Thơ ông đã bám rễ sâu vào cuộc sống, nhận được nhiều sự yêu mến của nhiều thế hệ độc giả Nhớ về Tỗ Hữu là nhớ về một tiếng thơ luôn thủy chung son sắt với Đảng, với cách mạng, với nhân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN ANH TUẤN
CẢM HỨNG THẾ SỰ - ĐỜI TƯ
TRONG THƠ TỐ HỮU
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60220120
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Thành Hưng
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô giáo khoa Văn học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, phòng sau đại học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thành Hưng, người thầy đã nhiệt tình, tận tâm trong quá trình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Và tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi của đề tài 6
3.1 Đối tượng của đề tài 6
3.2 Mục đích của đề tài 6
3.3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp 7
4.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống 7
4.3 Phương pháp so sánh 7
4.4 Phương pháp phân loại, thống kê 8
5 Bố cục của luận văn 8
B PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố hữu qua các chặng đường thơ 9
1.1 Cảm hứng dân tộc lịch sử 9
1.2 Cảm hứng trữ tình công dân……… 20
1.3 Cảm hứng thế sự - đời tư 27
Chương 2: Hệ thống cảm xúc thế sự - đời tư thường nhật 32
2.1 Những trăn trở, băn khoăn về số phận con người 32
2.2 Những trăn trở, băn khoăn về những biến thiên của thời đại 39
2.3 Những kí ức và hoài niệm về quá khứ 47
Chương 3: Một vài đặc điểm hình thức nghệ thuật 55
3.1 Thể thơ 55
3.1.1 Tăng cường thể thơ Đường luật 55
3.1.2 Giữ vững thể lục bát truyền thống 57
3.1.3 Thơ tự do 60
3.2 Xây dựng hình ảnh 63
3.2.1 Hình ảnh thực 64
3.2.2 Hình ảnh biểu tượng 66
3.2.3 Hình ảnh biểu tượng có tính ước lệ khác 77
3.3 Giọng điệu 80
3.3.1 Giọng điệu ngợi ca 81
3.3.2 Giọng suy tư, chiêm nghiệm 91
C PHẦN KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 5
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu có một vị trí bề thế, như một trong những cây bút đại thụ có khả năng đón gió thời đại và lặng lẽ tỏa bóng xuống cả một nền thơ Ông đươc coi là người mở đường và là người dẫn đầu tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca Tố Hữu đã để lại một sự nghiệp chính trị danh giá, gắn liền với một sự nghiệp văn chương đầy đặn, trang trọng, có sức bền nghệ thuật lâu dài Thơ ông đã bám rễ sâu vào cuộc sống, nhận được nhiều sự yêu mến của nhiều thế hệ độc giả
Nhớ về Tỗ Hữu là nhớ về một tiếng thơ luôn thủy chung son sắt với Đảng, với cách mạng, với nhân dân trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ của đất nước Đã bao nhiêu năm tháng đi qua, chiến tranh đã lùi xa “Tố Hữu vẫn thủy
chung cùng cây đàn thơ đi cạnh cuộc đời” Từ Từ ấy cho đến những năm tháng Việt Bắc trải qua chặng đường gian khổ để có được thời kỳ Gió lộng, nhà thơ lại cùng dân tộc tiến bước trên con đường Ra trận để có ngày đất nước được thống
nhất, máu nở thành hoa Thơ Tố Hữu qua mỗi thời kỳ lịch sử lại càng gắn bó máu thịt với nhân dân với vận mệnh của Tổ quốc Đi theo tiếng gọi của Đảng,
Tố Hữu trở thành người tiên phong trong đội ngũ nhà thơ đông đảo dâng hiến tài năng và tâm huyết của mình cho cách mạng
Thế rồi chiến tranh cũng đi qua, khép lại thời kỳ văn học là công cụ tư tưởng, là vũ khí tinh thần Khép lại những chặng đường gian nan, máu lửa, thơ
ca cách mạng đã hoàn thành sứ mệnh của mình, như muốn đổi lại quân trang trở
về với những bộ thường phục, trở lại với cuộc sống ngày thường bình dị Trên hành trình trở về với cuộc sống, thơ ca vẫn chảy theo mạch nguồn cảm hứng sử
thi đã thành dòng Thơ Tố Hữu cũng không nằm ngoài quy luật đó Kể từ Từ ấy cho đến Ta với ta ông vẫn buồn vui những nỗi riêng trong niềm chung rộng lớn
Xuyên suốt hơn nữa thế kỷ, mỗi tập thơ của Tố Hữu là một mốc son ghi dấu
Trang 6từng chặng đường lịch sử của dân tộc Từ đó cho đến nay đã, có không biết bao nhiêu bài thẩm định, đánh giá cao về thơ Tố Hữu với rất nhiều công trình nghiên cứu mang tính quy mô rộng lớn và còn hứa hẹn rất nhiều công trình nghiên cứu công phu khác nữa
Vì là một nhà thơ lớn, sự nghiệp thơ ca lại đồ sộ và có giá trị trên nhiều phương diện cho nên có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về sự nghiệp của
Tố Hữu Phần lớn các công trình nghiên cứu lâu nay đi sâu khai thác những đóng góp của nhà thơ trên những bình diện giáo dục tư tưởng yêu nước và cách mạng Các nhà nghiên cứu phê bình cũng quan tâm nhiều nhất tới các giai đoạn sáng tác của Tố Hữu trước thời kỳ Đổi mới, cũng là những giai đoạn nhà thơ đảm đương nhiều trọng trách lãnh đạo Giai đoạn nhà thơ hưu trí, về già với những tập thơ đậm đà cảm xúc thế sự, đời tư gần như ít được giới nghiên cứu để
ý Đặt mạch cảm hứng thế sự - đời tư trong tương quan với các cảm hứng chủ đạo khác trong thơ Tố Hữu để thấy được một tiếng nói nghệ thuật toàn vẹn, sinh động, nhiều cung bậc, một thế giới nghệ thuật đa dạng mà thống nhất, biện chứng của cả một đời thơ là một việc cần thiết và gần như còn dang dở, ít người làm Vì thế chúng tôi đã chọn đề tài “Cảm hứng thế sự - đời tư trong thơ Tố Hữu” với mong muốn trong khuôn khổ chật hẹp của luận văn, góp thêm một tiếng nói nhỏ, thêm một lần khẳng định sự phong phú mà không phức tạp, đa dạng mà không chồng chéo của một hồn thơ trước sau vẫn nhất quán với phong cách sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo trữ tình chính trị của hồn thơ này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu cảm hứng thế sự đời tư trong thơ một tác giả, giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về cuộc đời, sự nghiệp của họ và những uẩn ức trong thơ Đã có nhiều bài viết bàn về cảm hứng thế sự đời tư
trong những giai đoạn văn học, tác giả văn học như: “Cảm hứng đời tư thế sự trong văn học Việt Nam sau 1975 khi viết về đề tài gia đình’’ (Phùng Việt Văn),
“Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam 1975 - 2000’’ (Trịnh Thị Hằng),
Trang 7“Cảm hứng thế sự - điểm gặp gỡ và khác biệt giữa tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết của một số tác giả miền Bắc cùng thời” (Huỳnh Thị Lan Phương),
“Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn Lê Minh Khuê’’ (Lê Hồ Quang), “Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh” (Chung Thị Thúy)…
Trong hơn năm thập kỷ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi Những công trình nghiên cứu qui mô lớn viết về ông đã nhiều Các bài viết về Tố Hữu tập trung làm nổi bật vai trò một tác giả văn học, một đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam với hàng loạt những sáng tác ghi dấu ấn trong lòng người đọc trong một giai đoạn văn học hiện đại sôi động và vô cùng phong phú, đa dạng
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng vào những năm cuối thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, cùng với sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao thơ ông Trong bài viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu (Báo Mới, số 1, ngày 1-5-1939) tác giả K và T đã khẳng định: “Thơ Tố Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng
sự cho lý tưởng”, “Với Tố Hữu, chúng ta có một nhà thơ cách mạng có tài”,
