1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên môi trường vùng cửa đáy theo kịch bản biến đổi khí hậu phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên

103 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu tới hệ thống tài nguyên - môi trường cũng như các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên, x

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

****************

TRẦN THỊ LỤA

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG VÙNG CỬA ĐÁY THEO KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU PHỤC VỤ SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

****************

TRẦN THỊ LỤA

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG VÙNG CỬA ĐÁY THEO KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU PHỤC VỤ SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60 85 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Mai Trọng Nhuận

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Vị trí địa lý 4

1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Cửa Đáy 4

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 4

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu 22

1.3.1 Nghiên cứu tổn thương do biến đổi khí hậu trên thế giới 22

1.3.2 Nghiên cứu tổn thương do biến đổi khí hậu ở Việt Nam và vùng nghiên cứu 24

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Một số khái niệm 27

2.1.1 Biến đổi khí hậu 27

2.1.2 Mức độ tổn thương 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa 28

2.2.2 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 29

2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu trong GIS (Geographic information systems) 30 2.2.4 Phương pháp đánh giá MĐTT TN - MT theo kịch bản BĐKH 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Đánh giá mức độ nguy hiểm do các yếu tố gây tổn thương 34

3.1.1 Nhận định, phân tích các yếu tố gây tổn thương 34

3.2.2 Phân vùng mức độ nguy hiểm do các tai biến 48

3.2 Đánh giá mật độ các đối tượng bị tổn thương 50

3.2.1 Nhận định, phân tích các đối tượng bị tổn thương 50

3.2.2 Phân vùng mật độ các đối tượng bị tổn thương 60

3.3 Đánh giá khả năng ứng phó 62

3.3.1 Đánh giá khả năng ứng phó tự nhiên 62

3.3.2 Đánh giá khả năng ứng phó xã hội 65

3.3.3 Phân vùng khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên - xã hội 73

Trang 4

3.4 Phân vùng mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường 74

3.4.1 Hiện trạng mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường 75

3.4.2 Mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường theo kịch bản nước biển dâng 1m 75 3.5 Đề xuất một số giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên vùng cửa Cửa Đáy thích ứng với biến đổi khi hậu 76

3.5.1 Quy hoạch sử dụng đất dựa vào bản đồ mức độ tổn thương 76

3.5.2 Các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên 80

3.5.3 Quản lý tài nguyên, môi trường 83

3.5.4 Giải pháp tuyền truyền, giáo dục và nâng cao năng lực 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số của khu vực cửa Đáy năm 2011 12

Bảng 1.2 Kết cấu dân số các huyện vùng Cửa Đáy 13

Bảng 1.3 Diện tích một số cây lương thực có hạt và cây chất bột có củ (ha) 13

Bảng 1.4 Sản lượng một số cây lương thực có hạt và cây chất bột có củ (tấn) 14

Bảng 1.5 Diện tích và sản lượng cây công nghiệp hàng năm vùng nghiên cứu 14

Bảng 1.6 Diện tích đất làm muối huyện Nghĩa Hưng (ha) 15

Bảng 1.7 Diện tích, sản lượng thủy sản vùng nghiên cứu năm 2011 16

Bảng 1.8 Số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn năm 2011 18

Bảng 1.9 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2011 (triệu đồng) 19

Bảng 1.10 Số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn năm 2011 19

Bảng 1.11 Danh sách các bến đò ở Kim Sơn 21

Bảng 2.1 Sơ đồ tổng quát quá trình thu thập và kế thừa tài liệu 29

Bảng 2.2 Quy trình thành lập bản đồ MĐTT TN- MT vùng Cửa Đáy theo kịch bản BĐKH (xét đến dâng cao mực nước biển 1m) 33

Bảng 3.1 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm và các mùa (oC) vào cuối thế kỷ 21 theo các kịch bản phát thải ở vùng Cửa Đáy 37

Bảng 3.2 Thống kê các trận lũ lịch sử từ năm 1945 đến 2011 42

Bảng 3.3 Mực nước biển dâng theo các kịch bản phát thải cho vùng Cửa Đáy (cm) 43

Bảng 3.4 Thống kê các cơn bão đổ bộ vào vùng Cửa Đáy từ năm 1989 - 2012 45

Bảng 3.5 Bảng so sánh mức độ nguy hiểm do tai biến vùng Cửa Đáy theo hiện trạng và kịch bản nước biển dâng 1m 49

Bảng 3.6 Diện tích các kiểu đất ngập nước ven biển Cửa Đáy 51

Bảng 3.7 Thống kê diện tích đất huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn năm 2011 (ha) 53

Bảng 3.8 Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011(%) 54

Bảng 3.9 Diện tích lúa huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn qua các năm 55

Bảng 3.10 Bảng so sánh mật độ đối tượng bị tổn thương vùng Cửa Đáy theo hiện trạng và kịch bản nước biển dâng 1m 62

Bảng 3.11 Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng và huyện Kim Sơn năm 2011 66

Bảng 3.12 Số trường, lớp, giáo viên, học sinh mẫu giáo và phổ thông trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn năm 2011 67

Trang 6

Bảng 3.13 Tình hình xây dựng trường tiểu học ở xã, phường 69 Bảng 3.14 Bảng so sánh khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên - xã hội vùng Cửa Đáy theo theo hiện trạng và kịch bản nước biển dâng 1m 74 Bảng 3.15 Bảng so sánh mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng Cửa Đáy 76 Bảng 3.16 Quy hoạch sử dụng đất vùng Cửa Đáy theo hiện trạng mức độ tổn thương 78

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu 4

Hình 1.2 Cồn cát hình thành trước cửa sông Đáy 5

Hình 1.3 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định (oC) 6

Hình 1.4 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm tại trạm Ninh Bình (oC) 6

Hình 1.5 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Nam Định (mm) 7

Hình 1.6 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Ninh Bình (mm) 7

Hình 1.7 Độ muối trung bình tháng (‰) tại trạm Văn Lý 9

Hình 1.8 Trường mực nước và dòng chảy tổng cộng tại một số thời điểm trong pha triều xuống đại diện cho đặc trưng mùa 10

Hình 1.9 Độ cao và hướng sóng có nghĩa đặc trưng cho các tháng trong năm 11

Hình 1.10 Thu hoạch muối ở HTX muối Nghĩa Phúc 15

Hình 1.11 Sơ đồ hệ thống đường bộ huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn 20

Hình 3.1 Xu thế nhiệt độ không khí trung bình năm tại trạm Văn Lý giai đoạn 1981-2011 .35

Hình 3.2 Xu thế nhiệt độ không khí trung bình các tháng tại trạm Văn Lý 37

Hình 3.3 Xu thế lượng mưa năm tại trạm Văn Lý giai đoạn 1981-2011 38

Hình 3.4 Xu thế lượng mưa trung bình các tháng tại trạm Văn Lý 40

Hình 3.5 Số tháng hạn trung bình nhiều năm khu vực phía Bắc (1965 - 2004) 41

Hình 3.6 Kịch bản mực nước biển dâng tại vùng Cửa Đáy 44

Hình 3.7 Biến trình số lượng bão hàng năm ảnh hưởng đến vùng Cửa Đáy 47

Hình 3.8 Biến trình số lượng bão hàng năm ảnh hưởng đến vùng Cửa Đáy 47

Hình 3.9 Đường đi của bão Côn Sơn năm 2010 .47

Hình 3.10 Đường đi của bão Sơn Tinh năm 2012 47

Hình 3.11 Nông dân xóm 3, xã Nghĩa Thành (huyện Nghĩa Hưng) tận thu lúa BT7 sau bão số 8 56

Hình 3.12 Tàu thuyền vào nơi neo đậu trú ẩn an toàn ở cửa cống Quần Vinh 1, xã Nghĩa Thắng huyện Nghĩa Hưng 58

Hình 3.13 Gian nhà mái cói của gia đình ông Trần Văn Đoàn ở xóm 3, xã Nam Điền (huyện Nghĩa Hưng) bị tốc mái do cơn bão Sơn Tinh 60

