạt động ngoài khung cảnh 57

Hình II-29: Dàn dựng ánh sáng cơ bản cho một cảnh quay 59

Hình II-30: Ví dụ về slow motion và fast motion trong điện ảnh 61

Hình II-31: Luật 180 độ 63

Hình II-32:Phim the Good, The Bad and The Ugly 65

Hình III-1:Giấy và bút 69

Hình III-2:Công cụ Word, Excel 69

Hình III-3:Công cụ Celtx 69

Hình III-4:Một ví dụ về mẫu kịch bản phân cảnh 71

Hình III-5:Thuật ngữ được sử dụng trong kịch bản 75

PTIT

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Xây dựng một tác phẩm Đa phương tiện gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn và phải sử dụng nhiều kỹ thuật, kiến thức và kỹ năng chuyên sâu Điều này rất phức tạp và cần nhiều sự tham gia của các bộ phận kỹ thuật khác nhau Do đó, việc xác định những thông tin cơ bản và phân đoạn được công việc cho từng bộ phận là một việc vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất

Để có thể giúp các bộ phận sản xuất tưởng tượng và sắp xếp công việc một cách chuẩn xác theo đúng ý tưởng đề ra của tác phẩm việc có một tài liệu để toàn bộ ekip sản xuất tuân theo là một việc làm bắt buộc Kịch bản phân cảnh là một trong các tài liệu mô tả quá trình này Các bộ phận kỹ thuật sẽ dựa vào kịch bản phân cảnh để phân tách và sắp xếp các thành phần trong nhóm sản xuất cũng như tác phẩm một cách hợp lý

Với sự tham khảo, phối hợp và vận dụng của nhiều môn học như: Ngôn ngữ hình ảnh, Kịch bản Đa phương tiện, Kỹ thuật quay phim và Kỹ thuật quay phim nâng cao, môn học sẽ tạo một tài liệu phục vụ cho một sản phẩm Đa phương tiện hoàn chỉnh, không chỉ có ý nghĩa với các sinh viên thuộc nhóm ngành Truyền thông Đa phương tiện và còn có thể áp dụng cho các sinh viên thuộc nhóm ngành Thiết kế và Ứng dụng Đa phương tiện

PTIT

Trang 7

Chương I NGÔN NGỮ VÀ KỊCH BẢN ĐA PHƯƠNG TIỆN

I.1 Ngôn ngữ đa phương tiện

I.1.1 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp được con người sử dụng để liên lạc và giao tiếp với nhau [1] Ngành khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học Ngôn ngữ

có thể được hiểu theo hai khái niệm: một khái niệm trừu tượng hoặc một hệ thống ngôn ngữ

cụ thể ví dụ như tiếng Việt, tiếng Anh

Với dạng khái niệm thứ hai, có thể phân chia ngôn ngữ thành rất nhiều hệ thống tương ứng với các nền văn hóa, khu vực địa lý Hiện nay theo thống kế trên Thế giới có 6000- 7000 thứ tiếng khác nhau, được mã hóa thành các phương tiện truyền thông khác nhau sử dụng các giác quan của con người như thị giác, thính giác, xúc giác hoặc tương tác như văn bản, chữ nổi, đồ họa hoặc tiếng trống, tiếng nhạc cụ,

Hình I-1: Chữ của người Inca

Hình I-2: Chữ của người Trung Hoa

PTIT

Trang 8

Ngôn ngữ của con người là độc lập với phương thức biểu đạt Khi được sử dụng như

là một khái niệm chung, ngôn ngữ có thể nói đến các khả năng nhận thức để học hỏi và sử dụng hệ thống thông tin liên lạc phức tạp, hoặc để mô tả các bộ quy tắc tạo nên các hệ thống này, hoặc tập hợp các lời phát biểu có thể được tạo thành từ những quy tắc Tất cả các ngôn ngữ đều dựa vào quá trình liên kết dấu hiệu với các ý nghĩa cụ thể, được tập hợp thành một hệ thống ngữ pháp điều chỉnh cách thức liên hệ, thể hiện của người phát ra ngôn ngữ và người nhận ngôn ngữ Ngôn ngữ của loài người có tính tự tạo, đệ quy, di chuyển và phụ thuộc hoàn toàn vào các nhu cầu xã hội và học tập Cấu trúc của ngôn ngữ rất phức tạp, tuy nhiên đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt giữa con người và thú vật, cho phép thể hiện cảm xúc rộng rãi

và nhiều chiều hơn so với bất kỳ hệ thống giao tiếp nào của thú vật

I.1.2 Ngôn ngữ đa phương tiện

Trong tài liệu này, tác giả không nghiên cứu sâu về các khái niệm ngôn ngữ theo chiều hướng của việc nghiên cứu ngôn ngữ học mà chủ yếu chỉ ra các phương thức, phương tiện giao tiếp giữa một sản phẩm đối với khán giả để phân tích và làm sáng tỏ các phương pháp một người sáng tạo ra các nội dung cần thiết phải đưa vào tác phẩm của mình, để thể hiện những ý nghĩa,

ẩn ý, câu chuyện của bản thân cũng như kích thích cảm xúc, thị hiếu của người thụ hưởng Việc này sẽ biến một sản phẩm bình thường thành một tác phẩm có tính nghệ thuật đúng nghĩa

Mỗi loại hình nghệ thuật đều có phương thức thể hiện riêng và cách thức giao tiếp với con người của mỗi loại hình nghệ thuật cũng có đặc điểm khác biệt nhau Các loại hình nghệ thuật truyền thống được liệt kê gồm bảy loại hình như sau:

và nghệ thuật đều đồng ý chung về việc phân chia các loại hình nghệ thuật theo bốn mảng chính:

PTIT

Trang 9

 Nghệ thuật liên quan đến thị giác: điêu khắc, hội họa, đồ họa, kiến trúc, nhiếp ảnh

 Nghệ thuật liên quan đến thính giác: âm nhạc

 Nghệ thuật văn chương

 Nghệ thuật biểu thị biểu thị, biểu diễn - tổng hợp: sân khấu, điện ảnh

Việc phân chia này dựa chủ yếu vào cách thức tác phẩm truyền tải nội dung đến khán giả Ở đây ta gọi là ngôn ngữ của tác phẩm Với tác phẩm hội họa, điêu khắc, ngôn ngữ thể hiện là hình ảnh, màu sắc, hình khối Khán giả cảm nhận tác phẩm, thẩm thấu những tầng ý nghĩa sâu sắc hơn của tác giả thông qua việc nhìn tác phẩm, cảm nhận những thay đổi, những chi tiết được phơi bày hoặc ẩn dấu trong từng nét cọ, đường uống lượn của khối hình Với âm nhạc ngôn ngữ thể hiện là âm sắc, nhạc cụ, nhịp điệu, tiết tấu, Trong khi đó, văn chương cần có ngôn ngữ thể hiện là mạch câu chuyện, lời văn, chữ viết mô tả

