Bản thân người làm luận văn quê ở Thái Bình – nơi lưu truyền những truyện kể với tầng tầng những lớp trầm tích văn hóa dân gian nên quyết định chọn đề tài Những đặc điểm của truyện kể dâ
Trang 1U N
TRƢ XÃ HỘ VÀ Â VĂ
-
NGUYỄN THANH NGA
NHỮ Ặ ỂM CỦA TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
THÁI BÌNH
U VĂ T S VĂ C
N i - 2014
Trang 2U N
TRƢ XÃ HỘ VÀ Â VĂ
-
NGUYỄN THANH NGA
NHỮ Ặ ỂM CỦA TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
Trang 3L I CAM
Tôi xin cam đoan đề tài: Những đặc điểm của truyện kể dân gian Thái
Bình và toàn b n i dung luận văn không phải là sự sao chép bất cứ m t công
trình khoa học hay luận văn n o đã được công bố trong v ngo i nước Các tài liệu sử dụng tham khảo đã được trích nguồn đầy đủ và chính xác
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Bình, tháng 11/ 2014
Người viết luận văn
Nguyễn Thanh Nga
Trang 4L I CẢM Ơ
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân th nh v lòng biết ơn sâu sắc tới GS
TS Lê Chí Quế, người đã d nh nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Văn học - Trường
ại học Khoa học xã h i v Nhân văn - ại học Quốc gian Hà N i đã góp ý tạo điều kiện v giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp
đỡ, đ ng viên của bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Bình, tháng 11 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thanh Nga
Trang 5MỤ Ụ
PHẦN MỞ ẦU 1
hương 1: TỔNG QUAN VỀ TỈNH THÁI BÌNH VÀ VỀ TRUYỆN KỂ DÂN GIAN THÁI BÌNH 9
1.1 Tổng quan về tỉnh Thái Bình 9
1.1.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm tự nhiên 9
1.1.2 Đặc điểm xã hội 13
1.2 Tổng quan về truyện kể dân gian Thái Bình 22
1.2.1 Nhận diện truyện kể dân gian 22
1.2.2 Nhận diện truyện kể dân gian Thái Bình 25
Tiểu kết chương 1 26
hương 2 Ữ Ặ ỂM VỀ NỘI DUNG CỦA TRUYỆN KỂ DÂN GIAN THÁI BÌNH 27
2.1 ặc điểm chung của truyện kể dân gian Thái Bình 27
2.2 Truyền thuyết dân gian Thái Bình 32
2.2.1 Tiêu chí xác định văn bản truyền thuyết dân gian Thái Bình 32
2.2.2 Đặc điểm nội dung truyền thuyết dân gian Thái Bình 32
Tiểu kết chương 2 58
hương 3 Ữ Ặ ỂM VỀ NGHỆ THU T CỦA TRUYỆN KỂ DÂN GIAN THÁI BÌNH 60
3.1 Nghệ thuật văn bản truyện kể 60
3.1.1 Nghệ thuật kết cấu 60
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật và những motif cơ bản 61
3.2 Lễ h i - môi trường diễn xướng của truyền thuyết dân gian Thái Bình 78 3.2.1 Khái niệm lễ hội 78
3.2.2 Một số lễ hội tiêu biểu ở Thái Bình 81
Trang 63.2.3 Sức sống của truyền thuyết trong đời sống văn hóa của nhân dân Thái
Bình 93
Tiểu kết chương 3 98
PHẦN KẾT LU N 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 109
Trang 7ca dân gian và Tự sự dân gian như: a dao, Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện cười, Truyện ngụ ngôn, Truyện trạng… góp phần làm phong phú thêm kho t ng văn học dân gian Việt Nam Trong đó truyện kể dân gian là
m t b phận quan trọng trong di sản văn học dân gian của tỉnh Thái Bình 1.2 Tìm hiểu những đặc điểm của truyện kể dân gian Thái Bình l đi khảo sát và tìm hiểu những đặc điểm về n i dung và nghệ thuật của mảng thể loại phổ biến này Trong quá trình khảo cứu chúng tôi nhận thấy đằng sau những văn bản được lưu truyền là cả lớp trầm tích văn hóa lâu đời, gắn liền với công cu c khai hoang, lập ấp, xây dựng xóm làng, công cu c chống ngoại xâm gìn giữ không gian sống của dân t c Hình ảnh những con người, những vùng đất, những đền, chùa… đã đi v o mỗi chuyện kể truyền đời, tất cả đều
in đậm dấu ấn dân gian được lưu truyền gìn giữ cho đến hôm nay Từ những hình tượng nghệ thuật được dân gian xây dựng, lưu giữ, chúng ta thấy được bao kí ức phong phú về văn hóa vật chất v văn hóa tinh thần của cha ông thuở trước
1.3 Từ trước tới nay, ở Việt Nam đã có m t số công trình, bài viết giới thiệu, nghiên cứu về truyện kể dân gian Thái Bình v đã đạt được những thành quả đáng khích lệ, tuy nhiên số lượng còn khiêm tốn Những công trình
n y cũng mới chỉ nghiên cứu m t tác phẩm cụ thể hoặc m t khía cạnh nhỏ
Trang 82
chứ chưa có ai đi sâu nghiên cứu m t cách tổng thể về mảng đề tài này Bởi lẽ
đó, mảng truyện kể dân gian Thái Bình là m t vấn đề vẫn còn nhiều khoảng trống cho tác giả luận văn tìm tòi, đóng góp
1.4 Bản thân người làm luận văn quê ở Thái Bình – nơi lưu truyền những truyện kể với tầng tầng những lớp trầm tích văn hóa dân gian nên
quyết định chọn đề tài Những đặc điểm của truyện kể dân gian Thái Bình
l m đề tài nghiên cứu của mình ây cũng l đề t i mang ý nghĩa thiết thực và cần thiết Thông qua việc thu thập, nghiên cứu văn bản truyện kể dân gian lưu truyền trên vùng đất Thái Bình, chúng tôi có thể tìm hiểu những n i dung phản ánh và nghệ thuật văn bản của truyện kể dân gian Thái Bình Việc làm
đó không chỉ giúp chúng tôi hiểu được tư tưởng, tình cảm của người dân Thái Bình qua các thế hệ nối tiếp trong dòng chung văn hóa, tư tưởng của dân t c
mà còn cho chúng tôi hiểu được những giá trị của truyện kể dân gian Thái Bình trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Từ đó thêm trân quý những di sản mà cha ông truyền lại
2 ịch sử nghiên cứu vấn đề
Truyện kể dân gian Thái Bình vốn đã được m t số nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng mỗi người trên những phương diện mục đích nghiên cứu, hướng nghiên cứu khác nhau, thường chỉ quan tâm tới m t phần nhỏ n o đó của đề tài này
+ Về mặt văn bản sưu tầm:
Trước tiên phải kể đến cuốn Văn học dân gian Thái Bình , NXB
Văn óa Thông Tin, do Phạm Dức Duật biên soạn (Tổng hợp về văn học dân gian Thái Bình gồm nhiều thể loại thu c hai mảng: thơ ca dân gian và truyện
kể dân gian ây l cuốn sách sưu tầm, giới thiệu văn học dân gian Thái Bình, xuất bản lần đầu tiên v o năm 1981 do NXB Khoa học xã h i, lúc này mới chỉ sưu tầm phần thơ ca dân gian Phần tự sự dân gian vì nhiều lí do đến năm
Trang 93
2011 công việc sưu tầm, biên soạn mới ho n th nh v được NXB Văn hóa thông tin xuất bản năm 2013 Phần truyện kể dân gian được sưu tầm và bổ sung thêm vào cuốn Văn học dân gian Thái Bình khiến cho diện mạo nền văn học dân gian trong tỉnh được hình dung đầy đủ và toàn diện hơn
Cuốn Nữ thần và thánh mẫu Thái Bình, NXB Thời ại của hai tác giả
Phạm Minh ức và Bùi Duy Lan Trong cuốn này, các tác giả sưu tầm những truyện kể về các nữ thần và thánh mẫu ở Thái Bình theo bốn chủ đề chính: 1 Các nữ thần có công đánh giặc giữ nước, giữ quê, 2 Các nữ thần có công mở đất, lập làng xây dựng phong tục tập quán đẹp, 3 Các nữ thần là tổ nghề, 4 Các nữ thần là những tấm gương sáng về đạo đức trung, hiếu, tiết, nghĩa… được sắp xếp theo trình tự thời gian
Ngoài ra, các tác phẩm truyện kể dân gian Thái Bình còn được tập hợp
trong cuốn Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (tập 1, 2, 3) của Viện Văn
Về thiền sư Không L : đã có khá nhiều bài nghiên cứu về ngài kéo dài trong khoảng thời gian khá d i ây l nhân vật được nghiên cứu từ lâu Các bài viết trên các báo, tạp chí của nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu là tác giả
Thiên inh với bài viết Truyện Đức Dương Không Lộ đăng trên tạp chí Nam
Phong số 141 (Tháng 8/ 1929) Trong bài viết này, ngoài việc ghi chép lại
Trang 104
tiểu sử của nh sư, tác giả còn đưa thêm các đoạn thơ, lời đối thoại của nhân vật, có cả bình luận ngoại đề và mở r ng những chi tiết về lễ h i
