1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ trần nhuận minh

125 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 827,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, cảm hứng thế sự, đời tư đã trở thành một nguồn cảm hứng chủ đạo của thơ Việt Nam sau 1975 và được thể hiện rõ nét trong sáng tác của nhiều tác giả như Việt Phương, Thanh Thảo, Hữu

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Chung thị thuý

Cảm hứng thế sự, đời t trong thơ trần nhuận minh

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60.22.32

Luận văn thạc sĩ Ngữ văn

Ngời hớng dẫn khoa học :

TS Lê thị hồ quang

Trang 2

Vinh- 2010

Trang 3

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Vinh- 2010

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập tự do gắn với xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong hoàn cảnh dân tộc ta đã hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do, đời sống con người được quan tâm nhiều hơn Con người với tất cả lo toan bộn bề của cuộc sống và những suy tư cá nhân là nguồn cảm hứng cho văn học Xu hướng đó đòi hỏi sáng tác văn học phải nhìn thẳng vào đời sống hiện thực của con người với những bề bộn chói gắt như nó vốn có mà bấy lâu do hoàn cảnh lịch sử, ta phải tạm thời gác lại Do đó, cảm hứng thế sự, đời tư đã trở thành một nguồn cảm hứng chủ đạo của thơ Việt Nam sau 1975 và được thể hiện rõ nét trong sáng tác của nhiều tác giả như Việt Phương, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Thạch Quỳ, Nguyễn Trọng Tạo, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Trần Nhuận Minh Có thể nói, tìm hiểu về cảm hứng thế sự, đời tư chính là tìm hiểu về một phương diện nội dung nổi bật và rất đáng chú ý trong thơ Việt Nam giai đoạn này

1.2 Trần Nhuận Minh là tác giả có một diện mạo riêng, khá độc đáo trong nền thơ Việt Nam hiện đại Ông sinh năm 1944 tại Nam Thanh, Hải Dương với các bút danh Trần Nhuận Minh, Trần Bình Minh Tên tuổi của ông

đã được khẳng định qua một loạt tác phẩm như: Đấy là tình yêu (1971), Âm

điệu một vùng đất (1980), Trước mùa mưa bão (1980), Thành phố bên này sông (1982), Hoa cỏ (1982), Nhà thơ áp tải (1989), Nhà thơ và hoa cỏ

(thơ,1993) và Bản xônát hoang dã (2003) Thành công trong sáng tác của ông

đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng như: Giải thưởng của Tổng Liên

đoàn Lao động Việt Nam cho hai tập thơ: Âm điệu một vùng đất (1980), Nhà

Trang 5

thơ áp tải (1990); Giải thưởng của Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản

Hồ Chí Minh cho tập thơ Trước mùa mưa bão (1980); Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về chuyên ngành Văn học với hai tập thơ: Nhà

thơ và hoa cỏ (1993), Bản xônát hoang dã (2003)

Trong thơ Trần Nhuận Minh, Cảm hứng thế sự, đời tư chiếm vai trò

chủ đạo Việc nhà thơ chú ý đào sâu, mô tả các vấn đề của nhân sinh, thế sự không chỉ đem lại cho người đọc những hiểu biết mới về hiện thực trước mắt

mà còn đem lại những nhận thức sâu sắc về cuộc đời và con người Những vần thơ mang đậm tinh thần trách nhiệm công dân của ông cũng có tác động mạnh mẽ đến ý thức xã hội của độc giả Cũng cần phải nói thêm rằng đấy là những vần thơ chứa đựng một trữ lượng tư tưởng - thẩm mĩ rất đáng kể Do

đó, việc chọn đề tài Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh, một

mặt, giúp chúng tôi có thể đánh giá một các chính xác vị trí của thơ ông trong nền thơ Việt Nam đương đại Đồng thời, qua đề tài này, chúng tôi cũng có thể nhận thức được hướng vận động cũng như một số đặc điểm nổi bật của thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn sau 1975

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay, về đề tài Cảm hứng thế sự,

đời tư trong sáng tác của Trần Nhuận Minh chưa có nhiều công trình nghiên

cứu và chủ yếu mới được điểm qua ở một số bài viết trên báo, tạp chí Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn về những công trình, bài viết tiêu biểu nhất