Hình 3.14 Rừng ngập mặn phát triển mạnh phía trong Cồn Mờ 63

Hình 3.15 Đê biển xã Nghĩa Phúc 70

Hình 3.16 Hệ thống kè chân đê Nghĩa Phúc 71

Hình 3.17 Đường đê Nghĩa Phúc - Đông Nam Điền 71

Trang 8

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

BĐKH Biến đổi khí hậu

CN - TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Trang 9

MỞ ĐẦU

Vùng Cửa Đáy thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ Sông Hồng, có sự đa dạng các kiểu đất ngập nước (ĐNN) và các hệ sinh thái điển hình là rừng ngập mặn (RNM), bãi triều Các kiểu ĐNN này đóng góp vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (nuôi trồng và khai thác thủy sản, du lịch,…); bảo vệ môi trường (hạn chế tác động của sóng, nhiễm mặn,…); duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt, RNM phát triển ở xã Nam Điền được đánh giá là hệ sinh thái có vai trò quan trọng cho vùng nghiên cứu như giảm động lực của sóng, chắn gió bão, ổn định bờ biển, tích lũy các chất dinh dưỡng, tăng cường lắng đọng trầm tích, hình thành nên những bãi bồi mới, làm tăng diện tích đất

Tuy nhiên, vùng ven biển Việt Nam nói chung và vùng Cửa Đáy nói riêng là một trong những nơi chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu (BĐKH) Theo kết quả nghiên cứu “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” do

Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2011 cho thấy: nếu mực nước biển dâng 0,5m, trên 4% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh có nguy cơ bị ngập lụt và khoảng 3,4% số dân của khu vực này có nguy cơ bị ảnh hưởng trực tiếp Do

đó, vùng ven biển Cửa Đáy được nhận định là vùng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và dâng cao mực nước biển

Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu tới hệ thống tài nguyên - môi trường cũng như các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên, xã hội ở vùng Cửa Đáy chưa toàn diện và chi tiết

Do đó, đề tài luận văn “Nghiên cứu, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên - môi

trường vùng Cửa Đáy theo kịch bản biến đổi khí hậu phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên” được lựa chọn nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho quản lý và sử dụng

hợp lý tài nguyên

Mục tiêu

Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường vùng Cửa Đáy theo kịch

Trang 10

bản biến đổi khí hậu (xét đến kịch bản nước biển dâng 1m) nhằm đề xuất một số giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên trong bối cảnh BĐKH

Nhiệm vụ

- Nghiên cứu các yếu tố gây tổn thương vùng Cửa Đáy (các tai biến liên quan đến BĐKH: nước biển dâng, lũ lụt, xâm nhập mặn, hạn hán, bão và các yếu tố cường hóa tai biến); các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống

tự nhiên - xã hội trước các yếu tố gây tổn thương

- Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên, môi trường (đánh giá mức độ nguy hiểm do các yếu tố gây tổn thương, mật độ đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên xã hội trước các tác động của BĐKH)

- Thành lập bản đồ: bản đồ mức độ nguy hiểm do các tai biến liên quan đến BĐKH; bản đồ mật độ đối tượng bị tổn thương; bản đồ khả năng ứng phó và bản đồ mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường (TN - MT) vùng Cửa Đáy theo kịch bản BĐKH (xét đến kịch bản nước biển dâng 1m)

- Đề xuất một số giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên nhằm thích ứng với BĐKH

Phạm vi nghiên cứu

Vùng nghiên cứu thuộc hai huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình) Phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau: ranh giới phía ngoài là đường đẳng sâu 6m khi triều kiệt, ranh giới trong đất liền là đường ranh giới địa chính của hai huyện nói trên Trong đó, TN - MT là đối tượng được tập trung nghiên cứu

Cơ sở tài liệu

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở tài liệu chủ yếu của các dự án “Tăng cường năng lực giảm thiểu và thích ứng với địa tai biến liên quan đến môi trường và phát triển năng lượng ở Việt Nam” và DATP5 “Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp quản lý phát triển bền vững” do GS.TS Mai Trọng Nhuận chủ trì

Trang 11

học viên cũng kế thừa và sử dụng số liệu từ báo cáo “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện năm

2011, bản đồ hiện trạng sử dụng đất liên quan đến vùng Cửa Đáy, bản đồ địa hình, báo cáo niên giám thống kê từ Phòng Thống kê huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn và một số nguồn tài liệu khác

Bố cục của luận văn

Luận văn không kể phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương chính như sau: Chương 1 Tổng quan tài liệu

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Luận văn được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Mai Trọng Nhuận

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vị trí địa lý

Vùng nghiên cứu bao gồm các xã, thị trấn thuộc hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) Phía đông vùng nghiên cứu giáp huyện Hải Hậu (Nam Định); phía tây nam giáp huyện Nga Sơn (Thanh Hóa); phía bắc và tây bắc giáp huyện Yên Khánh, Yên Mô và Nam Trực; phía nam giáp biển Đông (Hình 1.1)

Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu

Nguồn: Google Earth

1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Cửa Đáy

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Địa hình vùng nghiên cứu tương đối bằng phẳng, hướng nghiêng về phía biển, độ dốc nhỏ (dao động từ 0,04 đến 0,05m/km) [34] Độ cao trung bình vùng

Trang 13

ven biển dao động từ 0 - 2m Địa hình vùng nghiên cứu chịu tác động rất lớn bởi hoạt động quai đê lấn biển Hệ thống đê và các trục giao thông đã chia cắt vùng nghiên cứu ra những ô đất thấp khác nhau Ngoài đê là chịu ảnh hưởng của sóng biển, thủy triều và dòng biển, cho nên chủ yếu là các bãi triều, có địa hình khá thoải, rộng khoảng 2 - 3km

Vùng nghiên cứu còn có các địa hình âm là các lạch triều tự nhiên Hiện nay, dạng địa hình này chỉ còn tồn tại ở Nghĩa Hưng Các lạch triều có vai trò lớn trong việc phân bố lại các vật chất bở rời do sông ngòi đưa ra và qua chu trình tiến vào và rút ra của thủy triều Khu vực Kim Sơn gần như không còn lạch triều tự nhiên, thay vào đó là hệ thống kênh rạch thủy nông phục vụ nuôi thủy sản rất phát triển

Đường bờ vùng nghiên cứu có

hướng đông bắc - tây nam và bị chia

cắt mạnh bởi các cửa lạch và cửa sông

Đáy, chiều dài bờ biển khoảng 30km

Đoạn bờ biển Nghĩa Hưng, vùng tiếp

giáp với cửa sông Ninh Cơ, có các bãi

cát, các cồn cát Phía trong hệ thống

doi cát này hệ sinh thái rừng ngập mặn

khá phát triển, có nơi rộng đến gần 3km và kéo dài đến 6km

Địa hình đáy biển có xu hướng thoải dần theo hướng đông bắc - tây nam

Vị trí đường đẳng sâu 5m nằm cách bờ từ 1,5 - 2km Trước cửa Đáy, đường đẳng sâu có mật độ cao nhất ở khoảng độ sâu 2 - 6m nước Vật liệu trầm tích đưa ra từ cửa Đáy tập trung lắng đọng ở ngay sát cửa sông, tạo thành các cồn cát, bar cát (dài khoảng 2km, rộng 1km (Hình 1.2) làm thay đổi lòng dẫn cửa sông Khu vực

bờ biển Kim Sơn, từ độ sâu 0 - 2m nước, địa hình gần như bằng phẳng

Hình 1.2 Cồn cát hình thành trước cửa

sông Đáy

Trang 14

1.2.1.2 Đặc điểm các thành tạo địa chất

Các thành tạo địa chất trên đất liền: gồm các thành tạo trầm tích bở rời chịu

tải kém, chống xói lở kém và tàng trữ độc tố tốt gồm sét, bột sét màu xám giàu mùn thực vật, thuộc tướng đầm lầy đặc trưng ở đoạn cửa Đáy Ngoài ra, nơi đây còn có thành tạo trầm tích bở rời, chịu tải kém và tàng trữ độc tố kém, thành phần trầm tích gồm cát nhưng không đặc trưng

