1. Trang chủ
  2. » Tất cả

SKKN van dung so do tu duy tin 10

39 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 5,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế giảng dạy, nhiều HS chỉ học thuộc lòng một cách máy móc mà không nắm được kiến thức trọng tâm của bài học hoặc không biết xâu chuỗi các kiến thức có liên quan với nhau.. Bộ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I PHẦN MỞ ĐẦU 3

I.1 Lý do chọn đề tài 3

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 3

I.3 Đối tượng nghiên cứu 4

I.4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

I.5 Phương pháp nghiên cứu 4

II PHẦN NỘI DUNG 5

II.1 Cơ sở lý luận 5

II.2 Thực trạng 6

1 Thuận lợi – khó khăn 6

2 Thành công – hạn chế 6

3 Mặt mạnh – mặt yếu 6

4 Các nguyên nhân, yếu tố tác động 7

5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra 5

II.3 Giải pháp – biện pháp 7

1 Mục tiêu của giải pháp – biện pháp 7

2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 8

3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp 25

4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 25

5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học 25

II.4 Kết quả thu được 26

III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 27

III.1 Kết luận 27

III.2 Kiến nghị 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, các trường THCS đã có những cố gắng trong việc đổi mới

phương pháp dạy học và bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc phát huy tính tích

cực của HS Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm một vị trí chủ đạo

trong các phương pháp dạy học ở các trường phổ thông, phần nào còn hạn chế việc phát huy

tính tích cực và sáng tạo của HS Trong thực tế giảng dạy, nhiều HS chỉ học thuộc lòng một

cách máy móc mà không nắm được kiến thức trọng tâm của bài học hoặc không biết xâu chuỗi

các kiến thức có liên quan với nhau Bên cạnh đó, GV còn lúng túng trong việc tổ chức các

hoạt động trên lớp khiến việc hệ thống kiến thức chưa mang lại hiệu quả, gây khó khăn cho

việc nắm bắt kiến thức và vận dụng vào thực tế bài học

Môn Ngữ văn là môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông, mục

tiêu của dạy học môn Ngữ văn là hình thành những con người có ý thức, có tư tưởng

tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ và đặc biệt là có khả

năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại Trong những năm gần

đây, vấn đề đổi mới dạy học môn Ngữ Văn luôn được các nhà giáo dục quan tâm,

nghiên cứu Nhiều phương pháp, biện pháp mới liên tục được đưa ra dù có khác nhau

nhưng đều thống nhất khẳng định vai trò của người học không phải là những bình chứa

thụ động mà là những chủ thể nhận thức tích cực trong quá trình học tập Như vậy dạy

Văn là dạy cách tư duy, dạy cách đi tìm và tự chiếm lĩnh kiến thức Đó là một định

hướng giáo dục quan trọng trong tình hình hiện nay.

Bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường THCS là một trong những bộ môn có dung lượng

kiến thức và số tiết dạy nhiều Bộ môn này được cấu tạo bởi nhiều thành phần: Lí luận

văn học, Tiếng Việt, Làm văn… với dung lượng kiến thức lớn, khả năng phủ rộng tới

nhiều lĩnh vực cuộc sống, nhưng lại bị hạn chế trong thời gian 1 – 2 tiết học phần nào

khiến GV khi dạy vẫn chưa đạt được tới đích của việc dạy bài học, đặc biệt là với một số

kiểu bài văn học hiện đại, văn học sử và các bài Tiếng Việt Thực tế này đòi hỏi GV

Ngữ văn cần lựa chọn phương pháp – phương tiện dạy học phù hợp nhằm tổ chức, định

hướng cho HS thu thập thông tin, chinh phục kho tàng tri thức một cách hiệu quả.

Năm học 2013- 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm

nâng cao chất lượng dạy và học Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại, mang

lại hiệu quả cao là phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy Qua thực tế giảng dạy tôi đã

nghiên cứu và áp dụng sơ đồ tư duy vào quá trình dạy học các bài Tiếng Việt và Văn

học, lựa chọn một số kiểu sơ đồ thuộc dạng đơn giản dễ thực hiện đối với HS khối lớp 7

và 8 trường THCS Trần Phú và nhận thấy hiệu quả rõ rệt đối với HS Vì thế trong sáng

kiến kinh nghiệm này tôi đã chọn đề tài: Vận dụng sơ đồ tư duy tăng hiệu quả dạy

học môn Ngữ văn THCS khối lớp 7 và 8 Đề tài này nghiên cứu, hướng dẫn và đưa ra các

Trang 4

giải pháp tích cực thông qua việc sử dụng sơ đồ tư duy nhằm giúp quá trình giảng dạy và học

tập đạt kết quả cao

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

I.2.1 Mục tiêu.

Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc ứng dụng sơ đồ tư duy vào giảng dạy

Ngữ văn 7, 8 Từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn

Một tiết dạy- học Ngữ văn đạt hiệu quả trước hết phải tạo nên không khí hứng thú cho mỗi giờ

học Không khí đó chỉ có được khi người dạy biết da dạng hóa các hình thức, biện pháp dạy học

Mặc khác, với tinh thần quan điểm dạy học mới, SGK Ngữ văn không chỉ chú trọng nội

dung mà còn chú trọng hình thức nhằm phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy-học

Nghiên cứu của tôi hướng đến hiệu quả của việc truyền đạt kiến thức cho HS bằng việc sơ đồ

hóa kiến thức trong một số bài học nhiều lý thuyết và kiến thức mang tính gắn kết Việc sử

dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức có thể giúp GV cấu trúc hóa, mô hình hóa kiến thức

trong quá trình dạy học, lựa chọn phương pháp phù hợp để truyền đạt kiến thức có hiệu quả

Đối với HS, việc sử dụng sơ đồ trong dạy học sẽ giúp các em có một điểm tựa thuận lợi trong

việc lĩnh hội kiến thức, nhờ sơ đồ mang tính trực quan, tính cô đọng của những ghi chú và tính

khái quát của những kí hiệu, sơ đồ mà các em nắm được bài nhanh hơn, việc tái hiện lại nội

dung bài học cũng sẽ thuận lợi hơn

Đa số HS ngoài việc quan sát sơ đồ của GV, phải tự vẽ được sơ đồ tư duy cho các

bài học của mình bằng bút vẽ trên giấy, trên bảng phụ, hoặc vẽ bằng phần mềm trên máy tính

I.2.2 Nhiệm vụ

Nghiên cứu vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong một số bài học trong chương

trình Ngữ văn 7,8 tạo điều kiện để HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh, sâu, lâu dài Rút ra

kết luận và những kinh nghiệm để nâng cao chất lượng giáo dục

Truyền tải những kinh nghiệm thực tế mà bản thân tôi đúc rút được trong quá trình ứng

dụng sơ đồ tư duy vào công việc giảng dạy của mình

Chia sẻ giúp đồng nghiệp có thêm tư liệu bổ sung cho phương pháp, kĩ thuật dạy học làm

phong phú nội dung bài dạy

I.3 Đối tượng nghiên cứu.

Sáng kiến kinh nghiệm tập trung vào tìm hiểu, nghiên cứu vận dung sơ đồ tư duy vào một

số bài trong chương trình Ngữ văn 7,8

I.4 Giới hạn của đề tài.

Hướng dẫn HS học và ghi bài theo sơ đồ tư duy, vận dụng vào một số bài trong chương trình

Ngữ văn 7,8 THCS

GV sử dụng sơ đồ tư duy trong một số tiết giảng dạy trên lớp

Phạm vi nghiên cứu: tại trường THCS Trần Phú – M’đrăk – Đắk Lắk

I.5 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành các phương pháp sau:

Trang 5

+ Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu văn bản về đổi mới phương pháp dạy học,

tìm hiểu tài liệu về cách sử dụng và ứng dụng sơ đồ tư duy để áp dụng hiệu quả nhất

+ Phương pháp điều tra, khảo sát: Thực hiện khảo sát kết quả giữa hiệu quả của bài giảng

không sử dụng sơ đồ tư duy và có sử dụng sơ đồ tư duy Khảo sát sự yêu thích hứng thú của

HS khi được hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy Từ đó điều chỉnh phù hợp với việc dạy

ở từng lớp

+ Phương pháp thực nghiệm: là phương pháp mà bản thân tôi áp dụng nhằm để kiểm tra

kết quả quá trình áp dụng đề tài Từ đó rút ra được những kinh nghiệm, nhận xét cụ thể của

những phương pháp sử dụng và hiệu quả mà đề tài mang lại

+ Phương pháp sưu tầm, tra cứu, học hỏi từ đồng nghiệp

II PHẦN NỘI DUNG

II.1 Cơ sở lý luận.