Hình I-3: Tranh của Claude Monet

Đối với loại hình nghệ thuật tổng hợp, các ngôn ngữ thể hiện là khá phức tạp và được cấu thành bởi nhiều loại hình ngôn ngữ Ví dụ như trong sân khấu, ngôn ngữ thể hiện của tác phẩm không chỉ là lời thoại, câu chuyện được kể trên sàn diễn mà nó còn bao gồm nhiều yếu

tố như sắp đặt sân khấu, đạo cụ, phục trang, ánh sáng, Trong điện ảnh, những yếu tố này còn được đẩy lên cao hơn với nhiều loại hình ngôn ngữ hơn Mỗi góc quay hay cái cách thức

PTIT

Trang 10

mà nhà biên kịch, đạo diễn và quay phim mang đến cho khán giả thông qua màn hình trình chiếu thể hiện tư tưởng, cảm xúc của tác phẩm

Một tác phẩm điêu khắc trước đây thường do người nghệ sĩ sáng tạo ra và đóng đinh lại một chỗ, người thưởng thức hiểu, hoặc không hiểu, cảm nhận theo góc nhìn của tác giả, hay theo góc nhìn cá nhân bị hạn chế khá nhiều Sự tương tác ngược của khán giả chỉ có thể được thể hiện theo cái cách mà họ tiếp nhận tác phẩm Ví dụ: người ngồi bên trái nhìn thấy một bộ mặt thiên thần của tác phẩm nhưng người ngồi bên phải lại nhìn thấy một bộ mặt ác quỷ Ngày nay, công nghệ phát triển và chạm tới hầu hết các khu vực của nghệ thuật Một tác phẩm không chỉ cho phép nhà nghệ thuật truyền tải đến khán giả mà còn cho phép khản giả phản hồi lại cho nhà nghệ thuật hoặc thay đổi một chút tác phẩm, trong một hạn chế nhất định của tác giả, để phù hợp với bản thân Điều này mang lại một loại hình nghệ thuật mang tính cá nhân ngày càng đậm nét hơn đối với khán giả

Khái niệm về ngôn ngữ đã được mở rộng hơn nhiều Với một tác phẩm đa phương tiện hoàn chỉnh, các loại hình thể hiện được đẩy lên một mức mới Số lượng ngôn ngữ thể hiện trong một tác phẩm không dừng lại là ngôn ngữ của hình ảnh, âm thanh hay chuyển động Một tác phẩm có thể thể hiện nhiều hơn thế Từ cách sắp xếp bố cục của các đối tượng trong một khung hình tĩnh được định sẵn bởi người sản xuất, cách thể hiện có thể được mở rộng hơn với người thụ hưởng Mỗi cá nhân có cái nhìn, cách trải nghiệm riêng của bản thân với tác phẩm mà mình cảm thụ và điều đó được định hướng bởi nhà sản xuất Khái quát lại, ngôn ngữ thể hiện trong một tác phẩm đa phương tiện có thể được tổng hợp thể hiện qua một số loại hình được kết hợp tinh vi với nhau như sau:

Trang 11

I.2.1 Kịch bản đa phương tiện

Kịch bản theo Từ điển tiếng Việt của giáo sư Hoàng Phê, là một vở kịch được thể hiện dưới dạng văn bản Ngoài ra, nó cũng có thể là một văn bản phác thảo những yếu tố về âm thanh, hành động, hình ảnh, ngôn ngữ cần thiết để kể một câu chuyện Theo ý kiến chung của các nhà nghiên cứu, một kịch bản nhất thiết phải có yếu

tố kịch Trong đó, kịch có thể được hiểu như sau:

 Kịch được bắt đầu từ các xung đột, các xung đột này có thể từ các nhân vật trong câu chuyện hoặc chính từ nội dung của câu chuyện, cũng có thể từ các ý tiến tới

từ phía người thụ hưởng câu chuyện Theo Fadeev: "Xung đột là cơ sở của kịch"

 Kịch thông thường phản ánh những mâu thuẫn cơ bản của xã hội và mang tính lịch sử cụ thể Có thể nói một cách văn hoa rằng, kịch mang tính vị nhân sinh, mang hơi thở của xã hội, là hình chiếu của xã hội theo góc nhìn của người sáng tác

I.2.2 Nghệ thuật viết kịch bản và cấu trúc của một kịch bản

Nghệ thuật viết kịch bản được hiểu theo ý nghĩa như sau:

 Một tác phẩm có kịch bản tốt là một tác phẩm giao tiếp được với khán giả, người chơi, người sử dụng

 Một tác phẩm thành công là một tác phẩm có kịch bản hướng tới và kiểm soát được tâm lý của người xem, người chơi, người sử dụng tác phẩm, sản phẩm đó

Để xây dựng một kịch bản thì nhà viết kịch cần phải hiểu được kịch bản cần những gì

Nó được xây dựng như thế nào, theo một cấu trúc chung gồm các thành phần gì Theo quan điểm của điện ảnh, một kịch bản hiện đại gồm các đơn vị tính sau:

 Đoạn (sequence)

 Cảnh (scene)

 Phân cảnh (shot)

I.2.3 Phân loại kịch bản

Dựa theo các hình thức thể hiện, thể loại kịch bản kịch bản có thể được phân thành:

 Phân chia theo thể loại có thể phân tách thành một số dạng chính:

Trang 12

o Shooting script: Kịch bản phân cảnh : Đây là dạng kịch bản chi tiết để sản xuất dự án Đây là dạng kịch bản sử dụng cho đội ngũ sản xuất, cần các nội dung càng chi tiết càng tốt và dựa vào đó đội sản xuất có thể thực hiện được sản phẩm đúng theo ý tưởng ban đầu đặt ra

