Trong chương trình Ngữ Văn THPT và THCS kể cảsách giáo khoa cũ và mới có một số truyện thuộc thể loại truyền thuyết và cổ tích được đưa vào giảng dạy, trong đó có những truyện kể về địa
Trang 1Mục lục
Phần I: Mở đầu.
1 Lý do chọn đề tài……….… 1
2 Nhiệm vụ nghiên cứu……….… 2
3 Phạm vi nghiên cứu……….… 2
4 Phương pháp nghiên cứu……….… 3
5 Lịch sử vấn đề……….…… 3
6 Cấu trúc của khóa luận……….…… 6
Phần II: Nội dung Chương I: Những vấn đề chung. 1 Giới thuyết một số khái niệm 1.1 Truyện kể về địa danh……… 7
1.2 Khái niệm truyền thuyết……… 9
1.3 Khái niệm truyện cổ tích……… 12
2 Thống kê, phân loại truyện kể về địa danh 2.1 Thống kê truyện kể về địa danh……… ….….14
2.2 Phân loại……… 16
Chương II: Sự tương đồng trong truyện kể về địa danh giữa hai thể loại truyền thuyết và cổ tích. 1 Tiêu đề(tên gọi)……….….…….19
2 Cốt truyện……… ….….21
3 Nhân vật……….….……26
4 Thời gian nghệ thuật……… …….29
5 Không gian nghệ thuật……….… …31
Chương III: Sự khác biệt trong truyện kể về địa danh giữa hai thể loại truyền thuyết và cổ tích. 1 Cốt truyện……… ….36
2 Nhân vật……… 44
3 Thời gian nghệ thuật……… ….50
4 Không gian nghệ thuật………55
Phần III: Kết luận……….… 64
Tài liệu tham khảo……….…….67
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam có một bộ phận
truyện kể về địa danh Bộ phận này chiếm một số lượng đáng kể nhưnglại chưa được các nhà nghiên cứu thực sự quan tâm Để hiểu được thếnào là truyện kể về địa danh và những đặc điểm nổi bật của bộ phậntruyện này thì theo chúng tôi phải đi vào nghiên cứu các “văn bản”truyện cụ thể Tất nhiên, chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu những truyện đãđược sưu tầm, công bố trong các tài liệu chứ không thể nghiên cứu tất cảnhững truyện lưu hành , trôi nổi trong dân gian Mặt khác, chúng tôicũng chỉ tập trung nghiên cứu những truyện kể về địa danh thuộc hai thểloại truyền thuyết và cổ tích - hai thể loại chứa hầu hết bộ phận truyện kểnày
1.2 Việc sắp xếp các truyện kể về địa danh vào thể loại nào đang làmột vấn đề gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu Hầu hết bộ phậntruyện này đều thuộc về truyền thuyết và cổ tích, thế nhưng, ở một sốtruyện, ranh giới giữa truyền thuyết và cổ tích vẫn chưa có sự phân định
rạch ròi, chưa có sự thống nhất về mặt thể loại Chẳng hạn như Sự tích
hồ Gươm: Nguyễn Đổng Chi xếp vào truyện cổ tích (Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam,Viện văn học,1993), còn Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Xuân
Đức…lại xếp nó vào thể loại truyền thuyết…; hay như Sự tích đầm Nhất
Dạ và bãi Tự Nhiên (còn gọi là Truyện Nhất Dạ Trạch): Nguyễn Đổng
Chi, Hoàng Tiến Tựu…xếp nó vào truyện cổ tích; còn Kiều Thu Hoạch
trong bài Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến lại xếp nó vào
thể loại truyền thuyết…Vậy, các truyện đó thực chất thuộc thể loại nào?Đây là câu hỏi đang được nhiều người quan tâm
Trang 31.3 Hiện nay, ở nước ta, việc nghiên cứu văn bản văn học từ góc độ
thi pháp thể loại là một xu hướng phổ biến và mang lại hiệu quả đối với
cả văn học dân gian và văn học viết
Việc So sánh đặc điểm của truyện kể về địa danh giữa hai thể
loại truyền thuyết và cổ tích cũng được chúng tôi tiến hành theo xu
hướng chung đó Trong chương trình Ngữ Văn THPT và THCS (kể cảsách giáo khoa cũ và mới) có một số truyện thuộc thể loại truyền thuyết
và cổ tích được đưa vào giảng dạy, trong đó có những truyện kể về địa
danh như: Sự tích hồ Gươm, Sự tích núi Vọng Phu…Dạy văn nói chung
và dạy văn học dân gian nói riêng phải bám sát vào đặc trưng thể loại
Do đó, vấn đề mà chúng tôi đặt ra và giải quyết ở đây sẽ có ý nghĩa thiếtthực đối với giáo viên và học sinh khi tiếp cận các tác phẩm này sao choviệc giảng dạy vừa đạt hiệu quả cao vừa bám sát đặc trưng thể loại
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
So sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa truyện kể vềđịa danh thuộc thể loại truyền thuyết và truyện kể về địa danh thuộc thểloại cổ tích
Lý giải nguyên nhân tại sao giữa chúng lại có sự tương đồng vàkhác biệt đó?
Từ đó, chúng ta sẽ thấy được đặc trưng thi pháp của hai thể loạitruyền thuyết và cổ tích thông qua bộ phận truyện kể về địa danh
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi là So sánh đặc điểm của truyện kể về địa
danh giữa hai thể loại truyền thuyết và cổ tích vậy nên, chúng tôi sẽ
nghiên cứu những truyện mà tiêu đề của nó gắn với những địa danh cụthể, hầu hết chúng đều xuất hiện dưới dạng các sự tích
Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng để giải quyết vấn đề bao gồm:
Trang 43.1 Tuyển tập văn học dân gian, tập 1: Thần thoại và truyền thuyết,
Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2001
3.2 Sáng tác dân gian về Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều tác giả,
sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa xuất bản, 1985
3.3 Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Nguyễn Đổng Chi, Viện
văn học, 1993
3.4 Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6: Truyện cổ tích thần kì,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004
3.5 Tuyển tập văn học dân gian, tập 2, quyển 1: Truyện cổ tích, Nhà
xuất bản giáo dục, 2001
Trong đó chúng tôi chỉ tìm hiểu trong phạm vi truyện kể dân giancủa người Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
Do mục đích của đề tài và đối tượng nghiên cứu như đã trình bày ởtrên, chúng tôi vận dụng các phương pháp: thống kê, phân loại, so sánh(chủ yếu là so sánh loại hình, so sánh lịch sử) và phân tích - tổng hợp Trong đó: thống kê, phân loại sẽ giúp ta có cái nhìn bao quát và hệthống về bộ phận truyện kể về địa danh trong hai thế loại truyền thuyết
và cổ tích
So sánh nhằm làm nổi bật sự tương đồng và khác biệt của bộ phậntruyện này giữa truyền thuyết và cổ tích
Còn phân tích - tổng hợp sẽ làm sáng rõ các luận điểm bằng các lý
lẽ và dẫn chứng minh họa và khái quát, nâng cao vấn đề
5 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay chưa có một công trình nào thực sự đi vào nghiên cứu
bộ phận truyện kể về địa danh, càng chưa có công trình nào tìm hiểu, so sánh
bộ phận truyện kể về địa danh giữa hai thể loại truyền thuyết và cổ tích
Trang 5Trong các tài liệu như: giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của
nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Nhà
xuất bản Giáo dục 2005 (trang 300; 313); Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996 (trang 76, 77); Tìm
hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đỉnh, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, 1974 (trang 45; 61); Thi pháp văn học dân gian của
Lê Trường Phát, Nhà xuất bản Giáo dục 2001 (bài 2, bài 3)… có nhắc đếntruyện kể về địa danh trong mỗi thể loại truyền thuyết và cổ tích như làmột sự điểm xuyết cho từng thể loại chứ chưa thành mục, thành phần cụthể, cũng chưa có sự so sánh bộ phận truyện này giữa các thể loại
Trên các tạp chí cũng đã có một số bài viết liên quan đến vấn đề
này Đó là bài Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân
gian của Chu Xuân Diên, Tạp chí văn học 1997, số 2, trang 22, đặt tiền
đề lý thuyết cho các công trình nghiên cứu về sau Đó là bài của Đinh
Gia Khánh: Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số truyện
cổ tích, Tạp chí nghiên cứu văn học, 1962, số 3 trang 17; bài của Trần
Quốc Vượng: Từ việc nghiên cứu một số tên riêng trong các truyền
thuyết nói về thời kỳ dựng nước, Tạp chí văn học 1969, số 2 trang 63; bài
của Dương Tất Từ: Qua lời kể dân gian, tìm hiểu thêm ý nghĩa một số
tên làng, tên đất và phong tục xung quanh truyền thuyết An Dương Vương, Tạp chí văn học 1969, số 8, trang 50; bài của Nguyễn Bích Hà: Bước đầu tìm hiểu truyện kể địa danh Việt Nam, Tạp chí văn học 1984,
số 2 trang 59; bài của Nguyễn Duy Hinh: Vấn đề Từ Thức, Tạp chí văn học 1986, số 5, trang 102 Đó là bài của Hồ Ngọc Hùng: Về nhóm truyền
thuyết khẩn hoang ở một số vùng đất mới, Tạp chí văn học 1998, số 4,
trang 71; bài của Thái Hoàng: Truyền thuyết dân gian và địa danh, Tạp
chí văn học 1999, số 9, trang 41
Trang 6Các bài nghiên cứu này mới chỉ tìm hiểu vấn đề truyện kể về địadanh trong từng thể loại và trong từng nhóm truyện một cách riêng lẻ chứchưa đưa ra một bức tranh chung về bộ phận truyện kể này từ góc nhìn sosánh.