Tác giả Nguyễn Quang Vinh trong bài viết Hình bóng người anh hùng
sáng tạo văn hóa trong truyền thuyết dân gian Không Lộ (1974) cho rằng “có
Không L của sử sách và có Không L của dân gian” Bên cạnh đó tác giả bài báo cũng chỉ ra dấu vết của văn hóa cổ gia nhập vào hiện tượng Không L :
“Không L không chỉ l người anh hùng trong nghề ru ng, nghề cá ở Thái Bình m còn l người anh hùng trên biển khơi”
Trần Huy Bá – Trương hính với Thăm chùa Keo (Văn hóa nghệ thuật
số 9 - 1971)
Phạm ức Duật với Sự tích Không Lộ, Minh Không qua quyển sách chữ
Hán mới sưu tầm (Nghiên cứu Hán Nôm, 1984)
Những năm gần đây, vấn đề thiền sư Không L vẫn tiếp tục được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc đ khác nhau về tư liệu văn bản, khảo chứng lịch
sử văn hóa, giới thiệu phong tục, lễ h i, kiến trúc của chùa Keo… ó thể kể
đến m t số bài viết tiêu biểu như: ỗ Văn Ninh – Trịnh ao Tưởng với Chùa
Keo, Lại Hợp Nhân với Tìm hiểu thêm về chùa Keo (Nhân dân cuối tuần, số
47 ra ng y 19/11/1991) Trong đó cả hai cuốn Chùa Keo của ỗ Văn Ninh – Trịnh ao Tưởng và Chùa Keo của Phạm ức Duật – Bùi Duy Lan đều đi từ
truyền thuyết dân gian về Dương Không L , thêm v o đó l việc tìm hiểu kiến trúc chùa Keo, tìm hiểu lễ h i chùa Keo v các đồ vật quý giá
Trên tạp chí Văn hóa dân gian số 2/ 2008 có bài nghiên cứu của tác giả
Lê Thị Thu Hà với tiêu đề Việc thờ phụng thánh Dương Không Lộ ở Bắc Bộ Lại Thị Thương: Truyền thuyết và lễ hội về thiền sư Không Lộ, Khóa
luận tốt nghiệp khoa Văn học, trường ại Học KHXH&NV – N (2008) ây L công trình nghiên cứu tổng hợp về thân thế, hành trạng của thiền sư Dương Không L , sự chuyển hóa của nhân vật lịch sử vào truyền
Trang 11từ góc đ văn học, văn hóa có: Mẫu Liễu và Quan Âm Thị Kính qua cảm
quan sáng tạo dân gian của Hoàng Văn Trụ, Liễu Hạnh trong “Vân Cát thần
nữ” và Liễu Hạnh trong tâm thức dân gian của Lã Duy Lan, Thử tìm hiểu cách xây dựng hình tượng Mẫu Liễu của ặng Văn Lung, Nhân vật Liễu
Hạnh trong sự vận đ ng của thời gian, không gian của Nguyễn Thị Thảo
Ở m t phương diện khác, nghệ thuật diễn xướng và lễ h i của m t
số truyện kể dân gian cũng được tác giả Nguyễn Thanh nghiên cứu và tập hợp
trong cuốn Lễ hội truyền thống ở Thái Bình (2000), Nxb Khoa học xã h i, Hà
N i
3 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 ối tƣợng nghiên cứu
Truyện kể dân gian Thái Bình nói chung vô cùng phong phú v đa dạng Trong luận văn n y, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những vấn đề sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm của truyện kể dân gian Thái Bình trên bình diện khái quát chung
- Tập trung nghiên cứu chuyên sâu thể loại truyền thuyết, thể loại phong phú hơn cả trong kho tàng truyện kể dân gian Thái Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên phạm vi toàn tỉnh Thái Bình (cả về thời gian v không gian), nhưng chúng tôi giới hạn luận văn tập
Trang 126
trung nghiên cứu những truyện kể dân gian ở Thái Bình đã được tập hợp trong hai cuốn sách:
+ Phạm ức Duật, Văn học dân gian Thái Bình (Phần truyện kể dân
gian) NXB Văn hóa thông tin, 2013
+ Phạm Minh ức - Bùi Duy Lan, Nữ thần và thánh mẫu Thái Bình,
NXB Thời đại, 2005
4 Phương pháp nghiên cứu
ể tiến hành khảo sát nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp n y được sử dụng trong quá trình khảo sát, thống kê, phân loại các thể loại, các nhóm truyện của truyện kể dân gian Thái Bình để l m cơ sở triển khai n i dung của luận văn dựa trên những số liệu thu được
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chúng tôi sử dụng phương pháp
n y để phân tích n i dung phản ánh và hình thức biểu hiện, các mô típ tiêu biểu của truyện kể dân gian Thái Bình
- Phương pháp so sánh, loại hình: phương pháp n y được sử dụng
để so sánh những nét tương đồng cũng như dị biệt của truyện kể dân gian Thái Bình so với truyện kể dân gian ở các vùng khác trong cả nước
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận văn kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu của các ng nh văn hóa học, xã h i học, dân t c học, tâm lí học, sử học, ngôn ngữ học… để có những lí giải, khám phá về các nhóm truyện, đồng thời thấy được những giá trị ẩn sâu bên trong kho tàng truyện kể dân gian Thái Bình
Trang 13đề xung quanh những truyện kể dân gian Thái Bình, từ những câu chuyện lưu truyền đến đời sống tín ngưỡng của nhân dân, các lớp văn hóa địa phương
ua đó thấy được những nét riêng biệt đ c đáo của b phận văn học này trong dòng chung truyện kể dân gian Việt Nam
5.2 óng góp của luận văn
ây l công trình nghiên cứu về truyện kể dân gian Thái Bình từ góc nhìn văn học – văn hóa húng tôi không cầu vọng nói cho hết mọi điều về truyện kể dân gian Thái Bình Bởi lẽ bản thân các truyện kể dân gian là vô cùng, vô tận Luận văn n y trước hết hi vọng sẽ là nguồn tư liệu cơ bản giúp những ai quan tâm đến truyện kể dân gian Thái Bình có thể tìm hiểu, nghiên cứu Sau nữa là góp thêm m t cái nhìn khái quát v sinh đ ng về b phận văn học này
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã hết sức cố gắng và chuyên tâm, song không tránh khỏi những thiếu sót Trên tinh thần học hỏi và cầu tiến, chúng tôi mong mỏi luận văn sẽ nhận được sự góp ý của các thầy cô, bạn bè và những người quan tâm
Trang 148
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và phụ lục, phần n i dung của luận văn được chia l m 3 chương:
hương 1: Tổng quan về tỉnh Thái Bình và về truyện kể dân gian Thái Bình
hương 2: hững đặc điểm nội dung của truyện kể dân gian Thái Bình
hương 3: hững đặc điểm nghệ thuật của truyện kể dân gian Thái Bình
Trang 1570 km về phía Tây Nam, cách thành phố Nam ịnh 18 km, diện tích tự nhiên
là 1.545,4 km2, chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả nước Thái Bình tiếp giáp với năm tỉnh, thành phố: ưng Yên ở phía tây bắc, Hải Dương ở phía bắc, Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam ịnh ở phía tây nam và phía nam, phía đông giáp biển ông (Vịnh Bắc B ) ơn vị hành chính của tỉnh được chia làm 07 huyện ( ưng , ông ưng, uỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư) v 01 th nh phố (thành phố Thái Bình) trong
đó có 284 xã, phường, thị trấn ây l m t tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng; l vùng đất được giới hạn bởi sông Lu c ở phía bắc, sông Hóa ở phía đông bắc, sông Hồng ở phía tây và phía nam, vịnh Bắc B ở phía đông ịa hình n y được xác định từ ngày 21-3-1890 khi thực dân Pháp thực hiện kế hoạch “bình định” đồng bằng Bắc B
Từ hàng vạn năm trước, vùng đất Thái Bình có lịch sử chung với khu vực, việc khảo tìm những dấu vết thời tiền sử của vùng đất này thu c về các
nhà khoa học nhiều ngành Trong phần này chúng tôi chỉ xin tóm lược lịch sử
hình th nh vùng đất Thái Bình cách ng y nay trên dưới 3000 năm (dựa vào các tài liệu về di chỉ, di tích, những hiện vật và tài liệu khác liên quan của bảo tàng Thái Bình, cuốn “ ất v người Thái Bình” của hai tác giả Phạm Minh
ức và Bùi Duy Lan biên soạn, xuất bản năm 2003)
Trang 1610
Cách ngày nay vài chục vạn năm do ảnh hưởng của đợt băng h cuối cùng, biển lùi để l ra bề mặt đồng bằng Bắc B r ng lớn hơn rất nhiều
so với ng y nay Thái Bình khi đó l vùng đầm lầy, rừng rậm ven biển Các