PTIT

Trang 13

 Dựa theo đối tượng đọc và mục đích đọc, kịch bản được sẽ được chia thành một số loại:

o Nhà sản xuất

o Đội ngũ làm phim

o Cất tủ kính

I.2.4 Một số cấu trúc khi viết kịch bản

Trên thế giới việc viết kịch bản được chia theo một số cấu trúc chính Việc này được xác định để các nhà sản xuất phim dễ làm việc với nhau và định hình chung cho tác phẩm Khi được định hình trên các cơ sở lý luận về tâm lý và thị hiếu người xem, cấu trúc của các kịch bản dần được định hình và mặc dù được gọi theo các tên gọi khác nhau nhưng về mặt ý nghĩa, cấu trúc của kịch bản hầu hết đều được thừa nhận có những thành phần bao gồm: Mở, mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn và kết

Ở Mỹ, cấu trúc này được phát biểu:

Trong một kịch bản, đối với phim chiếu rạp, biên kịch không nên viết kịch bản quá

150 trang Một điểm chú ý đối với các biên kịch trẻ là họ thường có xu hướng viết kịch bản văn học của mình dưới dạng một truyện ngắn Điều này rất không tốt vì sẽ hạn chế chính bản thân họ cùng đội ngũ trong việc thống nhất biến những mô tả trong kịch bản thành những hình ảnh, âm thanh, chuyển động tương ứng

I.2.5 Một số ghi nhớ khi viết kịch bản

Nhà biên kịch, đặc biệt là nhà biên kịch trẻ thường nhầm lẫn giữa kịch bản được viết theo dạng tác phẩm văn học và kịch bản viết cho người sản xuất sản phẩm Kịch bản văn học thường sử dụng hoặc lạm dụng các câu chữ để mô tả nhân vật, nội tâm, hình ảnh, Các mô tả này sẽ hữu ích trong việc sản xuất dự án nếu nó giàu hình ảnh, giàu âm thanh, dễ làm cho

PTIT

Trang 14

người thụ hưởng có hình dung về thế giới được mô tả trong tác phẩm Tuy nhiên, thông thường các mô tả một cách trừu tượng sẽ làm cho người sản xuất nội dung khó có thể thực hiện hoặc hiểu sai trong việc thực hiện Ví dụ:" Nhìn bầu trời, lòng anh như nổi sóng"

Thông thường trong các tác phẩm kịch bản, tất cả các yếu tố trong kịch bản đều cần phải được miêu tả, diễn giải sao cho chúng có thể:

Một sai lầm nữa của nhà biên kịch là hay viết theo ngôi thứ nhất: "Nhìn họ ôm chầm lấy nhau, trong lòng tôi, một cảm xúc khó tả chợt dâng lên." Nếu diễn tả như ví dụ, đội ngũ làm phim sẽ không biết phải xử lý hình ảnh ra sao Thay vào đó nhà biên kịch có thể diễn tả với một vị trí khách quan hơn cùng mô tả khái quát để đội ngũ sản xuất có thể dựa vào đó xây dựng sản phẩm: "Nhìn họ ôm chầm lấy nhau, từ góc nhỏ ven đường, ánh mắt cô như dại đi, bàn tay nắm chặt và đôi môi cô mím chặt"

Thời gian trên phim và đoạn mô tả không đồng nhất Việc mô tả kỹ lưỡng rất mất nhiều giấy mực nhưng nên ghi nhớ là những điều này trên một khung hình đều được tích hợp lại và có thể chỉ diễn ra trong vòng vài giây PTIT

Trang 15

I.3 Một số vấn đề trong tác phẩm Đa phương tiện

I.3.1 Nghệ thuật không gian và nghệ thuật tạo hình

Hình I-4: Bố cục, màu sắc ảnh hưởng đến tác phẩm

PTIT

Trang 16

Hình I-5: Góc máy ảnh hưởng đến tác phẩm

Các yếu tố về không gian và tạo hình trong tác phẩm gây ra các ấn tượng cho người xem và hướng người xem theo ý muốn của nhà sáng tác Do đó khi xây dựng một tác phẩm được thể hiện thông qua các phương tiện hiển thị mang tính thị giác như phim, game, kịch, kiến trúc, người sáng tác cần chú ý đến các chi tiết thể hiện về mặt không gian, tạo hình của tác phẩm

Tạo hình trong điện ảnh hay các tác phẩm Đa phương tiện gồm nhiều yếu tố, trong đó

– Bố cục

– Hình khối

PTIT

Trang 17

– Đường nét

trong tác phẩm của mình

Đặc biệt với các tác phẩm thể hiện qua các thiết bị hiển thị như tivi, máy tính, màn ảnh, nhà sáng tác không có khoảng không gian sắp đặt các yếu tố trong tác phẩm như đối với không gian của sân khấu, sự kiện Không gian thưởng thức tác phẩm của khán giả

bị bó hẹp trong không gian hiển thị của phương tiện truyền thông tới họ

Kịch bản cho các tác phẩm tính toán không chỉ cho các hình ảnh xảy ra trong khung hình mà còn phải tính toán các hình ảnh xảy ra ngoài khung hình Điều này có thể hiểu như sau: Không gian xây dựng cho tác phẩm khi đưa lên thiết bị thể hiện là hữu hạn, tuy nhiên thế giới mà người sáng tác mong muốn truyền tải là một thế giới "thực" nhất có thể đối với khan giả Do đó, không thể có việc trên đất bằng, xạ thủ bắn một mũi tên hướng lên nhưng khi trúng đích nó lại bay ngang được Ánh sáng của mặt trời tạo ra một nền trời màu vàng ngoài cửa sổ nhưng người đứng bên cửa sổ lại không có bóng Những yếu tố như ví dụ sẽ làm cho tính thực của tác phẩm bị giảm sút nghiêm trọng Và một thế giới đã không đủ rộng cho chính những nhân vật của nó thì làm sao có thể thuyết phục được khán giả tin tưởng vào những gì đang diễn ra bên trong

I.3.2 Nghệ thuật về thời gian

Nội dung một tác phẩm thường tuân theo hai nguyên tắc về thời gian và điều này thể hiện qua cách thể hiện hoặc cách dựng:

– Dựng liên tục: Mọi hoạt động trong tác phẩm diễn ra tuần tự, nối tiếp nhau Đây là cách mô tả một thế giới thực nhất, tuy nhiên việc này sẽ làm cho tác phẩm bị kéo dài và có thể gây nhàm chán cho khán giả Tuy nhiên tính liên tục của tác phẩm là luôn cần có và lúc nào cũng hiển hiện

– Dựng ngắt quãng: Thủ pháp này được sử dụng trong hầu hết các tác phẩm Nó giúp giản lược các chi tiết thừa thãi và khán giả có điều kiện tập trung vào những diễn biến, nội dung chính mà người sáng tác mong muốn