Riêng bài của tác giả Nguyễn Bích Hà: Bước đầu tìm hiểu truyện
kể địa danh Việt Nam đã đề cập đến khá nhiều truyện kể về địa danh Tác
giả đã chia nhóm các truyện kể này thành những truyện giải thích tên gọi
núi, sông, hồ, đầm… và của những xóm làng thành phố Chẳng hạn như
“Sự tích núi Voi”,“Sự tích hồ Tây”,“Sự tích đá Vọng Phu”…và một số truyện khác không nhằm giải thích tên gọi mà lại chú ý giải thích sự hình thành hay biến đổi của các địa danh: “Sự tích sông Tô Lịch và Thiên
Phù”,“Sự tích đồi Đùm và đồi Vai”,“Sự tích hồ Ba Bể” [8; 59] Tác giả
mới chỉ bước đầu tìm hiểu về truyện kể địa danh chứ chưa quy nó về thểloại cụ thể để so sánh chúng dưới góc độ thi pháp Mặc dù, Nguyễn Bích
Hà đã chỉ ra rằng: một bộ phận truyện kể địa danh đi sâu mãi vào những
vấn đề có liên quan đến lịch sử địa danh, ổn định dạng truyện kể địa
danh đích thực và một bộ phận khác kết nạp thêm những chi tiết có tính
chất sinh hoạt xã hội, minh họa cho một bài học nhân sinh nào đó (lòng
từ thiện, lòng chung thủy) khiến cho yếu tố địa danh nhạt dần, trở thành yếu tố không căn bản trong cốt truyện [8; 60] nhưng tác giả lại chưa đưa
nó về hai thể loại cụ thể là truyền thuyết và cổ tích để so sánh
Gần đây, một cuốn sách trong bộ Kể chuyện lịch sử Việt Nam do Nguyễn Bích Ngọc chủ biên, có tên Bình Định Vương, nhà xuất bản Văn
hóa – Thông tin 2008, cũng đã tìm hiểu về các địa danh gắn với cuộc khởinghĩa Lam Sơn Tác giả đã sưu tầm đuợc 10 câu chuyện gắn với tên làng:làng Nhân; Hữu Lễ - Bái Thượng - Bái Đô; làng Tiên Nông; làng Hương;làng Trò; làng Năng Cát; chòm Thiu, chòm Đỏ; thôn Chí Cẩn - Đoán
Trang 7Quyết; làng Bà; làng Bất Căng Ngoài ra, cuốn sách còn nhắc đến 13 địadanh khác: mả Ngô, thác Ma Ngao, Ngàn Tiên, cánh đồng Mẫu Hậu, đềnQuốc Mẫu, núi Dầu, Thung Voi, giếng Hộ Quốc, bản Sắt, hòn Đá Khao,Vực Sống, Vực Bỏ trên sông Cầu Chày, núi Mục, hang Ta Lới Tuynhiên, đây chỉ là những câu chuyện ngắn gọn kể về các địa danh chứkhông phải là sự đi sâu nghiên cứu đặc điểm của các truyện kể về địadanh Mặt khác những câu chuyện này chỉ là một bộ phận trong số các dã
sử về khởi nghĩa Lam Sơn mà tác giả sưu tầm trong công trình nghiêncứu này, chứ không phải hoàn toàn tập trung vào truyện kể địa danh Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu từ trước đến nay mới chỉdừng lại ở việc sưu tầm, nghiên cứu truyện kể địa danh trong từng thểloại mà chưa thực sự có công trình nào đi vào so sánh bộ phận truyện nàygiữa các thể loại với nhau
Từ thực tế đó, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu đã có, với cáinhìn tổng hợp, so sánh, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài cho khóa luận của
mình là: So sánh đặc điểm của truyện kể về địa danh giữa hai thể loại
truyền thuyết và cổ tích
Với đề tài này, chúng tôi muốn góp phần thiết thực vào việc tiếpcận các truyện kể về địa danh từ góc độ thi pháp thể loại, đặc biệt là đốivới những truyện còn có sự giao thoa, nhập nhằng về thể loại
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dungkhóa luận được triển khai trong ba chương:
Chương I : Những vấn đề chung
Chương II: Sự tương đồng trong truyện kể về địa danh giữa hai thểloại truyền thuyết và cổ tích
Trang 8Chương III: Sự khác biệt trong truyện kể về địa danh giữa hai thểloại truyền thuyết và cổ tích.
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Giới thuyết một số khái niệm
Để tạo tiền đề về mặt lý thuyết cho việc so sánh đặc điểm củatruyện kể về địa danh trong hai thể loại truyền thuyết và cổ tích, chúng tôi
sẽ đi vào giới thuyết một số khái niệm có liên quan trực tiếp đến đề tài
1.1 Truyện kể về địa danh
“Địa danh” nếu chiết tự theo nghĩa Hán Việt thì “địa” có nghĩa là
“đất”; “danh” có nghĩa là “tên” Vậy “địa danh” là “ tên đất”
Còn theo “Từ điển tiếng Việt căn bản”, thì “địa danh” có nghĩa là
“tên vùng, miền, địa phương” [19; 240]
Tuy nhiên , theo chúng tôi, “địa danh” ở đây không bó hẹp trongnhững tên đất chung chung mà nó có thể là tên đất, tên núi, tên làng, tênsông cụ thể ở các vùng, miền, các địa phương khác nhau
“Truyện kể” ở đây là những truyện kể dân gian tức là những truyện
do nhân dân lao động sáng tạo ra, lưu truyền trong dân gian và có nhiều
Trang 9làng (như làng Đong, làng Cẩm Bào…), tên núi (như núi Mục, núi Đèn,núi Dầu, núi Ngũ Hành…), tên sông, hồ, ao, đầm (như hồ Gươm, hồ Ba
Bể, sông Cầu Chày, đầm Mực, sông Tô Lịch…), tên đất (như cánh đồng
ao Voi, cánh đồng Mẫu Hậu, thành Lồi, thành Cổ Loa, thành Lục Niên…) Nguyễn Bích Hà, trong một bài viết cũng đã giới thiệu về bộ phận
truyện kể về địa danh như sau: Trên mọi miền đất nước, đi đến đâu ta
cũng được nghe kể chuyện về sông kia, núi nọ, đất này Song nếu chú ý thì sẽ thấy không phải sông, núi, làng xóm nào cũng có truyện kể về nó
và không phải ngẫu nhiên những con sông lớn, những trái núi cao hoặc những con sông, trái núi có ảnh hưởng lớn đến đời sống cư dân một vùng, một miền, bao giờ cũng đựợc giải thích bằng truyện kể [8; 59].