nh địa chất thế giới và Viện nghiên cứu đại dương Việt Nam đều thừa nhận
có m t đợt biển tiến khủng khiếp vào khoảng 3000 năm T N Nước biển do băng tan ở hai đầu cực đã dâng cao hơn ng y nay từ 1,5 – 2m nên hầu hết đồng bằng Bắc B bị biển xâm thực và chia cắt
Viện Hải dương học Việt Nam cũng cho thông số mực nước có
biến đ ng tương tự Khoảng 6000 đến 4000 năm trước (tr CN) nước biển dâng cao hơn ng y nay khoảng 4m Khoảng 4000-3000 năm trước (tr CN) mực nước thấp hơn ng y nay khoảng 4m, đồng bằng lại được l diện, tỉnh Thái Bình vẫn nằm trong vùng đầm lầy, rừng rậm ven biển mà vết tích của nó
là những vỉa than sâu trong lòng đất thu c các huyện ưng , ông ưng,
Kiến Xương v Tiền Hải ngày nay
ợt biển tiến thời kỳ hậu ùng Vương (cách ngày nay trên 2300 năm) để lại lớp trầm tích là m t tầng đất d y 0,2 đến 0,3 m chứa đầy bã thực vật, xác các loài thảo m c ở phía Bắc tỉnh, những cây gỗ lớn chết đứng hoặc
đổ xô, gãy gối nhau ở vùng ven biển Xen giữa các ô trũng có nhiều gò, đống,
c n, cương, không có rừng bị chết ngập chứng tỏ ngay cả khi lũ đạt cực điểm vẫn có những vùng giúp con gười bám trụ sống chung với lũ Sau khi biển rút, đồng bằng Thái bình và Hải Phòng được hình thành với bề mặt địa hình cơ bản như ng y nay
Qua khảo sát sơ b về những di chỉ, di tích lịch sử, những hiện vật và tài liệu của phòng bảo tồn, bảo tàng Thái Bình, chúng ta có thể thấy được các huyện ưng , uỳnh Phụ, phía bắc huyện ông ưng v phía bắc huyện
Vũ Thư ng y nay thu c hương a ương v hương Thái Bình cách đây hơn
2000 năm ác vùng đất còn lại của tỉnh không ngừng được hình th nh sau đó
Trang 1711
cho đến cuối thế kỷ XIX Vào thời nhà Hậu Lê, thời vua Lê Thánh Tông vùng đất này thu c trấn Sơn Nam Thời Lê Trung ưng, sang đầu nhà Nguyễn, Thái Bình thu c trấn Sơn Nam hạ Năm 1832, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cắt hai phủ Thái bình và Kiến Xương nhập vào tỉnh Nam ịnh, nhập phủ Tiên ưng v o tỉnh ưng Yên Tỉnh Thái Bình được thành lập v o năm thứ hai niên hiệu Thành Thái nhà Nguyễn (1890) từ hai phủ Kiến Xương v Thái Bình của tỉnh Nam ịnh và lấy thêm huyện Thần Khê của phủ Tiên ưng thu c tỉnh ưng Yên Huyện Thần Khê lúc đó được nhập vào phủ Thái Bình, sau đó phủ n y đổi tên th nh Thái Ninh Năm 1894, hai huyện ưng Nhân v Duyên Hà – phần còn lại của phủ Tiên ưng cũng được tách ra khỏi ưng Yên, nhập về Thái Bình Như vậy, lúc mới thành lập, tỉnh Thái Bình có 3 phủ: Kiến Xương, Thái Ninh, Tiên ưng, bao gồm 12 huyện Ðến lúc n y, tỉnh Thái Bình với tư cách l m t tỉnh - đơn vị h nh chính đ c lập
Sau ách mạng Tháng tám năm 1945, ng y 10/4/1946, chấp h nh quyết định của uốc h i, ND tỉnh quyết định bỏ đơn vị tổng, đổi phủ th nh huyện To n tỉnh lúc n y được chia th nh 12 huyện Ng y 17/6/1969, i đồng hính phủ ra quyết định 93- P về việc hợp nhất v điều chỉnh địa giới các huyện: ợp nhất hai huyện uỳnh ôi v Phụ Dực th nh huyện uỳnh Phụ; ưng Nhân v Duyên th nh huyện ưng ; Ðông Quan và Tiên ưng th nh huyện Ðông ưng; Vũ Tiên v Thư Trì th nh huyện Vũ Thư; sát nhập m t số xã của huyện Vũ Tiên v o huyện Kiến Xương; sát nhập m t số
xã của huyện Kiến Xương v o huyện Tiền ải Năm 1982 v 1986 i đồng
B trưởng quyết định sát nhập m t số xã ở Vũ Thư v mở r ng địa giới h nh chính của thị xã Thái Bình Năm 2004, Thị xã Thái Bình được công nhận l
Th nh phố thu c tỉnh theo Nghị định số 117/2004/N -CP ngày 29/4/2004 của Thủ tướng hính phủ
Trang 1812
Ngày nay nhiều vùng ven biển của tỉnh vẫn đang trong quá trình được bồi tụ
Về địa chất: ất đai thu c tỉnh Thái Bình trước kia vốn thu c
vùng nước biển sâu, cho đến ngày nay việc cấu thành m t miền châu thổ r ng lớn, phì nhiêu diễn ra vào kỷ thứ tư ó l kết quả của sự bồi đắp phù sa của sông Hồng Phần lớn đất đai của tỉnh được hình th nh l đất phù xa thực thụ,
gi u dinh dưỡng và phù hợp cho việc thâm canh, phần nhỏ còn lại l đất phù
sa trên cát v đất cát, đây l vùng đất ven biển bị nhiễm mặn
Về khí hậu: Thái Bình chịu ảnh hưởng của khí hậu ẩm nhiệt đới
gió mùa nhưng không quá khắc nghiệt do được làm mát bởi những cơn gió biển thổi v o, mùa đông nhiệt đ cũng không bị hạ quá thấp như nhiều vùng khác trong cả nước Khí hậu phân chia theo bốn mùa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông khô lạnh ít mưa Nằm trong vùng nhiệt đới nên Thái Bình có lượng bức xạ mặt trời, đ ẩm v lượng mưa tương đối lớn ặc điểm khí hậu
đó cùng với hệ thống sông ngòi d y đặc (tổng chiều dài các con sông ngòi của Thái Bình là 8492 km – theo số liệu đo đạc được công bố trên cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Bình), với bốn con sông lớn chảy qua địa phận là: sông Hồng ở phía tây và nam, sông Trà Lý chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông d i 65km, sông Hóa ở phía bắc v đông bắc, sông Lu c ở phía bắc và tây bắc là những thuận lợi cho sinh hoạt cư trú v sản xuất nông nghiệp của người dân nơi đây Tuy nhiên chính vì giáp biển nên Thái Bình cũng thường xuyên hứng chịu sự tàn phá của giông bão vào khoảng từ tháng Năm đến tháng Tám trong năm Lịch sử đã ghi nhận nhiều những sự tàn phá ghê gớm của thiên tai bão lũ lên mảnh đất n y ách đây khoảng hơn 100 năm (năm 1897) m t trận đ ng đất kèm theo sóng thần bởi sự hoạt đ ng của núi lửa rakatice đã nhấn chìm hoàn toàn ba tổng của huyện Tiền Hải Từ đó đến nay h ng trăm cơn bão lớn nhỏ gây không biết bao nhiêu mất mát, tàn phá về con người cũng như nền
Trang 1913
sản xuất nông nghiệp của người dân Trước đây khi chưa có các cống thủy lợi Nhâm Lang, o Th nh ( ưng ), Tr Ninh (Thái Thụy) thì biển thường đem nước mặn tiến sâu v o đất liền gây khó khăn v thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp
Những đặc điểm về sự hình th nh vùng đất, điều kiện tự nhiên trên đây quyết định nhiều đến đặc điểm về xã h i của tỉnh Thái Bình
1.1.2 Đặc điểm xã hội
1.1.2.1 Đặc điểm cư dân
ồng đất Thái Bình được hình th nh dọc theo các triền sông ồng, sông
Lu c , sông Tr Lý l những bờ bãi thuận tiện cho con người cư trú v trồng trọt Với ưu thế của vùng đất ven biển được bồi đắp phù sa m u mỡ, Thái Bình đã cuốn hút cư dân khắp nơi về khai phá, lập l ng Năm 2011, Thái Bình
có 1.786.000 người với mật đ dân số 1.138 người/km² Th nh phần dân số: Nông thôn: 90,1%, Th nh thị: 9,9%
ư dân Thái Bình vốn là sự tụ h i của các luồng cư dân tứ xứ từ nhiều nơi như: Sơn Tây, ông, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, ông Triều, Quảng Yên, Hải Dương, ưng Yên, Thanh óa, Nghệ n, Nam ịnh, có cả b phận theo biển từ phía Bắc xuống, từ phía Nam ra vốn làm nghề đánh cá sau hợp cư trên mảnh đất Thái Bình ịa bàn tụ cư của những lớp cư dân đầu tiên là những nơi gò cao, những sống đất cao ven biển phần lớn thu c đất đai của huyện ưng , uỳnh Phụ, Vũ Thư (vùng Thư Trì cũ), ông ưng ng y nay v o cuối thời đại đồng thau cách đây 2700 đến 3000 năm Minh chứng cho điều này là những di chỉ khảo cổ học như những gò, những đống, và những di vật như mũi tên, mũi giáo, lưỡi rìu đồng bằng và những phế tích m cổ được tìm thấy ở các vùng ưng , uỳnh Phụ, ông ưng, Vũ Thư Dấu tích của các nhóm cư dân thời cổ chạy lũ lên các gò, đống l ng y nay người dân Thái Bình vẫn dùng từ “đống” để chỉ địa chỉ : Nhà tôi ở đống A, B, nhà bác ở đống
Trang 2014
B, Dù ng y nay đống ấy không còn nghĩa chỉ núi cao Theo ngữ, nghĩa