“nhà thơ chiến sĩ”, “nhà thơ của tương lai”…
Từ sau 1954 cho đến sau 1975, có rất nhiều bài viết về thơ Tố Hữu Có
thể nói, chuyên luận “Thơ Tố Hữu” của Lê Đình Kỵ (NXB Đại học và trung học
chuyên nghiệp) xuất bản năm 1979 là công trình nghiên cứu đầu tiên về thơ Tố Hữu cả trên phương diện nội dung và nghệ thuật Qua chuyên luận, tác giả đã khái quát những chủ đề lớn trong thơ Tố Hữu: Chủ đề Nhân dân, chủ đề Đất nước, Đảng, Bác Hồ…Công trình cũng làm sáng rõ một số đặc điểm cơ bản trong phong cách thơ Tố Hữu: Tính dân tộc, trữ tình - cách mạng
Công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử tiếp cận thơ Tố Hữu
theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo cứu công phu, khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế đem đến những cảm nhận và đánh giá mới mẻ về thơ Tố
Trang 8Hữu như một chỉnh thể toàn vẹn, có hệ thống, với nhiều phát hiện và đánh giá quý báu theo phương pháp nghiên cứu mác xít Với việc nghiên cứu sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu ở góc độ thi pháp, chuyên luận này đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu lúc bấy giờ Tác giả chuyên luận đi sâu vào một số phạm trù của thi pháp học hiện đại như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các hình thức biểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của nhà thơ
Tác giả Hà Minh Đức cũng là một người bền bỉ, chuyên tâm nghiên cứu
về thơ Tố Hữu qua hai Lời giới thiệu công phu cho hai Tuyển tập thơ Tố Hữu
vào các năm 1979 (Nxb Văn học) và 1995 (Nxb Giáo dục) Đặc biệt, chuyên
luận “Tố Hữu - Cách mạng và thơ” (Nxb ĐHQG HN, 2004) đã tập hợp nhiều
bài viết của các tác giả trong khoảng thời gian gần 20 năm viết về con người và
sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu Chuyên luận gồm hai phần: Trò chuyện và ghi chép về thơ; Tiểu luận văn học Chuyên luận đã tập trung làm nổi bật những thành tựu quan trọng qua những chặng đường thơ của Tố Hữu
Tác giả Nguyễn Bá Thành qua bài viết “Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu” đã đi sâu nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình theo hướng biện
chứng từ hướng nội đến hướng ngoại và sau đó lại trở về hướng nội Thơ Tố Hữu và luôn hướng về ánh sáng cách mạng Từ đó tác giả nêu bật được nét khác biệt, sự đổi mới của tư duy thơ Tố Hữu với các nhà thơ đương thời cả về mức độ
và hướng vận động
Cuốn “Tố Hữu về tác giả và tác phẩm” (NXB Giáo dục, 2003) do nhiều
tác giả biên soạn đã tập hợp những bài viết, tiểu luận, phê bình của các nhà nghiên cứu về thơ Tố Hữu trong gần nửa thế kỷ qua Không chỉ đề cập tới quan niệm về văn học nghệ thuật và sáng tạo thơ ca của Tố Hữu, các bài viết còn đi sâu, khai thác một cách toàn diện những giá trị nội dung, nghệ thuật trong sự nghiệp thơ ca của ông
Trang 9Cũng có nhiều bài nghiên cứu về các tập thơ của Tố Hữu Từ tập thơ đầu
tay Từ ấy, đến các tập Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và Hoa,…đã có hàng
trăm bài viết, công trình nghiên cứu phê bình phong phú, đa dạng dọc theo đời
thơ Tố Hữu suốt nửa thế kỷ qua Tập thơ Từ ấy có các bài viết tiêu biểu của Đặng Thai Mai, Phan Cự Đệ, Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh,… Tập thơ Việt Bắc có
các bài viết tiêu biểu của Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông Tập
thơ Gió lộng có các bài viết tiêu biểu của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn
Long, Hà Xuân Trường… Các tập thơ khác có các bài viết của Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Hoài Thanh… Ngoài ra, còn có rất nhiều bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu cả ở trong và ngoài nước Nhìn chung các bài nghiên cứu đều có sự nhìn nhận đánh giá những giá trị cơ bản và nổi bật của thơ Tố Hữu
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu còn nhiều tác giả Mỗi bài viết lại có những phát hiện riêng, hướng khai thác riêng, nhưng tất cả đều hướng tới khẳng định tài năng cũng như những đóng góp không thể phủ nhận của Tố Hữu đối với nền thơ ca dân tộc Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình, bài báo nào có cái nhìn hệ thống và toàn diện về tư tưởng - cảm xúc thế sự đời tư, về những băn khoăn trăn trở đời thường của một nhà thơ sống giữa lòng dân Với đề tài “Cảm
hứng thế sự - đời tư trong thơ Tố Hữu” qua hai tập thơ Một tiếng đờn và Ta với
ta, chúng tôi mong muốn góp tiếng nói bổ sung một cách nhìn mới về thơ Tố
Hữu
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi của đề tài
3.1 Đối tượng của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cảm hứng thế sự đời tư trong thơ
Tố Hữu qua hai tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta
3.2 Mục đich của đề tài
Với việc tìm hiểu về cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Tố Hữu qua hai
tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta, luận văn mong muốn có thêm một tiếng nói
Trang 10bổ sung khía cạnh, nhằm góp phần đem lại cái nhìn toàn mới mẻ hơn về sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào khảo sát hai tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta
của Tố Hữu Trong những trường hợp, văn cảnh cần thiết, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi khảo sát tới những tập thơ khác trong các giai đoạn sáng tác trước, cụ
thể là các tập Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Máu và hoa…
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận văn Việc phân tích những tác phẩm cụ thể sẽ tìm ra cái hay, cái đặc sắc Rồi từ đó làm cơ sở khái quát chung về cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Tố Hữu
4.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Cảm hứng nghệ thuật nói chung và cảm hứng thế sự đời tư nói riêng là một chỉnh thể, là một nội dung lớn trong thơ trữ tình, luận văn chú trọng việc tìm ra những thành tố tạo nên chỉnh thể này và quy luật cấu trúc nên nó Mọi đối tượng, mọi vấn đề khảo sát được chúng tôi đặt trong tương quan hệ thống, trong quy luật cấu trúc này
4.3 Phương pháp so sánh
Mục đích của việc sử dụng phương pháp so sánh là để khẳng định nét độc đáo, đặc sắc của phong cách thơ Tố Hữu trong mối tương quan so sánh với các tác giả, tác phẩm khác ở cả hai chiều lịch đại và đồng đại Với việc sử dụng
Trang 11phương pháp này chúng tôi có cơ sở để tìm hiểu, lí giải và xác định rõ những giá trị cũng như đóng góp của thơ Tố Hữu trên nhiều bình diện khác nhau
4.4 Phương pháp phân loại, thống kê
Đối với từng thành tố trong chỉnh thể, đối với các yếu tố thuộc phương thức, phương tiện trữ tình trong thơ Tố Hữu, khi cần thiết luận văn thực hiện phân loại và thống kê qua các con số cụ thể
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố hữu qua các chặng
đường thơ
Chương 2: Hệ thống cảm xúc thế sự - đời tư thường nhật
Chương 3: Một vài đặc điểm hình thức nghệ thuật
Trang 12
1.1 Cảm hứng dân tộc lịch sử
Nhà thơ Tố Hữu sinh và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đen tối, bản thân ông đã chứng kiến những biến động dữ dội, những thăng trầm của dân tộc những năm 20 của thế kỷ XX Trước hiện thực đó nhiều người đã khó khăn trong việc xác định cho mình một hướng vào đời, Tố Hữu cũng có lúc băn khoăn:
Bâng khuâng đứng trước hai dòng nước Chọn một dòng hay để nước trôi ?