Còn giáo sư Nguyễn Đổng Chi thì viết : Đặc biệt ở Việt Nam gần như
mỗi thắng cảnh, mỗi một đền thờ địa phương đều có gắn liền với một hoặc nhiều truyền thuyết, cổ tích Những sáng tác dân gian đó, bên cạnh nội dung chủ yếu là những sự tích anh hùng hoặc những sự nghiệp lớn lao kỳ vĩ của dân chúng địa phương, còn có giá trị là những “bài thơ” rất đẹp, những “tấm bia” nghệ thuật trong đó ghi chép, ca ngợi, làm thi
vị thêm cảnh trí thiên nhiên đất nước của từng vùng [2; 92].
Qua sự thống kê (sẽ trình bày ở mục sau), chúng tôi thấy rằng hầu hếtcác truyện kể về địa danh đều tồn tại dưới dạng các sự tích theo công
thức: Sự tích + địa danh: Sự tích hồ Gươm, Sự tích hồ Ba Bể, Sự tích núi
Đèn, Sự tích thành Cổ Loa… Tuy nhiên , nói như thế không có nghĩa là
những truyện có tiêu đề mở đầu bằng chữ “sự tích” đều là truyện kể vềđịa danh Thực tế, có rất nhiều truyện là “sự tích” nhưng không phải là
truyện kể về địa danh như: Sự tích trầu cau, Sự tích chim đa đa, Sự tích
con muỗi, Sự tích dưa hấu…Mặt khác, chúng tôi cũng không đồng nhất,
hay nói cách khác là chúng tôi phân biệt rõ khái niệm truyện kể về địa
Trang 10danh với những truyện có yếu tố địa danh xuất hiện Có một số truyện có
sự xuất hiện của yếu tố địa danh nhưng đó không phải là truyện kể về địa
danh Chẳng hạn trong truyện Thánh Gióng có sự xuất hiện của những
địa danh như làng Phù Đổng, núi Sóc Sơn…; trong truyện kể về BàTrưng có vùng Mê Linh… Những yếu tố địa danh đó chỉ đóng vai trò làkhông gian nghệ thuật - nơi nhân vật đã từng tồn tại hoặc đã có sự kiện
gì diễn ra ở đó… chứ không nhằm mục đích giải thích tên gọi, nguồn gốc,đặc điểm của địa danh hay thông qua địa danh để gửi gắm một vấn đề xãhội nào đó
Đối với những truyện như An Dương Vương thì nếu nó xuất hiện với tên gọi An Dương Vương hoặc Mị Châu, Trọng Thủy thì đó không phải là truyện kể về địa danh Còn nếu nó xuất hiện với tên gọi Sự tích
thành Cổ Loa thì nó được coi là truyện kể về địa danh Tương tự, truyện Chử Đồng Tử không phải là truyện kể về địa danh nhưng với cái tên Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên hay Truyện Nhất Dạ Trạch thì nó lại
là truyện kể về địa danh…
Như vậy, tiêu đề của truyện kể là tiêu chí đầu tiên để nhận diện bộphận truyện kể về địa danh trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam Như chúng tôi đã đề cập ở mục “lý do chọn đề tài” thì hiện nay,vấn đề phân loại truyện kể dân gian đang gây nhiều tranh cãi trong giớinghiên cứu, bộ phận truyện kể về địa danh cũng chịu chung số phận Để
có thể sắp xếp đúng thể loại thì theo chúng tôi cần phải bám sát vào cáckhái niệm “truyền thuyết” và “cổ tích”
1.2 Khái niệm truyền thuyết
Từ khi truyền thuyết được tách ra thành một thể loại văn học dângian đến nay, đã có nhiều định nghĩa về truyền thuyết của các tác giả như:Nguyễn Đổng Chi, Phan Trần, Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch, Lê Chí
Trang 11Quế, Phạm Văn Đồng, Hoàng Tiến Tựu…Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉđiểm qua một số định nghĩa tiêu biểu để thấy được xu hướng phát triểntrong việc nghiên cứu thể loại này.
Giáo sư Nguyễn Đổng Chi định nghĩa: Truyền thuyết thường dùng
để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử còn được quần chúng truyền lại nhưng không đảm bảo về mặt chính xác (có thể do truyền rộng
mà sai lạc, cũng có thể do sự tưởng tượng của quần chúng phụ họa mà càng sai lạc hơn) và truyền thuyết phần nhiều chưa được xây dựng thành truyện Nó mới chỉ là những mẩu chuyện, nếu nó phát triển tới mức hoàn chỉnh thì tùy nội dung nó có thể trở thành cổ tích hay thần thoại [2; 12].
Như vậy, theo tác giả thì có khái niệm truyền thuyết nhưng bản thân tácgiả lại chưa công nhận đặc trưng thể loại của nó Do vậy, khi khảo sát tácphẩm, chúng tôi nhận thấy ông đã sắp xếp các truyện lẽ ra là truyền
thuyết vào tiểu loại cổ tích lịch sử như Sự tích hồ Gươm, Sự tích thành
Lồi…
Năm 1969, trên báo Nhân dân, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã
đưa ra ý kiến về truyền thuyết: Những truyền thuyết dân gian thường có
một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích Quan niệm của
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá đúng vị trị của truyền thuyếttrong nền văn học dân gian Điều quan trọng là ông đã chỉ ra được tínhchất kết hợp giữa văn nghệ và lịch sử, hiện thực và lý tưởng trong thểloại đó.Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa khu biệt được thể loại truyềnthuyết với các thể loại truyện cổ dân gian khác về mặt chức năng
Trang 12Trong bài viết: Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến,
tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh
về truyền thuyết như sau: Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền
miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó là
kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân; biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại; đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo thần kỳ như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng [18; 139] Chúng tôi chọn định nghĩa này
làm nền để giải quyết vấn đề vì nó đã chỉ ra được đặc trưng thể loại củatruyền thuyết cả về nội dung, phương thức, phạm vi phản ánh và chứcnăng xã hội
Vậy, truyện kể về địa danh có vị trí như thế nào trong truyền thuyết ?
Có nhiều tiêu chí để phân chia tiểu loại truyền thuyết Trong đónhiều tác giả đều thống nhất chia bộ phận truyện kể về địa danh thành
một tiểu loại Trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của Trần
Hoàng, Đại học Huế, năm 2002, dựa vào tiêu chí chủ đề và nhân vật, tácgiả chia truyền thuyết thành các tiểu loại: truyền thuyết về các anh hùngchống xâm lược; truyền thuyết về các anh hùng chống phong kiến; truyềnthuyết về các danh nhân văn hóa; và truyền thuyết về các địa danh vàphong tục
Tuyển tập văn học dân gian, tập 1: Thần thoại và truyền thuyết, Nhà
xuất bản Giáo dục, năm 2001, chia truyền thuyết thành: truyền thuyết về
Trang 13sự hình thành dân tộc; truyền thuyết về các vị anh hùng trong chiến đấu;truyền thuyết về những vị anh hùng trong lao động và sáng tạo văn hóa;truyền thuyết về địa danh và đền chùa.
Còn Đỗ Bình Trị đưa ra cách phân loại truyền thuyết thành: truyềnthuyết địa danh; truyền thuyết phổ hệ; truyền thuyết về nhân vật và sựkiện lịch sử
Theo chúng tôi, việc phân truyện kể về địa danh thành một tiểu loạicủa truyền thuyết là thỏa đáng vì nó đánh giá đúng vai trò của bộ phậntruyện kể này trong truyền thuyết
1.3 Khái niệm truyện cổ tích
Truyện cổ tích là một thể loại sáng tác dân gian vô cùng phong phú
về số lượng, đa dạng, phức tạp về nội dung và có một lịch sử phát triểndài lâu, do đó khái niệm về truyện cổ tích vẫn còn có nhiều ý kiến:
Theo Nguyễn Đổng Chi: Truyện cổ tích là truyện được xây dựng
nên bằng trí tưởng tượng nghệ thuật , đặc biệt là những điều tưởng tượng
về thế giới thần kỳ , những câu chuyện không có quan hệ với những điều kiện của đời sống thực làm thỏa mãn người nghe thuộc mọi tầng lớp xã hội ngay cả dù cho họ tin hay không tin vào những điều được nghe kể
[22; 32] Định nghĩa này mới chỉ nói lên được biện pháp nghệ thuật chứchưa làm nổi bật đặc trưng về nội dung, chức năng của truyện cổ tích
Vì vậy, chúng tôi chọn định nghĩa sau của Hoàng Tiến Tựu:
Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kỳ cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hình thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội; nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân đặc biệt là những xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình và xã hội Nó dùng một thứ tưởng tượng và
Trang 14hư cấu riêng (có thể gọi là tưởng tượng và hư cấu cổ tích) kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đăc thù khác để phản ánh đời sống và mơ ước của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kỳ hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp [28; 63].