“đống”, “c n”, “nấm” ( người Thái Bình còn gọi l “lấm” ) do đặc thù hoặc
do án hóa, đống được ghi, được hiểu, được gọi l “phong” ( gò cao),
“cương” ( gò lớn), “sơn” l núi iện trên đất Thái Bình còn các địa danh phản ánh xưa đây l vùng đất cao
ũng theo hai nh nghiên cứu Phạm Minh ức và Bùi Duy Lan
trong cuốn Đất và người Thái Bình đã viết: “Lớp cư dân tiếp cận với vùng
đồng bằng châu thổ nam sông Luộc đầu tiên là dân tộc Đãn và những dân chài thuộc hệ Nam Á họ giỏi đóng thuyền, chèo thuyền, đánh cá Bờ bãi Thái Bình hồi đó còn thưa vắng, rừng ven biển cung cấp củi lửa Thượng nguồn sông Trà, sông Cô, sông Tiên Hưng đầy nước ngọt Ngoài biển có đủ các loại
cá chim, thu, mực, ba ba như ngày nay nhưng mật độ dày hơn Vùng trũng ven sông Hóa như Lộng Khê, Tô Xuyên, Tô Đàm (Quỳnh Phụ), Đăng Tràng, Trà Khê, Trà Hồi, Trà Linh là môi trường nước lợ có nhiều tôm, tép, cá, sò Trong nội đồng có những bến sông chật cá mà đến nay còn những địa danh làng Chiếp Đông, Chiếp Đoài (xã Hồng Lĩnh – Hưng Hà) có ngữ nghĩa là cá chép, làng Cá (Đông Huy – Đông Hưng), làng Mòi (cá mòi, An Bài – Quỳnh Phụ), làng Trạch (Cộng Hòa – Hưng Hà) ” [15, tr 26]
ể sinh tồn, lớp lớp cư dân ở thời đại các vua ùng đã từ vùng trung du miền núi tràn xuống khai phá vùng đồng bằng, đông đảo nhất là dòng cư dân thứ hai: cư dân Việt – Mường, tuy nhiên đây cũng l lớp cư dân tới mu n hơn so với dòng cư dân khác Chính những cư dân n y – lớp cư dân được thừa hưởng thành tựu của nền văn minh đồ đồng thau của văn hóa Phùng Nguyên (Phú Thọ), Quang Vinh (Hà Tây) làm giàu cho các b : Dương
Tuyền và Lục Hải trên mảnh đất Thái Bình, hình th nh h ng trăm đ ng, xá
nơi đây
Trang 2115
Truyền thuyết dân gian và thần tích về sự h i nhập giữa hai dòng cư dân cho thấy sự hòa hợp và tự nguyện của những người dân khi h i cư trên mảnh đất Thái Bình dẫu rằng đó đây ít nhiều còn có chút xung đ t Chuyện hai anh
em Trần ông, Trần iển (thờ tại các làng Tam Tri, Chỉ Bồ - Thái Thụy) giúp vua ùng đánh giặc Xích Tỵ (mũi đỏ - chỉ người chủng Nam Á cổ) là
m t ví dụ
Vào thời đại đồ sắt ( cách đây 1800 – 2700 năm), với nền văn hóa ông Sơn cư dân Thái Bình đã khá đông đúc, điều này phản ánh chân thực, rõ
nét qua những truyền thuyết dân gian, những thần tích về những người có
công dựng nước và giữ nước thời ùng Vương Trải qua h ng ng n năm dưới ách cai trị của phong kiến phương Bắc, đặc biệt là từ khi Nh nước phong kiến tự chủ ại Việt (thế kỷ X ) được thành lập cư dân Thái Bình cơ bản được bổ sung theo các luồng nơi trên Từ thế kỷ XV – XVIII với nhiều nguyên nhân khác nhau, cư dân từ Thanh Nghệ Tĩnh theo đường biển vào định cư, cư dân từ các vùng Nam ịnh, Hải Dương, ưng Yên, ông Triều về hợp cư trên mảnh đất Thái Bình Trong số đó không ngoại trừ cả những dóng máu ngoại lai h i nhập v o cư dân Thái Bình do các công hầu, khanh tướng triều Lý, Trần đưa tù binh về khai phá các điền trang thái ấp do triều đình ban tặng
Tuy sống trên vùng đất đai tương đối bằng phẳng có điều kiện thuận lợi cho việc cư trú v sản xuất, nhưng thiên nhiên ở đây cũng không được thuận hòa lắm Như đã nêu ở trên với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa lại giáp biển nên thường xuyên xảy ra hiện tượng bão lụt, nước biển xâm thực sâu vào đất liền ng năm cứ từ tháng Năm đến tháng Tám, nạn vỡ đê xảy ra thường xuyên gây hậu quả úng lụt ghê gớm, nhưng mùa nắng đôi khi có hạn hán kéo dài Những đặc điểm tự nhiên đó đã hun đúc nên những đặc điểm riêng biệt của người dân nơi đây trong cu c sinh tồn Người dân Thái Bình m t mặt
Trang 2216
phải vật l n chống những trận lũ lụt lớn, những đợt hạn hán kéo dài, mặt khác phải liên tục thau chua rửa mặn cải tạo đồng ru ng mở r ng diện tích canh tác Những dòng sông nhân tạo, cùng hệ thống đê điều dọc theo các sông và ven biển ngày nay là những công trình lao đ ng tập thể vô cùng to lớn phải đánh đổi bằng mồ hôi xương máu của lớp lớp cha ông
Trong quá trình lâu d i cư trú v canh tác, người Thái Bình qua các giai đoạn lịch sử đã đúc kết, tích lũy được khá nhiều kinh nhiệm sản xuất chủ yếu
về mặt cây trồng v đặc biệt là kỹ thuật thâm canh lúa cổ của vùng đồng bằng Bắc B Những kinh nhiệm, kĩ thuật ấy đã trở thành những cung cách l m ăn thuần thục của người dân nơi đây Tuy nhiên phương thức sản xuất cũ trì trệ
đã kìm chặt những sáng tạo của họ trong mỗi gia đình, mỗi làng xóm mà họ sinh sống l m ăn
Qua nhiều giai đoạn kế tiếp trong tiến trình lịch sử người dân Thái Bình
đã thể hiện, xây dựng, giữ gìn và tôi rèn m t truyền thống đấu tranh kiên quyết chống lại tất cả mọi trở lực hung bạo dù đó l trở lực do thiên nhiên hay con người Nhân dân Thái Bình trong công cu c khai hoang, cải tạo tự nhiên, chống lại thiên tai lũ lụt, hạn hán; trong những cu c khởi nghĩa chống lại ách
đô h thống trị của phương Bắc, nổi bật là những nữ tướng ở Thái Bình cùng nhân dân tham gia khởi nghĩa ai B Trưng, trong cu c chống quân Nguyên thời Trần, những phong trào nông dân chống phong kiến Lê – Trịnh, chống phong kiến nhà Nguyễn, phong trào nông dân chống Pháp ở Thái Bình cuối thế kỉ X X, đầu thế kỉ XX là những minh chứng cụ thể tỏ rõ ý chí bất khuất của những con người trên mảnh đất này
Khi Doanh điền sứ Nguyễn ông Trứ tổ chức cu c khẩn hoang quy mô lớn lập ra huyện Tiền ải v o năm 1828 thì cư dân chủ yếu của Kiến Xương,
Vũ Thư v cư dân vùng Nam Ðịnh, Nam về hợp cư Thế kỷ 12 - 13 dưới triều Trần, trên mảnh đất Thái Bình, cư dân đã đông đúc, các l ng xã đã khá
Trang 2317
ổn định Thái Bình lúc n y thu c đất đai của hai l (phủ) Long ưng v Thiên Trường; về sau vẫn thu c l Long ưng, phần còn lại thu c hai l mới l Kiến Xương v n Tiêm được tách ra từ l Thiên Trường Dưới l l huyện, hương (xã) Ðến thời Tây Sơn, Thái Bình thu c Trấn Sơn Nam ạ, về địa danh có đổi phủ Thái Bình th nh phủ Thái Ninh, còn đơn vị h nh chính vẫn
cơ bản như thời Lê Thời Nguyễn (thế kỷ X X), địa danh cơ bản vẫn như trước Riêng phủ Thái Ninh được trả lại tên cũ l phủ Thái Bình; đổi Thanh Lan th nh Thanh uan (thời ia Long); đến thời Minh Mệnh nhập v o phủ Kiến Xương; đến thời Tự Ðức, Thanh uan lại nhập v o phủ Thái Bình, thời Ðồng Khánh đổi huyện hân Ðịnh th nh huyện Trực Ðịnh Năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), sau cu c khẩn hoang - Thái Bình có thêm huyện Tiền ải với diện tích 18.900 mẫu; 2.300 suất đinh; 7 tổng; 40 l ng; 27 ấp; 20 trại và 40 giáp
Việt Nam có 54 dân t c khác nhau thì Thái Bình, trong mọi thời kỳ lịch
sử, người Kinh chiếm tỷ lệ tuyệt đối, số người Mường, T y từ trước năm
1945 đến nay chỉ thống kê được h ng chục, h ng trăm m thôi
1.1.2.2 Đặc điểm văn hóa
Như đã trình b y ở trên, cư dân Thái Bình l sự h i tụ của các luồng cư dân tứ xứ từ nhiều nơi về hợp cư Do vậy văn hóa truyền thống của Thái Bình
là sự pha tr n, dung hòa những sắc thái văn hóa của nhiều vùng miền trong cả nước Những sắc thái văn hóa n y khi du nhập vào Thái Bình đã khoác lên mình tấm áo địa phương mang đậm dấu ấn của đất v người nơi đây, trong điều kiện môi sinh của vùng đồng bằng sông nước, với cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề cấy lúa nước, đánh bắt thủy hải sản cùng với các nghề phụ
ặc điểm cư dân chủ yếu l nông dân, ngư dân, diêm dân trong công cu c khai khẩn đất hoang, cải tạo tự nhiên, chống chọi với thiên tai, trong công