Trong bài Trần Nhuận Minh người bay bằng chân của Trần Mạnh Hảo

(1998), ngay trong lời mở đầu, tác giả viết: “Thơ chân dung của ông (Trần Nhuận Minh) nôm na, thô vụng của chính đời người” [69,71-72] Trong bài viết này, Trần Mạnh Hảo nhận thấy cảm hứng đời tư, thế sự của Trần Nhuận Minh được biểu lộ trong tính chân thực của bức tranh đời sống mà nhà thơ mô

Trang 6

tả Trần Mạnh Hảo nhận xét những con người, những cảnh đời trong thơ Trần Nhuận Minh đã “bay” vào thế giới nội tâm con người, ngợi thức và đánh động lòng người: “cái thực đến tận cùng, một khi đã được hoà tan trong cảm xúc và rung động của người đọc, có thể bay vượt nghìn trùng hư ảo Bởi cái

hư ảo dễ bay lên xanh veo, còn cái chân thực tưởng rất khó bay bổng Nhưng khi được đốt cháy thăng hoa nó sẽ bay vào bên trong, bay vào thế giới nội tâm, có khi còn vô tận hơn cả vũ trụ bên ngoài” [69,64]

Trần Nhật Thu trong bài Câu thơ như mảnh hồn người (1998), đã viết:

“Thơ Trần Nhuận Minh có những bài, những câu, đẹp đến nao lòng, nhưng lại

có những bài, những câu, đau đến xé lòng Có lẽ, anh không thể viết khác

được, khi mà anh muốn “áp tải sự thật/Đến những bến cuối cùng” [37,229]

Tác giả Đỗ Hữu Tấn trong bài Đôi điều về tác phẩm nhà thơ và hoa cỏ

của Trần Nhuận Minh (1999), nhận xét: “Trong suốt 63 bài thơ và một trường

ca của Nhà thơ và hoa cỏ, nổi lên một chữ thực Không khí thực Cuộc sống

thực Con người thực Tâm trạng thực Dù là thơ hướng ngoại hay thơ hướng nội Dù là thơ thế sự hay thơ thiên nhiên Có mảng sáng, có mảng tối Có phần thực, có phần ảo Có tầm sâu, có tầm cao Như là cuộc sống đang tồn tại Với tâm trạng đau buồn day dứt khôn nguôi Buồn mà không bi Đau mà không phẫn Đau đời mà vẫn yêu đời Thế là đã đạt đến cái độ chín, cái độ lớn của hiện thực, của tính cách” [37,122]

Nguyễn Xuân Đức trong bài Thơ Trần Nhuận Minh (2004), đã đánh giá

cao giá trị cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh Ông nhận định, Trần Nhuận Minh “không đứng ngoài quan sát một cách duy lý mà tự hoà đồng để cảm nhận số phận của mỗi kiếp người Có thể nói anh không chỉ sống có một kiếp người” [37,128] Với bài viết này Nguyễn Xuân Đức đã chỉ cho ta thấy cảm hứng trong thơ Trần Nhuận Minh viết về những con người với số phận thực bằng một tình cảm sâu sắc, chân thành

Trang 7

Nhà nghiên cứu Phong Lê trong bài Trần Nhuận Minh và ba lần định vị

cho thơ (2006), đã điểm qua các chặng đường sáng tác của Trần Nhuận Minh

và dòng chảy thế sự trong thơ ông Cảm hứng thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh được tác giả Phong Lê nhìn nhận ở góc độ “áp tải sự thật” viết về những người thật, với tên thật và các địa chỉ cụ thể và đã được định danh là “vệt thơ chân dung” với “mỗi tên riêng là một cảnh ngộ, một số phận mang kịch tính - một cách cho thơ bám chặt và áp mặt vào đời” [69,5], để gợi thức và đánh động lương tâm theo lối thơ tả thực Cảm hứng này được nhà nghiên cứu

Phong Lê gọi là: “hành trình về với bản thân”, “bâng khuâng trong tự vấn” và

“con người” trong “cõi đời” [69,5]

Đánh giá về khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống trong thơ Trần

Nhuận Minh, Hà Khái Hưng, trong bài Lòng tốt gửi vào thiên hạ (2009), đã

viết: “Gần ba mươi năm nay, lặng lẽ như một dòng sông, thơ Trần Nhuận

Minh bền bỉ chảy Với thiên chức của người nghệ sĩ là gắng áp tải sự thật/

đến những bến cuối cùng (như một ý thơ của anh), trong giai đoạn mới này,

thơ Trần Nhuận Minh càng tỏ ra có sự chín chắn, đồng cảm được với những nỗi niềm sâu kín của nhân dân Bằng sự từng trải của chính bản thân, ở một số bài thơ, anh đã nhìn thấu được nhân tình thế thái”… [37,266]