Thời gian trong điện ảnh, truyền hình, game, kịch, thường không tỷ lệ thuận với thời gian thực tế Đương nhiên là cũng có nhiều loại hình thời gian của tác phẩm là thời gian thực Đây chính là các chương trình trực tiếp, các sự kiện có tính liệt kê như game show, biểu diễn ca nhạc, Tuy là thể loại nào, cách thức thể hiện ra sao nhưng điều một nhà viết kịch bản cần ghi nhớ là khung thời gian cho một tác phẩm là hữu hạn và việc phân bố thời gian trong tác phẩm cần được xử lý

PTIT

Trang 18

Hình I-6: Thời gian trong Game show là thời gian thực

Hình I-7: Thời gian trong Kịch thường được dàn dựng

I.3.3 Dựng phim

Lịch sử của dựng phim bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 với sự xuất hiện của phim Tuy nhiên lịch sử của dàn dựng cảnh thì đã bắt đầu từ rất lâu, cùng với sự xuất hiện của kịch nghệ, biểu diễn Nghệ thuật của dựng phim bắt đầu từ nghệ thuật dựng cảnh trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn và kịch

PTIT

Trang 19

Để tìm hiểu sâu hơn về dựng phim, nơi thể hiện cao nhất về nghệ thuật dàn dựng ta có thể tìm hiều từ các mốc lịch sự sau:

• Phim ban đầu: Lumiere brother film

– 1 hình ảnh kéo dài đến hết đoạn phim

– Không có chỉnh sửa

Hình I-8: Anh em nhà Lumierè với phim đầu tiên Đoàn tàu vào bến

– Không có chuyển động camera phức tạp

– Không kỹ xảo

– KHÔNG TẠO THÀNH CÂU CHUYỆN

• Dựng phim đầu tiên xuất hiện với tác phẩm : Robert William Paul – 1898 – Come along, do! Trong đó đã xuất hiện:

– Hai cảnh đƣợc ghép với nhau

– Đây là khởi đầu của dựng phim

PTIT

Trang 20

– CÂU CHUYỆN CÓ Ý NGHĨA HƠN

Hình I-9: Come along, do! (1898)

Khái niệm dựng phim có thể được hiểu một cách hình tượng như sau:

• Dựng phim theo cách hiểu thuần kỹ thuật: Đây đơn giản là việc ghép nối vật lý hai đoạn film thành một đoạn film có ý nghĩa riêng Ý nghĩa này có thể trùng hoặc không trùng với ý nghĩa của hai đoạn trước, hiệu quả phát sinh ý nghĩa sẽ không được tính toán đến ở đây

• Dựng phim theo cách hiểu kỹ xảo: Đây là việc ghép nối hai đoạn film thành một đoạn film trong đó ý nghĩa không được thể hiện qua một đoạn thành phần Ta có thể hiểu được khi xét trên kỹ xảo làm điện ảnh, nếu không thể hiện một ý nghĩa khác thì nhà sáng tác không cần phải phân chia thành hai đoạn phim Điều này cũng tương tự như trong văn học, nhà văn sẽ không sang đoạn mới khi một ý chưa được biểu diễn hết

• Dựng phim theo cách hiểu nghệ thuật: Nghệ thuật dựng cho phép người xem đạt được nhiều xúc cảm mà khi xem một đoạn phim thành phần không thể đạt được Khi đã nâng đến tầm vóc này, dựng phim là hình thức thể hiện đặc thù, truyền tải nhiều thứ hơn so với ý nghĩa kỹ thuật ban đầu Cách thức, phương pháp dựng sẽ truyền tải nhiều tầng ý nghĩa hơn, mang thông điệp, ẩn ý, tình cảm của người sáng tác trong đó

Có một số kỹ thuật dựng cơ bản Mỗi cách dựng sẽ cho những hiệu quả đặc thù khác nhau đối với đoạn tác phẩm được thể hiện:

• Dựng song song

• Dựng liên tưởng

• Dựng xen kẽ tạo hiệu quả kịch tính

PTIT

Trang 21

I.4 Các bước hình thành kịch bản

Để hình thành một kịch bản tốt cần trải qua nhiều công đoạn Các công đoạn này giúp cho việc thực hiện một kịch bản không mất công khi làm thành sản phẩm hoàn chỉnh rồi mới thấy không ổn thỏa Các khâu xem xét và kiểm duyệt được thực hiện theo từng công đoạn của kịch bản Có thể tổng hợp các khâu này thành một số mục chính như sau:

• Ngắn gọn, súc tích

• Nêu được chủ đề và cái kết nói chung của câu chuyện

PTIT

Trang 22

Hình I-10: Ý tưởng

Đề cương (Synosis): Sau khi chọn được một ý tưởng, tác giả cần có những nét sơ lược nhất về tác phẩm Đây là bước sơ thảo để xem một ý tưởng có thực sự tốt hay không Một số quy định cho hạng mục này gồm:

số khung cảnh chính, diễn biến chính đã được cân nhắc đến Quy định chung cho bước này có thể kể đến là:

• Tóm tắt kịch bản trong vòng vài trang: 6 – 12 trang

• Cách thức trình bày:

– Một dãy các cảnh được đánh số

PTIT

Trang 23

– Có thể trình bày dưới dạng bản đồ

– Bao gồm những dữ liệu quan trọng: (nhân vật, địa điểm, thời gian, hành động chính)

– Có thể bao gồm checklist gồm những câu hỏi cần trả lời của kịch bản

Treatment: Việc sử dụng một từ thuần Việt để miêu tả khái niệm này khó khăn Do đó, tạm thời chúng ta sẽ sử dụng nguyên mẫu của từ Đây là một khái niệm chỉ một dạng văn bản được viết dưới dạng một truyện ngắn, giàu hình ảnh, chuyển động, màu sắc thể hiện cho đoạn outline đã thực hiện ở trên

• Xây dựng kịch bản chi tiết nhưng dưới dạng kịch bản văn học, ít hội thoại, thiên về

mô tả chi tiết hành động của phim

• Thể hiện giai đoạn chuyển từ câm sang nói của điện ảnh

• Mục đích:

– Làm quen với hình ảnh rõ ràng về hành động trong mỗi cảnh

• Độ dài: 15 – 45 trang (phim 90’)

Kịch bản gốc: Là kịch bản cuối cùng mà một biên kịch thực hiện trước khi đem nó chào cho các nhà làm phim Kịch bản gốc thường là cái nền để một tác phẩm điện ảnh ra đời

Vị trí của nó đặc biệt quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn đến tác phẩm