(Dậy lên thanh niên)
Tố Hữu đã tìm được câu trả lời cho cuộc đời mình, ông không ngần ngại đến với cách mạng, gắn bó cuộc đời mình với sự nghiệp cao cả ấy, buộc tâm hồn mình với “bao hồn khổ” Và khi hòa mình vào cuộc sống rộng lớn của đất nước thơ của ông gắn bó máu thịt với cuộc đời, với cuộc đấu tranh gian khổ của quần chúng nhân dân
Nhìn lại bảy tập thơ đồ sộ, người ta thấy thơ Tố Hữu luôn theo sát những chặng đường cách mạng của dân tộc, phản ánh một cách chân thực hiện thực sôi động của đất nước từ những năm 30 đến hết thế kỷ XX Mỗi tập thơ là sự kết tinh những sự kiện trọng đại, những chặng đường lịch sử vẻ vang và không ít
Trang 13những thăng trầm, gian khổ của dân tộc, của cách mạng Việt Nam Chính vì thế
có thể tìm thấy trong sự nghiệp thơ ca của ông một cuốn “biên niên sử” về lịch
sử của dân tộc Việt Nam
Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, là một trong những người gieo hạt, khai sinh ra nền văn học cách mạng Việt Nam hiện đại Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp thơ ca của ông hòa quyện vào nhau trong từng bước đi của
lịch sử và thời đại Trong lời tự bạch của mình, in trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, ông viết: Suốt đời, tôi phấn đấu vì sự nghiệp độc lập dân tộc và lý tưởng
cộng sản Cùng với hoạt động cách mạng, tôi làm thơ cũng vì sự nghiệp cách
mạng Đối với tôi: Trăm năm duyên kiếp: Đảng và Thơ
Toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu chính là sự quán xuyến thống nhất mối quan hệ đó Từng tập thơ trong từng giai đoạn đều đánh dấu những bước ngoặt trọng đại của cách mạng Việt Nam Thơ ông là tiếng nói đồng hành cùng lịch sử - dân tộc - thời đại - cách mạng, thể hiện sự nhạy cảm thi sĩ của ông trước những vấn đề lớn lao của hiện thực và tình cảm của con người Việt Nam yêu nước, yêu lý tưởng Nó là sức mạnh tinh thần của nhiều thế hệ cho đến hôm nay
và mai sau Từ những vần thơ giàu nhiệt huyết tuổi trẻ “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ - Mặt trời chân lý chói qua tim”, đến những vần thơ cuối đời khát khao bỏng cháy lòng yêu đời: “Ta bước tiếp trên đôi chân tráng kiện - Lại nghĩ suy bằng chính óc tim mình - Mừng thế kỷ hai mươi mốt đến - Cho sáng bừng mặt đất, ánh bình minh”, Tố Hữu đã đi trọn một hành trình thơ và hành trình đời tuyệt đẹp “Duyên kiếp Đảng và thơ” đã làm nên một Tố Hữu - công dân và một
Tố Hữu - thi sĩ hài hòa, cao cả Từ tác phẩm đầu tay Từ ấy đến Việt Bắc, Ra trận, Máu và hoa đến tác phẩm sau cùng Một tiếng đờn, Ta với ta là minh chứng cho
cuộc sống - thơ và thơ - cuộc sống của Tố Hữu
Từ ấy là tập thơ đầu tay của chàng trai xứ Huế này, gồm 71 bài được chia làm 3 phần tương ứng với ba giai đoạn lịch sử: Máu lửa (27 bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài), như một bộ phim phóng sự tài liệu 3 tập bằng thơ
Trang 14ghi lại một thời kỳ lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam Kể từ khi “mặt trời chân lý chói qua tim”, Tố Hữu đã để lòng mình “trang trải khắp trăm nơi” với
bao số phận hẩm hiu, trôi nổi như em bé mồ côi, chị vú em, lão đầy tớ và kêu gọi mọi người cùng đồng cảm:
Tôi không muốn mời anh đi xa lạ Tìm đau thương trong xã hội điêu tàn
Kể làm sao cho hết cảnh lầm than Lúc trái ngược đã tràn đầy tất cả
(Hai đứa bé)
Hiện tại phũ phàng ấy càng lúc càng làm cho nhà thơ dửng dưng, giận dữ:
Ta nện gót trên đường phố Huế
Dửng dưng không một cảm tình chi!
Không gian sặc sụa mùi ô uế
Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi
(Dửng dưng)
Vì vậy mà tác giả nguyện “Tôi buộc hồn tôi với mọi người” để đấu tranh,
hy vọng Sau bao “máu lửa” và “xiềng xích”, Tố Hữu đã reo vui trong ngày hội
Huế và Việt Nam giải phóng năm 1945
Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!
Nước mắt ta trào, húp mí, tràn môi ( ) Ai dám cấm ta say, say thần thánh Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh Thổi phồng lên Tim bỗng hóa mặt trời
(Huế tháng Tám)
Trong kháng chiến chống Pháp, Tố Hữu đã có bước trưởng thành vượt
bậc trong sáng tạo và nhận thức tư tưởng qua tập thơ Việt Bắc - tác phẩm trữ tình
hùng ca hay nhất thời này, thể hiện sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng, Bác Hồ và những tình cảm kết tinh của con người Việt
Trang 15Nam kháng chiến bằng tiếng nói nghệ thuật vừa dân tộc vừa hiện đại; vừa riêng vừa chung thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân bản Với tư cách
là chủ thể trữ tình nhập vai nồng nhiệt, Tố Hữu đã thay mặt đồng đội, đồng bào phản ánh chân thực cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, ngợi ca những con người có tâm hồn sáng trong và dũng cảm
Trong thời gian này, nhà thơ Tố Hữu đã bám sát hiện thực cuộc kháng chiến của dân tộc để ghi lại một cách chân thực nhất về sức mạnh và tinh thần
quyết chiến quyết thắng của nhân dân ta Hoan hô chiến sỹ Điện Biên, Ta đi tới,
Cá nước, Phá đường, Bà Bầm, Bà Bủ, Lên Tây Bắc, Sáng tháng Năm, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Việt Bắc, Ta đi tới…, mỗi bài thơ của Tố Hữu như những
thước phim tư liệu chân thực mà sinh động có sức cổ vũ tinh thần lớn lao đối với quân và dân ta tiến lên phía trước để giành chiến thắng
Tố Hữu lên chiến khu Việt Bắc vừa tham gia chiến đấu, vừa làm thơ khích lệ đồng bào trên mọi mặt trận: chống mù chữ, chống đói, chống càn… Hơi thở của thời đại, của cuộc kháng chiến thần thánh ấy đã đi vào thơ ông rất tự nhiên, rất gần gũi như tiếng đào công sự chống càn vậy:
Lục cục lào cào Anh cuốc em cuốc Đất lở đá nhào!
Nào anh bên trai Nào em bên nữ
Ta thi nhau thử
Ai nào hơn ai!
Anh tài thì em cũng tài Đường dài ta xẻ, sức dai ngại gì
Đường đi ngoắt ngoéo chữ chi
Hố ngang hố dọc chữ i chữ tờ
(Phá đường)
Trang 16Việt Bắc phản ánh đúng không khí của thời đại, đó là không khí sục sôi lên
đường ra mặt trận của lớp lớp con người Việt Nam Nó như một cuộc biểu dương sức mạnh của dân tộc:
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
(Việt Bắc)
Trên phông nền lịch sử ấy Tố Hữu đã miêu tả và ngợi ca những con người anh hùng, bất khuất, đại diện ưu tú nhất cho sức mạnh, lý tưởng và tinh thần của dân tộc Mãi còn đây trong ký ức chúng ta hình ảnh cô gái phá đường nén tình riêng vì nghĩa lớn:
Em là con gái Bắc Giang Rét thì mặc rét, nước làng em lo Nhà em phơi lúa chưa khô Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong Nhà em con bế con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đường quan Con ơi, con ngủ cho ngoan
Sang canh trăng lặn buổi tan mẹ về
(Phá đường)
Mãi còn đây hình ảnh bà Bầm - người mẹ yêu thương của bao nhiêu chiến
sĩ để chiều chiều “có đứa con xa nhớ Bầm” trên đường ra mặt trận:
Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi, ngàn khe
Trang 17Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
(Bầm ơi)
Hình ảnh người lính cụ Hồ trong những ngày kháng chiến lại hiện lên với
quy mô và tầm vóc hiên ngang, hoành tráng:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo
(Lên Tây Bắc)
Đó chính là những “Chiến sĩ anh hùng - Đầu nung lửa sắt - Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt - Máu trộn bùn non - Gan
không núng - Chí không mòn” (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên) để làm nên chiến
công Điện Biên Phủ lịch sử
Và đẹp nhất trong biển lớn nhân dân, là hình tượng Bác Hồ - hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh thiêng liêng mà gần gũi Mối quan hệ giữa cái phi thường
và cái bình thường được hóa giải trong nhau để làm nên sự hài hòa, cao quý:
Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút
(Sáng tháng năm)
Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng khép lại chín năm kháng chiến, hồn thơ Tố Hữu lại có dịp bay cao, bay xa trên miền Bắc mùa xuân để ca ngợi con người và Tổ quốc trong công cuộc cải tạo và dựng xây Chưa bao giờ hồn thơ
ông lại vang vọng, tươi vui như thế Gió lộng là tập thơ thể hiện bước khẳng định
mới trong nhận thức tư tưởng và năng lực sáng tạo của Tố Hữu Cuộc sống khẩn trương lao động ở miền Bắc kết hợp với nỗi đau chia cắt Bắc - Nam đã làm nên
Trang 18chất trữ tình bi tráng của thơ Tố Hữu thời này Ta bắt gặp trong thơ ông cái tươi
Sướng vui thay, miền Bắc của ta!