Các thành tạo địa chất dưới đáy biển: nhóm có khả năng tàng trữ độc tố tốt

gồm trường bùn chứa cát sạn tạo thành dải hẹp ở phía ngoài, ôm lấy trường bùn, có

xu hướng bị thu hẹp là do các trường bùn phía trong bờ ngày càng mở rộng ra phía biển Nhóm có khả năng tàng trữ độc tố trung bình gồm trường bùn chứa cát sạn và cát chứa sạn bùn, phát triển từ độ sâu 30m nước trở ra

1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu vùng nghiên cứu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với hai

hệ thống gió mùa đông bắc và tây nam Hàng năm, vùng nghiên cứu thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết như bão và áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh, ngập lụt cục bộ do mưa to trong bão và áp thấp nhiệt đới gây tác động trực tiếp đến cuộc sống người dân và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội

0 5 10 15 20 25 30 35

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Bình

quân năm

Hình 1.3 Nhiệt độ không khí trung bình

các tháng trong năm tại trạm Nam Định

Trang 15

Chế độ nhiệt vùng nghiên cứu tương đồng với các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc

bình trong năm ở vùng nghiên cứu lại thấp hơn so với các tỉnh thành trong cả nước Trong giai đoạn 2007 - 2011, số giờ nắng trung bình đạt khoảng 1160 - 1460 giờ/năm Chế độ nhiệt giữa các mùa trong năm có sự khác biệt rõ rệt Mùa hè từ

gần 70% tổng số giờ nắng trong năm Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau,

do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên nền nhiệt độ giảm, nhiệt độ trung bình

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

2000 2005 2006 2007 2008 2009

Hình 1.5 Lượng mưa trung bình các

tháng trong năm tại trạm Nam Định

(mm)

Hình 1.6 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm tại trạm Ninh Bình

(mm)

Nguồn: số liệu trong niên giám thống kê Nam Định, Ninh Bình, năm 2009

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.100 - 1.800mm, nhưng sự phân bố lượng mưa trong năm thể hiện sự khác biệt giữa các mùa Mùa hè, lượng mưa chiếm trên 70% lượng mưa cả năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8, 9 (Hình 1.5, Hình 1.6) Vì vậy, độ ẩm thường xuyên đạt trên 80% Vào mùa đông, do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, khí hậu khô nên lượng mưa không lớn, chỉ chiếm khoảng 30% Đặc biệt, hai tháng 12 và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất trong năm, chỉ từ 2 - 61mm nên độ ẩm vào các tháng này đều dưới 75% Thời gian đầu tháng 2

Trang 16

đến giữa tháng 3 có nhiều ngày mưa phùn mưa bụi cuối đông làm cho độ ẩm không khí lại tăng đến 85%

c Chế độ gió

Vùng nghiên cứu có chế độ gió theo mùa Trong năm, nơi đây có hai mùa gió khác nhau về bản chất và có hướng thịnh hành trái chiều nhau là gió mùa đông bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và gió mùa tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10) Vào mùa đông, gió có hướng thịnh hành là đông bắc, đông, bắc, vào cuối mùa

có gió đông và đông nam Mùa hè, gió có hướng thịnh hành là nam, đông nam và tây nam

Tốc độ gió trung bình năm trên 3m/s [11] Tốc độ gió qua các mùa không giống nhau Vào mùa gió đông bắc, tốc độ gió từ 3 - 5m/s chiếm đại đa số với tần số xuất hiện 70 - 80%, tốc độ gió trên 7m/s khá phổ biến, chiếm khoảng 20% Mùa gió tây nam, tốc độ gió trung bình 4 - 5m/s, đặc biệt khi xuất hiện các nhiễu động thời tiết như dông, áp thấp nhiệt đới, bão tốc độ gió có thể đạt tới 25 - 30m/s [57]

1.2.1.4 Đặc điểm thủy văn - hải văn

a Thủy văn

Chế độ thủy văn vùng nghiên cứu chịu sự chi phối của sông Đáy Sông Đáy

là một phân lưu của Sông Hồng, nhận nước từ sông Hồng (ở địa phận Hà Nội) đổ ra vịnh Bắc Bộ (cửa Đáy) Chế độ dòng chảy của sông Đáy khá phức tạp do thượng lưu bị chia cắt bởi sông Hồng, hạ lưu chịu ảnh hưởng của thủy triều

Dòng chảy trên sông Đáy hàng năm dao động theo mùa, phù hợp với mùa mưa và mùa khô và có lưu lượng phân bố không đều Mùa lũ bắt đầu vào tháng 5 nhưng đôi khi có thể bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hoặc tháng 10 Trong khoảng 4 tháng (từ tháng 6 đến tháng 9) lượng nước chiếm khoảng 75 - 85% lượng nước cả năm Trong giai đoạn này, dòng chảy sông lấn át dòng triều nên chỉ

có một hướng chảy từ sông ra biển Mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Giai đoạn ổn định của mùa kiệt kéo dài 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3) Vào khoảng thời gian này, lưu lượng dòng chảy khá nhỏ, chỉ bằng 7 - 8% lưu lượng dòng chảy

Trang 17

cả năm Đây là thời kỳ mặn có điều kiện xâm nhập sâu vào lục địa [57]

Nhìn chung, nguồn nước tự nhiên của sông Đáy kết hợp với điều hòa của hệ thống công trình thủy lợi đã phục vụ đắc lực cho việc cấp nước sinh hoạt và phát triển các ngành kinh tế khác như: giao thông thủy, thủy sản, du lịch và đặc biệt là phát triển nông nghiệp

b Hải văn

Nhiệt độ nước biển

Nhiệt độ nước biển có sự chênh lệch giữa các mùa Vào mùa hè, nhiệt độ nước biển tầng mặt ở vùng biển nghiên cứu thường cao hơn so với các vùng biển

quy luật từ bờ ra khơi Trái lại, vào mùa đông, gió mùa đông bắc mang tới không khí lạnh nên nhiệt độ nước biển bị hạ xuống Do đó nhiệt độ nước biển vào khoảng thời gian này thường thấp hơn so với vùng biển phía nam Việt Nam Nhiệt độ trung

nhiệt độ nước biển cũng có sự chênh lệch giữa các tầng và giữa ngày và đêm Nhiệt

Độ muối

Độ mặn nước biển vùng nghiên

cứu khá tương đồng với các vùng biển

Bắc Bộ, nhưng thấp hơn so với vùng

biển phía nam Việt Nam Tại trạm Văn

Lý, độ muối trung bình năm vào

khoảng 24,4‰ Đặc biệt, độ muối ở

vùng ven bờ phụ thuộc rất lớn vào

lượng nước ngọt từ lục địa, điều kiện

mưa và bốc hơi trên biển Do vậy, vào

các tháng mưa lớn như tháng 7, 8, 9,

0 5 10 15 20 25 30

I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Hình 1.7 Độ muối trung bình tháng (‰)

tại trạm Văn Lý

Nguồn: [39]

Trang 18

giá trị độ muối của vùng biển ven bờ hạ xuống rất thấp, chỉ dưới 22,1‰ Trái lại, các tháng mùa khô có lượng mưa ít như tháng 1, tháng 2 độ mặn trung bình lại tăng cao hơn, đạt khoảng 28‰ [39]

Chế độ dòng chảy

Hình 1.8 Trường mực nước và dòng chảy tổng cộng tại một số thời điểm trong pha

triều xuống đại diện cho đặc trưng mùa

Nguồn: [12]

Dòng chảy vùng nghiên cứu là dòng tổng hợp gồm dòng triều, dòng chảy gió

và dòng chảy sông (ở Cửa Đáy) Nhìn chung, dòng chảy ổn định ở vùng ven bờ có hướng đông bắc - tây nam Vào mùa đông, dòng chảy bị ảnh hưởng mạnh bởi gió mùa đông bắc nên tốc độ dòng chảy có xu hướng lớn hơn tốc độ dòng chảy vào mùa

hè, tốc độ trung bình đạt 10 - 25cm/s Sự giao thoa thủy thạch động lực của dòng chảy sông và dòng chảy dọc bờ là yếu tố quyết định quan trọng đến quá trình bồi

sông dưới tác động của dòng chảy dọc bờ, bùn cát được vận chuyển, sau đó lắng đọng tạo nên các khu vực bồi tụ trước cửa sông và hai phía của cửa Đáy [12]