Theo điều 58, khoản 2, Luật giáo dục nêu rõ: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,

môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận

dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho

HS”

Nghị quyết Ban Chấp Hành Trung Ương 2 khóa VIII(12/1996) khẳng định: “Đổi mới

phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy

sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại

vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, sinh viên…”

Tony Buzan sinh năm 1942 tại London (Anh), cha đẻ của phương pháp tư duy Mindmap

(Sơ đồ tư duy), tác giả của 92 đầu sách, được dịch ra trên 30 thứ tiếng, phát hành tại 125 quốc

gia Theo ông : “Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở

rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý

tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý

chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung

quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng

của con người sẽ phát triển” Lý thuyết của Tony Buzan được chia thành 2 chủ đề: Nhận thức

chung về năng lực, công suất to lớn của não bộ con người và cách thức hoạt động của nó

Với cách thể hiện gần giống như cơ chế hoạt động của bộ não, sơ đồ tư duy sẽ giúp chúng

ta: Sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn Nhìn thấy bức tranh tổng thể Tổ chức và

phân loại suy nghĩ …

Trong công cuộc đổi mới giáo dục, bên cạnh những phương pháp dạy học mới mẻ, hiệu quả

như tích hợp, nêu vấn đề, tương tác thì phương pháp trực quan trong đó có sử dụng sơ đồ tư

duy cũng được xem là phương pháp dạy học hiệu quả

Trang 6

Căn cứ vào những yêu cầu đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa

hoạt động và phát triển năng lực tư duy của HS trong việc học tập môn Ngữ văn Đáp ứng được

yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học mà Bộ giáo dục đã quy định

II.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

1 Thuận lợi – khó khăn

* Thuận lợi:

- Ban Giám Hiệu nhà trường rất quan tâm và dành nhiều tâm huyết đến vấn đề đổi mới

phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục của nhà trường

- Hiện nay các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy khá nhiều và đa dạng về chức năng HS hứng thú

và sôi nổi hơn trong quá trình học tập

- Tại trường THCS Trần Phú có hệ thống máy tính, mạng internet, tivi và bảng phụ đầy đủ

để thực hiện việc vẽ và trình chiếu sơ đồ

- Trước khi viết đề tài này, bản thân tôi đã trực tiếp tải nhiều phần mềm vẽ sơ đồ tư duy cài

đặt và tìm hiểu kĩ lưỡng ưu khuyết điểm của từng phần mềm Từ đó lựa chọn ra phần mềm

phù hợp nhất cho các bài dạy của mình Năm học 2015 – 2016 và học kì I năm học 2016 –

2017 tôi được phân công dạy khối 7,8 nên có nhiều thời gian và cơ hội để ứng dụng trực tiếp

sơ đồ tư duy vào các tiết dạy, rút ra bài học kinh nghiệm và đạt được những hiệu quả tích

cực trong kết quả giảng dạy

* Khó khăn:

- Phương pháp này còn khá mới mẻ nên việc truyền đạt, hướng dẫn các em rất khó, cơ bản

chỉ là những sơ đồ đơn giản để các em làm quen GV vẽ và chiếu lên là một phần, quan trọng

là hướng dẫn được các em có thể tự tạo sơ đồ tư duy theo cách của mình để dễ nhớ bài, và

học được cách trình bày logic, sáng tạo

- Khó khăn nhất chính là việc giúp đỡ những HS học yếu, những HS từ trước đến nay chưa

được tiếp xúc với công nghệ và cách học mới Giúp các em bớt đi cảm giác rụt rè, mạnh dạn

tham gia tìm hiểu, thảo luận nhóm với các bạn trong lớp

2 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.

Ở trường THCS Trần Phú hiện nay, nhiều GV đã thường xuyên ứng dụng công nghệ thông

tin vào công tác giảng dạy Ở một số bộ môn như Địa, Toán, Sử… cũng đã ứng dụng thành

công phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy Tôi đã đi dự giờ học hỏi kinh nghiệm của nhiều

thầy cô trong các tiết dạy Tuy vậy về phương diện phương pháp và kĩ thuật vẫn còn một số

điểm hạn chế, nhất là cách thức giúp HS hiểu vấn đề nhanh, nhớ kiến thức lâu và tái hiện khi

cần thiết vận dụng GV trình bày kiến thức chính xác phong phú, sinh động nhờ sự hỗ trợ

nhiều về yếu tố trực quan do công nghệ thông tin mang lại nhưng vẫn chưa đưa sơ đồ tư duy

vào sử dụng đại trà để HS học tập hiệu quả hơn Nhiều phương pháp kích thích sự chủ động

sáng tạo ở HS chưa được phát huy tối đa vì thiếu thao tác sơ đồ hóa hoặc sử dụng với mật độ

thấp Hơn nữa, HS ở trường THCS Trần Phú hầu hết còn khó khăn về kinh tế, nhà ở xa trường,

chỉ một phần nhỏ các em được tiếp xúc với công nghệ Thế nên để bắt đầu phương pháp này

