TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cây Lim xanh và hệ thống phân loại
Cây Lim xanh: Erythrophleum fordii oliver
Tên khác: Lim, Thiết Lim
Phân họ Vang (Caesalpinioideae) thuộc bộ Đậu (Fabales) và được đặt tên theo họ Vang (Caesalpinia) Hình 2.1 minh họa cây Lim xanh và hạt Lim xanh, thể hiện sự đa dạng và đặc trưng của phân họ này.
Phân họ Caesalpinioideae chủ yếu bao gồm cây thân gỗ, phân bố trong các vùng ẩm ướt của khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ cao và lượng mưa dồi dào Hoa của phân họ này thường có hình dạng đối xứng hai bên, mặc dù có sự biến đổi Các nốt sần cố định đạm trên rễ của các loài trong phân họ này rất hiếm, và nếu có, chúng thường có cấu trúc nguyên thủy.
Phân họ này đang gây tranh cãi về sự miêu tả và tình trạng của nó Mặc dù được công nhận rộng rãi, một số chi vẫn chưa được thừa nhận chung trong phân loại Trong một số hệ thống phân loại thực vật có hoa, phân họ này được xem như một họ của họ Vang (Caesalpiniaceae) Các nghiên cứu hệ thống hóa gần đây, dựa trên dữ liệu phân tử, cho thấy nhóm này bao gồm nhiều phân họ khác nhau khi so sánh với hai phân họ đậu và phân họ Vang Việc phân chia này đang trong quá trình nghiên cứu.
Bộ đậu (Fabales) là một bộ thực vật có hoa thuộc nhóm hoa hồng rosids trong hệ thống phân loại APG II, bao gồm các họ như Fabaceae (với các phân họ Caesalpinioideae, Cercideae, Faboideae, Mimosoideae), Polygalaceae (gồm Carpolobieae, Moutabeae, Polygaleae và Xanthophylleae) và Surianaceae Trong khi đó, hệ thống phân loại Cronquist năm 1981 chỉ công nhận họ Đậu (Fabaceae) trong bộ này, còn các họ khác được xếp vào các bộ khác nhau, chẳng hạn như họ Polygaleae được xếp vào bộ đậu, trong khi Quillajaceae và Surianaceae thuộc bộ Rosales.
Bộ Đậu đóng góp khoảng 9,6% vào sự đa dạng của thực vật hai lá mầm thật sự (Magallón và cộng sự, 1999) Theo nghiên cứu của Wikstrom và cộng sự (2001), bộ này đã xuất hiện khoảng 94 - 89 triệu năm trước và sự đa dạng hóa của nó bắt đầu từ khoảng 79-74 triệu năm trước.
Đặc điểm cây Lim xanh
Lim xanh là cây gỗ lớn thường xanh, cao từ 37-45m và đường kính 200-250 cm, với gốc có bạnh vè Thân cây tròn, vỏ màu nâu đậm, có vết nứt vuông và nhiều khí khổng dễ thấy, thường bong vảy lớn Cây có tán lá dày và xanh quanh năm.
Lá cây Lim xanh có hình dạng lá kép lông chim hai lần và dạng trứng Mặt trên của lá có màu xanh đậm, trong khi mặt dưới là màu xanh lá cây nhạt với các tĩnh mạch rõ ràng.
Hoa của cây Lim xanh là cụm hoa mọc thành chùm ở đỉnh sinh trưởng, dài 20 - 30cm, hoa nhỏ màu trắng nở vào tháng tư
Quả cây Lim xanh có hình dáng thuôn dài, kích thước khoảng 20 cm x 3-4 cm, bên trong chứa từ 6 đến 12 hạt Hạt của quả này có màu nâu đen, dẹt và xếp chồng lên nhau, được bảo vệ bởi lớp vỏ cứng, chất sừng, giúp chúng tồn tại lâu trong đất và dễ dàng bảo quản.
Lim xanh là cây ưa sáng, thường phát triển ở tầng trên của rừng và có khả năng chịu bóng khi còn nhỏ Cây có thể trồng trong các điều kiện tự nhiên với độ tàn che từ 0,3 đến 0,7, và được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc.