Cuộc sống tưng bừng đổi sắc thay da
Ta nghe rõ: mỗi giờ mỗi phút
Cả đất nước ta tiến lên vùn vụt
(Trên miền Bắc mùa xuân)
khiến tác giả không kìm nổi được tiếng reo ca:
Thơ ta ơi! Hãy cất cao tiếng hát
Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta!
Mùa thu đó, đã bắt đầu trái ngọt
Và bắt đầu nở rộ những vườn hoa
(Mùa thu mới)
Trong mạch cảm xúc dân tộc – lịch sử này, thơ Tố Hữu có thêm cung trầm
xót xa khi nghĩ về miền Nam, nghĩ về Huế - quê mẹ bị cắt chia Miền Nam - hai
tiếng thiêng liêng luôn đánh thức nỗi nhớ mong da diết, “nỗi niềm nhức nhối tim gan”, “Như mối tình chung thuỷ không tan”:
Hỡi tất cả những người đang sống Hãy thay chúng tôi, truyền đi vang động Tiếng vọng căm thù, tiếng vọng đau thương Của miền Nam bất khuất kiên cường…
(Thù muôn đời muôn kiếp không tan)
Và nỗi nhớ nặng sâu, da diết nhất trong thơ Tố Hữu vẫn là Huế - Huế của
tuổi thơ, Huế của hiện tại:
Trang 19Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười Mây núi hiu hiu, chiều lặng lặng Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi
(Quê mẹ)
giờ đây chỉ còn trong nỗi nhớ, khiến tác giả phải thốt lên “Cay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường”, để cuối cùng, ông tự nguyện xin được làm người hành động:
Cho ta lại trở về quê cũ
Bờ sông Hương hay bến sông Bồ Cùng các mẹ, các o, các chú Giành lại từng mảnh đất thành đô
(Có thể nào yên)
Từ ước mơ và nguyện vọng được trở về quê mẹ, Tố Hữu đã thực sự đi vào
chiến trường khu IV trong những năm chống Mỹ ác liệt Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng của cả dân tộc trong cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam Bắc Vốn sống và thực tế đã giúp
ông hình thành tập thơ Ra trận mang đậm chất sử thi, hoành tráng Tập thơ là bản anh hùng ca về “Miền Nam trong lủa đạn sáng ngời” một thời “lửa cháy”:
Có ai biết ba ngàn đêm ấy Mỗi đêm là biết mấy thân rơi!
Có ai biết bao nhiêu máu chảy Máu miền Nam hơn chín năm trời!
(Miền Nam)
Có thể nói rằng, với tập thơ Ra trận, hành trình thơ Tố Hữu đã tái hiện bổ
sung một cách sinh động diện mạo tinh thần và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam yêu nước sáng rõ nhất Đó là cuộc diễu binh hùng vĩ, là khúc ca chiến đấu uy nghiêm của toàn dân tộc, mà hình tượng tiêu biểu nhất
là anh giải phóng quân:
Trang 20Hoan hô anh Giải phóng quân Kính chào Anh, con người đẹp nhất Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất Sống hiên ngang bất khuất trên đời Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi
(Bài ca xuân 68)
Đó còn là những “cô dân quân - vai súng tay cày” chân lội bùn mà mơ hạ máy bay; là anh hùng Nguyễn Văn Trỗi -“Một con người như chân lý sinh ra”; là mẹ Suốt quyết tâm đánh giặc với tư thế hiên ngang, bất khuất “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung - Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” Đó là khí thế của
cả dân tộc hành quân, cả dân tộc cùng ra trận
Tập Máu và hoa gồm 13 bài, sáng tác trong sáu năm (1972-1977), có ý
nghĩa tổng kết quá trình phát triển của dân tộc, của Cách mạng Việt Nam - một hành trình đầy máu, đầy hoa Tập thơ ghi lại một chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt và hào hùng:
Xe lao qua dốc qua đồi Gió tây dội lửa ồi ồi sau lưng Bụi bay, bụi đỏ lá rừng Mịt mù lối cát, kín bưng đường hầm Nóng nung, vạt áo ướt đầm
(Nước non ngàn dặm)
Trong cuộc chiến tranh này, biết bao người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống để hoa tự do được nở, quả độc lập được kết trái Tự hào biết bao và đau
thương đến nhường nào Tố Hữu viết tập thơ Máu và hoa với bao xúc động:
Đâu phải đường xanh Đường qua máu chảy Năm mươi năm, máu đỏ thành hoa
Trang 21Cuộc sinh nở nào đau đớn vậy?
Rất tự hào, mà xót tận trong da
(Với Đảng, mùa xuân)
Cuộc chiến tranh chia cắt 20 năm đã kết thúc vinh quang bằng đại thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử Hồn thơ Tố Hữu lại có dịp reo vui, hướng về những vấn đề trọng đại và nhân bản của đất nước và con người trong chiến tranh và
trong hòa bình Ông không nén được niềm vui dâng nghẹn:
Cho chúng con giữa vui này được khóc Hôn mỗi đứa em, hôn mỗi mẹ già
(Toàn thắng về ta)
Nhà thơ không nén được bàng hoàng trong buổi đoàn viên đầy lệ sau “Hai mươi chín năm dằng dặc xa quê - Nay mới được về thăm mừng tái tê”, nhìn đâu cũng Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp:
Tôi lại nhìn như đôi mắt trẻ thơ
Tổ quốc tôi! Chưa đẹp thế bao giờ!
Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biển Xanh trời, xanh của những ước”
(Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ)
Tác giả ngỡ ngàng khi đứng trước dòng Hương ngày thơ bé, tiếng thơ ông như một lời độc thoại với người thương
Hương Giang ơi! Dòng sông êm Qua tim ta vẫn ngày đêm tự tình Vẫn là duyên đó quê anh Gió mưa tan, lại trong lành mặt gương
(Bài ca quê hương)
Cuộc sống hòa bình, xây dựng sau 1975 đã đánh dấu một bước ngoặt
chuyển mình trong quá trình sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Bước ngoặt ấy được xác định bởi ý thức của chủ thể sáng tạo trước những vấn đề mới mẻ của
Trang 22nhân sinh, thế sự Tố Hữu cũng không nằm ngoài quy lụât đó Cùng với Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận , Tố Hữu đã suy tư, trăn trở rất nhiều về thơ ca và cuộc đời Tuổi càng cao, tâm sự của nhà thơ càng thêm thâm thuý và gấp gáp
Tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta là những tổng kết và chiêm nghiệm của chính
nhà thơ, sau đó, hướng về nhân thế bằng cái nhìn nhân hậu và giàu dự cảm, thủy
chung và ân nghĩa:
Ôi! Kiếp trăm năm được mấy ngày Trời xanh không gợn bóng mây bay Gian nan vẫn thủy chung bè bạn
Êm ấm tình yêu mỗi phút giây
(Một tiếng đờn)
Giọng cao bao nhiêu năm, giờ tác giả thấy cần thiết phải chuyển sang giọng trầm - cái giọng trầm đủ để tâm tình và triết luận, để chia sẻ và tri âm Tác giả có tỏ ra lo âu về chung quanh, về mình và về thơ, nhưng chủ yếu vẫn là tin yêu và hy vọng vào sự tốt đẹp của tương lai Đó là điều không thể khác đối với bất kỳ nhà thơ lớn nào Tố Hữu trước sau vẫn là một - không thể tách rời chân lý
cách mạng mà cả cuộc đời và thơ ông đã tự nguyện tôn thờ: “Trăm năm duyên kiếp: Đảng và Thơ”
Đó chính là tinh tuý một đời người, đỉnh cao của một đời thơ:
Tròn năm mươi tuổi Đảng và thơ
Từ ấy hồn vui mãi đến giờ Mái tóc pha sương chưa cạn ý Con tằm rút ruột vẫn còn tơ
(Đảng và thơ)
Có thể nói, những sự kiện lịch sử từ khi thành lập Ðảng, cho đến ngày đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Tố Hữu không chỉ là người chứng kiến, mà
còn là người tham gia ở nơi đầu sóng Kể từ khi nhận ra “mặt trời chân lý” cho
đến những năm tháng cuối cùng của đời mình, Tố Hữu bao giờ cũng ở giữa
Trang 23dòng chảy xiết của những sự kiện của cuộc sống chung quanh mình Thơ Tố Hữu vì vậy, là tiếng hát của trái tim hòa trong trạng thái tinh thần của những sự kiện đó Những thành tựu xuất sắc mà ông có được cũng từ mối quan hệ gắn bó giữa tình cảm riêng và chung, giữa thơ và sự nghiệp cách mạng mà thời đại yêu cầu Hơn ai hết, Tố Hữu chính là “người thư ký trung thành của thời đại”