Lê Thiếu Nhơn với bài viết Nhà thơ Trần Nhuận Minh giữa miền dân

gian mây trắng (2009), đã khẳng định: “Trần Nhuận Minh chỉ chứng minh

được giá trị nhà thơ khi trực tiếp nhúng bút vào dòng chảy thế sự Nhiều bài thơ của Trần Nhuận Minh như những tiếng kêu thảng thốt, chối từ mọi mỹ từ đẩy đưa” Từ nhận định đó, Lê Thiếu Nhơn đã khẳng định giá trị to lớn trong thơ Trần Nhuận Minh là ở cảm hứng thế sự, đời tư, là khi ông hướng ngòi bút của mình tới cuộc sống đời thường Theo tác giả này, cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh có giá trị như sự “hoá giải nỗi đau của thời đại mình” Ông viết: “Trần Nhuận Minh buông sự đời hối hả xuống trang giấy

Trang 8

như một minh chứng thuyết phục nhất cho ý niệm, nhà thơ không có một nhiệm vụ nào khác là góp phần hoá giải nỗi đau của thời đại mình” [94,3]

Nhìn chung, các bài viết trên chỉ dừng lại ở một số khía cạnh nào đấy của cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh Tuy nhiên, nhiều ý kiến, nhận định trên có ý nghĩa gợi mở rất quan trọng với chúng tôi Với luận văn này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu được đầy đủ nội dung của cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh cũng như sự chi phối của dòng mạch cảm hứng này đối với các phương diện hình thức nghệ thuật trong thơ ông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Tìm hiểu các chặng đường sáng tác của Trần Nhuận Minh và sự hình thành cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ ông

3.2 Tìm hiểu nội dung cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh 3.3 Tìm hiểu hình thức thể hiện cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Cảm hứng đời tư, thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh

4.2 Phạm vi khảo sát

Các văn bản khảo sát:

- Đấy là tình yêu (1971)

- Âm điệu một vùng đất (1980)

- Trước mùa mưa bão (1980)

- Thành phố bên này sông (1982)

- Nhà thơ áp tải (1989)

- Hoa cỏ (1992)

- Nhà thơ và hoa cỏ (1993)

Trang 9

- Bản xônát hoang dã (2003)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã chỉ ra tương đối cụ thể và sáng rõ về nét độc đáo của cảm

hứng đời tư, thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh trên hai phương diện nội dung

và hình thức thể hiện, qua đó, xác định vị trí của thơ Trần Nhuận Minh trong

dòng chảy thơ Việt Nam sau 1975

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận

văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Khái quát các chặng đường sáng tác và sự hình thành cảm

hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh

Chương 2 Nội dung cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh

Chương 3 Hình thức thể hiện cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần

Nhuận Minh

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT CÁC CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TÁC

VÀ SỰ HÌNH THÀNH CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƯ

TRONG THƠ TRẦN NHUẬN MINH

1.1 Khái quát về các chặng đường thơ Trần Nhuận Minh

Sinh ra ở Nam Sách, Hải Dương (năm 1944), tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trần Nhuận Minh chọn Quảng Ninh làm nơi lập nghiệp Trước khi đến với thơ ca ông là một thầy giáo Sau này, ông còn tham gia vào lĩnh vực quản lý văn nghệ Nhà thơ Trần Nhuận Minh nguyên là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh

Trong bài Trình bày ông đã tự giới thiệu về bản thân mình:

Bạn ơi, tôi có hai lá phổi

Một ở làng Điền Trì, mùa thu nước nổi

Trang 11

1.1.1 Thơ Trần Nhuận Minh trước 1986

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Trần Nhuận Minh đã in 2 tập thơ

chung: Sức mới (tập 2-1967) và Ca bình minh (1972) với đề tài công nghiệp Tập Đấy là tình yêu (1971) là tập thơ in riêng đầu tiên của Trần Nhuận Minh