• Có nhiều quy định cho phần kịch bản gốc, các phần này được nêu chi tiết hơn trong tài liệu môn học " Kịch bản Đa phương tiện"

Trang 24

Kịch bản phân cảnh: Khi một tác phẩm dạng kịch bản gốc được một hãng làm phim chấp nhận sản xuất Việc tiếp theo là cần phải có những cảnh quay, diễn viên, âm nhạc, phim, Để mọi khâu trong tác phẩm có thể diễn ra đúng ý đồng của tác phẩm ban đầu, một kịch bản chi tiết cho từng cú máy, góc nhìn phải được chỉ ra rõ ràng Để thực hiện điều này cần có một dạng kịch bản được gọi là kịch bản phân cảnh Các quy tắc viết kịch bản phân cảnh sẽ được trình bày chi tiết trong Chương III

• Gồm các chi tiết:

– Cỡ cảnh

– Thời gian

– Góc quay

– Các vận động của máy quay

– Liên kết thị giác: cut, fondu (hình chồng)

– Filter

Hình I-12: Mỗi cú máy cần có một phân cảnh chi tiết

Story board: Đây là một khái niệm mới cho điện ảnh Việc mô tả bằng lời dường như vẫn có những rào cản nhất định cho người thực hiện một tác phẩm Nếu những ý tuonwgr, góc nhìn được mô tả một cách trực quan hơn bằng hình ảnh thì độ sai lệch trong các khâu thực hiện của dự án sẽ được giảm thiểu rất nhiều Khái niệm Story board ra đời từ đó Trong điện ảnh người ta có thể hoặc không cần sử dụng Story board, tùy theo thói quen của ekip thực hiện Tuy nhiên, đối với sản xuất phim hoạt hình, đặc biệt là các phim hoạt hình 3D phức tạp như hiện nay, việc phải có Story board cho tác phẩm là một yêu cầu bắt buộc

PTIT

Trang 25

• Vẽ sơ lược các điểm chính, cao điểm trong một cảnh hoặc phân cảnh

• Mô tả góc quay, sắp xếp nhân vật và bài trí một cách tương đối chính xác

• Sử dụng một số quy ước để mô tả chuyển động

Hình I-13: Storyboard example 1

Hình I-14: Storyboard dạng có mô tả vị trí camera

PTIT

Trang 26

Chương II NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH

Nhắc đến ngôn ngữ điện ảnh ta cần xem xét các thành phần tạo nên một tác phẩm điện ảnh Trong điện ảnh có nhiều thành tố, có thể kể đến như: hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, lời thoại, góc máy quay, diễn xuất của diễn viên, hiệu ứng trong và ngoài phim trường, Để tổng kết lại các thành phần cấu thành nên ngôn ngữ của điện ảnh, Robert Edgar-Hunt, John Marland và Steven Rawle đã viết cuốn sách The language of film [2] Trong phần nội dung của chương này, ngôn ngữ điện ảnh sẽ được tổng hợp và diễn giải theo các nội dung của cuốn sách trên, kết hợp với các tài liệu tham khảo trong nước và Quốc tế khác

Theo "The language of film" ngôn ngữ điện ảnh sẽ được thể hiện theo 6 yếu tố:

 Ý nghĩa của kết cấu

Những nội dung dưới đây sẽ trình bày chi tiết các phần này

II.1 Ký hiệu

Làm phim là kể lại một câu chuyện bằng hình ảnh Đây là điều đầu tiên một biên kịch cần phải chú ý đến khi xây dựng kịch bản cho một bộ phim Do đó việc làm phim bắt đầu bằng việc: Lựa chọn hình ảnh cần để kể câu chuyện Việc lựa chọn hình ảnh sẽ quyết định bộ phim có thành công hay không, những hình ảnh được đưa vào tác phẩm có thể hiện được nội dung, ý tưởng và nghệ thuật của mình hay không Mỗi biên kịch có cách làm việc riêng để lựa chọn những hình ảnh này, thông thường các hình ảnh được thu thập và tổng hợp bởi mỗi biên kịch do vốn sống, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo của chính họ Hình ảnh có thể tồn tại trong thực tế hoặc không, được ghép lại với nhau dưới con mắt nghệ thuật của biên kịch và việc lựa chọn hình ảnh này đầu tiên sẽ diễn ra trong tưởng tượng của nhà biên kịch, sau đó tùy theo cách thức diễn đạt của mỗi tác giả, hình ảnh sẽ được mô tả bằng văn bản, hình vẽ minh họa, file thiết kế đi kèm hoặc các hình thức khác

Một hình thức thể hiện trong điện ảnh được các biên kịch và đạo diễn sử dụng đó là ký hiệu Không đơn thuần là đưa ra một hình ảnh, một đồ vật, nhà sáng tác nâng tầm của hình ảnh, đồ vật đó lên một mức mới: ký hiệu, với nhiều điều nội hàm hơn và hấp dẫn hơn

PTIT

Trang 27

II.1.1 Hình ảnh

Trước khi phân tích đến ký hiệu, ta cần tìm hiểu một số vấn đề chung về tâm lý của con người: những khán thính giả của tác phẩm điện ảnh cần chạm tới Con người bị ảnh hưởng bởi văn hóa thị giác một cách thụ động Điều này có thể được hiểu như sau: Nếu chúng

ta cung cấp cho người xem một hình ảnh được định hình sẵn trong đầu của họ, thì không cần nói gì nhiều, khán giả sẽ tự có những suy luận theo định hình đã được xây dựng trước đó Những hình ảnh dạng này được hình thành nên từ văn hóa của các dân tộc, lối sống, sinh hoạt, tôn giáo, và những ảnh hưởng xã hội mà dân tộc đó tự xây dựng hoặc bị ảnh hưởng đến

Đây cũng là tiền đề cho những nhà làm phim nhiều tham vọng: biến những hình ảnh mới mà mình xây dựng thành một thị hiếu, một luồng văn hóa nơi tác phẩm đi qua Có thể thấy rõ điều này tại Việt Nam, khi luồng phim Âu, Mỹ tràn vào những năm 1980 - 1990 của thế kỷ trước, những hình ảnh về một tay chơi ngang tàng, bản lĩnh được xây dựng dựa trên những cậu trai với áo da đen, quần bò, dáng đi đứng,

Điều này tạo ra các phản xạ có điều kiện đối với các hình ảnh thu nhận được Khán giả

sẽ sợ hãi, thích thú hay ghê sợ trước một hình ảnh tùy thuộc vào những cảm nhận được xây dựng trước đó trong quá khứ của mỗi con người Nhà làm phim luôn nhớ để khai thác triệt để điều này