Lim xanh có khả năng phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, bao gồm sa thạch, đá phiến sét, đá phiến mica và các loại đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến nặng Loài cây này có thể chịu đựng được độ ẩm cao và điều kiện đất có tính axit, thường phát triển trong môi trường rừng nhiều tầng cùng với các loài cây lá rộng khác.
Lim xanh là cây lá rộng thường xanh, mùa ra hoa vào khoảng tháng 3 - tháng 4 và mùa quả chín vào khoảng tháng 12 và tháng 1 hàng năm
Giá trị sử dụng
Gỗ lim xanh là một loại gỗ quý hiếm, nổi bật với tính năng bền bỉ, cứng cáp và khả năng chịu đựng thời tiết tốt Với độ bền kết cấu cao, gỗ lim xanh thường được ưa chuộng trong ngành xây dựng, đặc biệt là làm ván sàn và các công trình hạ tầng, giao thông vận tải.
Lim xanh là cây chứa nhiều tanin, với vỏ cây có khoảng 15,21% tanin Trong thời kỳ Pháp thuộc, tại Yên Cát (Thanh Hóa) đã có nhà máy sản xuất tanin sử dụng nguyên liệu chính là vỏ lim Tuy nhiên, do rừng lim ở Tây Thanh Hóa bị suy thoái, nguồn cung vỏ cây giảm, dẫn đến việc nhà máy thiếu nguyên liệu và phải đóng cửa.
Gỗ lim có đặc điểm dác lõi phân biệt với dác màu xám nhạt hoặc vàng nâu, lõi màu xanh vàng khi mới chặt và chuyển sang nâu sẫm khi khô, rất cứng và thuộc loại tứ thiết, được coi là một trong những loại gỗ tốt nhất của Việt Nam Với tỷ trọng 0,94 và khả năng chịu lực kéo ngang 29 kg/cm2, nén dọc thớ 608 kg/cm2, gỗ lim không bị mối mọt và rất bền, thích hợp cho các công trình xây dựng lâu dài như đền chùa, nhà thờ, cũng như đồ nội thất như cửa, ván sàn và đồ trang trí Tuy nhiên, theo kinh nghiệm dân gian, gỗ lim có thể gây ra cảm giác đau nhức nếu dùng làm giường ngủ Ngoài ra, rễ cây lim có nốt sần cố định đạm, giúp tăng độ phì nhiêu của đất, và khi cây chết, rễ mục trở thành môi trường lý tưởng cho nấm linh chi (Ganoderma lucida) phát triển Cây lim với tán lá dày đặc cũng rất phù hợp để trồng trong các khu rừng phòng hộ, bảo vệ nguồn nước.
Cơ sơ lý luận , thực tiễn nghiên cứu cây Lim xanh
Trên thế giới, lim xanh được phân bố trên toàn miền Nam Trung Quốc
(bao gồm cả phía đông Đài Loan), phía bắc của Camphuchia, Lào và phía bắc của Việt Nam Nó sống độ cao 300 - 900m [18]
Cây Lim xanh, một loài cây bản địa quý giá ở Đông Nam Á, đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác quá mức Giá trị gỗ cao của cây đã dẫn đến tình trạng này, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng cho sự tồn tại của loài Hiện tại, nhiều dự án đã được triển khai nhằm gieo ươm và trồng lại cây Lim xanh tại các khu vực phân bố của nó, với sự hỗ trợ từ các nghiên cứu của Cộng hòa Liên Bang Đức và Đại học California, Mỹ.
Cây Lim xanh, một loài cây quý hiếm, đang nằm trong sách đỏ thế giới do bị khai thác quá mức tại các khu vực phân bố Hiện nay, việc quản lý và bảo vệ cây Lim xanh đang được chú trọng tại các quốc gia nơi loài cây này sinh trưởng Nhiều dự án và nguồn vốn từ các nước phát triển đã được đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển cây Lim xanh tại các khu vực bản địa như Lào và Việt Nam.
Cây Lim xanh là loài cây bản địa của Việt Nam, phân bố chủ yếu tại các tỉnh như Bắc Giang, Hà Tây, Hòa Bình, Lạng Sơn, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái và Hàm Tân (Bình Thuận) Loài cây này phát triển trong khoảng tọa độ từ 10 ° 47 'N đến 23 ° N và từ 102 ° đến 108 ° E, với sự tập trung chủ yếu ở khu vực từ 17 ° đến 23 ° N.