Bài thơ Trình bày Trần Nhuận Minh viết năm 1970 và bài Mẹ (1973), có ý

nghĩa như là một bản lý lịch trong cuộc đời cũng như trong lao động nghệ thuật của ông Chảy trong huyết mạch của ông là hình ảnh thân yêu hai miền quê - một

bên là làng quê Điền Trì bên sông Kinh Thầy và một bên là “phố mỏ Hồng Gai

quanh năm rừng rực nắng trời” Việc rời miền quê Nam Sách, Hải Dương đến

với vùng đất mỏ Quảng Ninh, từ chỗ là nông dân trở thành giáo viên và gắn

bó với công nhân, đã tạo nên một bước chuyển biến quan trọng trong sáng tác Trần Nhuận Minh, tạo nên - như sự khẳng định của nhà nghiên cứu Phong Lê

- “cuộc định vị lần thứ nhất” trong thơ ông

Hai vùng đất ấy với Trần Nhuận Minh có ý nghĩa như “hai lá phổi”, “hai

lá buồm” để chở niềm yêu sự sống luôn dào dạt trong ông Khẳng định ý nghĩa lớn lao của hai vùng đất ấy trong cuộc đời mình, ông viết:

Tôi áp tải những nỗi niềm cuộc sống Ngay trong ngực mình, nào phải đâu xa Xin dâng bạn

Hai lá buồm đỏ thắm

Đã bay lên từ nắng gió quê nhà…

Đi từ nơi chôn rau cắt rốn đến vùng đất Quảng Ninh, nhà thơ luôn khẳng định một cách nồng hậu vị trí của vùng đất than, đất mỏ trong cuộc đời và tâm hồn ông:

Đã bảo đất này không dễ mà yêu (và - không dễ mà thương

- không dễ mà mê)…

Trang 12

Vậy mà anh chẳng hiểu vì sao Anh chẳng thể xa đất này cho được Như con tàu chẳng thể xa sóng nước Như cánh chim chẳng thể thiếu mây trời

Đó là đất của tình người, tình đời; và với đất này, Trần Nhuận Minh sẽ

có một sự nghiệp thơ của riêng mình Vẻ đẹp của miền đất than trong thơ Trần Nhuận Minh giai đoạn đầu là sự kết hợp tinh thần lao động, niềm tin tưởng cũng như sự lạc quan trong đời sống và tình cảm con người hình thành trên mảnh đất miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong những năm 60 này Vẻ đẹp ấy đã xuất hiện trong sáng tác của cả một thế hệ nhà thơ hàng đầu như Tố Hữu với

Bài ca mùa xuân 1961, Xuân Diệu trong Riêng chung, Chế Lan Viên trong Ánh

sáng và phù sa, Huy Cận với Trời mỗi ngày lại sáng và Bài thơ cuộc đời,

Như vậy ở giai đoạn trước 1975, trong âm hưởng sử thi hào hùng của cả nền thơ hướng về đất nước và dân tộc, Trần Nhuận Minh cũng đã chứng minh mình là nhà thơ chân chính, là người con mang tình yêu lớn với quê hương và

có chung khát vọng của dân tộc

Sau năm 1975, đất nước đã giành được độc lập, thơ Trần Nhuận Minh lại đồng hành cùng nhân dân đi tiếp chặng đường phía trước Âm hưởng sử thi của thơ từ trước 1975, vẫn tiếp tục trong thơ Trần Nhuận Minh ở hai tập

Âm điệu một vùng đất (1980) và Thành phố bên này sông (1982) Song đến

giai đoạn này, bên cạnh cảm hứng sử thi, màu sắc thế sự bắt đầu rõ nét trong

sáng tác của ông Với bài Đá cháy gồm 7 đoạn thơ, 224 câu viết năm 1985,

Trần Nhuận Minh đã làm một “cuộc định vị lần thứ hai” cho thơ của mình

Lửa, than và toả sáng là ba “nhân vật” chính trong quá trình diễn ra Đá cháy Bài Đá cháy được xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của Trần Nhuận Minh

Đó là trái tim nghệ sĩ khát khao vị thế của mình để có thể làm những điều có

ý nghĩa hơn trong cuộc sống:

Trang 13

Tôi sẽ đầu thai làm ngọn lửa Cháy điên khùng trong đất tối âm u…

Đây là tác phẩm đánh dấu bước tiến đầu tiên của Trần Nhuận Minh ở những sáng tác có quy mô lớn