Có thể khái quát định nghĩa truyện cổ tích bằng công thức sau:
Xung đột gia đình - xã hội + hư cấu
Truyện cổ tích ………
Xã hội có giai cấp
Hiện nay, các nhà cổ tích học đều thống nhất chia thể loại truyện cổtích thành ba tiểu loại: truyện cổ tích thần kỳ; truyện cổ tích sinh hoạt vàtruyện cổ tích loài vật
Qua việc khảo sát, chúng tôi thấy bộ phận truyện kể về địa danh trongtruyện cổ tích đều nằm trong hai tiểu loại: cổ tích thần kỳ và cổ tích sinh hoạt
1.3.1.Truyện cổ tích thần kỳ
Đây là tiểu loại tiêu biểu nhất cho thể loại truyện cổ tích, bao gồmnhững truyện hướng về đời sống xã hội, lấy con người (chủ yếu là ngườilao động, nghèo khổ, lương thiện) làm nhân vật trung tâm; các nhân vật
và yếu tố thần kỳ góp phần giải quyết bế tắc của cốt truyện Nhờ sự canthiệp đó mà truyện cổ tích thần kỳ bao giờ cũng kết thúc theo hướng cóhậu, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng, cái ác bao giờ cũng bị trừng trị
Nói như Nivicôva trong cuốn Sáng tác thơ ca dân gian: trong cổ tích
thần kỳ thì thần kỳ là nền tảng, mọi xung đột được giải quyết trong địa hạt của cái thần kỳ [6; 30].
1.3.2 Truyện cổ tích sinh hoạt
Bao gồm những truyện nói về những nhân vật là con người, không
có yếu tố thần kỳ hoặc nếu có thì các yếu tố đó không có vai trò quan
Trang 15trọng trong sự phát triển tình tiết và giải quyết xung đột của truyện, do đócác truyện cổ tích sinh hoạt thường kết thúc theo hướng bi kịch đau khổ(tức là theo hướng khách quan của logic đời sống thực tế chứ không phảitheo hướng chủ quan của con người).
Trên đây là những tiền đề lý thuyết để chúng tôi đi sâu vào khảosát, phân loại các truyện kể về địa danh vào các thể loại sao cho hợp lý vàthống nhất
2 Thống kê, phân loại truyện kể về địa danh
2.1 Thống kê truyện kể về địa danh
Dựa trên các nguồn tư liệu (đã nêu ở mục phạm vi nghiên cứu) vàdựa vào khái niệm thể loại đã được giới thuyết ở trên, chúng tôi đã thống
kê được như sau:
Trang 1616 Sự tích đống Dấm ở thôn Đa Sĩ.
17 Truyện Nhất Dạ Trạch (hay Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi
Tự Nhiên).
18 Truyện đống Giải Đầu (hay Sự tích đống Giải ).
19 Truyện sông Tô Lịch.
26 Sự tích sông Nhà Bè hay là truyện Thủ Huồn.
27 Tại sao sông Tô Lịch và sông Thiên Phù hẹp lại.
40 Tại sao núi Chàng Rể gù lưng.
41 Vì sao đầm Dượng có 16 đường nước chảy.
Trang 172.2 Phân loại
Trên đây là bức tranh chung của bộ phận truyện kể về địa danhtrong truyện cổ dân gian Việt Nam Có thể phân chia các truyện trên vàocác nhóm căn cứ vào tiêu chí nội dung như: nhóm tên núi (bao gồm cả tên
đèo, tên hòn, tên động…) có Sự tích núi Mục, Sự tích núi Đèn, Sự tích núi
Dầu, Sự tích núi Ngũ Hành, Cây đèn Phúc Chi…; nhóm tên làng, tên
thành có Sự tích thành Cổ Loa, Sự tích thành Lồi, Thành Lục Niên…; nhóm tên đất (cánh đồng, gò, bãi, đống …) có Cánh đồng ao Voi, Đồng
Kiệu, Bãi Cồn và bà Chúa Hến…; nhóm tên sông (hồ, ao, đầm, cầu) có Sông Cầu Chày chó chạy đứt đuôi, Sự tích hồ Gươm, Sự tích đầm Mực,
Sự tích ao Vua, Sự tích hồ Ba Bể …
Tuy nhiên, để phù hợp hơn với vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu trong
khóa luận này là so sánh đặc điểm của truyện kể về địa danh giữa hai
thể loại truyền thuyết và cổ tích, chúng tôi phân loại các truyện trên vào
hai thể loại truyền thuyết và cổ tích dựa vào các khái niệm đã được giớithuyết ở mục 1.2 và 1.3
Trong những truyện mà chúng tôi đã thống kê có các truyện sau đang
tồn tại ý kiến xếp nó vào thần thoại: Sự tích núi Chẹ và núi Chẹ Đồng; Đồi
Mòm và gò Choi; Sự tích ngòi Lạt; Tại sao núi Chàng Rể gù lưng; Vì sao đầm Dượng có 16 đường nước chảy; Sự tích ao Vua; Chuyện đầm Gà; Sự tích cầu Giải.
Theo chúng tôi, mặc dù những truyện này vẫn mang một số đặc
điểm thi pháp của thần thoại, nhưng theo tài liệu Tuyển tập văn học dân
gian, tập 1: Thần thoại và truyền thuyết, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001,
chúng được xếp vào tiểu loại truyền thuyết về địa danh và đền chùa Mặtkhác, xu hướng nghiên cứu hiện nay cũng đang chứng minh các truyện
Trang 18thuộc nhóm này là truyền thuyết Vì vậy trong đề tài này chúng tôi khảosát chúng ở góc độ thi pháp thể loại truyền thuyết.
2.2.1 Truyện kể về địa danh thuộc thể loại truyền thuyết:
11 Vì sao đầm Dượng có 16 đường nước chảy.
12 Tại sao núi Chàng Rể gù lưng.
13 Đồi Mòm và Gò Choi.
14 Đồng Kiệu.
15 Bãi Cồn và bà Chúa Hến.
16 Cánh đồng Mẫu Hậu.
17 Sông Cầu Chày chó chạy đứt đuôi.
18 Lịch sử hồ Gươm (hay Sự tích hồ Gươm ).
Trang 1914 Sự tích hồ Ba Bể.
15 Sự tích đầm Mực.
16 Ao Phật.
17 Sự tích sông Nhà Bè hay là truyện Thủ Huồn.
18 Tại sao sông Tô Lịch và sông Thiên Phù hẹp lại.
Tuy nhiên, việc xếp các truyện vào hai thể loại như vậy cũng chỉ mangtính chất tương đối bởi vì: có một số truyện đường ranh giới giữa truyềnthuyết và cổ tích bị mờ, vừa có đặc điểm của thể loại này vừa có đặc điểm
của thể loại kia Tiêu biểu như Truyện Nhất Dạ Trạch (hay Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên); Sự tích thành Lồi…
Nếu sự phân loại trên là hợp lý thì bộ phận truyện kể về địa danhtrong truyền thuyết có gì tương đồng và khác biệt so với bộ phận truyện
Trang 20kể về địa danh trong cổ tích? Đây là vấn đề mà chúng tôi sẽ giải quyết ởchương tiếp theo.
lý do dẫn đến tình trạng đó là do tính chất giao thoa giữa các thể loại.Điều đó chứng tỏ giữa các truyện kể dân gian này vẫn có những điểmtương đồng nào đó Ở đây chúng tôi chỉ xét ở bộ phận truyện kể về địadanh trong truyền thuyết và cổ tích Chúng có những điểm tương đồngtrên những phương diện sau:
1.Tiêu đề (Tên gọi )
Tiêu đề (trước đây thường được gọi là nhan đề) của một tác phẩmđóng vai trò rất quan trọng Nó giúp nhận diện tác phẩm đồng thời đểphân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác Tiêu đề có khi bộc lộ rõ chủ
đề, nội dung tác phẩm nhưng có khi biểu hiện ngầm ẩn chủ đề, nội dung,đòi hỏi người đọc phải tự giải mã qua lần tìm nội dung Tiêu đề tácphẩm là một tín hiệu vừa mang tính khách quan: phụ thuộc, liên đới trựctiếp vào nội dung văn bản; vừa mang tính chủ quan: tùy thuộc vào ý đồ,
sở thích, thị hiếu thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo Đặt tiêu đề là cả một quátrình suy nghĩ, thậm chí có sự cân nhắc, lựa chọn công phu, là cả một
nghệ thuật Nhà văn Nga C.Pauxtôpxki đã từng nói: Ôi những cuộc tìm
Trang 21kiếm đầu đề cực nhọc thường xuyên Nghĩ ra đầu đề là một cái tài riêng.