Gần đây, Việt Nam đã chú trọng mạnh mẽ đến việc phát triển cây Lim xanh và các cây bản địa khác Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các sở, phòng nông nghiệp tại các tỉnh như Phú Thọ và Thừa Thiên Huế đang đầu tư nhiều vào các dự án này Ngoài ra, nguồn vốn và chương trình hỗ trợ từ Cộng Hòa Liên Bang Đức cùng các tổ chức phi chính phủ cũng góp phần quan trọng trong sự phát triển này.
10 biện pháp kĩ thuật gieo ươm và trồng rừng cây Lim xanh ở Việt Nam [3]
Cây Lim xanh, một loại gỗ quý giá, đang đối mặt với tình trạng khai thác quá mức tại Việt Nam, trở thành vấn nạn nghiêm trọng Loài cây này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thuộc nhóm gỗ IIA, nhóm gỗ nguy cấp cấm khai thác.
2.4.3 Thực trạng những năm gần đây
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của nhiều loại cây gỗ quý hiếm Do đó, nhiệm vụ của khoa học kỹ thuật trồng rừng là nghiên cứu sâu về các điều kiện tự nhiên và đặc tính sinh thái của từng loài cây, nhằm phát triển các biện pháp kỹ thuật phù hợp Việc này không chỉ giúp tối ưu hóa quá trình trồng trọt mà còn đáp ứng nhu cầu cây trồng quan trọng trong tương lai.
Trong bối cảnh hiện nay, chiến lược toàn cầu về bảo vệ môi trường và tài nguyên đang trở nên cấp bách, đặc biệt là trong việc bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển các chương trình trồng cây bản địa Sự tàn phá rừng nghiêm trọng dẫn đến giảm đa dạng sinh học và gia tăng thiên tai, cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, đã đặt ra những thách thức lớn Khi một loài thực vật hay cây rừng trở nên quý hiếm, con người thường có xu hướng khai thác, dẫn đến nguy cơ khan hiếm và cần được bảo vệ khỏi những đe dọa từ cả con người lẫn thiên nhiên.
Giải pháp hiệu quả nhất để bảo tồn một loài là đáp ứng nhu cầu của loài đó đồng thời thỏa mãn nhu cầu của con người Để đạt được điều này, cần tạo ra nhiều sản phẩm từ loài đó, giúp bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế bền vững.
11 của loài đó, làm giảm tình trạng khan hiếm thì cân bằng sẽ được lập lại
Việc khai thác tài nguyên sinh vật mà không chú ý đến tái tạo sẽ dẫn đến mất khả năng phục hồi và nguồn tài nguyên có thể biến mất vĩnh viễn Tuy nhiên, nếu chúng ta nhận thức đúng vấn đề và có kế hoạch bảo tồn, tái tạo kịp thời, các nguồn tài nguyên sinh học vẫn có thể phục hồi và phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của con người trong tương lai.
Hiện nay, nhu cầu trồng rừng ngày càng gia tăng do nhận thức về lợi ích to lớn của rừng, dẫn đến sự cần thiết phải cung cấp giống cây trồng đa dạng và chất lượng Việc nghiên cứu và phát triển giống cây con chất lượng cao trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Việc nghiên cứu khả năng nhân giống cây bản địa từ hạt và giâm hom đang trở nên cấp thiết do sự khan hiếm giống loài Chất lượng hạt giống và tỷ lệ nảy mầm tốt là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình nhân giống.