Với ba nhân vật Lửa, Than và Toả sáng, Trần Nhuận Minh tạo ra quá trình Đá cháy và từ đó nhân vật trữ tình tự bộc lộ về bản thân mình Nhân vật trữ tình với lối xưng hô Tôi, đã mượn những hình ảnh thân yêu để độc thoại với

Những tảng đá đen và một người con gái mỏ

Đã chiếm tôi hơn cả mối tình đầu Tôi đâu biết:

Tâm hồn tôi tràn đầy âm thanh Tiếng mìn nổ tầng than và tiếng sóng biển

Toả sáng là cách tồn tại của quá trình diễn ra đá cháy và “Không Toả sáng thì không tồn tại” Đó cũng là cách nhà thơ khẳng định quan điểm sống và

sáng tác của mình, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Phong Lê: “Một khẳng định đến từ sứ mệnh của giai cấp công nhân, mà nhà thơ muốn (hoặc đã)

là người đại diện, khi từ là “Tảng đất sét bên bờ sông Kinh Thầy”, anh đã trở thành “tảng đá đen” “nguyên khối xù xì” của một vùng than mênh mông -

miền vàng đen trong lòng đất Đông Bắc của Tổ quốc” [37, 27]

Ở giai đoạn này, nhà thơ hiện diện với tư cách là người đại diện của giai cấp công nhân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Bỏ qua tất cả những cái

cụ thể, Trần Nhuận Minh đã làm một cuộc khái quát, lựa chọn, để chỉ còn

Trang 14

Than, Lửa, Cháy và Toả sáng Đó là sự lựa chọn cần thiết và xác đáng để khẳng định cái Tôi nghệ sĩ - công dân:

Không có Than, suốt đời tôi sẽ thiếu Một cái gì có thể tạo thành Tôi

Tuy nhiên, bài thơ ra đời khi đất nước mới qua cuộc chiến tranh, đã giành chiến thắng oanh liệt trước kẻ thù và đang trong giai đoạn xây dựng, phát triển đất nước nên vẫn mang giọng điệu lạc quan, lãng mạn:

Một vùng công nghiệp Việt Nam Chắt chiu đựng, thuở nghèo nàn đó em!

Mặc dù còn có những hạn chế - như tác giả Phong Lê nhận xét, là

“vụng về, ngây thơ và cả tin” - song nó đã in dấu ấn một thời và có ý nghĩa

cho những chặng đường phát triển tiếp theo của thơ Trần Nhuận Minh “Đá

cháy, tôi muốn xem là một tuyên ngôn thơ của Trần Nhuận Minh trong định

vị lần thứ hai - để trở thành nhà thơ của đội ngũ tiền phong là giai cấp công nhân Khách quan nó ghi nhận được gương mặt đất nước và gương mặt thơ một thời trong và sau chiến tranh còn chưa phai nhạt âm hưởng hào hùng của đất nước trong cuộc chiến chống ngoại xâm, và trong buổi đầu sự nghiệp xây dựng chống đói nghèo còn rất giàu sự tự tin, đến thành lãng mạn” [37, 23]

Ở giai đoạn thứ hai này, với vai trò là người đại diện của giai cấp công nhân, âm hưởng hào hùng và lạc quan cách mạng vẫn còn đậm nét trong thơ

Trần Nhuận Minh Tuy nhiên, với bài Đá cháy, Trần Nhuận Minh đã khẳng

định một tuyên ngôn nghệ thuật, một quan điểm sống đầy nhiệt huyết của nhà thơ với nhân dân, với thời cuộc

1.1.2 Thơ Trần Nhận Minh từ 1986 đến nay

Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật” và “lấy dân làm gốc” đã soi đường, chỉ lối cho văn nghệ sĩ trong thời kỳ mới Nằm trong xu hướng chung đó, thơ Trần Nhuận Minh đã có những bước

Trang 15

tiến quan trọng Với bài thơ Nhà thơ áp tải (1989), thể hiện những quan niệm

nghệ thuật, nhân sinh tích cực, có thể xem Trần Nhuận Minh như một trong những đại diện tiêu biểu của một khuynh hướng sáng tác mới - khuynh hướng thế sự, đời tư:

Hãy áp tải sự thật Đến những bến cuối cùng Chai rượu ngang dốc ngược Đứng cùng trời uống chung…