Thơ Tố Hữu là thơ từ trái tim đến với trái tim, là tiếng nói “đồng ý, đồng chí, đồng tình”, là tiếng gọi kết đoàn, đồng thời cũng là thơ của trí tuệ tỉnh táo
Những phẩm chất tối ưu ấy được tích hợp trong toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ
Tố Hữu, qua thời gian sàng lọc, nó càng chứng tỏ sức sống mãnh liệt và hấp dẫn Thơ Tố Hữu trở thành sức mạnh tinh thần của nhiều thế hệ con người Việt Nam hôm qua, hôm nay và mai sau
Nhà thơ Evtusenko cho rằng: “Để hiểu được chính bản thân mình, mỗi dân tộc đều sinh ra các nhà thơ” Mỗi nhà thơ chân chính đều là người phát ngôn cho tâm hồn dân tộc Thân phận nhà thơ gắn liền với số phận dân tộc Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam thời hiện đại Ông là nhà thơ của đất nước quê hương trong những biến động của lịch sử Cảm hứng dân tộc - lịch sử thực sự là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt đời thơ Tố Hữu
1.2 Cảm hứng trữ tình công dân
Tố Hữu được coi là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu là thơ trữ tình - chính trị Mọi diễn biến của đời sống cách mạng, hiện thực sôi động của đất nước đều được nhìn nhận qua trái tim nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ Hồn thơ
Tố Hữu luôn hường đến cái ta chung, lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc và của Cách mạng Cái tôi nếu có là cái tôi của người chiến sĩ, cái tôi nhân danh Đảng và dân tộc Cảm hứng thơ Tố Hữu thường bắt đầu từ cảm hứng chính trị,
từ những tình cảm lớn cao cả, tiêu biểu là tình yêu lý tưởng, tình yêu Đảng, lãnh
tụ, tình đồng bào, đồng chí…
ngũ của mình một thi sĩ có tầm cỡ khai sáng cho cả nền thơ trữ tình cách mạng
Trang 24Tố Hữu, vinh dự là ngay từ các bài thơ đầu, đã mang tình cảm người chiến sĩ cách mạng Thơ Tố Hữu, khi ấy, về nghệ thuật, ông có những nét tương đồng với Thơ mới Tương đồng về bút pháp và tương đồng ngay cả việc hướng cảm xúc vào cái tôi cá thể
Nhưng cái tôi của Tố Hữu ngược hẳn với cái tôi của Thơ mới Ta là một,
là riêng, là thứ nhất/ Không có ai bè bạn nổi cùng ta/ Ta bỏ đời và đời cũng bỏ
ta Chính vì vậy, Tố Hữu, là người đầu tiên mang vào thơ Việt Nam một phẩm
chất mới: chất trữ tình riêng tư của người cộng sản Ở đấy có sự hòa trộn của đời công và đời tư - cái riêng tư của nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là sự nghiệp cách mạng "
Khi đang “Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” chàng thanh niên trẻ Tố Hữu
được giác ngộ ánh sáng của Đảng Sự kiện này đã làm thay đổi cuộc đời ông Tố Hữu đã tìm được cho thơ mình sứ mệnh cao cả để phục vụ Và ngay từ những
phút giây “mặt trời chân lí chói qua tim” ấy nhà thơ đã một lòng hướng tới
Biết làm thơ từ khi mới sáu, bảy tuổi nhưng phải đến những năm 1937,
1938 trở đi, thơ của ông mới thực sự bộc lộ tài năng đặc biệt Trong khi các nhà thơ Mới lãng mạn trốn vào tháp ngà nghệ thuật, xa rời hiện thực đau khổ của đời sống cần lao Nếu như Chế Lan Viên khóc thương nước Chàm xưa cổ kính, Quách Tấn hoài nhớ những lâu đài vàng son rực rỡ của họ Tấn, họ Tạ bên Trung Quốc, Xuân Diệu dệt mộng yêu đương tưởng tượng, Hàn Mặc Tử điên loạn trong “Đau thương”… thì Tố Hữu chỉ viết về cuộc đời có thực của những người dưới đáy xã hội với sự cảm thông sâu sắc Đó là những cô gái giang hồ, trẻ mồ
Trang 25côi, người đi ở, chị vú em, lão đầy tớ… Những vần thơ viết về họ đã làm xúc động biết bao tâm hồn con người Việt Nam lúc bấy giờ:
Em len lét, cúi đầu, tay xách gói
Áo quần dơ, cắp chiếc nón le te Vẫn chưa thôi, lời day dứt nặng nề Hàng dây tiếng rủa nguyền trên miệng chủ
(Đi đi em)
Và đây là cảnh ngộ éo le của chị vú em:
Nàng gởi con về nương xóm cũ Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi Rồi từ hôm ấy, ôm con chủ Trong cánh tay êm, luống ngậm ngùi
(Vú em)
Ý thức phản kháng, niềm khát khao thay đổi vận mệnh dân tộc, làm cho những người cần lao trở nên sung sướng và hạnh phúc hơn đã xuất hiện trong những bài thơ non nớt của tập Từ ấy Tố Hữu hiểu rõ kiếp sống nhọc nhằn của những con người ấy và ông sẵn sàng hứa một lời hứa đầy lãng mạn, sáng tươi, thắp lên trong tâm hồn họ niềm tin vào tương lai tươi sáng với ý thức của một thi nhân và của một chiến sĩ cách mạng kiên cường:
Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
(Tiếng hát sông Hương)
Sau những năm dân tộc sống trong đau khổ, tăm tối, khi tổng khởi nghĩa năm 1945 thắng lợi cả nước hân hoan trong niềm vui giải phóng, quần chúng nhân dân vỡ òa trong niềm vui lớn Tố Hữu có mặt ở Huế vào thời điểm ấy và ghi lại giây phút lịch sử trọng đại này:
Trang 26Gió gió ơi! Hãy làm giông làm tố Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!
Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác
Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc
Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!
(Huế tháng Tám)
Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Bên cạnh niềm vui lớn ấy là nỗi đau chia cắt Miền Nam ruột thịt phải hứng chịu biết bao đau thương, mất mát trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ Không thể đong đếm được tình cảm của người dân Việt Nam nói chung và nhân dân miền Bắc nói riêng dành cho mảnh đất miền Nam:
Biết không anh? Giồng Keo, Giồng Trôm Thảm lắm anh à Lũ ác ôn
Giết cả trăm người, trong một sáng Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn
Có những ông già, nó khảo tra Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh, không chịu nhục Lấy vồ nó đập, vọt thai ra
(Lá thư Bến Tre)
“Lá thư Bến Tre” chính là lá thư được viết bằng máu của nhân dân miền
Nam Lá thư chính là bản cáo trang đanh thép tố cáo tội ác dã man của đế quốc
Mĩ Chính những vần thơ của Tố Hữu đã thổi bùng lên ngọn lửa căm thù trong
Trang 27hàng triệu trái tim con người Việt Nam, khơi dậy lòng yêu nước và tạo nên sức mạnh lớn lao của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Trong khi Miền Nam kiên cường chống Mĩ, miền Bắc thực hiện sứ mệnh cao cả là tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam Công cuộc dựng xây, kiến thiết, thi đua sản xuất tạo ra một không khí khẩn trương, sôi nổi, hăng say trên toàn miền Bắc Với tinh thần ấy, chỉ sau một thời gian ngắn miền Bắc đã “thay da đổi thịt” Niềm vui, niềm tin, hạnh phúc ngập tràn trong tâm hồn con người Việt Nam Tố Hữu đã nói hộ cảm xúc của biết bao người lúc bấy giờ:
Dân có ruộng dập dìu hợp tác Lúa mượt đồng ấm áp làng quê Chiêm mùa, cờ đỏ ven đê Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Không chỉ là niềm vui của nông thôn trên con đường làm ăn tập thể, đó còn là không khí của đất nước tiến lên công nghiệp hóa:
Như hôm nay, giữa công trường đỏ bụi Những đoàn xe vận tải nối nhau đi Hồng Quảng, Lào Cai, Thái Nguyên, Việt Trì Tên đất nước reo vui bao tiếng gọi
(Bài ca mùa xuân 1961)
Nhiều tình cảm lớn mang dấu ấn của truyền thống và thời đại trong thơ Tố Hữu đã được thể hiện sâu đậm: tình quân dân “cá nước”, tiền tuyến với hậu phương, miền xuôi với miền ngược, cán bộ với quần chúng, nhân dân với lãnh
tụ, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, tình cảm quốc tế vô sản, :
Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh Vệ quốc quân ơi
Trang 28Sao mà yêu anh thế !