Hình II-1: Hình ảnh trong phim Grease (1978)

Vậy điều gì sẽ xảy ra khi nhà làm phim đưa ra một hình ảnh lạ lẫm và không phù hợp với những gì đã ăn sâu vào tiềm thức của khán giả Điều này không phải hiếm gặp Tác giả có thể vô tình hoặc hữu ý để sự sai lệch này xảy ra Hiệu ứng của sự sai lầm cũng có thể tạo ra

PTIT

Trang 28

những kết quả nhất định cho tác phẩm Thông thường có thể kế đến một số hiệu ứng như sau cho sự thiếu đồng bộ hoặc lỗi sắp xếp đến người xem:

 Rối loạn nhận thức: Khán giả không hiểu tại sao sự việc lại xảy ra không như mình từng được biết Ví dụ như con chó sao lại không vẫy đuôi mừng chủ mà lại chớp chớp mắt và ngoác miệng cười

Hình II-2: Phim hài về Robin Hood

 Chán: Đây cũng có thể là hiệu ứng xảy ra cho khán giả Sự sai lầm sẽ kéo khán giả

từ sự rối loạn sang chán nản Khán giả mong muốn được thỏa mãn và sự phản bội của tác giả là điều họ nghĩ đến khi sự thỏa mãn không được xảy ra

 Hài: Đây là hiệu ứng tốt cho tác phẩm, đương nhiên là trong trường hợp tác giả cố

ý làm thế Mèo Tom (Tom & Jerry - Metro Goldwyn Mayer) bị nổ bom nhưng không chết, bị búa đập bẹp nhưng vẫn không sao, là một ví dụ cho trường hợp này

Hình II-3: Hình ảnh trong phim Tom & Jerry

PTIT

Trang 29

Sự thỏa mãn của người xem thông thường sẽ được thể hiện qua tính chính xác của hình ảnh khi đã đưa lên màn hình Điều này sẽ gợi cho người xem chính xác tới một số ấn tượng, và gợi ý nào đó Và người xem có thể thỏa mãn với sự dự đoán trước này của mình, hoặc ít nhất là cảm thấy tác phẩm thật và quen thuộc với bản thân

Sự tưởng tượng thị giác là một thuật ngữ hay được sử dụng trong điện ảnh Nhà làm phim cần tạo ra những sản phẩm sống được trong tâm trí người xem Đầu tiên nó cần sống được trong tâm trí của bản thân người viết Alfred Hitchcock là bậc thầy trong việc này Ông không chỉ làm cho câu chuyện sống trong tâm trí bản thân mà còn biết được nó sống ra sao trong tâm trí của người xem

Hình II-4: Alfred Hitchcock (1899 - 1980)

II.1.2 Dấu hiệu

Định nghĩa về dấu hiệu có nhiều nhưng có thể tổng quát chung như sau: Dấu hiệu là những gì chúng ta nghe, xem, cảm thấy cho chúng ta những liên tưởng đến những thứ chúng

ta không thể trực tiếp thấy hoặc những thứ trừu tượng, khó hiểu

Trong các hình ảnh trong film, nhà biên kịch cần xây dựng các dấu hiệu để tạo các hiệu quả liên tưởng cho người xem Các dấu hiệu này được sử dụng như một sự tóm tắt thị giác Điều này có thể được hiểu khi phân tích một hình ảnh trong phim được thể hiện trong

Trang 30

 Vết sẹo có tổng cộng 4 vết, độ sâu vết sẹo nhỏ: gây ra bởi móng vuốt của một con thú

có bàn chân có độ lớn không quá bàn tay nhân vật Trận chiến đấu không quá thảm thiết

Hình II-5: Tóm tắt nội dung nhân vật qua hình ảnh vết sẹo

Các dấu hiệu có thể được sử dụng đan xen và tổ hợp sẽ cho nhiều lớp ý nghĩa và các ý nghĩa sẽ phức tạp hơn Người ta gọi đây là luồng dấu hiệu trong một tác phẩm Với các tác giả

có kinh nghiệm và chú tâm trong việc xây dựng hình ảnh, tác phẩm thường gồm một chuỗi các dấu hiệu, được gắn kết với nhau để xây dựng một mạch chung, mô tả một lớp ý nghĩa lớn hơn, phức tạp hơn

Hình II-6: Chuỗi dấu hiệu trong phim The Pillow book (1996)

PTIT

Trang 31

Trong phim the Pillow book (1996) tác giả sử dụng hình ảnh cô gái khỏa thân nằm viết các ký tự trên một cuốn sách, ánh sáng mang những ký tự nhảy nhót trên cơ thể của cô gái Những đường cong cơ thể được xử lý ánh sáng để vẫn thể hiện nét đẹp con người mà không quá thô Ở đây, nhiều dấu hiệu, ký hiệu đã được sử dụng để mô tả cho một ý tưởng chung của tác phẩm Nhân vật đang đọc các ký hiệu và khán giả cũng làm điều này Những lớp nghĩa thể hiện qua hình ảnh này là: " Văn chương đang được sáng tác một cách tươi mới";

"Bản thân tôi chính là một trang sách sống"

Các dấu hiệu có thể được dẫn dắt thành luồng để mô tả một ý nghĩa, biểu tượng, cảm giác Việc này sẽ cho hiệu quả dẫn dắt người xem mà không bị lộ các ý tưởng ngay từ đầu mà vẫn không làm cho khán giả bị nhàm chán bởi sự thiếu thốn hình ảnh Tác giả thường để dành những hình ảnh, sự gắn kết các biểu tượng vào cuối của tác phẩm khi chân tướng, hay bức tranh lớn cần được phơi bày

II.1.3 Một số hiệu quả của dấu hiệu

Việc tạo ra các ý nghĩa mới cũng hay gặp trong các bộ phim Đây là kết quả của việc dẫn dắt người xem bằng nhiều dấu hiệu sẽ vô hình tạo ra một lớp ý nghĩa mới cho tổ hợp của các dấu hiệu đó

Điều này xảy ra là do một dấu hiệu có hai bộ phận: Phần vật lý: dấu hiệu của đối tượng và phần tâm lý: dấu hiệu của khái niệm Tác giả có thể có hoặc không lường trước được

sự kết hợp phức tạp này nhưng đây cũng là điểm hấp dẫn và mang ý nghĩa cá nhân riêng đối với mỗi khán giả Chính vì vậy, đối với mỗi khán giả, một bộ phim mang ý nghĩa khác nhau

và thậm chí với mỗi lần xem phim khán giả sẽ có những trải nghiệm về hình ảnh không giống nhau