Có những người viết hay nhưng lại không biết đặt tên cho tác phẩm của mình và ngược lại [1; 93].Còn I R Galperin thì cho rằng: Tên gọi đặt ra cho chuyện không phải là vô ích Nó chứa đựng trong bản thân nó chủ
đề quan trọng nhất Nó định ra toàn bộ cơ cấu chuyện kể [1; 90].
Đi vào truyện kể dân gian Việt Nam, chúng tôi thấy tác phẩm nàocũng có tiêu đề của nó Nhưng do tính chất truyền miệng nên một tácphẩm thường có nhiều dị bản, nhiều tên gọi khác nhau tùy theo từng địa
phương Chẳng hạn Sự tích hồ Gươm có khi còn có tên gọi là Sự tích hồ
Hoàn Kiếm; Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên còn có tên gọi là Truyện Nhất Dạ Trạch v.v…
Dù ở thể loại nào thì tiêu đề của nó đều gắn với sự xuất hiện củacác địa danh cụ thể Không dừng lại ở đó, mức độ giống nhau giữachúng còn chi tiết hơn ở chỗ cả hai thể loại đều có truyện kể về tên núi,tên sông, tên hồ, tên đất, tên làng…Truyền thuyết có núi Mục, núi Đèn,núi Dầu… thì cổ tích có núi Vàng, núi Ngũ Hành, núi Mẫu Tử…Truyềnthuyết có hồ Gươm…thì cổ tích có hồ Ba Bể…Truyền thuyết có sông TôLịch, sông Cầu Chày… thì cổ tích có sông Thiên Phù, sông Nhà Bè…Truyền thuyết có ao Vua… thì cổ tích có ao Phật…Truyền thuyết có bãiCồn …thì cổ tích có bãi Tự Nhiên v.v…
Điều đặc biệt là phần lớn các truyện kể về địa danh trong truyềnthuyết và cổ tích đều xuất hiện dưới dạng các sự tích theo công thức: sựtích + địa danh Tuy nhiên, như đã nói ở mục giới thuyết khái niệm
“truyện kể về địa danh”, không phải truyện kể nào bắt đầu với chữ “sựtích” ở đầu đề đều là truyện kể về địa danh Cũng phải lưu ý thêm:
Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập) do cố giáo sư Nguyễn
Đổng Chi sưu tầm, giới thiệu, có một số truyện có tiêu đề là “Gốc
Trang 22tích…”như: Gốc tích cái nốt dưới cổ con trâu; Gốc tích bộ lông quạ và
bộ lông công; Gốc tích tiếng kêu của chuột, dủ dỉ, đa đa… Những
truyện này đều thuộc vào tiểu loại cổ tích về loài vật, chúng khác vớitruyện kể về địa danh với tên gọi là “sự tích”
Theo sự thống kê của chúng tôi ở mục “thống kê và phân loại” thì
có 24/41 truyện xuất hiện dưới dạng này, trong đó truyền thuyết có 10truyện, cổ tích có 14 truyện, cụ thể:
Truyền thuyết: Sự tích núi Dầu, Sự tích núi Đèn, Sự tích núi Mục,
Sự tích núi Chẹ và núi Chẹ Đồng, Sự tích thành Cổ Loa, Sự tích thành Lồi, Sự tích ngòi Lạt, Sự tích hồ Gươm, Sự tích ao Vua, Sự tích cầu Giải.
Cổ tích: Sự tích núi Ngũ Hành, Sự tích đá Vọng Phu, Sự tích động
Từ Thức, Sự tích đá Bà Rầu, Sự tích núi Vàng, Sự tích hòn Phụ Tử, Sự tích núi Mẫu Tử, Sự tích đống Dấm ở thôn Đa Sĩ, Sự tích đống Giải, Sự tích cầu Biêu, Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên, Sự tích hồ Ba Bể,
Sự tích đầm Mực, Sự tích sông Nhà Bè hay truyện Thủ Huồn.
Tiêu đề của các truyện kể về địa danh đều hé mở một phần nộidung của truyện đó là giải thích nguồn gốc, đặc điểm của địa danh bằngmột câu chuyện nào đó, có thể là chuyện lịch sử, chuyện gia đình hoặcchuyện xã hội… Nó khác với thần thoại Thần thoại thường là lý giải cáchiện tượng tự nhiên bằng sức tưởng tượng ngây thơ, ấu trĩ của conngười: thần Gió, thần Mưa, thần Sấm, thần Sét, thần Biển… Dựa vào sự
so sánh này, chúng tôi nhận thấy các truyện kể về địa danh trong chùmtruyện về Sơn Tinh, Thủy Tinh không đơn thuần chỉ là lý giải hiện tượng
tự nhiên mưa lụt hàng năm mà trong đó nhân dân lao động còn muốn gửigắm nhiều điều khác nữa (chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau)
2 Cốt truyện
Trang 23Hiểu một cách nôm na thì cốt truyện chính là bộ khung, là cái lõicủa truyện Tuy nhiên, dưới góc độ thi pháp học, cốt truyện là một phạm
trù quan trọng và khá phức tạp Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn Dẫn
luận thi pháp học đã dành hẳn một chương để bàn về cốt truyện của tác
phẩm văn học Tác giả đã chỉ ra sự khác nhau cơ bản của cốt truyện tự
nhiên và cốt truyện nghệ thuật Trên cơ sở đó ông định nghĩa: cốt truyện
nghệ thuật là hệ thống các biến cố trong trật tự nghệ thuật đã được chọn lọc sắp xếp [26 ; 133] Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện cũng bàn khá kĩ về vấn đề cốt truyện Theo ông cốt truyện được xây dựng bằng những tình tiết Những tình tiết này có tính bền vững, nếu thay đổi tình tiết hoặc lược bỏ đi thì không còn cốt truyện nữa [10; 15] Tác giả cũng đã nghiên cứu một truyện dân gian cụ thể rồi
từ đó khái quát: cốt truyện dân gian rất chú trọng đến tình tiết phát triển
thành sự kiện [10; 16] và những truyện đơn giản như truyện dân gian thì cốt truyện và tình tiết giao nhau một cách đơn giản [10; 17] Còn Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa về cốt truyện một cách khá đầy
đủ: hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ
thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của các tác phẩm văn học thuộc các loại hình tự sự và kịch [9; 88].
Như vậy, có thể thấy cốt truyện là một khái niệm vừa có tính hìnhthức vừa có tính nội dung Xét về mặt hình thức, cốt truyện nói chungbao gồm các thành phần chính là: thắt nút (trình bày, khai đoan); caotrào (phát triển, đỉnh điểm) và mở nút (kết thúc) Xét về mặt nội dung,cốt truyện phản ánh các quan hệ và mâu thuẫn của đời sống thể hiện quamột hệ thống các sự kiện, xung đột, được sắp xếp theo một trật tự nhấtđịnh Người nghệ sĩ khi sáng tạo ra một cốt truyện cho một tác phẩm bao
Trang 24giờ cũng gửi gắm vào đó một quan niệm của mình về cuộc đời và conngười.