cu c sản xuất đã hình th nh những nét văn hóa l ng tiêu biểu với những lễ h i
Trang 2418
dân gian truyền thống mà nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh trong cuốn Lễ hội
truyền thống ở Thái Bình đã viết: “… với đặc điểm chủ yếu là chín người mười làng cùng hợp sức đồng tâm trị thủy, khẩn hoang, quai đê lấn biển, thau chua, rửa mặn, thâm canh và quảng canh lúa nước, dâu tằm, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Trong truyền thống, nét điển hình của văn hóa làng Thái Bình là một vùng kinh tế nông nghiệp đã sớm phát triển trong hoàn cảnh đất chật người đông, đó là một trong những tiền đề tạo cho vùng đất Thái Bình trở thành một vùng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng” [69, tr 10]
Do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, môi trường thay đổi với nhiều tiêu cực dẫn đến m t số cư dân đã từng đến vùng đất này phải quay trở về quê cũ
để tiếp tục canh tác nông nghiệp Số còn lại giàu nghị lực và sự bền bỉ, chấp nhận những khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên, vừa gieo xạ trên các khu vực có địa hình cao, vừa đánh bắt thủy hải , hải sản… Từ đó, m t số đông chuyển hẳn sang nghề đánh bắt thủy, hải sản Những con người quyết tâm gắn
bó với mảnh đất này vừa nhờ vào nước m hưởng nguồn lợi thủy, hải sản, đồng thời phải thích nghi với môi trường sông nước, đối mặt với bão gió, lũ lụt để tồn tại Vì thế, nước vừa là nguồn sống, là ân nhân, vừa l thù địch iều đó đã dần in v o tín ngưỡng tâm linh của người dân Khi đem đến nguồn sống cho con người, nước hóa thân vào những nhân vật được cho là thủy thần nhập thế Khi gieo rắc lũ lụt, nước lại hiện thân là loài thủy tặc, thủy quái iều đó giải thích vì sao ở Thái Bình miếu Long thần nhiều hơn lầu Thổ địa; thần Hà Bá, Long Vương nhiều hơn thần núi, các đền đ i tiêu biểu đều gắn với Long thần
Trong tâm thức người dân Thái Bình, đặc biệt l người dân ven biển, ven sông, hình ảnh những vị thần liên quan đến nước luôn luôn tồn tại Có cả m t
số lượng lớn các vị thần như thế Mẫu Thoải (Mai Diêm – Thái Thụy), Trần ông, Trần iển (đền Tam Tòa), Nam Hải ại Vương – Phạm Hải (An Cố,
Trang 25Sự chung sống, tiếp xúc với các cư dân ở nhiều tỉnh, nhiều vùng miền khác nhau có lẽ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người Thái Bình tôi rèn sự nhạy bén, dễ hấp thu cái hay, cái mới, đồng thời bảo lưu nét đẹp của truyền thống không chỉ ở mặt văn hóa m cao hơn nữa còn l tư tưởng thẩm mĩ, nhân sinh quan tiến b ở mỗi thời đại
Xưa trong h nh trình cách tân, giao thoa văn hóa, Thái Bình l m t trong những địa phương bảo lưu tập tục thời ùng Vương sâu đậm như tục ăn trầu Dấu tích của nó là có những vùng cả làng trồng trầu (Xá Thụy – Thụy ưng),
cả làng trồng cau ( ao ương, Thụy Ninh, Thái Thụy), có người trồng hàng nghìn gốc cau ở Thọ ao, Minh hâu, ông ưng
Giống như người dân ở nhiều vùng miền trong cả nước, người Thái Bình rất yêu múa hát Nhiều điệu múa dân gian được lưu truyền trong tỉnh từ lâu đời như: múa i đèn, múa ung múa uạt ở thành phố Thái Bình; múa Lải
Lê, múa ông ùng b ở Thái Thụy; múa ánh bệt, múa Xếp chữ ở Quỷnh Phụ; múa ò ở Vũ Thư; múa iáo cờ Giáo quạt ở ông ưng… Bên cạnh
đó, những l n điệu dân ca ở Thái Bình cũng rất phong phú như: át úm, hát
Ru, hát Trống quân, Sa mạc, cò lả, nổi bật l các l n điệu Hò chèo thuyền đánh cá ở ven biển Thái Thụy, Tiền Hải; át đò đưa trên các con thuyền dọc sông Trà Lý, sông Diêm, sông Sa Lung
Trang 2620
Có thể nói Thái Bình l nơi ghi dấu son của m t vùng văn hóa Trong thời phong kiến trải X thế kỉ, mảnh đất nơi đây đã sản sinh ra nhiều thế hệ các nhà khoa bảng đức cao vọng trọng Dưới triều Lý – Trần – Hồ có: ặng Nghiễm thi thư t i giỏi được vua sai giữ chức khuyến học, thái học sinh ặng Diễn đỗ khoa đầu tiên của Nho giáo thời Trần, văn thần Bùi M c ạc được các vua Trần sủng ái, ngự tiền học sinh ỗ Tử Bình trải qua trăm trận khi mất được vua Trần Nghệ Tông cho phối thờ ở Văn Miếu, … ạo học thời này trong sáng, văn chương tao nhã, thiết thực Các nhà nho gặp thời thì làm quan, bất đắc chí thì về quê dạy học hoặc l m dân thường, khi đất nước có giặc đều tham gia chống giặc
Bên cạnh nền Nho học, Phật giáo xâm nhập vào Thái Bình từ rất sớm Chùa chiền ở Thái Bình v o đầu thời Lý đã có rất nhiều, có lẽ vì Phật giáo thời bấy giờ là khát vọng hướng thiện của người Việt Hai triều Lý – Trần đều chu ng đạo Phật, các vua hầu hết tham gia lãnh đạo tăng đo n Vùng đất Thái Bình thời ấy dân đông, nông nghiệp phát triển nên tăng chúng hướng về ầu thời Lý có bốn cao tăng nổi tiếng là: Giác Hải, Không L , Minh Không, Từ
ạo Hạnh thì cả bốn vị đều gắn bó với vùng đất Thái Bình Dưới vương triều
Lê, trong bối cảnh chung của cả nước, trên vùng đất này Nho học đạt đến cực thịnh, đạo Phật phục hưng, văn hóa dân gian phát triển rực rỡ ho đến hôm nay, khi Nho giáo chỉ còn là những “vang bóng m t thời” thì đạo Phật vẫn tồn tại và phát triển
Cùng với các tín ngưỡng tôn giáo, các tư tưởng ngoại lai, Thái Bình còn
l nơi tồn tại của các tín ngưỡng dân gian trong đó đậm đặc tín ngưỡng thờ Mẫu
Mẫu có thể được hiểu theo nghĩa thông thường là mẹ, mụ, mạ hay mế, dùng để chỉ m t người phụ nữ đã sinh th nh ra mình Mẫu cũng được hiểu theo nghĩa r ng hơn đó l sự tôn vinh, tôn xưng m t nhân vật nữ n o đó (có
Trang 2721
thật hoặc không có thật) như: Mẫu Âu ơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ… Thậm chí, Mẫu còn được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật (đặc biệt là những yếu tố mà sự sinh sôi nảy nở của nó ảnh hưởng mật thiết đến đời sống của con người), ví dụ như những danh xưng:
Mẹ cây, Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ lúa, Mẹ chim, Mẹ núi rừng, Mẹ biển, Mẹ cá… Trong tất cả những cách hiểu đó thì Mẫu không mang trong mình tính sáng thế mà chỉ mang ý nghĩa đùm bọc, che chở, bao dung, đ lượng, nuôi dưỡng và sinh sôi nảy nở cho con người và vạn vật mà thôi Có lẽ chính từ những ý nghĩa đó của Mẫu mà số người tìm đến với tín ngưỡng thờ Mẫu không hề suy giảm trong lịch sử cũng như hiện tại
Với cách hiểu như vậy về Mẫu thì tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu là m t loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần; thờ Mẫu thần; thờ Tam phủ - Tứ phủ; những tín ngưỡng phồn thực sơ
khai của cư dân trồng lúa nước - tôn thờ giống cái, sự sinh sôi nảy nở; sự biến
thể của quan niệm âm - dương ngũ h nh với quan niệm âm, nữ, giống cái gắn liền với đất đai - nuôi nấng v dung dưỡng muôn loài; tục thờ cúng tổ tiên của người Việt; chế đ mẫu hệ - mẹ, mẫu l người chủ; chiến tranh, loạn lạc đ n ông luôn chinh chiến vắng nhà con cái gắn liền với người mẹ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu – đấng sinh sôi, bảo trợ cho sự tồn tại, sinh thành của vũ trụ, đất nước v con người
Có thể khẳng định rằng, mặc dù chỉ là m t loại hình tín ngưỡng dân gian những n i dung của tín ngưỡng thờ Mẫu đã chứa đựng rất nhiều các quan niệm tư tưởng về tự nhiên, về con người, về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người Trong quá trình hình thành
và phát triển của mình, tín ngưỡng thờ mẫu đã mang theo mình tất cả những suy nghĩ, ứng xử của người Việt với giới tự nhiên
Trang 2822