Một số hiệu quả khác của dấu hiệu có thể kể đến như: ẩn dụ, hoán dụ, tạo ra các nghĩa rộng, nghĩa hẹp cho một hình ảnh hoặc một chuỗi các hình ảnh

 Trong phim thường trì hoãn việc cung cấp kết quả các bí ẩn để tạo kịch tính

 Người xem cần phải nằm giữa những câu giải đố rõ ràng và không có lời giải

Mã nghĩa rộng:

PTIT

Trang 32

 Xây dựng các hình ảnh với tầm phổ dụng lớn

 Tạo ra các ý nghĩa được thừa nhận bởi đông đảo nhân loại, tạo ra các biểu trưng mặc định trong nhận thức của người xem

Mã hành động:

 Tạo ra các lớp ngữ nghĩa sâu hơn cho hành động

 Ví dụ: Chàng cowboy thắt chặt lại dây lưng, đây không chỉ là vấn đề quần áo

mà là sự chuẩn bị sinh tử Nụ hôn của nhân vật anh hùng cuối phim không chỉ thể hiện tình yêu mà còn là sự khởi đầu mới, hạnh phúc đã trở lại

Mã tượng trưng:

 Tạo ra các cặp ý nghĩa tương hỗ hoặc đối nghịch nhau trong mỗi bộ phim

 Các hình ảnh, dấu hiệu thường có tính chất vật lý tương đồng hoặc đối lập để

mô tả cặp ý nghĩa trên

Hình II-7: Mã tượng trưng trong phim hoạt hình

Mã văn hóa:

• Việc đặt các khung văn hóa vào các hình ảnh sẽ dẫn dắt người xem theo lối phát triển

và tiến trình văn hóa đặc trưng đó

• Việc đặt các mã văn hóa cần có sự tương đồng nhất định giữa các đối tượng trong bộ phim

• Với các phim sử dụng sai mã văn hóa, mục đích của tác giả có thể là làm cho nó phù hợp với thị trường tiêu thụ hoặc nhầm lẫn Và dù nó có đạt được thành công về mặt thương mại hay không, không chỉ những nhà làm phim mà những khán giả khắt khe vẫn có thể thể thấy ngay được sự không hợp lý của tác phẩm

PTIT

Trang 33

Hình II-8: Mã văn hóa bị sai trong phim Karate kid

II.2 Kể chuyện

II.2.1 Tổng quát

Vấn đề đầu tiên được xem xét trong việc phân tích phim và sản xuất phim là cấu trúc tổng thể của câu chuyện diễn ra trong bộ phim Đây là vấn đề quan trọng bởi một bộ phim nếu không hoàn toàn kể được một câu chuyện và câu chuyện đó không hề hấp dẫn thì bộ phim không thể thành công Dù trong trường hợp bộ phim được làm dưới dạng một loạt các sự kiện

lẻ tẻ gắn một cách vật lý với nhau, nếu không có một câu chuyện xuyên suốt, một ý tưởng nhất quán thì bộ phim đó cũng không thể coi là một tác phẩm hoàn chỉnh

Phân tích câu chuyện tường thuật là việc tổng kết các đặc điểm kết nối trong kết cấu

bộ phim – đây là chi tiết ngôn ngữ mà phim sử dụng Điều cần quan tâm là tính thực của bộ phim: người thụ hưởng cần phải được trải nghiệm thế giới mình được thưởng thức là thật

Những chi tiết cần chú ý khi kể một câu chuyện có thể được tổng kết theo các mục dưới đây:

 Việc kể chuyện/tường thuật trong phim khác với kể chuyện/tường thuật thông thường Kể chuyện trong phim phải có đầu và có cuối, nó không giống như nói chuyện hàng ngày, nơi ta có thể bắt đầu ở bất cứ đâu và không kết thúc câu chuyện nếu ta muốn

 Kể chuyện/tường thuật trong phim là kể các hình ảnh, âm thanh, chuyển động và ngôn ngữ biểu đạt qua những thể hiện đó Do đó câu chuyện của một bộ phim là

PTIT

Trang 34

một câu chuyện bằng hình ảnh, không phải bằng ngôn từ Hoặc ngôn từ cũng phải thể hiện được hình ảnh

 Câu chuyện/tường thuật của một tác phẩm Đa phương tiện không chỉ là câu chuyện của nhân vật trong tác phẩm mà còn là câu chuyện của người đang tương tác với tác phẩm

Câu hỏi đặt ra cho việc kể chuyện là việc này có vẻ mang nặng tính lý thuyết và tác phẩm lại yêu cầu tính chân thực Sự mâu thuẫn này liệu có được giải quyết khi ngay từ ban đầu đã áp dụng những khuôn mẫu cho việc sáng tác tác phẩm Có thể tổng kết một vài điểm cho chủ đề này như sau:

 Điểm yếu của việc chỉ nghiên cứu lý thuyết đối với người làm sản phẩm ĐPT là góc nhìn với sản phẩm không khác biệt gì so với việc đọc một quyển sách Ta biết

nó nhưng ta không thấu hiểu và vận dụng nó

 Làm nghề là một quá trình học tập, không chỉ qua kinh nghiệm mà cần phải có đúc kết và tổng hợp Nói cách khác, với người mới nếu chỉ học nghề theo dạng đặt tay chỉ việc thì người học nghề rất khó vượt qua cái bóng của thầy mình Như vậy, đa phần chúng ta sẽ có những thế hệ kế tiếp kém hơn hoặc cùng lắm là bằng với người truyền đạt

 Mỗi tác giả lớn đều có kinh nghiệm phong phú, tác phẩm đồ sộ và phong cách riêng Cũng do đó, trong trao đổi khuynh hướng thiên về phong cách của mình cũng khá rõ Việc áp dụng tính cá nhân trong đào tạo sẽ tạo ra những mạch riêng cho tác phẩm Điều này không xấu nhưng nó sẽ làm giảm bớt khả năng tạo ra sự khác biệt và đột phá Và việc này thực sự không phải là xu hướng tốt trong thời đại bùng nổ thông tin số hiện nay