(Cá nước)
Khó có thể phân định rạch ròi giữa một chiến sĩ cách mạng Tố Hữu và nhà thơ Tố Hữu Bởi hai con người ấy đã hòa với nhau làm một Tố Hữu coi thơ ca như một thứ vũ khí sắc bén phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng Và ngược lại, Tổ quốc, nhân dân, sự nghiệp cách mạng đã soi sáng, là nguồn cảm hứng bất tận cho sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu Bằng thơ ca và bằng chính cuộc đời thi sĩ cách mạng của mình, nhà thơ đã dâng hiến trọn vẹn tình yêu cho đất nước Và
có lẽ, chưa bao giờ người đọc thấy đất nước hiện lên chân thực và đẹp đẽ đến thế trong thơ Tố Hữu:
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca
(Ta đi tới)
Không chỉ là một đất nước Việt Nam thanh bình, đẹp đẽ, người đọc còn
bắt gặp trong thơ Tố Hữu một hình ảnh đất nước kiên cường, bất khuất sau khi trải qua những mất mát, đau thương tưởng như không thể hàn gắn được:
Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu!
Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều Như bà mẹ sớm chiều gáng nặng Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng
(Chào xuân 1967)
Cảm hứng trữ tình công dân bộc lộ không chỉ qua cảm xúc, qua “tiếng lòng” mà còn biểu hiện trực tiếp qua hệ thống nhân vật trữ tình cụ thể Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu là những con người đại diện cho những phẩm chất của giai cấp, dân tộc, thậm chí mang tầm vóc lịch sử và thời đại Trong hệ thống hình tượng trữ tình đó, Bác Hồ là hình tượng kết tinh điển hình nhất Có thể
Trang 29nói, trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Tố Hữu là người có nhiều tác phẩm
sâu sắc và cảm động về Bác Hồ: Hồ Chí Minh, Sáng Tháng Năm, Cánh chim không mỏi, Theo Chân Bác, Ta đi tới,…những tác phẩm ấy không phải chỉ là
cảm xúc riêng của nhà thơ mà còn là tấm lòng của những người con Việt Nam hướng về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, mà qua những bài thơ đó, Tố Hữu đã thể hiện tập trung những suy nghĩ, cảm xúc của mình về hình tượng Hồ Chí Minh với tất cả lí tưởng, lẽ sống, niềm vui và những ân tình cách mạng Có lẽ chưa bao giờ trong văn học Việt Nam hình ảnh vị lãnh tụ, vị cha già kính yêu của dân tộc hiện lên như một chủ đề sáng tác chính trong thơ văn Việt Nam rõ ràng mà sâu sắc đến vậy:
Bác ngồi đó, lớn mênh mông Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non
Bác Hồ, Cha của chúng con Hồn của muôn hồn
Cho con được ôm hôn má Bác Cho con hôn mái đầu tóc bạc Hôn chòm râu mát rượi hoà bình!
(Sáng tháng năm)
Và khi con người vĩ đại ấy trở về với “thế giới Người Hiền” những vần thơ của Tố Hữu lại nghẹn ngào, xúc động Tình cảm của cái tôi nhà thơ đã hòa lẫn vào tình cảm chung của muôn triệu người dân Việt Nam:
Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa
Chiều nay con chạy về thǎm Bác Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!
(Bác ơi)
Trang 30Xét trong bản chất, cảm hứng trữ tình công dân chính là cảm hứng chính trị, là tình cảm chính trị với những biểu hiện trực tiếp, cụ thể nhất Có thể nói thơ Tố Hữu là thơ thể hiện các tư tưởng, tình cảm chính trị của thời đại, là thơ phát hiện ý nghĩa chính trị của các hiện tượng đời sống Ông không sống cuộc đời có tình yêu đôi lứa, không có dằn vặt đời thường, ông sống trọn vẹn cuộc đấu tranh suốt trăm năm cho tự do, độc lập của nhân dân ta Trái tim ông đập nơi cảnh đói nghèo, bơ vơ do xã hội cũ tạo nên, nó rớm máu dưới giày đinh của thực dân đế quốc Ông nghẹt thở nơi đất nước bị chia cắt làm đôi, ông đau đớn với cỏ cây, rừng núi Việt Nam thấm đầy chất độc màu da cam của Mỹ Ông bay múa trong ngày Tổ quốc giải phóng, ông trẻ lại cùng đất nước hồi sinh Bao giờ Tố Hữu cũng giữ cho tình cảm mình rung động mãnh hệt với ý nghĩa chính trị của các hiện tượng đời sống Ngay thưởng thức phong cảnh thiên nhiên, nhà thơ cũng suy nghĩ tới chính trị
hiện cái tôi trữ tình ngợi ca, tự hào về quê hương, đất nước, con người Khi hòa bình lặp lại, cái tôi trữ tình lúc bấy giờ đi sâu vào đời tư, thế sự, để khám phá những miền sâu xa trong cõi tâm linh, sâu thẳm của con người Cái tôi ấy thể hiện nỗi buồn đau nhân thế, chứa đựng giá trị nhân văn cao cả Tố Hữu mong muốn được chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu hơn với tình đời, tình người Đó cũng
là nỗi trăn trở, suy tư của nhà thơ về cuộc đời, con người, từ đó, rút ra những triết lý sâu sắc về cuộc đời
1.3 Cảm hứng thế sự đời tư
Cảm hứng thế sự đời tư là một cảm hứng lớn của văn học Việt Nam Nó
là sự bày tỏ suy nghĩ, thái độ, tình cảm của người nghệ sĩ với cuộc sống, con người và việc đời Cảm hứng thế sự đời tư chỉ thực sự xuất hiện từ văn học cuối đời Trần (thế kỷ XIV), tồn tại và phát triển trong quá trình phát triển của văn học, đặc biệt là văn học Việt Nam hiện đại Cảm hứng thế sự đời tư xuất hiện
Trang 31trong nhiều tác phẩm, thuộc cả ba phương thức phản ánh của văn học: tự sự, trữ tình và kịch
Sau 1975, con người Việt Nam phải đối mặt với một hiện thực mới, với những thử thách khốc liệt không phải trong bom đạn mà trong sự khó khăn, thiếu thốn triền miên của đời sống cơm áo thời hậu chiến Cơ chế quan liêu bao cấp được thay thế bởi cơ chế thị trường, cùng với sự thay da đổi thịt của đời sống vật chất, bộ mặt xã hội thời mở cửa cũng kịp phô ra biết bao sự xô bồ, ác hiểm trong sự biến động lớn lao Sự thay đổi của lịch sử kéo theo sự thay đổi cảm hứng trong thơ trữ tình Giờ đây, cảm hứng trữ tình chuyển từ tự hào, ngợi
ca xuống lắng đọng, suy tư Vấn đề thế sự, đời tư dần dần được chú ý đến Các nhà thơ khao khát được bộc bạch, được giãi bày cái tôi bản thể trong dòng cảm xúc phức hợp, đa chiều Đâu đó, trong dòng chảy cuộc đời, Tố Hữu tìm được cho mình một thế giới tĩnh lặng, một “ốc đảo” để ngẫm ngợi, suy tư Khi trở về với cõi riêng tư, con người thường đối diện với cung bậc của nỗi buồn, cô đơn Cảm hứng thế sự đời tư là một cảm xúc mạnh mẽ, chủ đạo, khá quen thuộc trong thơ Tố Hữu Kiểu cảm xúc này đã xuất hiện ngay từ tập thơ đầu tay Hiện thực cách mạng sôi động trong ba mươi năm, từ 1945 - 1975, đã mang đến cho văn học giai đoạn này cũng như thơ Tố Hữu một cảm hứng chủ đạo, đó chính là cảm hứng sử thi, lãng mạn Không phải những sáng tác của Tố Hữu giai đoạn này hoàn toàn không có màu sắc thế sự đời tư Nhưng xét một cách tổng thể, cảm xúc đó luôn bị khuất lấp, bị hòa lẫn trong cảm hứng sử thi, lãng mạn
Cảm hứng thế sự đời tư chỉ thực sự rõ nét ở những tác phẩm Tố Hữu
sáng tác vào những năm cuối đời, đặc biệt là trong hai tập thơ Một tiếng đờn và
Ta với ta Trong hai tập thơ này, cảm hứng thế sự đời tư thể hiện ở những băn
khoăn, trăn trở của nhà thơ về số phận con người, về sự biến thiên của thời đại,
về những hoài niệm về quá khứ và kí ức…
Tố Hữu đã từng hăm hở tự buộc mình với nhân quần, nguyện làm con, làm em, làm anh nhưng không phải của một người cụ thể nào, mà là với tất cả:
Trang 32Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải khắp muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
(Từ ấy)