Thái đ hòa hợp với tự nhiên của người phương ông nói chung v người Việt nói riêng được hình thành từ rất sớm v được định hình trên cơ sở những quan niệm về con người, về tự nhiên trong lịch sử
Tôn thờ Mẹ - Mẫu, là m t đặc sắc trong văn hóa truyền thống Việt Nam
Ở ồng bằng Bắc B , tục thờ Mẫu đã trở thành m t tín ngưỡng đ c đáo với sức lôi cuốn mạnh mẽ và ảnh hưởng to lớn đến đời sống tinh thần của người
Việt Trong đó, Thái Bình là m t tiểu vùng văn hóa nằm trong vùng văn hóa
Bắc B nên tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại phổ biến, sâu gốc bền rễ trong tâm thức dân gian Bắc B nói chung, ở Thái Bình nói riêng đã bao đời nay iều này được thể hiện rất rõ trong kho tàng truyện kể dân gian Thái Bình, đặc biệt qua cuốn sách “Nữ thần và thánh mẫu Thái Bình” của hai tác giả Phạm Minh
ức – Bùi Duy Lan
1.2 Tổng quan về truyện kể dân gian Thái Bình
1.2.1 Nhận diện truyện kể dân gian
1.2.1.1 Giới thuyết về các khái niệm
- Khái niệm truyện kể
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do PGS Lê Bá Hán, GS.TS Trần ình
Sử, GS Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Truyện là thuật ngữ dịch từ tiếng Pháp Récit, và thuật ngữ Narrative (tự sự) cùng được hiểu là: “phương thức
tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cở sở để phân loại tác phẩm văn học”
Các tác giả cuốn từ điển n y cũng phân biệt rõ rằng tác phẩm trữ tình thì phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó, còn tác phẩm tự sự (truyện) lại tái hiện đời sống m t cách khách quan Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở r ng của đời sống trong thời gian, không gian, thông qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cu c đời con người Bên cạnh đó
nh văn cũng thể hiện tình cảm, tư tưởng của mình Nhưng ở đây tư tưởng và
Trang 29Trong cuốn Thi pháp của truyện kể, R Barthes quan niệm truyện kể
(récit) như m t thể loại vô cùng r ng lớn, có tính chất bao trùm lên mọi hình thức kể chuyện thông qua phương thức truyền miệng hoặc viết, thông qua hình ảnh tĩnh hay đ ng; nó có mặt trong thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện hoang đường (conte), truyện ngắn, anh hùng ca, lịch sử, kịch, bi kịch, hài kịch, kịch câm, h i họa, kính ghép m u, điện ảnh, truyện tranh, tin vặt, h i thoại Có thể nói, dưới hình thức gần như vô tận ấy, truyện kể đã có mặt ở
mọi thời, mọi nơi, trong mọi xã h i Tác giả cũng cho rằng: “truyện kể bắt
đầu với chính lịch sử của nhân loại, không có, và không bao giờ có bất cứ một nơi nào một dân tộc nào lại không có truyện kể; tất cả mọi tầng lớp, tất
cả mọi cộng đồng nhân loại đều có truyện kể của mình…”
Như vậy truyện kể ở đây chứa trong nó cả truyện hay truyện hoang
đường có tính chất truyền miệng và truyện ngắn có tính chất văn học, được viết ra để đọc
- Khái niệm truyện kể dân gian:
Khi nghiên cứu văn học dân gian, S inh ia Khánh đã đưa ra những
ý kiến đề xuất về đặc trưng khu biệt trong quá trình nhận thức các thể loại văn học dân gian Trong đó chủ yếu l nhận diện các thể loại thu c loại hình tự sự dân gian v về cơ bản cũng có sự gần gũi nhau về mặt thể loại cũng như thời điểm ra đời Trong cuốn văn học dân gian, S inh ia Khánh cho rằng:
Trang 3024
“Văn tự sự dân gian chủ yếu gồm có truyện và vè Truyện dân gian thường là
văn xuôi nhưng cũng có khi là văn vần Còn vè thì bao giờ cũng là văn vần ”
Như vậy có thể hiểu truyện kể dân gian l m t b phận của phương thức
tự sự dân gian bên cạnh vè Do đó truyện kể dân gian mang những đặc điểm nổi bật của phương thức tự sự dân gian, chú trọng miêu tả h nh đ ng của nhân vật v bối cảnh xã h i của h nh đ ng ấy, ít chú trọng miêu tả n i tâm nhân vật
1.2.1.2 Các thể loại truyện kể dân gian
Ở nước ta, quá trình nghiên cứu truyện kể dân gian gắn với quá trình nhận thức khu biệt về các thể loại truyện khác nhau Trước đây, danh
từ truyện đời xưa nhằm chỉ chung to n b truyện kể dân gian Về sau các b phận truyện được tách dần như: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích,
truyện ngụ ngôn, truyện cười… Ranh giới giữa các thể loại truyện kể dân gian
nhiều khi rất khó xác định Th nh tựu của những năm gần đây của giới nghiên cứu folklore Việt Nam ng y c ng có nhiều đóng góp quan trọng cả về lý thuyết v thực tiễn trong việc xác định v phân loại các thể loại văn học dân gian, đặc biệt trong đó có các thể loại truyện kể dân gian
Theo S inh ia Khánh, có bốn thể loại được xếp v o truyện kể dân gian đó l : Thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười Với thể loại truyền thuyết, ông không cho đó l m t thể loại đ c lập m xếp v o thể loại cổ tích lịch sử
Trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam biên soạn v o đầu
những năm 90 của thế kỉ XX do S Lê hí uế chủ biên, việc phân loại các thể loại truyện kể dân gian có chút thay đổi về n i h m so với quan niệm của
S inh ia Khánh Ở giáo trình n y, bên cạnh việc trình b y về các thể loại thu c loại hình tự sự dân gian như: Thần thoại, sử thi anh hùng, truyện cổ tích, truyện cười, vè, truyện thơ, giáo sư Lê hí uế còn đưa ra quan điểm về
Trang 3125
sự tồn tại đ c lập v định nghĩa thể loại truyền thuyết iều n y đánh dấu sự thay đổi của giáo trình ại học Tổng hợp về quan điểm v nghiên cứu, giảng dạy truyền thuyết nói riêng, các thể loại truyện kể dân gian nói chung
Ở đây chúng tôi đi tìm hiểu về các thể loại truyện dân gian sau: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười
1.2.2 Nhận diện truyện kể dân gian Thái Bình
Về truyện kể dân gian Thái Bình, thông thường có 2 cách hiểu
M t là: Truyện kể dân gian Thái Bình do người Thái Bình sáng tác nên iều này rất khó xác định
Hai là: Truyện kể dân gian Thái Bình là những truyện kể dân gian lưu truyền ở Thái Bình Theo cách hiểu này, ta dễ xác định hơn ngoại diên của đối tượng Theo đó, truyện kể dân gian lưu truyền tại Thái Bình là những tác phẩm do các nh Văn học dân gian ở Thái Bình sưu tầm, ghi chép được v đã xuất bản
Chúng tôi theo quan niệm thứ hai này
Với trình đ của người viết luận văn, chúng tôi tạm chấp nhận cách phân chia thể loại các tác phẩm văn học dân gian của người sưu tầm, biên soạn sách
Theo những tài liệu chúng tôi có trong tay, chúng tôi thống kê được khoảng 133 truyện, được tập hợp từ hai cuốn Nữ thần và thánh mẫu Thái Bình (tác giả Phạm Minh ức – Bùi Duy Lan) v Văn học dân gian Thái Bình (tác giả Phạm ức Duật), có thể chia theo 3 thể loại chính:
+ Truyền thuyết (chiếm số lượng phong phú nhất) Trong luận văn n y, chúng tôi khảo sát 111 truyền thuyết, chiếm 83 %
+ Truyện cười (bao gồm cả Truyện trạng), chúng tôi thống kê được 19 truyện, chiếm 14 %
+ Truyện cổ tích (chiếm số lượng ít nhất – theo sưu tầm của tác giả Phạm ức Duật trong cuốn Văn học dân gian Thái Bình) với 3 truyện, chiếm
3 %
Trang 3226
Tiểu kết chương 1
Thái Bình là vùng đất cổ, có lịch sử hình thành từ lâu đời, thu c vùng văn hóa châu thổ Bắc B , có những điều kiện thuận lợi về mặt địa lí, địa hình, điều kiện tự nhiên, l vùng đồng bằng ven biển với nhiều cửa sông, thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản và trồng lúa nước.Tập quán canh tác và lối sống gắn bó với môi trường nước, quen đối mặt, chống chọi với bão lũ, thiên tai đã tôi rèn cho con người nơi đây sự kiên cường, bền bỉ, lòng dũng cảm và sự linh hoạt, mềm dẻo trong tính cách Bên cạnh đó, Thái Bình còn l vùng đất h i cư của dân tứ xứ Những con người ở nhiều nơi khi cùng tụ cư trên mảnh đất này