Trang 7

cần có thời gian, từng bước để các em dần dần làm quen và yêu thích hơn, từ đó sẽ dễ dàng

tiếp thu kiến thức của bài học

Hiện nay một bộ phận không nhỏ HS ít háo hức, say mê, tìm tòi với các bộ môn khoa

học xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, chất lượng học văn có chiều hướng

giảm sút Vì thế GV cần phải tạo hứng thú cho các em, cũng như khéo léo truyền thụ kiến

thức cho các em sao cho bớt đi nặng nề nhưng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ

năng, lại khiến các em yêu thích môn học hơn Nếu không sử dụng phần mềm, GV có thể

linh động sử dụng hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau

nhằm giúp HS có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học.

Từ đó giúp HS dễ hình dung các đơn vị kiến thức, dễ ghi nhớ những vấn đề phức tạp khi nó

được đưa lên sơ đồ để các em hiểu kiến thức một cách có hệ thống Đồng thời tạo cho HS thói

quen nhận thức bằng lối tư duy quan hệ, tính logic của một vấn đề Cùng một nội dung

nhưng mỗi HS có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy

vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình.

Số liệu khảo sát HS yêu thích sơ đồ tư duy

Trang 8

II.3 Nội dung và hình thức của giải pháp

1 Mục tiêu của giải pháp

Nhằm tạo ra một tài liệu gồm tổng hợp các giải pháp, các kinh nghiệm, hoạt động mà bản

thân tôi trực tiếp xây dựng và tham gia Từ đó đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, khắc phục

những hạn chế và phát huy hiệu quả đã đạt được để làm tốt hơn trong công tác chuyên môn

của mình

Mục tiêu chính của đề tài là phát huy được tối đa các ứng dụng của CNTT trong dạy học,

đồng thời ứng dụng phương pháp dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả giờ dạy

Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức, sẽ mang lại

những lợi ích về: phát triển nhận thức, ghi nhớ, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo

cho HS

2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.

2.1 Sơ đồ tư duy

a Khái niệm

Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy… là hình thức ghi chép nhằm tìm

tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ

đề … bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết

b Yêu cầu khi sử dụng sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ tư duy không yêu cầu tỉ lệ, kích thước

khắt khe như bản đồ địa lí, có thể thêm hoặc bớt các nhánh, cách vẽ của mỗi người theo tư

duy khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, do đó việc lập sơ đồ

tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người

c Ưu điểm của sơ đồ tư duy

Trang 9

- Ý chính nằm ở trung tâm và được xác định rõ ràng Quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được

chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính

- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt được tiếp nhận trực tiếp bằng thị giác

- Ôn tập và ghi nhớ kiến thức nhanh hơn, hiệu quả hơn

- Có thể tận dụng tối đa sự hỗ trợ của máy tính

- Tiết kiệm thời gian và không gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa

- Sơ đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng ( sự hình dung, sự liên

tưởng, làm nổi bật sự việc…)

- Toàn bộ ý của sơ đồ có thể "nhìn thấy" và nhớ bởi trí nhớ hình ảnh Sáng tạo các bài viết

và các bài tường thuật

Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng

như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp GV và HS trong việc trình bày các ý tưởng một

cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học

hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa

ra ý tưởng mới, v.v…

d Phân loại sơ đồ tư duy

Có nhiều cách thiết kế một sơ đồ tư duy GV cần dựa vào nội dung bài học và nhiệm vụ của

từng hoạt động dạy học trên lớp để lựa chọn cách thiết kế phù hợp

Có hai dạng thiết kế sơ đồ tư duy phổ biến nhất là:

- Sơ đồ tư duy dạng nhánh trơn: sử dụng trong trường hợp các ý trình bày có nội dung khá

dài, có nhiều ý tỏa ra nhiều nhánh

- Sơ đồ tư duy dạng nhánh hộp (thường có văn bản đi kèm): sử dụng trong trường hợp

kiến thức có nhiều từ khóa ngắn gọn

Trang 10

Trong nhiều trường hợp, chúng ta sẽ sử dụng kết hợp cả 2 loại này trong một

sơ đồ này để diễn đạt kiến thức một cách rõ ràng và đẹp mắt nhất

2.2 Phương pháp thiết kế trên sơ đồ tư duy

a Vật liệu thiết kế

Thông thường, thói quen của bản thân tôi cũng như nhiều GV là ở những tiết có thể sử dụng

sơ đồ tư duy, GV chỉ dùng tay hoặc dùng thước để vẽ nên vừa mất thời gian, vừa mất thẩm

mĩ lại không khoa học Để đạt được kết quả tốt GV nên vẽ sơ đồ trước ở nhà bằng phần mềm

máy tính và để in ra bảng phụ, hoặc chiếu trên máy chiếu (với những sơ đồ phức tạp) Nếu

không, GV chuẩn bị phấn màu, thước ( với những bài có sơ đồ đơn giản) để việc thực hiện