Với khuynh hướng này, thơ Trần Nhuận Minh đã có sự chuyển biến mạnh mẽ Từ vai trò là nhà thơ của giai cấp công nhân, hăng hái góp sức mình vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc, đến giai đoạn này, thơ ông thể hiện đậm nét ý thức gắn bó với đời sống thế sự, nhân sinh với tất cả bộn bề, chói gắt của nó Đồng thời, thơ ông cũng đi sâu vào việc tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn tại bản ngã với những câu hỏi về cõi đời, về con người, về hoạ phúc và về kiếp sau, về sống và chết Những câu hỏi đánh dấu bước phát triển mới trong hành trình nhận thức của nhà thơ:

Mỗi người một câu hỏi

Đi mang mang trong đời Nổi chìm bao ghềnh thác Tôi chưa tìm thấy tôi

Tiếp nối sự đổi mới ở giai đoạn trước, trong Hoa cỏ (1992) đã đưa Trần

Nhuận Minh sang một thế giới khác, thế giới của cảnh đời và tình người Rồi từ

Hoa cỏ, ông đã in tiếp tập thứ sáu có tên Nhà thơ và hoa cỏ (in lần thứ nhất vào

tháng 5/1993, tái bản vào tháng 12/1993 gồm 51 bài và sau đó liên tục bổ sung

đến tháng 11/2004 lên đến 105 bài) Ở tập Nhà thơ và Hoa cỏ này, cảm hứng

thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh được tập trung đầy đủ nhất và cũng đậm nét nhất

Trang 16

Tiếp theo tập thơ Bản Xônát hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ

vô danh (2007) và Miền dân gian mây trắng (2008), mỗi tập là một sự đổi

mới của Trần Nhuận Minh về tư duy nghệ thuật và về kết cấu với “hy vọng nhờ thế mà phản ánh cuộc sống và tâm trạng nhiều chiều hơn, như nó đã và đang tồn tại” [37,7] Nhà nghiên cứu Phong Lê nhận định: “Trong mảng thơ

tả thực - những câu hỏi về đời, xem ra là dễ hiểu Đời bị dồn ra hai phía Đời trần trụi và xót đắng Cảm nhận rõ vị của đời, anh đã có một chỗ đứng cho câu hỏi: Ta vì ai? Ta thuộc về ai? Rồi sẽ đến với anh câu hỏi: Ta là ai? Sẽ đến với anh bức tranh nhân thế, không còn là tả thực mà là hoà trộn với tâm linh, là sự cộng cảm giữa cảnh đời và cảm nhận về đời, để đem lại cho thơ anh một sắc diện mới với rất nhiều bâng khuâng” [ 37,25-26]

Trong dòng cảm hứng này, nhu cầu trở về với bản thân đã trở lại, song ở

một tầm mới Nếu như ở bài Trình bày là lý lịch sơ lược về bản thân thì đến bài

Tự thuật (2000), là con người trong bồn chồn, khoắc khoải:

Ngang dọc trong hồn một trời gió muối Lúc nào cũng yên mà chẳng lúc nào yên…

Và cảm giác bất lực trước thực tại trái ngang:

Cả xã hội diệt trừ cái ác Cái ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời…

Chân dung của cái tôi nhà thơ được vẽ cụ thể hơn với tâm trạng trĩu nặng

lo âu, sự cô đơn và những giọt nước mắt:

Tôi bâng khuâng trước cánh chim lặng lẽ

Cô đơn bay không biết tới phương nào Tôi đã khóc dưới vầng trăng sáng Đến bây giờ vẫn không hiểu vì sao

Sự chuyển biến đó đã đem đến cho thơ Việt Nam một Trần Nhuận

Minh mới “Với những Bừng thức và Vô thức, với trằn trọc những câu hỏi về

Trang 17

Ta, đã xuất hiện một Trần Nhuận Minh từ những năm 90, gần như không còn bóng dáng của 20 năm về trước Một Trần Nhuận Minh trong những nghĩ ngẫm và nhào nặn lại mọi quan niệm và hình dung về thế giới, để rồi qua

mình mà đặt những câu hỏi lớn về đời; và do sự trở về với cái Tôi bản thể, mà

xuất hiện một cô đơn bản thể” [37,27-28]