Chế độ sóng

Chế độ sóng tại vùng nghiên cứu chịu sự chi phối mạnh bởi chế độ gió Do vậy, hướng sóng chủ đạo mang tính chất mùa Vào mùa đông, sóng biển có hướng thịnh hành là đông bắc, độ cao sóng trung bình 0,1 - 0,4m Mùa hè, sóng thịnh hành là đông và nam, độ cao sóng trung bình 0,1 - 0,45m Nhìn chung, trong mùa

hè sóng có độ cao lớn hơn trong mùa đông do chịu tác động mạnh của bão và áp

Trang 19

12 [43] Với độ lớn như vậy, vào thời kỳ triều cường, thủy triều gây ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thoát nước thải, thoát lũ, tiêu úng của sông và cường hóa xâm nhập mặn vào sâu trong lục địa

Trang 20

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Dân cư

Quy mô dân số hai huyện ven biển vùng nghiên cứu liên tục tăng trong giai

đoạn vừa qua Đến năm 2011, tổng dấn số ở vùng này là 345.167 người, trong đó

huyện Nghĩa Hưng có số dân đông hơn so với huyện Kim Sơn là 12.569 người Tuy

nhiên, mật độ dân cư của huyện Kim Sơn cao hơn mật độ dân cư huyện Nghĩa

Hưng (Bảng 1.1) Phần lớn dân cưu sinh sống tập trung ở xã, thị trấn nằm sâu trong

đất liền, đặc biệt dân cư tập trung cao tại các thị trấn có các hoạt động kinh tế phát

Trái lại, các xã ven biển có dân số tập trung thưa hơn, như xã Nghĩa Phúc (716

(huyện Kim Sơn)

Bảng 1.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số của vùng Cửa Đáy năm 2011

Huyện Diện tích (km 2 ) Dấn số (người) (người/km Mật độ 2 )

Nguồn: [27, 28]

Trong giai đoạn 2009 - 2011, kết cấu dân số về giới tính ở hai huyện ven

biển vùng nghiên cứu có sự phát triển trái ngược nhau Trong khi ở huyện Nghĩa

Hưng tỷ lệ nam giới thường cao hơn nữ giới từ 0,28% đến 1,06%, thì ở huyện Kim

Sơn, tỷ lệ nam giới đang có xu hướng giảm và thường nhỏ hơn tỷ lệ nữ giới từ

0,37% đến 0,43% Về kết cấu dân số giữa thành thị và nông thôn đều có sự chênh

lệch rõ rệt Nhìn chung, phần lớn dân số vẫn tập trung ở vùng nông thôn Năm

2011, tổng dân số thành thị của huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn lần lượt là 11,50%,

7,29% Trong khi đó, số dân nông thôn ở hai huyện này lại chiếm tới 88,50% và

92,71% (Bảng 1.2) Với kết cấu dân số trẻ, vùng nghiên cứu có số người trong độ

tuổi lao động khá lớn Tuy nhiên, trình độ học vấn không cao và tay nghề còn thấp

Trang 21

Bảng 1.2 Kết cấu dân số các huyện vùng Cửa Đáy

Phân theo giới tính Phân theo thành thị nông thôn Huyện

Nghĩa Hưng 88.485 90.383 20.564 158.304

Nguồn: [27, 28]

1.2.2.2 Nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong ngành kinh tế thế mạnh của vùng nghiên cứu

Trong giai đoạn 2008 - 2011, giá trị sản xuất nông nghiệp thể hiện sự phát triển

vượt bậc Năm 2011, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của hai huyện ven biển đạt

hơn 3.500 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần so với năm 2007, trong đó giá trị sản xuất nông

nghiệp của huyện Nghĩa Hưng chiếm trên 60% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp

của hai huyện, đạt trên 2 tỷ đồng [27, 28] Trong nông nghiệp, giá trị sản xuất trong

ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng chủ yếu, khoảng 60%, còn lại là ngành chăn nuôi và

dịch vụ [27, 28] Trong đó, các cây lương thực (lúa, ngô), cây chất bột (khoai lang,

sắn), cây công nghiệp hàng năm (mía, lạc, đậu tương, đay, cói) và cây công nghiệp

lâu năm (nhãn, vải, na, cam) mang lại giá trị lớn cho ngành kinh tế

Bảng 1.3 Diện tích một số cây lương thực có hạt và cây chất bột có củ (ha)

Nghĩa Hưng 22.170 625 252 37

Nguồn: [27, 28]

Theo số liệu thống kê năm 2011, diện tích trồng cây lương thực có hạt của

hai huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn khoảng 39.972ha, trong đó diện tích trồng lúa là

38.730 ha, chiếm gần 97% diện tích cây lương thực có hạt của toàn vùng (Bảng

1.3) Tổng sản lượng lúa hai huyện đạt 242.065 tấn Lương thực bình quân đầu

người đạt 701,3 kg/năm, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực Do áp dụng khoa

học công nghệ, kỹ thuật, thâm canh trong trồng trọt nên năng suất các loại cây trồng

khác đều tăng lên qua các năm Các loại cây thực phẩm như khoai lang, sắn cũng

Trang 22

được trồng khá nhiều với sản lượng khá cao Năm 2011, tổng sản lượng ngô, khoai

và sắn đạt 8.342 tấn (Bảng 1.4)

Bảng 1.4 Sản lượng một số cây lương thực có hạt và cây chất bột có củ (tấn)

Bên cạnh đó, vùng nghiên cứu có một số loại cây cây công nghiệp có giá trị

kinh tế như: mía, lạc, đậu tương, cói Trong đó, mía tập trung chủ yếu tại huyện

Nghĩa Hưng với 85ha, sản lượng đạt 2.277 tấn; cói được trồng nhiều ở huyện Kim

Sơn với diện tích 384,3ha đạt 3.123,4 tấn Ngoài ra, còn có nhiều loại cây công

nghiệp khác như đậu tương với diện tích là 868ha, lạc 126,5ha, vừng 38,9ha [27,

Trang 23

liệu cho các ngành công nghiệp chế biến

Trong những năm gần đây, do nhu cầu về sức kéo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp giảm nên số lượng trâu, bò giảm Năm 2011, số lượng trâu đạt 2.781 con, giảm 21 con so với năm 2008 Số lượng bò đạt 2.802 con, giảm 943 con so với năm

2008 Đặc biệt, số lượng lợn suy giảm mạnh mẽ Năm 2011, số lượng lợn có 138.414 con, giảm 5.025 con so với năm 2008 Ngược lại, nhu cầu về thực phẩm của thị trường ngày càng lớn nên số lượng đàn gia cầm của vùng tăng lên liên tục Năm 2011, toàn vùng có 1.444.657 con, tăng 197.648 con so với năm 2008 Trong

đó, số lượng gà chiếm chủ yếu và được nuôi phổ biến trong các gia đình Ngoài ra còn có các loài khác như ngan, ngỗng, vịt

1.2.2.3 Diêm nghiệp

Xã Nghĩa Phúc (huyện Nghĩa Hưng) là xã duy nhất có nghề sản xuất muối ở vùng nghiên cứu Năm 2011, tổng diện tích đất làm muối của xã chỉ có 53,0ha (Bảng 1.6), trong đó có khoảng 5 ha sản xuất muối sạch được Nhà nước hỗ trợ kinh phí chuyển đổi từ năm 2005

Bảng 1.6 Diện tích đất làm muối huyện Nghĩa Hưng (ha)

Nguồn: [28]

Mỗi năm hợp tác xã sản xuất

được 4.000 - 4.500 tấn muối, trong đó

có khoảng 300 tấn muối sạch Năng suất

bình quân hàng năm của đồng muối

Nghĩa Phúc thường đạt từ 90 tấn/ha trở

lên Sinh kế của người dân xã Nghĩa

Phúc phụ thuộc trực tiếp vào nghề làm

muối do hầu hết người dân không có

ngành nghề phụ Diện tích đất bình quân cho một nhân khẩu chỉ đạt 0,7 sào, giá thành muối không cao, năng suất muối phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết, khí