được nhanh, đẹp Việc chuẩn bị trước này sẽ rút ngắn thời gian, sơ đồ đẹp, khoa học sẽ gây

hứng thú học tập cho HS

- Bảng, phấn: bảng lớn hoặc bảng phụ, phấn với nhiều màu khác nhau

- Trên giấy: bút với nhiều màu khác nhau

- Trên các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy: GV có thể thiết kế trên phần mềm sau đó xuất ra định

dạng hình ảnh sang file hình ảnh, file Word hoặc trình chiếu trên chương trình Power point

Ưu điểm của việc thiết kế trên phần mềm là hình ảnh đẹp, cân đối, có thể chỉnh sửa và thay

đổi bố cục một cách dễ dàng Bản thân tôi thường đưa ra dạng hình ảnh và trình chiếu trên

tivi tại lớp học

b Một số phần mềm phổ biến thiết kế sơ đồ tư duy

- Phần mềm Buzan’s iMindmap™ ( iMindMap): một phần mềm thương mại, tuy nhiên

có thể tải bản dùng thử 30 ngày Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd thực hiện Là công

cụ duy nhất được chính thức xác nhận bởi Tony Buzan, người phát minh của sơ đồ tư duy

Trang chủ tại: www.imindmap.com

Đây cũng là phần mềm theo cá nhân tôi nhận thấy là phổ biến và dễ sử dụng Trong hầu hết

các sơ đồ tư duy tôi đều sử dụng phần mềm này để vẽ và trình bày trong đề tài này

Trang 11

- Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công ty Inspiration Software, Inc Sản

phẩm có phiên bản dành cho trẻ em, dễ dùng và nhiều màu sắc Có thể dùng thử 30 ngày

Trang chủ tại: www.inspiration.com

- Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind Technologies Phần

mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa từ khóa Có thể dùng thử 30 ngày

Trang chủ tại: www.visual-mind.com

c Thực hiện vẽ sơ đồ tư duy

Nguyên tắc: dựa vào nội dung bài học, chọn kiến thức then chốt đặt vào đỉnh hoặc trung

tâm của sơ đồ Nối các đỉnh với nhau bằng những cung logic dẫn xuất theo sự phát triển bên

trong nội dung đó Khi xây dựng sơ đồ cần đảm bảo ba yếu tố: tính khoa học, tính sư phạm,

tính thẩm mĩ

Các bước cơ bản để thiết kế một sơ đồ tư duy:

* Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm theo quy tắc:

- Vẽ chủ đề ở trung tâm từ đó phát triển ra các ý khác

- Tự do sử dụng màu sắc yêu thích Không nên đóng khung hoặc che mất hình vẽ chủ đề vì

nó cần được làm nổi bật, dễ nhớ

- Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng

* Bước 2: Vẽ các nhánh theo quy tắc:

- Mỗi nhánh một màu Các nhánh cấp một nối từ hình ảnh trung tâm Nhánh cấp 2 từ nhánh

cấp 1 Nhánh cấp 3 từ nhánh cấp 2…

- Các nhánh được nối bằng các đường kẻ thẳng, gấp khúc hoặc đường cong Nhánh cấp 1, 2,

3 cùng chủ đề nên được thể hiện cùng màu Nhánh 1 đậm nhất, các nhánh sau mờ dần

* Bước 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ:

- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa, nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật

- Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa

một cách dễ dàng

* Bước 4: Tạo kiểu sơ đồ riêng cho từng ý tưởng của cá nhân:

- Tận dụng tối đa từ khóa và hình ảnh, biểu tượng, từ viết tắt để tiết kiệm không gian

- Mỗi từ khóa/hình ảnh nên được vẽ trên đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc chỉ

nên có tối đa một từ khóa

- Tất cả các nhánh của một ý tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu

* Bước 5: Bố trí thông tin quanh hình ảnh trung tâm

- Bố trí cân đối, có thể để những khoảng trống đủ để bổ sung những ý mới phát triển thêm