 Nghiên cứu lý thuyết cho phép sự tổng kết từ kinh nghiệm được nâng cấp thành các khái niệm và các vấn đề mang tính tổng quát Điều này giúp các tác giả trẻ có nhiều không gian hơn để phát triển Hay nói cách khác, sự phá cách sẽ được đặt nền móng bằng việc đầu tiên xây dựng nên những chiếc hộp quy tắc, khi người học hiểu và xây được cái hộp cho bản thân, đó là lúc họ sẽ phá cái hộp ra

Trang 35

• Đầu tiên ta cần xác định: Ngôn ngữ điện ảnh là một ngôn ngữ có cấu trúc Và việc hiểu rõ cấu trúc của ngôn ngữ điện ảnh sẽ giúp nhà biên kịch kết hợp tốt các thành phần có trong đó với nhau

• Một số khái niệm trong cấu trúc tường thuật:

– Tường thuật học: Ngành nghiên cứu về câu truyện/ tường thuật và cấu trúc của chúng

– Câu chuyện và cốt truyện: Có nhiều khái niệm về câu chuyện và cốt truyện, nhưng trong điện ảnh có thể phân biệt:

Đối với dạng thể hiện của câu chuyện, hình thức thể hiện và các đặc điểm của nó cần được xác định rõ ràng trước khi bắt tay vào công việc Biên kịch sẽ lúng túng và khó làm việc với đội ngũ của mình nếu không hiểu rõ, ekip sẽ làm việc với nhau theo dạng nào, cần những văn bản mẫu ra sao Một số lưu ý cho dạng thể hiện được liệt kê ở dưới:

• Câu chuyện xuất hiện dưới nhiều định dạng: văn bản, lời nói, hình ảnh, âm thanh, …

• Câu chuyện không chỉ xuất hiện, phải nhớ là nó được lựa chọn, được đặt hàng

• Câu chuyện được áp dụng cho tất cả con người, văn hóa mà nó tác động đến

• Câu chuyện mang tính chuyển giao lịch sử

Đối tượng áp dụng của cấu trúc câu chuyện khá rộng, không chỉ cho giới biên kịch Điều nay là đương nhiên bởi xét cho cùng câu chuyện là một loại hình văn chương và đối tượng áp dụng vô cùng phong phú:

Cấu trúc câu chuyện cho một kịch bản có thể được mô tả như sau:

• Cấu trúc câu chuyện là cần thiết cho nhà biên kịch

• Nhà biên kịch là người đầu tiên cần xử lý cấu trúc câu chuyện trước khi nó được hoàn thiện thành sản phẩm bởi toàn bộ đội ngũ

PTIT

Trang 36

Hình II-9: Vladimir Propp (1895 - 1970)

• Cấu trúc nhân vật kiểu Nga trong các truyện thần tiên của Vladimir Propp (1895 - 1970):

– Vai kẻ tinh quái/ phản diện

– Người giúp đỡ

– Người tặng, cho (thường là ma thuật)

– Nữ đau khổ và cha cô ta

– Người gửi thông điệp

– Anh hùng

– Anh hùng giả danh

Trong đó, cấu trúc chi tiết một câu chuyện của Propp danh cho điện ảnh có thể được

mô tả thành các bước Đây là một trong những dạng mẫu kinh điển cho một dòng phim thần tiên của các nước Slaver:

1 Một thành viên gia đình rời nhà

2 Một thông báo cấm xuất hiện cho anh hùng

PTIT

Trang 37

3 Thông báo cấm bị vi phạm (tinh quái xuất hiện)

4 Vai tinh quái thử dò tìm

5 Vai tinh quái có thông tin từ nạn nhân

6 Vai tinh quái lừa dối nạn nhân để chiếm đoạt vật thuộc về nạn nhân

7 Vai tinh quái lừa dối được nạn nhân vô thức giúp đỡ kẻ thù

8 Vai tinh quái làm hại tới gia đình mìnhSự vô vọng được thể hiện (điều kiện để xuất hiện vai anh hùng)

9 Người tìm kiếm chấp thuận, quyết định chống lại kẻ thù

10 Anh hùng rời nhà

11 Anh hùng bị tấn công, kiểm tra, …

12 Anh hùng nhận được quyền năng từ người tặng

13 Anh hùng được yêu cầu sử dụng quyền năng

14 Anh hùng di chuyển, giải cứu, dẫn dắt đến đối tượng cần tìm

15 Anh hùng và phản diện/ tinh quái có trận chiến

16 Anh hùng nhận được vật phẩm sức mạnh

17 Phản diện bị hạ

18 Xung đột chính được giải quyết

19 Anh hùng trở về

20 Anh hùng bị theo dõi (kẻ theo dõi cố ám sát, gây hại, ăn thịt …)

21 Anh hùng không được công nhận về nhà hoặc nước khác

22 Kẻ giả dạng anh hùng chiếm đoạt công lao

23 Hoàn cảnh khó khăn ập đến với anh hùng

24 Khó khăn được giải quyết

25 Anh hùng được công nhận

26 Kẻ giả danh hoặc phản diện bị phơi bày

27 Anh hùng được trao cho sự xuất hiện mới

28 Phản diện bị trừng phạt

29 Anh hùng lấy vợ và thăng cấp

PTIT

Trang 38

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tham khảo các mẫu câu chuyện được thể hiện theo các phong cách khác như cấu trúc kiểu Mỹ được đưa ra bởi Tzvetan Todorov (1939) Đây là một cải tiến so với cấu trúc dài và cứng của Nga Chi tiết cho dạng cấu trúc này được liệt kê ở dưới:

Hình II-10: Tzevetan Todorov (1939)

• Cấu trúc câu chuyện kiểu Mỹ (Tzvetan Todorov):

– Mở đầu: Sự cân bằng

– Trung: Sự sụp đổ cân bằng

– Kết: Sự tái thiết cân bằng

• Diễn biến của một câu chuyện trong phim kiểu Mỹ sẽ được xác định bởi một số sự kiện:

– Sự tái thiết cân bằng Nhân vật chính có thể đạt vị trí mới hoặc tự thân nhân vật

có sự phát triển mới

PTIT

Ngày đăng: 19/03/2021, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. MF. Ốp xi nhan nhi cốp - Mỹ học cơ bản nâng cao, NXB VHTT, tr.392 - 2001 Khác
[2]. Robert Edgar-Hunt, John Marland & Steven Rawle, The language of film, AVA academia - 2008 Khác
[3]. Denis Huisman - Mỹ học, NXB VHTT, 2004 Khác
[4]. Roy Thomson & Christopher Bowen, Grammar of the Edit, Focal press - Elsevier, 2009 Khác
[5]. Blake Snyder, Save the cat, FSC mixed source, 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w