Hình 1.10 Thu hoạch muối ở HTX muối

Nghĩa Phúc

Trang 24

hậu nên đời sống người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn

Từ năm 2005 đến nay, người dân đã áp dụng các phương pháp sản xuất mới

như sản xuất muối sạch, kết tinh muối trên vải bạt PVC…nhưng do kinh phí đầu tư

cao nên diêm dân vẫn phải sản xuất theo phương pháp thủ công truyền thống

1.2.2.3 Khai thác và nuôi trồng thủy sản

Bảng 1.7 Diện tích, sản lượng thủy sản vùng nghiên cứu năm 2011

Giá trị sản xuất thủy sản liên tục tăng trong các năm qua Năm 2011, tổng giá

trị sản xuất thủy sản của hai huyện đạt hơn 1.335 tỷ đồng Trong đó, gần 68% là giá

Trang 25

trị sản xuất từ nuôi trồng, khoảng 30% từ khai thác, còn lại khoảng 2% giá trị sản xuất từ dịch vụ [27, 28]

Tổng sản lượng thủy sản của hai huyện ven biển đạt 40.633 tấn, trong đó khai thác đạt 14.718 tấn, nuôi trồng đạt 25.915 tấn (Bảng 1.7) Trong khi sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt giá trị tương đồng ở cả hai huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn, thì sản lượng khai thác lại chiếm chủ yếu ở huyện Nghĩa Hưng, gấp gần 3 lần sản lượng khai thác của huyện Kim Sơn Đến năm 2011, diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) của toàn vùng nghiêm cứu có khoảng 6.058ha, trong đó khoảng 2/3 diện tích thủy sản ở vùng nước lợ Trên lĩnh vực NTTS, cá và tôm sú là hai đối tượng nuôi chủ lực Năm 2011, sản lượng cá nuôi của hai huyện đạt 9.444 tấn, chiếm hơn 36% tổng sản lượng nuôi trồng Cùng với tôm sú, cá, các loại giống tôm thẻ trân chắng, tôm rảo, cua, các loài nhuyễn thể hai vỏ, rau câu cũng là đối tượng nuôi khá phổ biến

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế biển, nghề đánh bắt hải sản đã có bước chuyển biến rõ rệt, số lượng và công suất tàu thuyền không ngừng tăng lên Đến năm 2011, riêng huyện Nghĩa Hưng có 622 chiếc tàu thuyền đánh cá, trong đó có 511 tàu đánh cá cơ giới với công suất 14.275 CV Tuy nhiên, số lượng tàu đánh bắt xa bờ vẫn còn rất ít Toàn huyện Nghĩa Hưng mới có

15 chiếc tàu đánh bắt xa bờ và 111 chiếc thuyền đánh cá không có động cơ

1.2.2.4 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Trong cơ cấu các ngành kinh tế, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) chiếm tỷ trọng tương đối lớn, đứng thứ ba sau giá trị sản xuất nông nghiệp, du lịch và dịch vụ Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp của hai huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn đạt gần 1.595 tỷ đồng, tăng hơn 230% so với năm

2005 Trong đó, giá trị sản xuất của thành phần kinh tế cá thể ưu thế hơn so với thành phần kinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân, chiếm khoảng 80% Đến năm

2011, toàn vùng có 19.179 cơ sở sản xuất CN - TTCN (Bảng 1.8) Các cơ sở sản xuất công nghiệp phân bố không đồng đều trong vùng, đặc biệt tập trung cao tại các

xã Đồng Hướng, Kim Chính, Yên Lộc, Lai Thành, Kim Mỹ (huyện Kim Sơn) và xã

Trang 26

Nghĩa Châu (huyện Nghĩa Hưng) Mỗi xã này có khoảng 1.000 cơ sở sản xuất/xã

[27, 28]

Bảng 1.8 Số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn năm 2011

Cơ sở sản xuất Nghĩa Hưng Kim Sơn Tổng số

Để thúc đẩy sản xuất CN -TTCN, huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn luôn chú

trọng phát triển làng nghề, nghề truyền thống Hiện tại, trên địa bàn vùng nghiên

cứu có các ngành nghề truyền thống chính như chiếu cói và mây tre đan Nghề dệt

chiếu và các sản phẩm làm từ cói tập trung chủ yếu ở các xã Nghĩa Sơn, Nghĩa

Trung, Nghĩa Hải, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phú (huyện Nghĩa Hưng); Kim Chính, Đồng

Hướng, Yên Mật (huyện Kim Sơn) … Các sản phẩm từ tre nứa, mây được sản xuất

nhiều ở các xã Nghĩa Thái, Nghĩa Thịnh Những ngành nghề này đã tạo việc làm và

tăng thu nhập cho hàng nghìn lao động địa phương mỗi năm

1.2.2.5 Du lịch và dịch vụ

Vùng nghiên cứu nằm trong khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng Đây

là một vùng bãi bồi đất ngập nước ven biển độc đáo của thế giới với đa dạng các

sinh cảnh như bãi bùn, bãi cát ngập triều, trảng cỏ, sậy, rừng ngập mặn, cùng các

cồn cát phi lao và các đàn chim di chú đã tạo những điều kiện thuận lợi phát triển

loại hình du lịch sinh thái, tham quan và tìm hiểu thế giới tự nhiên Nổi bật trong

vùng nghiên cứu là vùng bãi ngang - Cồn Nổi Kim Sơn có tiềm năng lớn phát triển

du lịch Tổ chức BirdLife đã đánh giá đây là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng

ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ do tập trung nhiều kiểu đất ngập nước còn khá

nguyên trạng đặc trưng cho vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, là nơi tập trung chim

nước với số lượng gần 28.000 cá thể

Trang 27

Cùng với nguồn tài nguyên tự nhiên, vùng nghiên cứu còn có các di sản văn

hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng Nhiều di tích có tiềm năng lớn về du

lịch văn hóa - tâm linh hấp dẫn như: nhà thờ đá Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm), đền

thờ doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ (xã Quang Thiện), chùa Đồng Đắc (xã Đồng

Hướng), đình Thượng Kiệm (xã Thượng Kiệm), đình Hưng Lộc (xã Nghĩa Thịnh),

đền thờ Phạm Văn Nghị (xã Nghĩa Lâm), đền thờ Doãn Khuê (xã Nghĩa Thành),

Bảng 1.9 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2011 (triệu đồng)

Bảng 1.10 Số cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn năm 2011

Thành phần kinh tế Nghĩa Hưng Kim Sơn Tổng số

1 Khu vực kinh tế trong nước 3.789 5.534 9.323

Những năm qua, ngành du lịch của hai huyện Kim Sơn và Nghĩa Hưng đang

nổi lên nắm vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội Tuy nhiên, so với tiềm

năng và lợi thế, hiệu quả của hoạt động du lịch vẫn còn khiêm tốn Năm 2011, tổng

mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 2.049 tỷ đồng Trong đó, doanh

thu từ dịch vụ, lưu trú và dịch vụ ăn uống chỉ chiếm gần 13% do khách lưu trú thấp

hoặc lưu trú ngắn ngày (Bảng 1.9) Hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ du

lịch ngày càng được xây dựng, cải tạo nâng cấp, từng bước đáp ứng nhu cầu thị

trường Đến năm 2011, toàn vùng có tới 9.323 cơ sở kinh doanh, nằm rải rác ở các

xã và thị trấn (Bảng 1.10)

Trang 28

1.2.2.6 Giao thông vận tải

Mạng lưới giao thông đường bộ

trong vùng nghiên cứu chủ yếu theo

hướng bắc - nam, tây bắc - đông nam và

kéo dài đến tận các xã ven biển nên khá

thuận lợi cho việc phát triển kinh tế

Trong vùng có một số tuyến giao thông

quan trọng như quốc lộ 10, các tỉnh lộ

481C, 481D, 481B, 481 thuộc huyện

Kim Sơn; tuyến tỉnh lộ 490 kéo dài từ

xã Nghĩa Thịnh đến xóm 8 xã Nam

Điền và tuyến tỉnh lộ 55 kéo dài từ xã

Nghĩa Phong đến xã Nghĩa Lâm thuộc

huyện Nghĩa Hưng Trong đó, quốc lộ 10 đi xuyên ngang qua 11 xã ở phía bắc huyện Kim Sơn phục vụ nhu cầu đi lại của người dân trong vùng và thúc đẩy giao thương kinh tế với các tỉnh khác trên cùng trục đường như Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa Phía bắc huyện Kim Sơn có tỉnh lộ 481 nối từ xã Ân Hòa đến xã Xuân Thiện, tỉnh lộ 481D nối từ ngã ba Quy Hậu tới đò 10 sang Nam Định Phía nam huyện Kim Sơn có tỉnh lộ 481 nối từ Yên Lộc đến đê biển Bình Minh qua 8 xã đang được đầu tư nâng cấp thành quốc lộ 12B kéo dài Ngoài ra, phong trào đầu tư cơ sở

hạ tầng nông thôn, hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông thông cũng tiếp tục phát triển Toàn huyện Kim Sơn đã làm được 16km đường bê tông xi măng, 14,5km đường cấp phối, 7,5km đường đá dăm, 50 cống các loại Một số xã có phong trào làm đường giao thông nông thôn khá là: Quang Thiện, Kim Tân, Chất Bình, Yên Lộc