Như vậy, nếu như trước năm 1975, hoà chung với mạch chảy của lịch

sử dân tộc, trong thơ của Trần Nhuận Minh, cũng như nhiều tác giả khác cùng thời, mang đậm cảm hứng sử thi thì từ sau năm 1975, đặc biệt là từ năm 1986 (sau đại hội WT Đảng lần VI), cảm hứng đời tư, thế sự chi phối mạnh mẽ trong sáng tác của ông, tạo nên những sắc diện nghệ thuật riêng, độc đáo

1.2 Khái quát về cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Trần Nhuận Minh

1.2.1 Giới thuyết về khái niệm “cảm hứng thế sự, đời tư”

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, khái niệm cảm hứng chủ đạo trong

sáng tạo nghệ thuật là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm" Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [41,44]

Lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ, tư tưởng, cảm xúc của nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả Theo nghĩa này, cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm Đây là cái mức căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm [41,45]

Trang 18

Cảm hứng chủ đạo trong thơ Trần Nhuận Minh là cảm hứng thế sự, đời

tư Ở đây, chúng tôi hiểu cảm hứng thế sự, đời tư là cảm hứng phản ánh, sáng tạo của nhà thơ hướng đến các vấn đề nhân sinh, thế sự nóng bỏng của đời sống Cảm hứng thế sự, đời tư gắn liền với ý thức nhìn thẳng vào hiện thực xã hội, nói rõ sự thật, không né tránh những gai góc của hiện thực trên tinh thần trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ Hướng vào các chủ đề xã hội, phần lớn nghệ sĩ đã đặt những suy nghĩ và chính kiến cá nhân lên hàng đầu để nhận thức và phản ánh Nhãn quan cá nhân này, giúp họ nhìn nhận và lí giải sâu hơn vào các vấn đề của hiện thực và tâm hồn con người Như vậy, cảm hứng thế sự, đời tư đòi hỏi người nghệ sĩ bộc lộ mình trên hai tư cách: tư cách là một công dân trước các vấn đề đời sống xã hội và tư cách là một cá nhân, cá tính trước các vấn đề của đời sống thường nhật

Có thể nói, sau 1975, trong thơ nói riêng, văn học nói chung, những vấn đề thế sự, đời tư được gửi gắm nhiều hơn, mạnh dạn hơn Mọi vấn đề của cuộc sống, hay nói cách khác, tất cả những gì liên quan đến con người đều được các nhà văn quan tâm và đưa vào văn học, kể cả những vấn đề tưởng như nhỏ nhặt nhất Dường như không còn những vùng cấm kị với văn học và những đề tài mà một thời nhà văn phải né tránh, thì đến bây giờ lại càng thu hút mạnh mẽ ngòi bút của họ Vấn đề mà họ quan tâm là bộ mặt tinh thần, đạo đức của con người Vì thế, những ý nghĩ dằn vặt về con người trở đi, trở lại, lật xới tận chiều sâu cõi người Đó cũng là nỗi ám ảnh của con người thời hậu chiến Bằng nhiều cách tiếp cận và khai thác khác nhau, các nhà thơ đã hướng vào thế giới nội cảm, khám phá chiều sâu tâm linh, thấy được ở mỗi cá nhân những cung bậc tình cảm: vui buồn, hạnh phúc, đau khổ, hi vọng, khao khát, đam mê Đây cũng là lý do cho sự tồn tại, phát triển của hình thức thơ trong

thời đại mới Nguyễn Đức Mậu trong bài Sự đổi mới trong thơ (1989), viết:

“Sau chiến tranh và những năm gần đây, thơ bắt nhịp cuộc sống mới đa chiều,

Trang 19

phức tạp hơn Cảm hứng ngợi ca trong thơ hôm nay dường như lắng lại, thay vào đó là dòng thơ mang chính nội tâm của tác giả, trước những bề bộn, lo toan của đời thường Nhà thơ hướng vào nội tâm, lấy cái tôi làm chủ đạo Sự đổi mới trong thơ hiện nay là trở về với bản chất vốn có của thơ, tạo ra giọng điệu thích hợp với thời đại mình sống”

Cảm hứng thế sự, đời tư tạo điều kiện để khoảng cách giữa thơ với nhà thơ được khỏa lấp Những vấn đề mà trong chiến tranh thơ không đụng đến, hoặc có gợi lên thì vẫn nhằm tới lợi ích cộng đồng, bây giờ được khơi sâu, nhấn mạnh, khẳng định: nỗi buồn riêng, thân phận cá nhân, những phía chìm, mặt khuất của thế giới nội tâm, vấn đề sống, chết của con người Thơ lúc này không phải chỉ là tả, là kể, trình bày, mà là biểu hiện hiện thực bằng những tâm trạng, những cá tính sáng tạo độc đáo, nhờ vậy vừa phản ánh cuộc sống, thơ vừa đi vào tầng sâu, vùng xa của nội tâm con người