Cây Lim xanh, một loài cây bản địa, có khả năng thích nghi tốt với nhiều điều kiện tự nhiên và có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, loài cây này đang bị xâm hại nghiêm trọng trong tự nhiên Để đáp ứng nhu cầu trồng rừng hiện nay, cần thiết phải phát triển nhiều cơ sở nghiên cứu nhằm xây dựng quy trình và kỹ thuật nhân giống cây Lim xanh cũng như các loài cây bản địa khác.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội khu vực nghiên cứu
- Phạm vi ranh giới: Xã Tân Dương nằm ở phía Đông Bắc của huyện Định
Hóa, cách trung tâm huyện 04 km, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 54 km về phía Tây Bắc Có địa giới hành chính được xác định như sau:
+ Phía Đông giáp: Xã Tân Thịnh huyện Định Hóa, xã Yên Ninh huyện Phú Lương;
+ Phía Tây giáp: Xã Kim Phượng và thị trấn Chợ Chu huyện Định Hóa; + Phía Nam giáp: Xã Yên Trạch huyện Phú Lương;
+ Phía Bắc giáp: Xã Tân Thịnh huyện Định Hóa
- Xã Bao gồm 18 xóm, cụ thể: 1 + 2 + 3+ 4 + 5A + 5B + 6 + 7 + Chúng + Tả
+ Kèn + Nà Mạ + Nà Trang + Cút + Tân Phương + Làng Bẩy + Coóc + Tràng
- Tổng diện tích đất tự nhiên: 2.156,22 ha
Xã Tân Dương nằm bên dòng sông Chu, chia thành ba miền rõ rệt Miền Tân Tiến có dãy núi đá vôi dài gần 4 km và đồng ruộng bằng phẳng, màu mỡ, thuận lợi cho canh tác Trong khi đó, miền Kèn và miền Tràng có địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt, giao thông khó khăn, nhưng lại có nhiều đồi rừng, tạo điều kiện cho phát triển lâm nghiệp.
Xã có độ cao trung bình khoảng 80 m so với mực nước biển, với khu vực trung tâm là nơi tập trung đông dân cư Hệ thống giao thông thuận tiện ở đây tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế và văn hóa - xã hội.
Xã Tân Dương có khí hậu đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Lượng mưa hàng năm dao động từ 1600mm đến 1900mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và 9 Nhiệt độ trung bình hàng năm ở đây dao động từ 23 đến 24 độ C, trong khi độ ẩm trung bình đạt từ 81 đến 85%.
Nguồn nước mặt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu được lấy từ sông Chợ Chu, các hồ Thẩm Khi, Thẩm Ngược, Thẩm Khán, và các đập như đập Sông Chu, đập Làng Bẩy, đập Xóm Chúng, đập Tân Thái.
- Nguồn nước ngầm: Toàn xã chủ yếu sử dụng giếng khơi, giếng khoan và nguồn nước tự chảy
2.3.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
2.3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
- Dân số: Dân số hiện trạng 2011: 3.418 người
- Dân tộc: Gồm 8 dân tộc anh em cùng sinh sống
- Lao động: Số lao động trong độ tuổi 2.064/ 3418 người
- Cơ cấu lao động theo các ngành:
+ Công nghiệp thương mại dịch vụ: 20 %;
- Lao động phân theo trình độ văn hóa như sau:
+ Trung học cơ sở: 50 %; (1032 người)
+ Trung học phổ thông: 20 %; (412 người)
- Số lao động qua đào tạo 104 lao động, tỷ lệ số lao động sau khi đào tạo có việc làm/ tổng số đào tạo 90 %
2.3.2.2 Thực trạng kinh tế và tình hình sản xuất kinh doanh
- Tổng số HTX: 2 HTX, gồm HTX sản xuất dịch vụ điện (Xóm6), HTX nông nghiệp (HTX nông nghiệp hầu như không hoạt động);
- Tổng số doanh nghiệp sản xuất 1, tạo việc làm cho 7 lao động
+ Doanh nghiệp Vĩnh Hưng: Chế biến lâm sản (Xóm 6)
- Có 4 cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng: Nghiền đá, sản xuất gạch đá xi
14 măng (xóm 7, xóm Chúng, xóm 6)
- Có 3 cơ sở đóng mộc đồ dùng gia dụng
Tổng diện tích đất tự nhiên đã tăng từ 2.100 ha năm 2005 lên 2.165,22 ha vào năm 2010, cho thấy sự biến động rõ rệt trong việc sử dụng đất đai trong giai đoạn này.