Về giao thông đường thủy, hệ thống sông Đáy chảy qua địa phận hai tỉnh Kim Sơn và Nghĩa Hưng nên vận tải bằng đường sông diễn ra khá phổ biến Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng giao thông vận tải đường sông trên địa bàn vùng nghiên cứu chủ yếu là sử dụng nguyên trạng điều kiện tự nhiên sẵn có, việc đầu tư

Hình 1.11 Sơ đồ hệ thống đường bộ huyện Nghĩa Hưng và Kim Sơn

Nguồn: https://maps.google.com

Trang 29

cải tạo còn hạn chế, so với giao thông đường bộ thì giao thông đường thủy thường đơn giản hơn Hiện nay, các bến phà và thuyền vẫn là phương tiện giao thông vận tải chủ yếu, phục vụ cho việc đi lại và đời sống sản xuất của người dân như chờ hàng hóa, chở hành khách trên các bến đò ở các bến sông Theo Quyết định số: 2179/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2007 của UBND tỉnh Ninh Bình về việc phê duyệt Quy hoạch giao thông đường thuỷ nội địa tỉnh Ninh Bình đến năm 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020 thì Kim Sơn có các cảng Kim Đài, cảng Phát Diệm, cảng tổng hợp Kim Sơn, cảng Trì Chính và rất nhiều bến đò (Bảng 1.11) Cảng Kim Đài tại ngã ba sông Đáy và sông Vạc, thuộc xã Đồng Hướng Cảng Phát Diệm nằm bên hữu sông Vạc, thuộc địa bàn thị trấn Phát Diệm Cảng tổng hợp Kim Sơn xây dựng bên hữu sông Đáy, tại khu neo đậu tránh, trú bão (từ Kim Đông đến Kim Tân), quy mô 500 tàu thuyền

Bảng 1.11 Danh sách các bến đò ở Kim Sơn Tên bến đò Vị trí Sông Lý trình Mức độ

liên kết

Giai đoạn

Bến đò Cống Điện Biên Cồn Thoi Sông Đáy 150 Liên tỉnh

2010-2015

Sông Hoàng Long

28 Liên xã 2010-2015

Bến đò Kim Định Kim Định Sông Đáy 136 Liên tỉnh

2010-2015 Bến đò Chính Tâm Chính Tâm Sông Đáy 132 Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Phát Diệm 1 Phát Diệm Sông Đáy 144+200 Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Đồng Hướng Đồng Hướng Sông Đáy 140+800 Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Đò 16 Xuân

Thiện Sông Đáy 130 Liên tỉnh

2010-2015 Bến đò Chất Bình Chất Bình Sông Đáy 133 Liên tỉnh 2010-

2015 Bến đò An Hòa Ân Hòa Sông Đáy 138 Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Quang Thiện Quang Thiện Sông Đáy 144+400 Liên tỉnh 2010-2015

Trang 30

Tên bến đò Vị trí Sông Lý trình Mức độ

liên kết

Giai đoạn

Bến đò Phát Diệm 1 Thượng

Kiệm Sông Đáy 144 Liên tỉnh

2010-2015 Bến đò Cống Bốn thước Kim Tân Sông Đáy 146 Liên tỉnh 2010-2015 Bến đò Cống Tùng

Thiện Cồn Thoi Sông Đáy 147+300 Liên tỉnh 2010-2015 Bến đò Kim Mỹ Kim Mỹ Sông Đáy Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Văn Hải Văn Hải Sông Càn Liên tỉnh

2010-2015 Bến đò Bình Minh Bình Minh Sông Càn Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Kim Hải Kim Hải Sông Càn Liên tỉnh 2010-2015

Bến đò Yên Mật Yên Mật Sông Mới Liên huyện 2010-2015

Bến đò Nam Dân Phát Diệm Sông Vạc 21 Liên xã

2016-2020 Bến đò Đức Hậu 1 Thượng

Kiệm Sông Vạc 14 +500 Liên xã

1.3.1 Nghiên cứu tổn thương do biến đổi khí hậu trên thế giới

Từ năm 1992, những nghiên cứu đánh giá tổn thương nhằm thiết lập các chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được áp dụng cho những quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương (SPREP) Những nghiên cứu bao gồm (1) các đánh giá MĐTT từ đánh giá tổng thế đến đánh giá chi tiết khu vực đới bờ với những chỉ

số tổn thương để đánh giá tác động về cơ sở hạ tầng (2) phân tích về xói mòn bờ biển và bảo về đường bờ (3) lượng giá với từng phương án đối phó và (4) kiểm tra các phương án thích ứng Dựa trên những nghiên cứu có trước đó, Mimura và nnk (năm 1999) đã đánh giá MĐTT vùng ven bờ Nam Thái Bình Dương với dâng cao mực nước biển và BĐKH

Trang 31

Một trong những phương pháp đánh giá MĐTT do BĐKH nổi bật là phương pháp đánh giá MĐTT đới ven biển với bộ chỉ số đánh giá tổn thương CVI (Coastal Vulnerability Index) do dâng cao mực nước biển được xây dựng bởi Cục địa chất

Mỹ (USGS, 1996) CVI được xây dựng theo công thức CVI=

(trong đó, a: địa mạo; b: biến động; c: độ dốc bờ biển; d:

sự thay đổi mực nước biển; e: độ cao sóng và f: biên độ triều) Đây là phương pháp

có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho các nghiên cứu liên quan đến tổn thương đới ven bờ do biến đổi khí hậu sau này

Năm 2006, Cahoon và cộng sự đã có nghiên cứu về “MĐTT của ĐNN với dâng cao mực nước biển tương đối: xu hướng độ cao của ĐNN và các quy trình kiểm soát” Nghiên cứu này trình bày về sự kiểm soát sinh học và thủy văn với độ

cao vùng ĐNN ven biển Điển hình, nghiên cứu đã đưa ra những phân tích đầu tiên

và sơ bộ cho những nghiên cứu MĐTT ĐNN mang tính toàn cầu với mục đích để nâng cao hiểu biết về các vùng đầm mặn (salt marsh) và RNM để thích ứng với hiện tượng mực nước biển dâng cao

Năm 2007, Torresan và cộng sự có nghiên cứu về đánh giá MĐTT đới bờ do BĐKH áp dụng cho phạm vi khu vực và toàn cầu Đặc trưng nổi bật của nghiên cứu này là sử dụng hệ thống hỗ trợ quyết định (DSSs - Decision Support Systems) để tích hợp các nguồn thông tin khác nhau và chưa chắc chắn về tự nhiên, xã hội, kinh

tế và lập pháp Trong DSSs, đánh giá tổn thương đới ven biển do dâng cao mực nước biển với việc sử dụng công cụ (DIVA- Dynamic Interactive Vulnerability Assessment) đã được áp dụng cho phạm vi các quốc gia đến toàn cầu Công cụ DIVA bao gồm: (1) cơ sở dữ liệu trên toàn cầu từ tài liệu về môi trường và kinh tế

xã hội khu vực đới bờ; (2) mô hình tích hợp để đánh giá những tác động của lý sinh

và kinh tế xã hội do dâng cao mực nước biển và phân tích những tác động tiềm tàng cũng như chi phí của các biện pháp để thích ứng; (3) một giao diện cho người dùng