Để rồi những năm tháng cuối đời, ông tự nhận ra mình ở một chiều kích khác, khi mà cuộc sống hôm nay nói chung và nhất là thi ca không còn thích hợp cho những bản hùng ca thuở nào Theo đó, cũng không cần người lĩnh xướng cho giàn hợp ca ấy nữa, nơi đã đưa ông tới tột đỉnh của vinh quang Cuộc sống dựng xây đất nước hôm nay trong xu thế hội nhập và phát triên, nó cần
nhiều hơn sự “tự lĩnh xướng” cho chính mình, thay vì lĩnh xướng cho mọi người, theo kiểu đi theo phong trào “hát cho đồng bào tôi nghe” của những năm
tháng đánh giặc
Từ sau 1975 ngọn lửa chiến tranh đã dần dần tắt lặng Công cuộc hòa
bình xây dựng đất nước đã diễn ra một phần tư thế kỷ Một tiếng đờn, rồi Ta với
ta, do vậy lại không thể là sự tiếp tục y nguyên tiếng thơ cũ Đã có một tiếng nói
mới, một giọng điệu mới nơi Tố Hữu Trước, ông nói với đời Và ông nói với
lòng tin, tiếng thơ ông là tiếng nói lớn của đời: Hãy xem, hãy nghe, hãy nhớ ! Đừng quên, không thể, có thể nào ! Đó là những lời quen thuộc như những
mệnh lệnh thức, những tiếng hô khẩu hiệu, những kết luận, những lời kêu gọi của Tố Hữu mà cả đất nước một thời cùng lắng nghe, cùng đồng vọng Bây giờ
đã có lúc ông nói với mình, như một cách dặn lòng:
Dưỡng sinh, hai chữ, hay là ! Hít vào thong thả; thở ra nhẹ nhàng Bàn tay xoa bóp dịu dàng Vuốt đầu thanh thản, mịn màng tóc tơ Lòng không bợn chút bùn dơ Biết đâu trăm tuổi, còn thơ với đời
Trang 33(Dưỡng sinh)
Cố nhiên vẫn là Tố Hữu, ở một quyết tâm ráo riết bên trong:
Phải trái, dại khôn, đầu vẫn sáng Thủy chung, đen bạc, mắt chưa nhòa
Sợ chi khúc khuỷu đường muôn dặm
Ta vẫn là ta, ta với ta
(Bảy mươi)
Trước một hiện thực mới mẻ, có lúc ngổn ngang, biến động với biết bao chấn động dữ dội, thì một giọng thơ trầm, đầy ắp suy tư, trăn trở về lẽ đời, lòng người là một khoảng lặng cần thiết và đáng quý để thơ lặn vào bề sâu của tâm trạng xã hội Qua đó người đọc vẫn bắt gặp lo âu canh cánh về xã hội và con người của Tố Hữu Người đọc thấy nhà thơ xuất hiện trong tư cách con người cá nhân hơn là tư cách người chiến sĩ cách mạng trước đây Nỗi buồn thấm vào cõi riêng, để thay cho những buồn - vui chung mà suốt non nửa thế kỷ qua, Tố Hữu từng nói với tư cách đại diện :
Mới bình minh đó đã hoàng hôn Đang nụ cười tươi bỗng lệ tuôn Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy Khuấy động lòng ta biết mấy buồn
Trước, không ai hình dung Tố Hữu có những lúc buồn Nếu có buồn nó phải là nỗi buồn cao cả, nỗi buồn sông núi hoặc buồn trên những tầm vóc tư tưởng lớn Nay thì nhà thơ buồn thật, cô đơn thật Dù có tìm thấy bến đỗ bình yên “bên em”, bên cái hậu phương trăm năm duyên kiếp cũ thì nỗi buồn không đứt những dư âm Bản đồng ca xưa, bản giao hưởng tráng lệ xưa biến đâu hết rồi, chỉ còn một tiếng đàn như đang đứt dây, rơi vào đêm lạnh:
Có khổ đau nào đau khổ hơn Trái tim tự xát muối cô đơn
Em ơi, nghe đó Trong đêm lạnh
Trang 34Đằm thắm bên em, một tiếng đờn
(Một tiếng đờn)
Có thể thấy khá rõ, sau khi rời vũ đài chính trị và nghệ thuật, Tố Hữu cũng thôi luôn vai trò người lĩnh xướng và chỉ huy trong giàn hợp ca cách mạng mà ông từng nắm giữ khá lâu Chính ông tự ý thức được điều ấy nên đã kịp chuyển sang tư thế của người hát đơn ca Vâng, đơn ca có nghĩa là hát một mình với
“Một tiếng đờn” Thậm chí sau này ông còn là người hát “độc ca” tự đối diện với chính mình “Ta với ta”
Tiểu kết: Cảm hứng dân tộc lịch sử, cảm hứng trữ tình công dân, cảm
hứng thế sự đời tư là những cảm hứng chủ đạo, bao trùm toàn bộ sự nghiệp thơ
ca Tố Hữu Giá trị thơ ca Tố Hữu được tạo ra từ chính những cảm hứng này Thơ ông có giá trị không thể phủ nhận bởi lẽ trước hết nó đã gánh vác và hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà thời đại đã giao cho Thơ ông không chỉ phản ánh đầy
đủ hiện thực sôi động của đất nước trong suốt hơn nửa thế kỉ mà còn huy động được sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hơn nữa, bạn yêu thơ xưa và nay thích đọc thơ Tố Hữu bởi vì sự mộc mạc, giản dị Thơ ông là nhịp đập trái tim của một nghệ sĩ trước cuộc đời, là tình cảm, suy nghĩ của một người công dân đối với đất nước, nhân dân Người đọc yêu mến và trân trọng con người và thơ ca Tố Hữu vì sự dâng hiến hết mình cho nghệ thuật và cuộc đời Cả trong thời chiến cũng như thời bình, khi “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” hay là khi “công thành thân thoái”, Tố Hữu vẫn trọn vẹn một tấm lòng dành cho Đảng, Đất nước và Nhân dân
Trang 35Chương 2 Hệ thống cảm xúc thế sự - đời tư thường nhật
Thơ là “tiếng lòng”, là tiếng nói ngân vang của cảm xúc Khi nói tới cảm hứng trong thơ, người ta có thể có hai cách hình dung: một, đó là kiểu cảm xúc đặc thù, gắn liền với cái tôi trữ tình của tác giả, phân biệt hẳn với cảm xúc sáng tạo của tác giả văn xuôi; hai, đó là hệ thống cảm xúc gắn bó với đề tài, chủ đề cụ thể Trong cách hiểu thứ hai, cảm hứng thơ không tồn tại dưới dạng chung chung, trừu tượng, mà đã được cụ thể hóa thành tư tưởng - cảm xúc, thành hình tượng cụ thể trong mỗi tác phẩm Trong chương Hai dưới đây, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu một số nguồn cảm xúc chính, hợp thành cảm hứng thế sự đời tư của nhà thơ
2.1 Những trăn trở băn khoăn về số phận con người
Có lẽ trong thơ ca hiện đại chưa ai nói nói về con người Việt Nam lại chân thực, đẹp đẽ như Tố Hữu Chưa ai tôn vinh và dành cho con người những tình cảm đặc biệt đến thế:
Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau
(Bài ca mùa xuân 1961)
Cũng chính vì lẽ đó mà từ khi được ánh sáng của Đảng giác ngộ Tố Hữu
đã tự hào khi được đứng trong hàng ngũ của nhân dân cần lao Và từ đây, những
trang thơ của Tố Hữu đã nghiêng xuống cuộc đời của họ
Trước 1945, thơ Tố Hữu luôn nghiêng xuống cuộc đời của những con người bất hạnh, những nạn nhân của chế độ cũ Đó là những lão đầy tớ, chị vú
em, những đứa trẻ mồ côi, những cô gái giang hồ… Sau 1975, ông quan tâm tới những con người của xã hội mới Đó là những nạn nhân của chiến tranh, những con người trong lao động, trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn…Nhà thơ đã phát hiện ra những vẻ đẹp giản dị trong đời thường, trong lao động sản xuất Điều này khắc hẳn với thơ Tố Hữu các chặng đường trước
Trang 36Ở các chặng đường trước hình ảnh con người trong thơ Tố Hữu mang vẻ đẹp lớn lao, kỳ vĩ:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo
(Lên Tây Bắc)
Đó chính là những con người anh hùng của thời đại cách mạng: anh bộ đội cụ Hồ, anh giải phóng quân, những chiến sĩ Điện Biên, những cô con gái xóm Lai Vu, chị dân quân, o du kích…tất cả họ đều đẹp, một vẻ đẹp bất tử trên nền lịch sử dân tộc, vẻ đẹp mang tầm vóc lịch sử
Là người trực tiếp đi qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, những ký ức đau thương không dễ gì phai nhạt trong trái tim nhà thơ Chiến tranh có thể phá hủy tất cả Con người chỉ là những sinh linh bé nhỏ, tội nghiệp Sự sống và cái chết của con người mong manh hơn bao giờ hết Vẫn còn đây những tiếng khóc, tiếng gào thét, những dáng hình run rẩy:
Những em bé Đang nằm trên tay mẹ
Trang 37Anh thương binh, áo bạc màu rách nát
Trên vỉa hè, chống nạng đỡ chân đau
(Cho xuân hạnh phúc đến muôn người!)