- Có thể thêm những hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng nổi bật hơn

Một số chú ý khi thiết kế bản đồ tư duy:

o Bắt đầu xây dựng sơ đồ từ vị trí giữa (màn hình, trang giấy)

o Nên diễn đạt ý tưởng trung tâm bằng hình ảnh hoặc cỡ chữ lớn

Trang 12

o Sử dụng màu sắc khi vẽ.

o Nối các nhánh bằng đường kẻ

o Để các nhánh gấp khúc hoặc cong tự nhiên

o Sử dụng từ khóa hoặc từ viết tắt trên mỗi đường

o Ưu tiên sử dụng hình vẽ

Hướng dẫn HS làm quen với sơ đồ tư duy:

Đây là phương pháp học mới, ít nhất là đối với bộ môn Ngữ văn vốn là môn sử dụng nhiều

từ ngữ và câu chữ Để HS có thể làm quen với sơ đồ tư duy, trước tiên tôi chọn những bài

có kiến thức đơn giản và dễ thực hành vẽ trên bảng Sau đó yêu cầu các em thảo luận nhóm,

xem nội dung trên đó, những cụm từ ngắn gọn, hình vẽ…là đại diện cho phần nội dung nào

Tiếp theo tôi có thể vẽ những sơ đồ thiếu thông tin và yêu cầu HS dựa vào kiến thức đã học

điền vào đầy đủ Cho HS vẽ và tô màu theo sở thích miễn sao hiểu được đúng nội dung bài

học Cần lưu ý HS vẽ sao cho dễ hiểu mà vẫn hài hòa màu sắc, bố cục Khi các em đã quen

với cách vẽ và cách quan sát sơ đồ tư duy thì tôi sử dụng phần mềm vẽ, dùng tivi để chiếu

lên những sơ đồ phức tạp hơn, độ tổng hợp rộng hơn Việc đi từng bước sẽ khiến HS làm

quen từ từ và không quá khó khăn khi tiếp thu kiến thức bằng sơ đồ tư duy

GV cần xác định rõ bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi

người, mang nét riêng biệt riêng trong việc kết hợp màu sắc, nét vẽ, chữ viết… Không yêu

cầu khắt khe về tỉ lệ, hình ảnh, màu sắc… Vì vậy GV cần tôn trọng sản phẩm của các em,

chỉ đánh giá về mặt kiến thức, khích lệ thay vì phê bình, và góp ý để hoàn thiện hơn bài làm

của HS

2.3 Một số hoạt động chủ yếu trong tiết dạy có sử dụng bản đồ tư duy

Tùy theo tính chất của từng bài mà GV có cách thiết kế các hoạt động dạy học trên lớp khác

nhau Nhưng phần lớn các bài sử dụng sơ đồ tư duy ứng dụng cho phương pháp dạy học tích

cực, lấy người học làm trung tâm sẽ có những hoạt động chính sau:

Hoạt động 1: GV giới thiệu bài mới và vẽ (hoặc chiếu) chủ đề chính của bài học lên bảng

bằng một hình vẽ mà không có tên bài, nội dung bài GV yêu cầu HS hoạt động theo nhóm,

thảo luận sơ đồ tư duy mỗi HS đã chuẩn bị sẵn ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các

bạn trong nhóm, và sơ đồ trên bảng Từ đó GV dẫn dắt vào bài, cung cấp thêm những kiến

thức liên quan với bài học để các em nắm rõ, ghi chép nếu cần

Hoạt động 2: GV đặt câu hỏi về chủ đề nội dung chính trong bài học ngày hôm nay Sau đó

gọi đại diện các nhóm lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các nhánh lớn trên bảng có ghi

chú thích sau khi đã thảo luận

Hoạt động 3: Sau khi HS vẽ xong các nhánh lớn cấp 1, GV tiếp tục đặt câu hỏi cho các

nhánh nhỏ cấp 2, 3,… Tương tự HS có thể hoàn thành sơ đồ tư duy cho kiến thức của bài

ngay tại lớp HS tự điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu theo cách riêng của mình đáp

ứng đúng chuẩn kiến thức của bài GV đóng vai trò là người cố vấn để các em hoàn chỉnh

kiến thức

Hoạt động 4: GV gọi HS lên bảng (hoặc máy tính) trình bày nội dung sơ đồ mà các em đã

thực hiện Khuyến khích những HS có máy tính ở nhà đã vẽ bằng phần mềm, gắn USB để

Trang 13

trình chiếu và thuyết trình trước lớp GV củng cố, đánh giá và kết luận bài học Tuyên dương

những HS tích cực trong tiết học

Ở những lớp tôi dạy có một số em sử dụng khá thành thạo phần mềm iMindMap và đã có

nhiều tiết dạy, các em trình chiếu và thuyết trình những sơ đồ mình tự vẽ rất có hiệu quả

Điều đó cho tôi thêm động lực để khai thác nhiều hơn về phương pháp này

2.4 Một số hình thức ứng dụng sơ đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy và học.

2.4.1 Hình thức 1: Trình bày kiến thức bằng sơ đồ tư duy

- GV chuẩn bị sơ đồ tư duy trên máy chiếu hoặc bảng phụ.