đồ họa để lựa chọn các kịch bản, chỉnh sửa các dữ liệu đầu vào, chạy các mô hình

mô phỏng và phân tích kết quả

Trong những năm gần đây, nghiên cứu MĐTT do BĐKH được đặc biệt quan

Trang 32

tâm góp phần quan trọng trong các chiến lược thích ứng với BĐKH [98] Trong đó, phương pháp viễn thám và GIS được sử dụng để xây dựng các cơ sở dữ liệu về tiêu chí tổn thương như tiêu chí về các tai biến, điều kiện tự nhiên liên quan đến BĐKH, đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó ĐNN ven biển được xác định như là một trong những đối tượng chịu tác động lớn do BĐKH

Năm 2010, chương trình Quốc gia về cửa sông tại Mỹ có nghiên cứu về BĐKH đối với các hệ sinh thái vùng cửa sông Delaware bao gồm: ĐNN bãi triều, nước ngọt và sinh vật bám đáy khu vực này [86] Phương pháp nghiên cứu được dựa trên đánh giá của các chuyên gia thông qua bộ câu hỏi trong thời gian 45-60 phút với các dữ liệu về các tai biến liên quan tới BĐKH, hiện trạng và suy thoái đối với từng trường hợp Tổng hợp ý kiến của chuyên gia về mức độ chịu tác động của từng đối tượng, khả năng ứng phó và độ tin cậy phụ thuộc vào nhận thức của từng người với từng vấn đề sẽ đưa ra kết quả là MĐTT của khu vực do BĐKH Nghiên cứu này đã chỉ ra được những tác động của BĐKH đồng thời đưa ra được những phương án tốt nhất để thích ứng với BĐKH ở khu vực cửa sông Daleware

1.3.2 Nghiên cứu tổn thương do biến đổi khí hậu ở Việt Nam và vùng nghiên cứu

Từ cuối thế kỷ 20, BĐKH là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về BĐKH chủ yếu tập trung

về các vấn đề sau: những biểu hiện của BĐKH, những tác động của BĐKH đến xu hướng diễn biến thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng…) trên nhiều vùng/khu vực [1, 2, 14, 16, 18, 21, 24, 25, 30, 31, 41, 46, 47, 56] và trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam [3, 17, 25, 36] Bên cạnh đó, tác động của BĐKH cũng được nghiên cứu trên nhiều đối tượng như: tài nguyên nước [19, 38], đất [37], đất ngập nước [13, 35], động vật đáy [23], đa dạng sinh học [20], nông nghiệp - an ninh lương thực [15, 32, 33, 40, 42, 45, 48], thủy sản [4, 26, 29] Các công trình này có

ý nghĩa quan trọng trong việc phòng tránh, giảm nhẹ những hậu quả do BĐKH gây

ra, đồng thời một số công trình nghiên cứu đã xây dựng được một số mô hình thích ứng với điều kiện BĐKH và có tính ứng dụng cao như: trồng rau trên giàn cho vụ

Trang 33

ngập lụt, mô hình NTTS quảng canh cải tiến và mô hình nhà sinh hoạt cộng đồng thích ứng bão lũ và nước biển dâng

Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về BĐKH, nhưng hướng nghiên cứu tổn thương do BĐKH ở nước ta vẫn còn hạn chế Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như sau:

Giai đoạn 1994 - 1996, Tom và cộng sự đã nghiên cứu về khả năng bị tổn thương tổng thể của đới bờ Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển và khí hậu thay đổi Các vùng nhạy cảm được chỉ ra dựa vào khả năng bị tổn thương của hệ thống

tự nhiên, kinh tế - xã hội (KT - XH), môi trường đó là đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được: khả năng rủi ro cao cho con người (khoảng 17 triệu người trong đó có 14 triệu người thuộc đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động của ngập lụt hàng năm); tài

hưởng bởi dâng cao mực nước biển); vốn đầu tư cho xây dựng để bảo vệ sinh cảnh

ở các vùng châu thổ thấp ven biển (đê, kè…) khi nước biển dâng cao 1m mất khoảng 24 tỷ USD/năm

Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc - UNDP (2007) đánh giá “Khi nước biển tăng lên 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội Đồng bằng sông Cửu Long sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển” [2]

Nổi bật là các công trình nghiên cứu MĐTT TN - MT đới ven biển Việt Nam được Mai Trọng Nhuận và cộng sự triển khai từ những năm đầu thế kỷ 21 đến nay Kết quả của các công trình có ứng dụng quan trọng trong giảm thiểu thiệt hại tai biến, thích ứng với BĐKH, nâng cao khả năng ứng phó, bảo vệ TN - MT, định hướng quy hoạch phát triển KT - XH Năm 2011, nghiên cứu đánh giá MĐTT TN -

MT khu vực ven biển Việt Nam định hướng sử dụng bền vững và bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng như thích ứng với BĐKH (áp dụng cho khu vực cửa sông Hồng) đã được tập thể tác giả thực hiện bằng phần mềm ArcGIS 9.3 và Expert

Trang 34

Choice 11, kết quả đã thành lập bản đồ MĐTT về TN - MT khu vực này Dựa theo

đó, những giải pháp sử dụng bền vững TN-MT, bảo vệ môi trường, phòng tránh và giảm thiểu các tai biến, thích ứng với BĐKH được đề xuất Kết quả nghiên cứu đã đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong việc thiết lập các chính sách và chiến lược trong việc bảo vệ TN - MT, giảm thiểu thiệt hại tai biến, thích ứng với BĐKH cho khu vực

Đối với vùng nghiên cứu, nghiên cứu MĐTT do sự gia tăng mực nước biển

và BĐKH mới chỉ được tích hợp trong nghiên cứu chuyên đề “Đánh giá mức độ tổn thương do tai biến ở khu vực Ba Lạt - Cửa Đáy” thực hiện năm 2012 do Mai Trọng Nhuận và nnk Trong đó, đánh giá tổn thương áp dụng cho hệ thống tự nhiên - xã hội (TN - XH) và phân vùng tổn thương dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố gây tai biến (bão và nước dâng do bão, dâng cao mực nước biển, bồi tụ biến động luồng lạch…), các đối tượng bị tổn thương (cộng đồng ven biển, cơ sở hạ tầng, tài nguyên…) và khả năng ứng phó của hệ thống trước các tai biến Từ đó, MĐTT do tai biến được phân làm 3 vùng từ thấp đến cao Kết quả đánh giá này có ý nghĩa quan trọng cho việc tạo cơ sở để phòng tránh các tai biến Tuy nhiên, MĐTT được đánh giá trên cơ sở phân tích tổng hợp tác động của các tai biến nên chưa nghiên cứu chi tiết MĐTT do tác động của BĐKH lên hệ thống TN - XH và khả năng ứng phó trước các yếu tố gây tổn thương này Do đó, luận văn được thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề nêu trên

Trang 35

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Một số khái niệm

2.1.1 Biến đổi khí hậu

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về BĐKH đang được sử dụng Tiêu biểu có một số định nghĩa như sau:

Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển hoặc sử dụng đất (IPCC, 2007)

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp

là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ [3]

Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của BĐKH”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội (KT - XH) hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” (Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu)

Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hâu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Tô Văn Trường)

Trang 36

2.1.2 Mức độ tổn thương

Mức độ tổn thương (MĐTT) là một khái niệm trừu tượng, được đưa ra trong

rất nhiều tài liệu và chưa có tính thống nhất MĐTT bao hàm nhiều vấn đề, từ các biểu hiện vật lý [79, 90, 93], hiện trạng kinh tế - xã hội và đánh giá tài nguyên [80,

94, 95], mối quan hệ của địa điểm xảy ra tai biến vơí hệ thống xã hội [81, 83] Cụ thể, có một số định nghĩa về MĐTT điển hình như sau:

MĐTT là khả năng tiềm tàng và sự ảnh hưởng của tai biến trong từng bối cảnh cụ thể của xã hội, môi trường sống, BĐKH [92]

MĐTT là sự nhạy cảm của hệ thống tự nhiên hay xã hội do những thiệt hại lâu dài từ BĐKH [84]

MĐTT là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến [91]

MĐTT do BĐKH là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trước những tác động tiêu cực của BĐKH, bao gồm dao động khí hậu và những hiện tượng thời tiết cực đoan [85]