Nhìn chung, các truyện kể về địa danh trong truyền thuyết và cổtích đều có bố cục ba phần :
Phần thắt nút: giới thiệu về thời gian, không gian hoặc nhân vật Phần cao trào: diễn biến chính của câu chuyện
Phần mở nút: kết thúc câu chuyện (thường dẫn đến sự hình thành,xuất hiện của địa danh)
Ví dụ truyện Bãi Cồn và bà Chúa Hến (truyền thuyết) mở đầu tác phẩm giới thiệu về thời gian, không gian và nhân vật: Ngày xưa ở vùng
Tó, bên tả ngạn sông Nhuệ, thuộc xã Đại Thanh, huyện Thanh Oai, Hà Đông cũ (về sau là Thường Tín, tỉnh Hà Tây rồi chuyển sang huyện Thanh Trì, Hà Nội) có một cô con gái sắc đẹp tuyệt trần [20; 571] Phần
cao trào kể lại diễn biến chính: miêu tả cụ thể hơn về hình dáng, vẻ đẹpcủa cô gái, cuộc sống lao động mò cua bắt ốc hến của cô, việc vua LêĐại Hành ngự giá đi qua gặp cô gái, cho rước về cung Và phần kết thúc
lý giải sự xuất hiện của Minh Ngự Lâu nghĩa là “lầu vua đã ngự” và sự
hình thành địa danh bãi Cồn: Nơi hành cung mà vua Lê Đại Hành lấy
người con gái này được nhân dân gọi là Minh Ngự Lâu, nghĩa là “lầu vua đã ngự” ở đấy Khi đưa cô gái về hành cung, tự tay vua Lê Đại Hành đổ giỏ hến xuống Hiện nay, theo lời truyền của nhân dân thì chỗ
đổ giỏ hến ấy vẫn còn nhiều vỏ hến lưu lại và người ta gọi đó là bãi Cồn
[20; 571]
Truyện Cánh đồng ao Voi (truyền thuyết) cũng có kết cấu ba phần
rất rõ ràng: phần mở đầu giới thiệu về thời gian, không gian và nhân vật
chính: Mùa hè năm ấy, vua Lê từ Nghệ An tiến quân ra Thanh Hóa [20;
567]; phần cao trào kể về việc Lê Lợi và nghĩa quân gặp khó khăn như
Trang 25thế nào (người, voi, ngựa đều mệt nhoài; thiếu nước uống …), việc đànvoi tìm được nước uống ra sao; chuyện về ông Khổng Lồ, chuyện saukhi Lê Lợi lên ngôi phong cho ông Khổng Lồ là thần núi Lau, lập đềnthờ, đặt tên đất là Phượng Vĩ…; phần kết thúc tác phẩm lý giải tên gọi
cánh đồng ao Voi: hiện nay ở xã Quang Lĩnh, huyện Quảng Xương
(Thanh Hóa), có một cánh đồng ở dưới chân núi Lau, gọi là cánh đồng
ao Voi Ông già bà cả ở đây nói rằng: cánh đồng này thưở xưa vốn là cái ao của ông Khổng Lồ , nhưng lại mang tên là ao Voi để muôn đời ghi nhớ dấu chân người anh hùng đất Lam Sơn trên đường hành quân đánh đuổi giặc Minh xâm lược đã dừng lại đây với đội quân hùng mạnh được thần dân tận sức, hết lòng ủng hộ [20; 567]
Truyện Sự tích đầm Mực (cổ tích) có các phần cụ thể: mở đầu, giới thiệu thời gian, không gian và nhân vật: Ngày ấy vào đời nhà Trần có
một cụ đồ nho ở xã Quang Liệt tên là Chu An Học vấn của cụ sâu và rộng Cũng vì tiếng tăm của cụ truyền khắp mọi nơi nên học trò xa gần đến học rất đông [2; 383]; phần diễn biến chính kể lại một cách cụ thể
về việc dạy học của cụ đồ Chu An; việc trời làm đại hạn ở vùng ThanhĐàm; việc hai người học trò (con vua Thủy Tề) đã bất chấp lệnh trời làmmưa giúp dân và bị trừng phạt như thế nào; việc cụ đồ thương xót họ rasao…và phần kết câu chuyện lý giải địa danh đầm Mực ở làng Quỳnh
Đô, miếu Gàn nơi thờ hai anh em thuồng luồng
Truyện Sự tích đá Bà Rầu (cổ tích): phần mở đầu giới thiệu thời gian, không gian và nhân vật: Ngày xưa, có gia đình một người thuyền
chài có một cô gái rất xinh tươi Khi cô đã lớn, nhiều chàng trai muốn xin kết duyên với nàng, nhưng chưa có đám nào thành cả Mãi về sau một chàng trai người Quảng lấy được nàng làm vợ Anh chàng là người khỏe mạnh, làm nghề buôn hàng bằng thuyền mà ở đây người ta gọi là
Trang 26buôn ghe [2; 416]; phần diễn biến chính của câu chuyện kể về cuộc sống
của đôi vợ chồng trẻ: người vợ hàng ngày trông mong, lo lắng, chờ đợitin chồng còn người chồng thì đi biển và bặt vô âm tín mấy tháng trời;người chồng đột nhiên trở về, vui mừng khôn xiêt, ái ân lại mặn nồng;nhưng người chồng lại nghe lời người khác nghi ngờ vợ, lạnh nhạt dần,
bỏ đi làm ăn xa làm cho người vợ mòn mỏi chờ đợi đến hóa đá; phần kết
truyện lý giải sự xuất hiện địa danh: Thời gian bây giờ đã xóa đi mất
tích nhiều sự vật, nhưng bức tượng người đàn bà cô đơn buồn rầu kia ở Quảng Nam vẫn còn Bên cạnh đó là một ngọn tháp cổ Cái tượng đó người ta gọi là tượng Bà Rầu Vì tượng ở cạnh tháp, nên tháp cũng gọi
là tháp Bà Rầu [2; 419]
Các sự kiện, chi tiết, trong truyện đều được xây dựng theo trật tựtuyến tính tức là theo trục thời gian xuôi chiều, việc gì xảy ra trước thì
kể trước, việc gì xảy ra sau thì kể sau Do đó, cốt truyện trong các truyện
kể về địa danh này thường đơn giản chứ không rời rạc, khó nắm bắt nhưcác truyện trong văn học viết (Trong truyện ngắn hoặc tiểu thuyếtthường có hiện tượng đảo ngược trật tự, kết quả lên trước còn diễn biếnthì kể sau)
Hầu hết các truyện đều có mâu thuẫn xung đột diễn ra Đó có thể làxung đột xã hội xảy ra giữa các tập đoàn người (dân tộc, giai cấp, tầnglớp) và các xung đột ấy thường được thể hiện qua các xung đột giữa cácnhân vật do các quan hệ cụ thể tạo nên chẳng hạn như xung đột giữa dântộc ta mà cụ thể là giữa Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn với bọn giặc
Minh xâm lược trong Sự tích núi Đèn, Sự tích núi Dầu, Cây đèn Phúc
Chi, Sự tích núi Mục…; xung đột giữa cái thiện và cái ác trong Sự tích sông Nhà Bè hay truyện Thủ Huồn; xung đột giữa tầng lớp thống trị
phong kiến với nhân dân trong Tại sao sông Tô Lịch và sông Thiên Phù
Trang 27hẹp lại…Việc giải quyết xung đột trong các truyện thường dẫn tới sự ra
đời, sự thay đổi tên gọi các địa danh Chẳng hạn, mâu thuẫn giữa dân tộc
ta và giặc Minh được giải quyết trọn vẹn bằng chiến thắng hoàn toànthuộc về quân và dân ta, đất nước trở lại cuộc sống thanh bình, khi ấyLong quân sai rùa vàng lên đòi lại gươm quý trên hồ Tả Vọng Từ đó hồ
Tả Vọng bắt đầu mang tên hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm (Sự tích hồ
Gươm) Một ví dụ khác là trong Sự tích hồ Ba Bể, khi tai họa bất ngờ ập
đến nuốt hết người và vật trong đám hội cầu Phật, trừ hai mẹ con bà góatốt bụng, đó là khi mâu thuẫn giữa cái ác, cái xấu và cái tốt, cái lươngthiện được giải quyết Hồ Ba Bể chính là kết quả của sự trừng phạt cáixấu, cái ác đó; sông Nhà Bè là kết quả của sự tu thiện của Thủ Huồn haynói cách khác nó là kết quả của sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cáitốt và cái xấu mà phần thắng thuộc về cái thiện, cái tốt
3 Nhân vật
3.1 Văn học là nhân học (M.Gorky) Nói đến nhân vật văn học là nói
đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Kim Trọng, chị Dậu, anh Pha, AQ, Acpagông, Gia Cát Lượng, Tôn Ngộ Không… đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào trong “Truyện Kiều”, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những nhân vật mang nội dung và ý nghĩa con người [24; 277].
Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ,
không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn có thể nói: Nhân dân chính là nhân vật chính trong “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc, đồng tiền là
Trang 28nhân vật chính trong “Ơgiơni Grăng đê” của Banzắc [9; 202] Nhưng
chủ yếu nhân vật là chỉ hình tượng con người trong tác phẩm
Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản đểqua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Bản chất của vănhọc là một quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện được đời sống quanhững chủ thể nhất định đóng vai trò như những tấm gương của cuộcđời Nói cách khác, nhân vật văn học là sự chọn lọc có tính chất điểnhình, khái quát hóa từ cuộc sống, nó đã được đánh giá, được gửi gắmmột tư tưởng, một thông điệp mang tính chất chủ quan của người nghệ
sĩ Tuy nhiên, nhân vật văn học là một phạm trù đầy tính ước lệ, tượngtrưng Vì vậy, không thể đồng nhất nó với một con người có thật trongđời sống, cũng như không thể áp dụng quan niệm xã hội học dung tụckhi đánh giá nhân vật văn học
Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột trong tácphẩm Hay nói cách khác, qua các biến cố, xung đột trong tác phẩm,nhân vật bộc lộ tính cách, bản chất của mình
Có nhiều cách chia nhân vật văn học thành các kiểu loại khácnhau Chẳng hạn: dựa vào kết cấu có nhân vật chính, nhân vật phụ vànhân vật trung tâm; dựa vào ý thức hệ có nhân vật chính diện và nhânvật phản diện; dựa vào thể loại văn học có nhân vật tự sự, nhân vật trữtình, nhân vật kịch; dựa vào cấu trúc hình tương có nhân vật - chức năng,nhân vật - loại hình, nhân vật - tính cách, nhân vật - tư tưởng Tất nhiên,những sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối mà thôi
3.2 Nhân vật trong truyện kể về địa danh thường gồm hai loại: con
người và lực lượng thần kì Về con người, có cả nhân vật có tên: Lê Lợi,Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Tiên Dung, Chử Đồng Tử, Thủ Huồn,
Chu An…; có cả nhân vật không tên như bác phường săn (Sông Cầu
Trang 29Chày chó chạy đứt đuôi), người đàn bà, (Cây đèn Phúc Chi), vợ chồng
vị tướng già (Sự tích núi Đèn), ông lão và cô gái (Sự tích núi Ngũ Hành), các nhân vật trong Sự tích hồ Ba Bể …Tất cả các nhân vật trong truyện
đều liền quan đến yếu tố địa danh thường xuất hiện ở cuối truyện Trong
Mụ Giạ tên đèo gắn với nhân vật chính là người đàn bà có tên Mụ Giạ
-người to cao khỏe mạnh khác thường, đi nhanh như chim bay, mỗi bướccủa bà vượt qua hai ba trái núi, năm sáu ngọn đồi lớn - đã giúp vua trongviệc mở mang bờ cõi nước nhà: Nhà vua đã đặt tên cho ngọn đèo - nơi
Mụ Giạ dừng chân - là Mụ Giạ để ghi nhớ công ơn ấy Hay Sự tích đá
Vọng Phu dù là ở Thanh Hóa, Lạng Sơn hay Bình Định thì địa danh ấy
đều gắn với các nhân vật người vợ bồng con chờ chồng đến hóa đá
Có một điều dễ nhận thấy nữa đó là kết thúc các truyện kể về địadanh, các nhân vật thường gắn với cái chết và hóa thành địa danh cụ thể
Hay nói như giáo sư Hoàng Tiến Tựu: tác giả dân gian thương lấy hậu
thân của nhân vật chính để đặt tên cho truyện [28; 77] Cây đèn Phúc Chi gắn với cái chết của người mẹ có con gia nhập nghĩa quân Lam Sơn,
người mẹ ấy đã biến mình thành ngọn lửa lớn, thành ngọn đèn sáng giúp
nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong đợt phản công lại quân địch.
Sự tích đá Vọng Phu gắn với sự hóa đá của người vợ bồng con mòn mỏi
chờ chồng Hòn Trống Mái gắn với cái chết của đôi vợ chồng già (vốn là
chàng trai mồ côi và con gái của tên chúa đất tàn ác)…
Tất nhiên không phải truyện nào cũng gắn với cái chết Có những
truyện như Sự tích hồ Gươm gắn với sự kiện trả gươm cho Long Quân của vua Lê Thái Tổ ở hồ Tả Vọng; truyện Đồng Kiệu gắn với cuộc vi hành của vua Lê Đại Hành; Sự tích sông Nhà Bè hay là truyện Thủ Huồn
gắn với những hoạt động từ thiện, tu tâm tích đức của nhân vật ThủHuồn…
Trang 30Còn nhân vật thần kì trong truyện kể về địa danh đều mang dấu ấncủa thần thoại, đều mang dấu vết của thế giới quan thần linh chủ nghĩa,
đều là sản phẩm của trí tưởng tượng Bởi nói như C.Mác: trong văn học,
thần thoại bao giờ cũng đóng vai trò ngọn nguồn Nhân vật thần kì xuất
hiện nhưng không còn đóng vai trò chủ đạo mà chỉ là những nhân vậtphụ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật con người Chẳng hạn như
nhân vật rùa vàng trong Sự tích thành Cổ Loa trong Sự tích hồ Gươm, trong Sự tích núi Ngũ Hành (còn được gọi là thần Kim Quy); nhân vật
bà già ăn xin - hiện thân của con Giao Long trong Sự tích hồ Ba Bể; hai
người học trò - hiện thân của hai anh em thuồng luồng con vua Thủy Tề
trong Sự tích Đầm Mực…
Hầu hết các truyện kể về địa danh đều có sự xuất hiện của yếu tốthần kì ở cuối truyện dẫn đến sự hình thành, hoặc biến đổi địa danh như
Sự tích hồ Gươm gắn với chi tiết rùa thần lên đòi lại gươm quý là sự đổi
tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm; Sự tích hồ Ba Bể gắn với chi tiết dòng
nước bất ngờ từ dưới đất phun lên trong đám hội nuốt hết người và vật,tạo thành chỗ đất sụt là sự xuất hiện của địa danh hồ Ba Bể
4 Thời gian nghệ thuật
4.1.Thời gian vật lí ở trong hiện thực khách quan khi được chuyển vào
tác phẩm văn học nghệ thuật thì trở thành thời gian nghệ thuật Đó làthời gian được cảm nhận thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ
sĩ Sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất
phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật.
Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương
Trang 31lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận [9; 272] Trong văn học viết, các
tác giả cũng đã có những cảm nhận khác nhau về thời gian như:
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Ngày vui ngắn chẳng tày gang
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Một ngày tù nghìn thu ở ngoài
(Nhật kí trong tù - Hồ Chí Minh)
Người ta nói văn học là nghệ thuật thời gian hay thời gian là mộthình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học Điều đó chứng tỏ thời
gian nghệ thuật là một phạm trù thi pháp đặc trưng của văn học Thời
gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả - là sự ý thức và cảm giác về sự vận động và đổi thay của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời gian xuyên suốt toàn bộ văn học [26; 63] Thời gian nghệ
thuật thực chất đó chính là sự sáng tạo của người nghệ sĩ, là sự thể hiện
ý đồ nghệ thuật của nghệ sĩ Nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu và kết
thúc, có thể kể nhanh hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược, có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ, hiện tại, tương lai; có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời [26; 63] Để làm cho
người thưởng thức hoặc hồi hộp chờ đợi, hoặc thanh thản vô tư, hoặcchìm đắm vào quá khứ, hoặc phiêu lưu trong mộng ước tương lai, tác giảthường sử dụng nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau, nhiều thước đothời gian khác nhau: đó có thể là sự lặp lại đều đặn của các hiện tượngđời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia ly, mùa này, mùakhác…tạo nên nhịp điệu trong các tác phẩm; đó có thể là các trạng ngữ
Trang 32chỉ thời gian trực tiếp như: một hôm, thuở ấy, ngày nay, hôm qua, hômnay, mùa hè tới…
4.2.Thời gian trong các truyện kể về địa danh ở cả hai thể loại truyền
thuyết và cổ tích đều là thời gian quá khứ, toàn bộ thế giới nghệ thuật
trong tác phẩm đều thuộc về quá khứ, đã diễn ra trong quá khứ Mụ Giạ
gắn với thời kì dựng nước của nhà nước Văn Lang do vua Hùng làm
chủ Sự tích thành Cổ Loa gắn với thời kì Âu Lạc do vua An Dương Vương đứng đầu Sự tích núi Mục, Sự tích núi Đèn, Sự tích núi Dầu,
Cây đèn Phúc Chi, Sông Cầu Chày chó chạy đứt đuôi… gắn với thời kì
Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược Sự tích núi
Ngũ Hành gắn với thời điểm ngày xưa Sự tích Đầm Mực gắn với ngày
ấy vào đời nhà Trần… trong các truyện kể này, thời gian nghệ thuật
cũng chính là thời gian xuất hiện các địa danh theo quan niệm của cáctác giả dân gian, gắn với cái mốc “từ đó”, và đến nay địa danh đó vẫncòn
5 Không gian nghệ thuật
5.1 Không gian và thời gian là hai chiều tồn tại của bất cứ một sự vật,
hiện tượng nào trong thế giới Hay nói cách khác, bất kì một sự vật, hiệntượng nào cũng luôn tồn tại trong một không gian nhất định Không gianhiện thực khách quan ở ngoài đời mà con người sống trong đó, khichuyển vào tác phẩm nghệ thuật thì được gọi là không gian nghệ thuật.Giữa không gian thực tế khách quan và không gian nghệ thuật có mộtkhoảng cách nhất định, đó chính là sự sáng tạo, là dấu ấn riêng mang
tính chủ quan của người nghệ sĩ Theo Trần Đình Sử: không gian nghệ
thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người
và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống Do đó không thể quy
nó vào không gian địa lí, vật chất [26; 89] Còn theo Từ điển thuật ngữ
Trang 33văn học: Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát
từ một điểm nhìn diễn ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài tạo thành viễn cảnh nghệ thuật [9; 135]
Không gian nghệ thuật thường có quan hệ mật thiết, chặt chẽ với thờigian nghệ thuật Không gian nghệ thuật có thể được dùng để mô hình hóacác phạm trù thời gian như bước đường đi, con đường cách mạng…khônggian nghệ thuật chẳng những cho độc giả thấy được cấu trúc nội tại của tácphẩm nghệ thuật, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy quan niệm vềthế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học Ta
có thể thấy có mô hình không gian nghệ thuật của thần thoại, của truyềnthuyết, của cổ tích, của truyện ngắn, của tiểu thuyết, của thơ…
5.2 Ở bộ phận truyện mà chúng tôi đang nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy
chúng có những đặc điểm chung trong không gian nghệ thuật, đó là:
Thế giới nghệ thuật trong các truyện đều gắn với phạm vi không giannhất định Đó có thể là các ngọn núi (núi Mục, núi Dầu, núi Đèn, núi NgũHành, núi Mẫu Tử…); Các con sông, các ao, hồ (sông Tô Lịch, sông CầuChày, sông Nhà Bè, hồ Gươm, hồ Ba Bể, ao Voi, ao Phật…), các thànhlũy (thành Cổ Loa, thành Lục Niên, thành Lồi…) Tất nhiên, ngoài khônggian chính nơi diễn ra sự kiện chính - thì vẫn còn một số địa điểm không
gian phụ khác nữa Chẳng hạn, trong truyện Tại sao sông Tô Lịch và sông
Thiên Phù hẹp lại, ngoài không gian ở ngã ba sông Tô Lịch và sông Thiên
Phù còn có không gian ở cung vua, ở chùa Vạn Thọ…Hay trong Sự tích
hồ Gươm bên cạnh không gian ở hồ Tả Vọng (sau đổi tên là hồ Gươm)còn có không gian bến vắng - nơi Lê Thận bắt được lưỡi gươm, không
Trang 34gian núi rừng - nơi Lê Lợi bắt được chuôi gươm, không gian nhà Lê Thận
- nơi lưỡi gươm phát sáng …
Ở nhiều truyện, các địa danh thường xuất hiện ở cuối truyện Kết thúc
truyện Đồng Kiệu là: Nhân dân thấy kiệu của vua Lê Đại Hành đỗ ở đấy
liền đặt tên cho vùng đất ấy là Đồng Kiệu [20; 571] Kết thúc Bãi Cồn và
bà Chúa Hến là: Khi đưa cô gái về hành cung, tự tay vua Lê Đại Hành đổ giỏ hến xuống Hiện nay theo lời truyền của nhân dân thì chỗ đổ giỏ hến
ấy vẫn còn nhiều vỏ hến lưu lại và người ta gọi đó là bãi Cồn [20; 571].
Kết thúc truyện cổ tích Sự tích đầm Mực: Cái nghiên mực của cụ đồ Chu
An sau đó trôi về làng Quỳnh Đô làm đen cả nước đầm ấy, ngày nay người ta gọi đó là đầm Mực…[2; 386] Kết thúc Sự tích sông Nhà Bè hay truyện Thủ Huồn: Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên Hòa còn mang tên là chùa Thủ Huồn; chỗ ngã ba sông Đồng Nai và Gia Định còn gọi là sông Nhà Bè để kỉ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách bộ hành Nam Bắc qua con sông đó Có câu ca dao:
Nhà Bè nước chảy phân hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
[2; 395]
Có thể thấy một điều rằng, toàn bộ các địa danh đều có thật trongthực tế ở những địa phương, những vùng miền cụ thể Thông qua lăngkính chủ quan của con người, nó hiện lên trong tác phẩm một cách sinhđộng và hàm chứa nhiều ý nghĩa Địa danh thực ra là cái cớ để tác giả
dân gửi gắm vào đó một nội dung lịch sử, xã hội nhất định Sự tích núi
Mục, Sự tích núi Đèn, Sự tích núi Dầu…kể về cuộc khởi nghĩa của Lê
Lợi và nghĩa quân Lam Sơn chống lại giặc Minh xâm lược Sự tích hồ
Ba Bể lên án những kẻ ăn chay cầu Phật mà không có chút lương tâm,
lên án những kẻ đạo đức giả đầy rẫy trong xã hội Tại sao sông Tô Lịch
Trang 35và sông Thiên Phù hẹp lại vạch rõ tội ác của bọn thống trị phong kiến
đối với nhân dân lao động…
Vì bộ phận truyện này lấy yếu tố địa danh làm mạch cảm xúc sángtạo nên đã dẫn đến tình trạng khó khăn khi phân chia thể loại
Tóm lại, giữa truyện kể về địa danh trong truyền thuyết và truyện
kể về địa danh trong cổ tích vẫn có những điểm tương đồng nhất định Nguyên nhân của sự tương đồng này là:
Thứ nhất: chúng đều là những truyện kể dân gian được lưu truyềntrong dân gian bằng phương thức truyền miệng, bằng trí nhớ nên dù làtruyền thuyết hay cổ tích thì vẫn có tính chất phiếm chỉ ở một số điểmnhất định (về nhân vật, về thời gian - tất nhiên đó không phải là yếu tốđặc trưng của truyền thuyết) Những truyện kể về địa danh này đượcsáng tạo ra bởi cảm quan của những người bình dân, bởi trí tưởng tượngcủa nhân dân lao động
Thứ hai: chúng đều lấy yếu tố địa danh làm mạch cảm hứng sáng
tạo Do đó, tên gọi các truyện đều có xuất hiện dưới dạng các sự tích: Sự
tích núi Dầu, Sự tích núi Đèn, Sự tích hồ Gươm, Sự tích hồ Ba Bể, Sự tích núi Ngũ Hành, Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên… Không gian
trong các truyện thường được quy về trong những phạm vi như tên làng,tên đất, tên núi, tên sông, hồ, ao, đầm, tên cầu…khá cụ thể
Thứ ba: trong bộ phận này có một số truyện có tính chất giao thoa
giữa truyền thuyết và cổ tích như: Sự tích đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên,
Sự tích đầm Mực… gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu, khi thì
xếp vào thể loại này, khi thì xếp vào thể loại kia Chẳng hạn Sự tích hồ
Gươm là truyền thuyết lại bị xếp vào cổ tích, Chuyện đầm Gà, Sự tích
ao Vua, Sự tích cầu Giải, Vì sao đầm Dượng có 16 dòng nước chảy, Tại sao núi Chàng Rể gù lưng… có khi được xếp vào thần thoại, có khi