đã đem theo cả văn hóa các vùng miền khác nhau… L vùng đất địa linh nhân kiệt, Thái Bình đã sản sinh v nuôi dưỡng bao anh hùng, những danh nhân văn hóa, những người đã đóng góp công lao to lớn cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển của đất nước ây chính l những đặc điểm cốt lõi để nhân dân sáng tạo v lưu truyền m t kho t ng văn học dân gian với nhiều thể loại, trong đó khối lượng truyện kể dân gian tương đối phong phú
Là m t b phận của phương thức tự sự dân gian, truyện kể dân gian mang những đặc điểm cơ bản của phương thức này Truyện kể dân gian Thái Bình là b phận quan trọng trong kho t ng văn học dân gian của tỉnh Với cách hiểu truyện kể dân gian Thái Bình bao gồm những tác phẩm lưu truyền trên mảnh đất Thái Bình, chúng tôi thu thập và thống kê qua m t số tài liệu được m t số lượng khá phong phú, chủ yếu với 3 thể loại chính đó l : truyền thuyết chiếm số lượng nhiều nhất, truyện cười khoảng hơn 10 truyện, truyện
cổ tích có số lượng ít nhất (3 truyện) Truyện kể dân gian Thái bình không phá vỡ tính thống nhất chung trong kho tàng truyện kể dân gian của người Việt mà chỉ góp phần l m cho gi u có hơn, đồng thời vẫn mang những dấu ấn riêng của vùng đất v con người nơi đây
Trang 3327
hương 2 NHỮ Ặ ỂM VỀ NỘI DUNG CỦA
TRUYỆN KỂ DÂN GIAN THÁI BÌNH 2.1 ặc điểm chung của truyện kể dân gian Thái Bình
Khi nhắc đến văn hóa truyền thống Thái Bình, nhiều người thường nhắc đến nghệ thuật chèo, nghệ thuật rối nước, thắng cảnh chùa Keo, khu m cổ nhà Trần,… Bên cạnh đó, Thái Bình còn l vùng đất có truyền thống văn học dân gian với nhiều tác phẩm có giá trị Vùng đất đồng bằng ven biển này
không sở hữu “Nhất cao là núi Tản Viên” với những truyền thuyết nổi tiếng như Sơn Tinh, Thủy Tinh, nhưng lại có “Nhất sâu là nước Thuỷ Tiên, Phú
Hà” cùng những truyền thuyết về các biểu tượng trong tín ngưỡng mang đậm
yếu tố nước, hệ thống các truyền thuyết về người anh hùng trong công cu c dựng nước và giữ nước Ngoài truyền thuyết, di sản truyện kể dân gian Thái
Bình còn có các thể loại như: truyện cổ tích, truyện cười (bao gồm truyện
trạng), truyện ngụ ngôn và giai thoại
Ở Thái Bình, truyền thuyết là thể loại đã tồn tại v lưu truyền trong đời
sống văn hóa dân gian từ lâu đời Những tác phẩm truyền thuyết n y đều được sáng tạo dựa trên những sự kiện lịch sử liên quan đến những con người được sinh ra trên mảnh đất này hoặc đã từng sống, gắn bó và có công lao với mảnh đất, con người nơi đây, được bồi đắp bởi m t lớp hư cấu nghệ thuật nhằm gửi gắm tư tưởng thái đ của nhân dân, đồng thời giáo dục các thế hệ
sau Truyện Thần Lài kể về việc vợ chồng ông Vũ iền quê ở Ninh Bình làm
quan ở huyện Thần Khê, ông b ăn ở phúc đức nhưng mu n đường con cái Thần nước – hình ảnh là con giao long - thác sinh nhập thế giúp dân cầu mưa chống hạn, đánh đuổi giặc giã Sau kì thai nghén, người mẹ sinh hạ m t người con trai, từ nhỏ cậu bé đã có phép lạ đi đến đâu mưa gió kéo theo đến đó Sau khi đánh tan quân giặc, ch ng được vua ùng phong “Nại Tân ại Vương” như truyền thuyết còn lưu truyền ở l ng ô Kỳ
Trang 34Ức Duyên… hiện còn in dấu ấn trong hồi cố tư duy của nhân dân ưng Truyền thuyết về bà Quế Hoa ở đất Vũ Thư Ở ông ưng có ba chị em bà
o Thị Phúc ở trang Thượng Phán, Lương Thị Kiền, Lương Thị Tần ở trang Phúc ưng…
Mảng truyền thuyết viết về các nhân vật danh tiếng như truyện về Linh Nhân Lý Hoàng Hậu, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng Thái Hậu, Thái Sư Trần Thủ , Không L thiền sư…
Sự hình thành những vùng đất, những trang ấp, những việc đ o sông lập thổ, khai mở ru ng hoang… cũng được phản ánh trong truyền thuyết Nó phản ánh nét nổi bật trong cung cách l m ăn của con người nơi đây: lấy nông nghiệp là chính
Bên cạnh thể loại truyền thuyết với số lượng phong phú, kho tàng truyện
kể dân gian Thái Bình hiện còn lưu giữ m t số truyện cổ tích Theo sưu tầm
của nhà nghiên cứu Phạm ức Duật trong cuốn Văn học dân gian Thái Bình,
có 3 truyện cổ tích lưu truyền ở Thái Bình, đó l các truyện: Hai mươi năm
kiếp chim, Lý Minh – Lý Nguyệt, Viên ngọc thần kì Truyện Hai mươi năm kiếp chim phản ánh cu c đấu tranh giai cấp theo tư tưởng: chính nghĩa thắng
gian t ây cũng l n i dung thường thấy trong kho tàng cổ tích của người Việt nói chung Câu chuyện kể rằng: Ng y xưa, ở m t làng quê hẻo lánh, có hai vợ chồng lấy nhau đã hơn năm mươi năm m vẫn chưa có con M t hôm
bà lão ra ruông hái rau bỗng thấy m t con chim bay đến đậu vào nón Về nhà
bà mang thai, sau chín tháng mười ngày bà sinh ra m t quả trứng chim, quả
Trang 3529
trứng nở ra m t con chim sẻ bé xíu Vợ chồng già mừng rỡ, ngày ngày nâng niu, chăm sóc chú chim M t hôm nghe cha mẹ kể chuyện nhà vua lâm bệnh không ai chữa khỏi, chú chim lặng lẽ bay vào cung, sau nhiều lần đánh bại loài hải tinh – nguyên nhân khiến nhà vua lâm bệnh, chú chim lại dùng mưu
kế đánh đuổi giặc ngoại xâm Lập công lớn, chim sẻ được nhà vua gả công chúa Quỳnh ương như đã hứa Trong lễ thành hôn, chú chim biến thành chàng trai tuấn tú, sánh duyên cùng công chúa kiều diễm trước sự vui mừng, hoan hỉ của nhà vua và quần thần Khi trở lại quê nh đón cha mẹ thì ông bà
đã không bệnh mà cùng mất, vợ chồng công chúa khóc lóc thảm thiết rồi lo hậu sự vẹn tròn cho cha mẹ, sau đó xin vua lập miếu thờ song thân
Ở truyện Hai mươi năm kiếp chim, motif người đ i lốt vật là motif
chính, quán xuyến toàn b cốt truyện ình tượng trung tâm là chú chim sẻ có nhiều t i năng - con của đôi vợ chồng già hiếm mu n, vốn là thần tiên trên thiên đình, do đánh vỡ chén ngọc nên bị đ y xuống trần gian chịu kiếp chim Sau hai mươi năm đ i lốt chim, nhân vật trút xác th nh người với vẻ đẹp hài hòa, toàn diện cả về t i năng, phẩm chất và ngoại hình Cu c chiến đấu của
ch ng trai dưới lốt chim sẻ là cu c chiến đấu đại diện cho chính nghĩa chống lại những thế lực gian tà: loài hải tinh hại vua v quân xâm lược phi nghĩa Chiến thắng của ch ng như l m t tất yếu trong quan niệm của nhân dân theo định đề: chính nghĩa thắng gian tà
Truyện Lý Minh, Lý Nguyệt kể về cu c chiến đấu của hai cô gái xinh
đẹp, nết na với lo i yêu tinh đ c ác, xảo trá đề giữ hạnh phúc bên nhà vua
Truyện Viên ngọc thần kì mượn lời của loài vật để thể hiện tinh thần phản
phong mạnh mẽ, tinh thần đấu tranh chống lại giai cấp thống trị gian tham… đều là những truyện cổ tích được nhân dân Thái Bình lưu giữ và truyền lại cho đến ngày nay
Trang 3630
Truyện cười là m t thể loại nằm trong di sản truyện kể dân gian Thái
Bình với số lượng không nhiều (19 truyện) Trong đó, chúng tôi coi truyện trạng là m t b phận của truyện cười Do truyện trạng là những xâu chuỗi nhiều mẩu chuyện nhỏ về m t nhân vật, dùng tiếng cười để làm vui nh n thêm đời sống trong lao đ ng, thông qua tiếng cười, truyện trạng nhằm lên án,
đả kích, chống áp bức, bất công Trong số những truyện cười ở Thái Bình mà chúng tôi thống kê được qua các tài liệu của m t số nhà nghiên cứu văn học dân gian Thái Bình, có 2 dạng truyện cười: dạng truyện cười là những mẩu truyện riêng lẻ, có dung lượng ngắn (khoảng trên dưới m t trang), đây l các