Bảng 2.1 Bảng thống kê biến động sử dụng đất giai đoạn2005 - 2010
I Diện tích đất tự nhiên 2.100,00 100,0 2.165,22 100,0 65,22
1 NNP Đất nông nghiệp 1.567,98 74,67 1.695,03 78,28 127,05 1.1 DLN Đất lúa nước 230,15 10,96 229,23 10,59 (0,92)
1.2 LUN Đất trồng lúa nương -
1.3 HNK Đất trồng cây hàng năm còn lại 41,38 1,97 41,22 1,90 (0,16) 1.4 CLN Đất trồng cây lâu năm 78,93 3,76 59,93 2,77 (19,00) 1.5 RPH Đất rừng phòng hộ 640,00 30,48 - (640,00) 1.6 RDD Đất rừng đặc dụng - 2,41 2,41
Trong đó: Khu bảo tồn thiên nhiên -
1.7 RSX Đất rừng sản xuất 540,31 1,77 1.325,03 1,72 784,72 1.8 NTS Đất nuôi trồng thuỷ sản 37,21 1,77 37,21 1,72 -
1.9 NKH Đất nông nghiệp khác -
2 PNN Đất phi nông nghiệp 50,93 2,47 72,86 2,41 21,93
2.1 CTS Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 0,20 0,01 0,20 0,01 -
2.4 SKK Đất khu công nghiệp -
2.5 SKC Đất cơ sở sản xuất kinh doanh 0,54 0,03 0,54 0,02 -
2.6 SKX Đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sứ -
2.7 SKS Đất cho hoạt động khoáng sản -
2.8 DDT Đất di tích danh thắng -
2.9 DRA Đất xử lý, chôn lấp chất thải -
2.10 TTN Đất tôn giáo, tín ngưỡng -
2.11 NTD Đất nghĩa trang, nghĩa địa 1,32 0,06 1,32 0,06 -
2.12 SMN Đất có mặt nước chuyên dùng 3,03 0,19 3,03 0,18 -
2.14 DHT Đất phát triển hạ tầng -
2.15 CCC Đất có mục đích công cộng 41,84 1,99 42,15 1,95 0,31 2.16 PNK Đất phi nông nghiệp khác 0,02 0,00 0,02
3 DCS Đất chưa sử dụng 452,29 21,54 359,18 16,59 (93,11)
4 DNT Đất khu dân cư nông thôn 28,80 1,37 29,15 1,35 0,35
Trong đó: Đất ở tại nông thôn 28,80 1,37 29,15 1,35 0,35 Đơn vị QH: Công ty cổ phần tư vấn và đầu tư xây dựng Thái Nguyên
2.3.2.4 Thực trang cơ sở hạ tầng
Trụ sở UBND xã: Được xây dựng năm 2000 tại xóm 6, bao gồm 4 phòng làm việc và 01 hội trường với 140 chỗ ngồi
- Tổng diện tích đất 1.328,5 m2 (diện tích xây dựng UBND 135m2 và diện tích xây dựng hội trường 208m2)
Chất lượng công trình đang bị xuống cấp nghiêm trọng, với tình trạng tường thấm nước và bục nát Hiện tại, công trình không còn đáp ứng được nhu cầu làm việc của các ban ngành như Công an, xã đội, các đoàn thể và phòng một cửa.
Tổng số trường học là 3, số trường đạt chuẩn là 1; trong đó:
* Trường mầm non: Được xây dựng năm 2008 tại xóm 4:
- Tổng diện tích đất 1068,2m2 Diện tích xây dựng 450 m2;
- Số phòng học đã có là 6 phòng với 130 học sinh và 18 giáo viên;
- Phòng chức năng chưa có;
- Số diện tích sân chơi, bãi tập đã có 600 m 2 ;
- Trường bao gồm có 2 phân khu:
+ Phân hiệu lẻ thuộc xóm Nà Trạng, được xây dựng năm 2009: Tổng diện tích 437,2m2 (diện tích xây dựng 75m2), gồm 2 giáo viên và
+ Phân hiệu lẻ thuộc xóm Tràng, được xây dựng năm 2009: Tổng diện tích 399,2m2 (diện tích xây dựng 75m2), gồm 2 giáo viên và 19 học sinh
* Trường tiểu học: Đạt chuẩn cấp độ 1, năm 2006, Được xây dựng năm
- Tổng diện tích 7.957,8 m2, diện tích xây dựng 690,2 m2;
- Số phòng học đã có 8 phòng, nhà 2 tầng, với 120 học sinh và 10 giáo viên;
- Số diện tích sân chơi, bãi tập đã có 2.600 m 2 , số còn thiếu 300 m 2 ;
- Trường bao gồm có 3 phân hiệu:
Phân hiệu lẻ thuộc xóm Nà Trạng, được xây dựng năm 1998, có tổng diện tích 307m2 (diện tích xây dựng 168m2) với 4 giáo viên và 30 học sinh Phân hiệu lẻ thuộc xóm Tràng, được xây dựng năm 2009, có tổng diện tích 389,7m2 (diện tích xây dựng 168m2) với 3 giáo viên và 20 học sinh Ngoài ra, phân hiệu Làng Bẩy thuộc Làng Bẩy hiện có 1 giáo viên và 20 học sinh.