Anh thương binh là con người của một thời đã qua Đã qua cái thời
“chiếc mũ tai mèo dễ thương như một bàn tay nhỏ…sáng trên đầu như một mảng trời xanh” Bộ quân phục giải phóng quân năm xưa anh mặc đã trở thành
hiện thân cho chính cuộc sống nghèo khổ hiện tại Đã hết rồi cái thời “vui gì hơn làm người lính đi đầu” Cuộc sống thời bình đối với anh dường như xa lạ và khó
khăn quá Gánh nặng cuộc sống mưu sinh luôn là một ám ảnh thường trực trong tâm hồn anh
Tố Hữu luôn dành một tình cảm đặc biệt cho những người phụ nữ Họ là những người chịu muôn vàn khổ cực Nhưng dù hoàn cảnh có thế nào đi chăng nữa họ vẫn ngời sáng những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam Đọc thơ ông, người đọc không thể nào quên những chị vú em, những cô gái giang hồ, những người mẹ anh hùng, những cô du kích, những chị dân quân… Ở cái tuổi
“xưa nay hiếm”, tình cảm dành cho những người phụ nữ vẫn nguyên vẹn trong trái tim nhà thơ:
Đời chị long đong, mới mười sáu tuổi
Đi lấy chồng, cặm cụi làm dâu Ngày chạy hàng rau, đêm gánh nước tưới trầu Mòn mỏi một thời son trẻ
Bốn lần sinh đẻ Nặng hai tay, con bế con bồng
Trang 38Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước được hoàn toàn thống nhất, một thời kỳ lịch sử mới được mở ra cho dân tộc và con người Việt Nam Trong niềm vui hân hoan ấy, Tố Hữu vẫn quan tâm, vẫn hướng tới con người, đặc biệt là những con người nghèo khổ, bất hạnh:
Thỉnh thoảng đài rao: Tìm trẻ lạc Cháu năm, sáu tuổi, ngã ba đường…
Lại rao: Có cụ già tóc bạc Tâm thần rối loạn bỏ quê hương…
(Lạc đường)
Tấm lòng dành cho cuộc đời, cho con người ở Tố Hữu giai đoạn nào cũng nguyên vẹn như thế Những thông tin trên đài về những em bé bị lạc người thân, những người già bị tâm thần đi lang thang khiến trái tim ông đau thắt Họ cũng là phận người, nhưng cuộc đời họ sẽ đi về đâu? Câu hỏi ấy cứ xoáy sâu vào cõi lòng nhà thơ
Cuộc đời còn lắm khổ đau, còn nhiều con người tội nghiệp Hiện thực đau thương ấy hằng ngày vẫn đi qua cuộc đời Tố Hữu Có lúc người đọc lại thấy
Tố Hữu thẫn thờ khi nghe tiếng sáo của một người mù Tiếng sáo cất lên như phơi trải cả một số phận chìm nổi, bất hạnh Tiếng sáo ấy đã chạm đến lòng trắc
ấn của nhà thơ:
Chợt nghe ai thổi sáo như ru
Ôi, tiếng lòng anh nghệ sĩ mù
Da diết sáu câu ca vọng cổ Nỗi sầu bao, kiếp tự thiên thu!
(Anh sáo mù)
Đất nước đã thanh bình những vẫn xác xơ, nghèo đói Bao nhiêu người phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” Đâu đó vẫn còn nhiều cảnh đời vất vả, cực nhọc Nhiều trẻ em không được cắp sách đến trường Ước mơ được cơm no áo
ấm, được vui chơi là điều gì đó quá xa vời đối với những tâm hồn thơ dại đó:
Trang 39Xóm thợ đó, lều tre che ổ chuột Làng quê nghèo xơ xác, cháo cầm hơi Hỡi em bé đánh giày trong gió buốt
Có no cơm, ấm ngực, được vui cười?
(Cho xuân hạnh phúc đến muôn người!)
Viết về những kiếp người bất hạnh, tội nghiệp Tố Hữu luôn trăn trở, suy nghĩ Những vần thơ của ông như chính trái tim ông vậy: xót xa, thương cảm Càng thương họ bao nhiêu nhà thơ càng đau buồn bấy nhiêu trước thực trạng nhiều người sống trong cảnh xa hoa; nhiều người bán rẻ lương tâm, nhân phẩm của mình để chạy theo những thứ phù phiếm:
Sao lắm kẻ xưng danh đồng chí
Nhại lương tâm, lạnh ngắt đồng tiền Gian tà dám bán rao đạo lý
Tham nhũng leo thang bậc cửa quyền
(Chào xuân 99 !)
Cuộc đời là như thế đấy Con người ta có thể bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình Tố Hữu đau buồn, xót xa trước sự đổi thay của cuộc đời, trước sự giả dối của lòng người Nhà thơ cảm thấy đau đớn biết bao khi cứ phải chứng kiến những cảnh con người ta đem cái gọi là “đồng chí” - hai tiếng thiêng liêng ấy, ra làm bình phong che đậy những thói xấu xa, bỉ ổi của mình
Có khi chúng lại xưng là đồng chí, lợi dụng lòng tốt, sự bao dung, vị tha của người khác để đạt được mục đích của mình
Tố Hữu không thể kìm nén sự căm phẫn trước những kẻ có chức quyền nhưng không quan tâm tới đời sống của nhân dân Nhiều kẻ đã dùng tiền để mua chức tước Chúng không ngại ngùng gì khi lợi dụng chức quyền để vơ vét cho đầy túi tham Chúng bất chấp và giẫm đạp lên tất cả:
Chẳng ít quan tham nhũng
Bỏ nghĩa chạy theo vàng
Trang 40Kéo cánh bè ăn vụng Mua chức vị làm sang!
(Viếng bác Tú Xương)
Trong bức tranh hiện thực về nhân tình thế thái, về thân phận con người,
Tố Hữu có không ít những bài thơ ngợi ca vẻ đẹp của con người trong cuộc sống đời thường Ở đây giá trị của con người không phải được đo bằng hành động phi thường, đột xuất mà là được nhìn nhận, đánh giá những công việc rất đỗi bình thường Qua việc nuôi tằm ươm tơ, Tố Hữu đã nhận ra con người với những vẻ đẹp rất bình dị trong lao động sản xuất, với những ước mơ nhỏ bé nhưng lại vô cùng ý nghĩa, lớn lao:
Một nong tằm là năm nong kén Một nong kén là mấy nén tơ?
Một nét tơ là mấy dòng thơ Mỗi dòng thơ, mấy ước mơ, hỡi mình !
Tác giả ngợi ca những con người mới đang từng ngày từng ngày, từng giờ đóng góp, dựng xây đất nước:
Đời thường chiếc lá dâu xanh Đôi bàn tay nhỏ múa quanh lưng đồi Con tằm rút ruột, im hơi
Mà nên tấm lụa cho đời đó em
(Nuôi tằm)
Con tằm làm việc có ích “rút ruột” để tạo nên con kén và sau cùng là tạo
ra những nén tơ để dệt lên những tấm lụa vậy mà nó vẫn “im hơi” Cũng giống như con người - những người lao động bình thường, âm thầm làm đẹp cho đời
Họ mang trong mình một vẻ đẹp giản dị nhưng đáng trân trọng biết bao
Đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng cái khó không “bó cái khôn”, với sự sáng tạo, nghị lực vươn lên, nhiều người đã có phương cách làm ăn mới, bộ mặt của thôn xóm ngày một đổi thay Đó là những con người cả cuộc đời đã cống