truyện chủ yếu mang n i dung thô tục như các truyện: Xin tí lửa, Ra mà ăn
kẹo, Thụt mất rồi, Của nhà đây, Thủng bụng rồi Tiếng cười bật ra từ chính sự
thô tục rất bình dân, mang ý nghĩa mua vui thuần túy Bên cạnh đó, những
truyện như: Thi nói khoác, Chưa chắc, Đối nôm cũng đem lại tiếng cười từ sự
h i hước pha lẫn trí tuệ thông minh của dân gian
Ngụ ngôn và giai thoại cũng tồn tại trong kho tàng truyện kể dân gian
Thái Bình nhưng số lượng ít
Nhận xét chung:
Qua những khảo sát, nghiên cứu tổng quát, sơ b , chúng tôi nhận thấy rằng các truyện kể dân gian Thái Bình đã phản ánh đậm nét và vô cùng phong phú hầu hết mọi mặt trong đời sống xã h i cũng như con người qua tiến trình lịch sử ó l những cu c đấu tranh của con người trên mảnh đất Thái Bình chống giặc ngoại xâm, chống chọi với thiên tai, xây dựng và gìn giữ phong tục, tập quán, cu c đấu tranh không khoan nhượng chống những thế lực phong kiến, với những cái xấu, cái ác tồn tại trong xã h i… Với những đặc điểm đó, truyện kể dân gian Thái Bình vừa mang những nét phổ biến của truyện kể dân gian Việt Nam, vừa mang những nét riêng biệt của địa phương
Trang 3731
- Các truyền thuyết lịch sử tập trung ca ngợi những vị anh hùng có công đánh giặc, thành lập, xây dựng và bảo vệ quốc gia Những nhân vật truyền thuyết n y đều mang m t đặc điểm nổi bật đó l : có tấm lòng trung quân, ái quốc, yêu dân, trọng dân
- Khi giai cấp phong kiến suy tàn, cu c sống của nhân dân lầm than, cơ cực, truyện kể dân gian Thái Bình không nằm ngo i xu hướng chung của truyện kể dân gian trong cả nước, đó l đấu tranh chống lại chế đ phong kiến thối nát, suy vong, bênh vực, đứng về phía nhân dân, khẳng định vai trò của nhân dân, thể hiện tư tưởng trọng dân
- Hình ảnh đất nước h o hùng v người dân dũng cảm, bất khuất là hình ảnh quán xuyến trong hầu hết các truyện kể dân gian thu c dòng tự sự lịch sử sưu tầm được ở Thái Bình iều đó chứng tỏ lòng yêu nước và tinh thần dân t c, ý thức trách nhiệm đối với đất nước của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Thái Bình nói riêng đã sớm phát triển, kết thành m t truyền thống lâu đời, có bề dày lịch sử
- Bên cạnh những nét chung phổ biến, tương đồng với đặc điểm truyện kể dân gian cả nước, truyện kể dân gian Thái Bình vẫn mang những nét đ c đáo riêng biệt của vùng đất v con người nơi đây, khó pha lẫn với những truyện kể dân gian có sắc thái địa phương khác
Trong quá trình khảo sát các truyện kể dân gian Thái Bình, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết là thể loại phong phú hơn cả về số lượng cũng như
n i dung phản ánh ây cũng l thể loại truyện kể dân gian có giá trị nổi bật
cả về n i dung và nghệ thuật trong kho tàng truyện kể dân gian Thái Bình Vì vậy, sau những khảo sát tổng quát về truyện kể dân gian Thái Bình, chúng tôi
đi sâu nghiên cứu những đặc điểm về n i dung và nghệ thuật của truyền thuyết dân gian Thái Bình
Trang 3832
2.2 Truyền thuyết dân gian Thái Bình
2.2.1 Tiêu chí xác định văn bản truyền thuyết dân gian Thái Bình
Những văn bản được chúng tôi tập hợp khảo sát, nghiên cứu là những văn bản đảm bảo các tiêu chí sau:
- Văn bản đó l những truyện kể dân gian (có cốt truyện, nhân vật, tình tiết, ngôn ngữ kể chuyện) lưu truyền trên mảnh đất Thái Bình, được nhân dân Thái Bình lưu giữ và truyền tụng
- Văn bản đó phải mang đậm chất dân gian, được quần chúng công nhận, tồn tại trong đời sống dân gian, thể hiện tâm tư, nguyện vọng v quan điểm đánh giá của nhân dân
- Văn bản đó phải gắn liền với m t chứng tích văn hóa – lịch sử (lăng
m , đền, chùa, lễ h i, địa danh…) trên mảnh đất Thái Bình
2.2.2 Đặc điểm nội dung truyền thuyết dân gian Thái Bình
Khảo sát và nghiên cứu di sản truyền thuyết dân gian Thái Bình, chúng tôi nhận thấy đây l m t thể loại phong phú về số lượng Có khoảng trên dưới
150 truyện (những truyện đã được sưu tầm, chưa kể những truyện lưu truyền trong nhân dân chưa được sưu tầm) Trong đó các truyền thuyết dân gian Thái Bình được sáng tác theo các đề tài chủ yếu sau:
- Chùm truyền thuyết về các anh hùng chống giặc ngoại xâm
- Chùm truyền thuyết về các nữ thần là tấm gương đạo đức, các thần có công mở đất, các tổ nghề, các danh nhân
- Chùm truyền thuyết về các địa danh
- Chùm truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng
2.2.2.1 Chùm truyền thuyết về các anh hùng chống giặc ngoại xâm Nhận xét
Chùm truyền thuyết về các vị thần là anh hùng chống giặc ngoại xâm
trên mảnh đất Thái Bình là những truyện kể được sưu tầm trong hai cuốn: Nữ
Trang 39Các truyện kể này có kết cấu riêng lẻ Hầu hết mỗi truyện đều kể trọn vẹn về cu c đời và công lao của m t vị anh hùng
Là những truyện kể dân gian nên chùm truyền thuyết về các anh hùng chồng ngoại xâm ở Thái Bình có những dị bản khác nhau khi kể về m t số vị anh hùng
- Truyền thuyết về Mỹ Hy công chúa có 02 bản kể: trong hai cuốn
Nữ thần và Thánh mẫu Thái Bình và Văn học dân gian Thái Bình Hai bản kể
n y đều kể về hai anh em bà Mỹ Hy với tư chất thông minh, tài giỏi, căm thù giặc án, l m tướng dưới quyền ai B Trưng, giúp Vua B đánh giặc Hán Nhưng ở hai bản kể có khác nhau m t số chi tiết sau:
+ Bản kể trong cuốn Nữ thần và Thánh mẫu Thái Bình kể rằng dưới thời
thu c Hán, tại trang ương ường (nay thu c xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư)
có người họ ỗ tên ùng văn t i võ giỏi thông tuệ khác thường, làm nghề dạy học và cắt thuốc Ông đến trang Tịnh Thủy (xã Hồng Minh, huyện ưng )
mở trường dạy học Sau đó ông kết duyên với bà Lê Thị Sinh, được hai người con, anh là Kim Xa, em gái là Mỹ y cùng có t i văn võ song to n Nghe tin
Mỹ y xinh đẹp, tài giỏi, thái thú Tô ịnh ép ỗ Công phải gả Mỹ Hy làm tì thiếp cho hắn ỗ Công từ chối nên bị giết hại Hai anh em Kim Xa, Mỹ Hy căm giận quân giặc liền cùng học trò của cha m thêm quân kéo về Mê Linh hưởng ứng cu c khởi nghĩa của hai b Trưng
+ Bản kể trong cuốn Văn học dân gian Thái Bình thì kể rằng: Dưới thời
thu c Hán, ở trang ương ường (Việt Hùng, Vũ Thư) có gia đình họ ỗ nối
Trang 4034
đời tu nhân tích đức, sống bằng nghề cắt thuốc và dạy học Ở trang ương ường ít lâu, ỗ Công chuyển cả gia đình về Tịnh Xuyên Ông bỏ nghề bán thuốc, chuyên dạy học ỗ ông có hai người con M t trai tên là Kim Xa,
m t gái tên là Mỹ Hy Cả hai anh em đều thông minh, tài giỏi ăm thù giặc Hán hung dữ, hai anh em ng y đêm tập luyện võ nghệ để đền nợ nước Khi nghe tin ai B Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, họ liền theo về
- Truyền thuyết về bà Ngọc Nương có 02 bản kể: Ngọc Nương
thánh mẫu và Hoàng Hùng đại vương và Ngọc Nương công chúa Hai bản kể
n y đều kể về vợ chồng bà Ngọc Nương v ông ùng uang l hai vị tướng tham gia chống giặc án dưới sự chỉ huy của ai B Trưng Nhưng ở hai bản
kể có m t số chi tiết khác nhau:
+ Bản kể Ngọc Nương thánh mẫu (Nữ thần và Thánh mẫu Thái Bình) kể
ra đời ứng với giấc m ng của người mẹ: có người mang cho mâm ngọc, người
mẹ bèn nhặt m t viên bỏ vào miệng, rồi bà mang thai, sinh ra Ngọc Nương Ngọc Nương lớn lên tài sắc tuyệt vời, thái thú Tô ịnh đòi lấy làm vợ Bị khước từ, Tô ịnh giết song thân của bà, bản thân bà trốn thoát ăm giận kẻ thù, bà chiêu m trai gái trong làng về ứng nghĩa cu c khởi nghĩa của Hai Bà Trưng o n người đến bến sông, không có đò sang, được Hùng Công giúp
đỡ