Khả năng bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một

hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu

Như vậy, theo nhiều định nghĩa đã có trước, thì MĐTT gồm 2 yếu tố: 1) Mức độ tổn thất, suy thoái của hệ thống và 2) mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của TN-MT biển trước các tác động từ bên ngoài Theo cách tiếp cận này, Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2007) đã định nghĩa MĐTT của tài nguyên, môi trường là

mức độ tổn thất, suy thoái về tài nguyên, môi trường, mức độ chống chịu, phục hồi, ứng phó của tài nguyên, môi trường trước các tác động từ bên ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh (chặt phá RNM, công nghiệp, NTTS…))

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Quá trình khảo sát thực địa được hỗ trợ bởi Chương trình “Tăng cường năng

Trang 37

lực giảm thiểu và thích ứng với địa tai biến liên quan đến môi trường và phát triển năng lượng ở Việt Nam (VINOGEO)” Thời gian khảo sát thực địa vào tháng 6/2012 ở các xã ven biển Nghĩa Phúc, Nghĩa Hải, Nam Điền (Nghĩa Hưng), xã Kim Đông và Cồn Thoi (huyện Kim Sơn) Trong quá trình thực hiện, nhiệm vụ khảo sát

về điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, địa mạo, thủy văn, khí hậu), đặc điểm KTXH và hiện trạng tài nguyên môi trường (TNMT) đã được thực hiện Mục đích khảo sát nhằm thu thập, điều tra, làm rõ các yếu tố gây tổn thương, đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống tự nhiên - xã hội (TN - XH) trước các tác động của BĐKH

2.2.2 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu

Bảng 2.1 Sơ đồ tổng quát quá trình thu thập và kế thừa tài liệu

Để nhận định, phân tích, đánh giá mức độ tổn thương theo kịch bản BĐKH vùng Cửa Đáy, học viên tiến hành thu thập và tổng hợp dữ liệu từ các công trình nghiên cứu đã được thực hiện về BĐKH, đặc điểm tài nguyên, đặc điểm KT - XH,

TN - MT, Các tài liệu này được phân loại, sắp xếp và được định hướng theo các hợp phần đánh giá mức độ tổn thương: mức độ nguy hiểm do tai biến, mật độ các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó của hệ thống TN - XH (Hình 2.1)

Thu thập tài liệu Tổng quan, tổng hợp tài liệu Ứng dụng

Nhiệm vụ Đánh giá mức

độ tổn thương

Trang 38

Đây cũng là cơ sở tài liệu được học viên tổng hợp trước khi tiến hành khảo sát thực địa

Kết quả, học viên đã thu thập được các tài liệu dạng số và nhiều hình ảnh khảo sát các công trình nhân sinh ven biển Cụ thể như sau:

- Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2012;

- Niêm giám thống kê huyện Kim Sơn, 2012;

- Phương án phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn và giảm nhẹ thiên tai năm

2012 huyện Kim Sơn;

- Phương án hậu phương và di dân vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn năm 2011;

- Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2010 huyện Kim Sơn

- Báo cáo tổng kết công tác phòng chống lũ lụt và tìm kiếm cứu nạn năm

2010, triển khai công tác phòng chống lũ lụt và tìm kiếm cứu nạn năm 2011 huyện Nghĩa Hưng;

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Nghĩa Hưng, Kim Sơn năm 2010

- Các báo cáo và nhiều bài báo khác thống kê trong mục tài liệu tham khảo

2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu trong GIS (Geographic information systems)

GIS là một hệ thống thông tin địa lý có các chức năng thu thập, quản lý dữ liệu, phân tích dữ liệu, hiển thị và trình bày Luận văn đã sử dụng chức năng quan trọng nhất trong GIS là phân tích dữ liệu để phân tích dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính để xây dựng bản đồ mức độ tổn thương (MĐTT) TN - MT vùng Cửa Đáy Trước hết, từ tài liệu thu thập như bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình, các tai biến, bản đồ đất ngập nước; các số liệu thu thập về y tế, văn hóa, giáo dục…sẽ được nhập, lưu trữ, quản lý dữ liệu dưới dạng không gian (vector, raster)

và phi không gian (bảng thuộc tính) trong GIS Sau đó, áp dụng các phép phân tích

Trang 39

các phép phân tích không gian như: nội suy mật độ đối với điểm, đường; nội suy khoảng cách đối với đường Ví dụ cụ thể như đối với lớp dân cư, sử dụng phép nội suy điểm, vùng có mật độ dân cư tập trung đông thì mật độ bị tổn thương càng cao nên điểm được cho càng cao Sau khi tiến hành nội suy, các lớp được phân bậc (reclassify) với thang điểm từ thấp đến cao Tiếp theo là sử dụng phần mềm Expert Choice 11 trong việc lựa chọn trọng số đối với các đối tượng trong từng hợp phần và với từng hợp phần với nhau Cuối cùng là tiến hành phép toán đại số bản đồ để xây dựng bản đồ MĐTT TN - MT và đưa ra được kết quả phân vùng MĐTT TN - MT

2.2.4 Phương pháp đánh giá MĐTT TN - MT theo kịch bản BĐKH

2.2.4.1 Phương pháp luận

MĐTT TN - MT vùng Cửa Đáy được đánh giá theo cách tiếp cập của NOAA (1999) và Cutter (1996, 2000) Trong đó, MĐTT được xác định là hàm số của ba hợp phần như sau:

Vxiyj = f (aRxiyj, bPxiyj, cCxiyj) Rxiyj: là mức độ nguy hiểm của các yếu tố gây tổn thương, được xác định bẳng tổng mức độ nguy hiểm của các tai biến và các yếu tố cường hóa tai biến;

Pxiyj: mật độ các đối tượng bị tổn thương (khu dân cư, cơ sở hạ tầng, tài nguyên đất ngập nước, diện tích đất nông nghiệp - diêm nghiệp - nuôi trồng thủ y sản);

Cxiyj: khả năng ứng phó của hệ thống TN - XH (bao gồm các đối tượng như khả năng ứng phó tự nhiên như rừng ngập mặn, địa hình và thành tạo địa chất; khả năng ứng phó xã hội như giáo dục, y tế, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật)

xiyj là tọa độ địa lý ứng với mỗi ô trên bản đồ tổn thương khu vực nghiên cứu

a,b,c: là trọng số của mỗi hợp phần và được cho điểm dựa trên mức độ quan trọng Phương pháp tính trọng số được thực hiện bằng phần mềm phân Expert Choice

Trang 40

Bước 2: Nhận định, phân tích và đánh giá các đối tượng bị tổn thương: tài nguyên (đất ngập nước, đất, ), khu dân cư và các công trình nhân sinh ;

Bước 3: Nhận định, phân tích khả năng ứng phó của hệ thống TN - XH trước các tai biến liên quan đến BĐKH: khả năng ứng phó tự nhiên (rừng ngập mặn (RNM), địa hình, địa chất); khả năng ứng phó xã hội (dân cư, giáo dục, y tế, cơ sở

hạ tầng)

Bước 4: Đánh giá, phân vùng mức độ nguy hiểm do các tai biến liên quan đến BĐKH

Bước 5: Đánh giá, phân vùng mật độ đối tượng bị tổn thương

Bước 6: Đánh giá, phân vùng khả năng ứng phó của hệ thống TN - XH trước các yếu tố gây tổn thương

Bước 7: Đánh giá, phân vùng MĐTT TN - MT vùng Cửa Đáy theo kịch bản BĐKH

2.2.4.3 Phương pháp thành lập bản đồ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng Cửa Đáy theo kịch bản biến đổi khí hậu

Bản đồ MĐTT được thành lập trên cơ sở các bản đồ thành phần bao gồm mức độ nguy hiểm do các yếu tố gây tổn thương, mật độ đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó trước các yếu tố gây tổn thương Sự phân bố không gian của mức

độ tổn thương được thể hiện trên bản đồ tổn thương bằng phần mềm Arcgis 9.3 có

sử dụng các công cụ phân tích không gian và xử lý dữ liệu Bản đồ MĐTT TN - MT vùng Cửa Đáy theo kịch bản BĐKH (xét đến dâng cao mực nước biển 1m) được thành lập dựa vào kết quả đánh giá trọng số bằng phần mềm Expert Choice và

Ngày đăng: 10/03/2021, 20:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w