So sánh mức độ đạt được so với tiêu chí quốc gia về NTM: Chưa đạt
* Trường THCS: Được xây dựng từ năm 2005 tại làng Bẩy Hiện đang tiến hành các điều kiện để đạt được chuẩn cấp độ 1
- Tổng diện tích : 9.940,8m2, diện tích xây dựng 612m2
- Số phòng học đã có 9 phòng hiện đang xuống cấp, với 16 giáo viên và
- Số diện tích sân chơi đã có 600 m 2 , chưa có bãi tập
So sánh mức độ đạt được so với tiêu chí quốc gia về NTM: Chưa đạt
Trường đạt chuẩn cấp độ 1 vào năm 2008 và được xây dựng vào năm 2009 tại xóm 6 Với 09 phòng làm việc, tổng diện tích là 995,4m2 và diện tích xây dựng là 316,5m2, chất lượng công trình hiện tại ở mức trung bình Hiện nay, trường đang tiếp tục đầu tư và nâng cấp để đạt chuẩn mức độ 2.
2.3.4 Đánh giá về những thuận lợi và hạn chế của xã
Xã miền núi này có vị trí địa lý và địa hình đặc thù, với cơ cấu kinh tế chủ yếu là Nông - Lâm nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp và Dịch vụ Tài nguyên đất và rừng phong phú đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong tương lai Để thúc đẩy sự phát triển, xã cần phát huy nội lực và thu hút sự hỗ trợ, đầu tư từ Trung ương, Tỉnh, Huyện, Doanh nghiệp cũng như các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển Nông - Lâm nghiệp sản xuất hàng hóa.
Để phát triển kinh tế bền vững, cần mở rộng diện tích trồng chè và cây ăn quả, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại và chế biến nông lâm sản cũng rất quan trọng trong việc nâng cao giá trị kinh tế của khu vực đồi rừng.
- Nguồn lao động trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lao động phổ thông, chưa được đào tạo chuyên môn
Hệ số sử dụng đất hiện tại còn thấp, với nhiều quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp vẫn phân tán và chưa được quy hoạch một cách tập trung, thiếu sự liên kết giữa các mục đích sử dụng khác nhau.
Hệ thống hạ tầng xã hội và kỹ thuật hiện tại còn yếu kém, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất Các vùng sản xuất phân bố rải rác và manh mún, thiếu sự đầu tư tập trung cần thiết.
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Lim xanh
- Tên khoa học là: Erythrophleum fordii oliver
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của loài cây Lim xanh.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại xóm Chúng, xã Tân Dương thuộc ban quản lý rừng đặc dụng ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Đề tài được thực hiện từ 01/01/2018- 01/04/2018.
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá thực trạng trồng cây Lim xanh tại ATK Định Hóa
3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Lim xanh Đánh giá tỉ lệ sống của cây Lim xanh Đánh giá sinh trưởng về đường kính của cây Lim xanh Đánh giá sinh trưởng về chiều cao của cây Lim xanh Đánh giá sinh trưởng về đường kính tán của cây Lim xanh
Những ảnh hưởng đến tình hình sinh trưởng của cây Lim xanh
3.3.3 Đề xuất một số biện pháp, giải pháp
+ Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
+ Biện pháp về quản lý.
Phương pháp nghiên cứu
Chuẩn bị các đồ dùng cần thiết phục vụ cho công tác điều tra:
Giấy, bút bi, bút chì, thước dây, bảng biểu, thước đo chiều cao, thước sào, dây, kéo và các phương tiện cần thiết khác
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Phương pháp kế thừa được áp dụng để tiếp thu các kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của khu vực nghiên cứu, cũng như thông tin về loài cây Lim xanh cả trong và ngoài nước, bao gồm các đặc điểm sinh học cơ bản, điều kiện lập địa và khả năng sinh trưởng của loài cây này.