- HS chuẩn bị trước sơ đồ tư duy ở nhà (có thể làm theo nhóm hoặc cá nhân) trên giấy A2 hoặc

bảng phụ

- Đại diện nhóm (hoặc cá nhân) trình bày sơ đồ tư duy.

- GV nhận xét, tổ chức các nhóm khác (HS khác) bổ sung kiến thức, ý tưởng cho sơ đồ tư duy.

- Kết luận, tổng hợp về kiến thức

- Hoạt động củng cố và mở rộng kiến thức.

2.4.2 Hình thức 2: Điền kiến thức vào chỗ trống trên sơ đồ tư duy có sẵn.

- GV chuẩn bị sơ đồ tư duy có nhiều chỗ trống trên bảng phụ (máy chiếu).

- HS thảo luận nhóm và hoàn thành sơ đồ tư duy bằng cách điền vào chỗ trống.

- GV nhận xét, củng cố kiến thức và hướng dẫn HS làm các bài tập áp dụng

2.4.2 Hình thức 3: Lắp ghép bản đồ tư duy

- Hình thức này phù hợp với các tiết ôn tập, hệ thống kiến thức

- HS nêu kiến thức trọng tâm, GV cho từ khóa về kiến thức, sau đó tổ chức cho HS lắp ghép các

phần của sơ đồ tư duy

- HS trình bày sản phẩm mình đã thực hiện được, các nhóm nhận xét, GV đi đến thống nhất kiến

thức của bài, hướng dẫn HS làm bài tập áp dụng

2.4.2 Hình thức 4: Chung sức vẽ sơ đồ tư duy

- Trong dạy học tích cực, hoạt động nhóm là phương pháp mang lại hiệu quả học tập cao Ứng

dụng bản đồ tư duy để HS hợp tác chinh phục kiến thức

- GV chuẩn bị một từ khóa và chia nhánh theo cấp độ để trống (trên bảng phụ lớn) HS chuẩn bị

kiến thức theo yêu cầu của GV

- GV nêu nhiệm vụ cần thực hiện với các nhánh cấp độ, quy định thời gian thực hiện Các nhóm

lần lượt lên thực hiện hoàn chỉnh theo từng nhánh GV củng cố sơ đồ

2.4.2 Hình thức 5: Vẽ sơ đồ tư duy bằng gợi dẫn hình ảnh

- GV chọn tác phẩm tiêu biểu, nội dung có nhiều hình ảnh, chuẩn bị trước các hình ảnh minh

họa các chi tiết trong tác phẩm (văn xuôi, thơ)

- HS nhìn vào tranh và dựa vào kiến thức bài học, hoàn thành sơ đồ tư duy, GV trợ giúp nêu các

phần kiến thức, nhận xét tổng kết

Trang 14

* Các hình thức sử dụng sơ đồ tư duy ở nhiều mức độ khác nhau Có thể dễ như hình thức 5,

khó như hình thức 2 hoặc đòi hỏi tinh thần tập thể như hình thức 3,4 Vì vậy GV cần linh

hoạt trong việc sử dụng các hình thức và kết hợp sử dụng một cách hợp lí, sáng tạo trong

một hoạt động hay trong cả tiết học để đạt hiệu quả cao nhất

2.5 Vận dụng sơ đồ tư duy trong một số bài dạy cụ thể

Từ năm học 2016 – 2017 đến nay, tôi đã thực hiện sơ đồ tư duy hóa hầu hết các bài dạy trong

môn Ngữ văn 7, 8 Tuy nhiên vì giới hạn của đề tài này, tôi chỉ lựa chọn một số bài để đưa

vào minh họa

2.5.1 Từ ghép

Bài này nhằm giúp học sinh nắm được khái niệm và cấu tạo của hai loại từ ghép GV cần

phải để HS thấy rõ được sự khác nhau giữa hai loại từ ghép này, khắc sâu kiến thức thông

qua sự thể hiện trên sơ đồ tư duy

2.5.2 Từ láy

Đặc điểm của bài này là HS sẽ tiếp xúc với dạng từ quen thuộc đã gặp rất nhiều trong các

văn bản nên HS dễ hình dung và tiếp nhận kiến thức Nếu GV dùng cách giảng truyền thống

thì HS vẫn nắm được kiến thức nhưng sẽ khó hệ thống và cô đọng Vì vậy phải kết hợp giữa

phương pháp giảng truyền thống và củng cố bằng sơ đồ GV hướng dẫn HS lập sơ đồ tư duy

theo các định hướng sau:

- Khái niệm từ láy

- Phân biệt được hai loại từ láy: từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận

- Ví dụ về từng loại

GV nhận xét sơ đồ của HS, các nhóm về mặt kiến thức và tính thẩm mĩ Sau đó đưa ra sơ

đồ đầy đủ đã chuẩn bị sẵn và kết thúc bài

Trang 15

2.5.3 Bài ca Côn Sơn.

Thực tế khi giảng dạy bài này, tôi sử dụng tivi chiếu một vài hình ảnh về cảnh sắc Côn Sơn

để HS dễ hình dung với lời thơ miêu tả trong bài Khi đúc kết tiết dạy, tôi sử dụng sơ đồ tư

duy để hệ thống kiến thức, trong đó có bổ sung hình ảnh tác giả và phong cảnh Côn Sơn để

khắc sâu cho các em

Trang 16

2.5.4 Văn biểu cảm

2.5.4 Qua Đèo Ngang.

Khi giảng dạy bài này, tôi chia lớp thành 6 nhóm thảo luận tương ứng với 3 nội dung của

bài, cho các em tự vẽ tương ứng với 3 sơ đồ tư duy khác nhau Sau đó GV chiếu từng sơ đồ

đã chuẩn bị lên để các em so sánh với sơ đồ trên bảng của mình

- Sơ đồ tư duy thể hiện tác giả, tác phẩm

Trang 17

- Sơ đồ tư duy thể hiện nội dung tác phẩm.

- Sơ đồ tư duy thể hiện nghệ thuật tác phẩm

GV đúc kết nội dung bài bằng một sơ đồ tư duy tổng hợp, có đưa thêm hình ảnh mở rộng

kiến thức cho HS

Trang 18

2.5.5 Tiếng gà trưa

Bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh lần đầu tiên được đưa vào chương trình

giảng dạy ở trường phổ thông (Chương trình thay sách lớp 7) Đây là bài thơ mang tính giáo

dục, tính nhân văn cao, hoàn toàn phù hợp với lứa tuổi Tuy nhiên qua dự một số giờ dạy

thử nghiệm cũng như qua ý kiến trao đổi của một số giáo viên, các tiết dạy bài Tiếng gà

trưa thường diễn ra đơn điệu, ít khơi gợi được cảm xúc của học sinh Vì trong thời đại công

nghệ hiện đại, các em sẽ khó để hình dung được cảm xúc của nhà thơ khi diễn tả người lính

hành quân xa nhà bất chợt nghe tiếng gà nhảy ổ “cục…cục tác, cục ta”.

Vì vậy khi dạy bài này, để lắng đọng kiến thức cho HS, tôi đã sơ đồ tư duy hóa, thêm

hình ảnh như sau:

Trang 19

2.5.6 Một thứ quà của lúa non: Cốm

Văn bản viết theo thể văn tùy bút và thể hiện nhiều yếu tố miêu tả, ghi chép hình ảnh, sự việc

Qua đó thể hiện cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của tác giả Văn bản này rất dễ thể hiện bằng sơ đồ tư

duy nhưng lại khó cô đọng trong câu chữ trên sơ đồ Tôi cho học sinh hoạt động nhóm và đưa ra

một sơ đồ tư duy còn thiếu ( in ra dán vào bảng phụ), gọi những em có lực học tốt lên bổ sung vào

sơ đồ đó, cả lớp nhận xét, GV kết luận Sau đó đưa ra sơ đồ tư duy hoàn thiện của bài (đã chuẩn

bị trước), tổng quát các sơ đồ đã vẽ cho từng phần, theo một cấu trúc đầy đủ và chi tiết hơn

Kinh nghiệm: Nếu trong sơ đồ còn thừa chỗ trống có thể chèn một hình ảnh nào đó liên quan

đến bài học để các em khắc sâu kiến thức hơn

2.5.7 Ôn tập tác phẩm trữ tình

Ngày đăng: 16/03/2021, 10:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w