- Sử dụng các phần mềm xử lí thông kê chuyên dụng Excel, SPSS Để tổng hợp và đánh giá kết quả điều tra
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường
Việc thu thập số liệu ngoài thực địa đóng vai trò quyết định trong kết quả nghiên cứu, yêu cầu phương pháp thu thập hợp lý và độ chính xác cao Điều này đảm bảo tính khách quan của kết quả nghiên cứu, đặc biệt trong việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái.
Phương pháp nghiên cứu thực vật học hiệu quả bao gồm việc sử dụng quan sát mô tả trực tiếp đối tượng đại diện và kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với tài liệu có sẵn Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), đây là một phương pháp thực dụng trong lĩnh vực này.
Quan sát và mô tả hình thái của cây bao gồm việc xác định kích thước các bộ phận như thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt Để đo chu vi thân cây, chúng ta sử dụng thước dây tại vị trí Do.
- Dụng cụ thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, thước đo độ cao b Phương pháp lập OTC
-Địa điểm điều tra khảo sát phân bố tại rừng đặc dụng ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa, chúng ta tiến hành khảo sát theo các tuyến điều tra và lập các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời để thu thập số liệu liên quan đến các nội dung của đề tài.
-Lập ô tiêu chuẩn và dung lượng:
OTC cần được đặt ở những vị trí đại diện trong khu vực nghiên cứu, với địa hình đồng đều và sự phân bố cây cối hợp lý Các cây trong ô phải sinh trưởng bình thường, và ô tiêu chuẩn không nên nằm qua các khe, đỉnh núi hay gần đường giao thông Để thuận tiện cho việc đo đếm, OTC được thiết lập với chiều dài theo đường đồng mức và chiều rộng vuông góc với đường này.
(1) Tạo lập định vị ô mẫu trên thực địa
Sử dụng bản đồ và địa bàn để xác định vị trí ô mẫu Dùng GPS xác định tọa độ chính xác của ô mẫu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp, số lượng vị trí các ô tiêu chuẩn bị hạn chế do điều kiện thực địa Tuy nhiên, để đảm bảo tính đại diện cho các tuổi rừng nghiên cứu, số lượng ô mẫu cần được xác định dựa trên phần trăm diện tích Do những hạn chế về điều kiện và thời gian, số lượng ô mẫu chỉ được giới hạn ở mức 16 OTC, với kích thước mỗi ô là 2500m² (50x50).
(2) Tạo lập định vị ô mẫu trên thực địa
Sử dụng bản đồ và địa bàn để xác định vị trí ô mẫu Dùng GPS xác định tọa độ chính xác của ô mẫu
(3) Thiết kế vào lập ô mẫu
Trong ô tiêu chuẩn đo đường kính ngang ngực (đbh3,cm) của tất cả các cây có đbh > 5cm có mặt tại các ô tiêu chuẩn
Đo chiều cao vút ngọn (Hvn,m) và chiều cao dưới tán (Hdc,m)
Đo đường kính tán (Dt,m) theo 2 hướng đông tây và nam bắc, sau đó lấy gái trị trung bình
Ghi tất cả các số liệu đo đếm trong ô vào biểu điều tra
Chỉnh lý và tính toán các kết quả theo công thức thống kê quy hoạch rừng, sử dụng chương trình Excel để xử lý số liệu Các chỉ số đặc trưng cho cấu trúc quần hợp cây gỗ rừng sẽ được đánh giá bao gồm nhiều chỉ số quan trọng.
Tiết diện thân (Basal Area) là một chỉ số quan trọng để xác định ưu thế của loài, cho thấy diện tích mặt đất mà các cá thể của loài chiếm giữ để phát triển trên một hiện trường cụ thể Theo nghiên cứu của Honson và Churchbill (1961), Rastogi (1999), và Sharma (2003), tiết diện thân giúp đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài trong hệ sinh thái.
Tính diện tích tán lá
Khi tính diện tích hình chiếu tán cây trên mặt phẳng ngang, coi nó có dạng hình tròn, tính theo công thức : St (m 2 ) = (π/4)*Dt 2 = 0.785* Dt 2
Trong đó: St là diện tích tán (m) π= 3.14
Dt là đường kính tán