Cảm hứng thế sự, đời tư đã làm thay đổi giọng điệu trong thơ, từ tự hào, ca ngợi, chiêm ngưỡng xuống lắng đọng suy tư Không gian chuyển từ rộng sang hẹp, từ không gian lịch sử sang không gian đời tư Những vấn đề sử thi chuyển dần sang màu sắc thế sự Cái nhìn chuyển từ vĩ mô xuống vi mô,

từ cao xuống thấp, từ số phận chung của đất nước, dân tộc đến số phận những con người cụ thể Dòng thơ sử thi thiếu đi chất hùng tráng nhưng mang lại vẻ đẹp của tâm trạng, của sự cảm nhận chiến tranh trên những cung bậc mới Thơ chuyển từ mô tả hiện thực cách mạng sang biểu hiện hiện thực riêng tư, đời thường, thân phận cá nhân Vấn đề con người nhìn nhận, đánh giá theo những chiều hướng khác nhau, đầy đủ hơn và cũng nhân ái, nhân bản hơn

Trong tập thơ Khối vuông Rubich của Thanh Thảo cũng đã khẳng định tâm

hồn con người là một ẩn số mà văn học mãi kiếm tìm:

Trang 20

Người ta đã nhìn trái đất từ nhiều hướng và trái đất chưa bao giờ được khám phá hết Người ta đã thăm dò con người bằng vô số cách, mà con người vẫn là một bí mật

Sau 1975, Trần Nhuận Minh là một trong những nhà thơ đi đầu của khuynh hướng thế sự, đời tư, nhằm chuyển tải các vấn đề xã hội và con người một cách sâu sắc và phong phú trên tinh thần nhân bản

1.2.2 Cảm hứng thế sự, đời tư - một cảm hứng chủ đạo trong thơ Trần Nhuận Minh

Văn học Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt là từ 1986 trở đi đã hướng ngòi bút của mình vào cái bộn bề, phức tạp của cuộc sống đời thường và những suy tư trăn trở của con người Chiến tranh kết thúc, trở về với cuộc sống hàng ngày, con người đối mặt với bao khó khăn và những tàn dư của một thời lửa đạn Vấn đề đặt ra lúc này không chỉ là vận mệnh dân tộc, nhân dân mà còn là số phận của con người cá nhân trong cái bộn bề của cuộc sống Cái tôi, cái cá thể của mỗi người lâu nay bị chìm khuất trong cái ta thì lúc này nổi lên như một yêu cầu bức thiết của nhân sinh Cảm hứng lịch sử và cảm hứng dân tộc đang được thay dần bởi cảm hứng thế sự và đời tư Nhưng không vì thế mà biên độ phản ánh của thơ bị thu hẹp, mà trái lại nó càng được

mở ra theo những chiều kích mới, đa dạng và phong phú hơn Thơ lúc này đứng trước muôn ngàn lớp sóng của cuộc đời, đòi hỏi mỗi nhà thơ phải tự nhận thức lại để đáp ứng những yêu cầu mới của hiện thực

Với cảm hứng thế sự, đời tư, thơ Trần Nhuận Minh phân tích, lý giải con người ở nhiều bình diện, cả bề nổi lẫn bề chìm, cả mặt ổn định lẫn dao động, biến đổi, cả phần ý thức lẫn vô thức Có thể nói, cảm hứng thế sự, đời

tư là cảm hứng chính xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Trần Nhuận Minh Vì thế, dù viết về đề tài gì thì thơ ông vẫn mang đậm cảm hứng đó Với nhan đề

cho tập thơ là Hoa cỏ, sẽ không ít người nghĩ đó là chốn thiên nhiên tươi mát

Trang 21

và khoáng đạt, tuy nhiên, thiên nhiên trong thơ Trần Nhuận Minh thường làm nền, phối cảnh để nhà thơ gửi gắm tâm sự về thế thái nhân tình:

Hoa vàng nở hết mình đi Nghe đâu tuyết trắng bay về rồi đây Trời ơi! Vàng đến thế này

Mà sao đen bạc vẫn đầy thế gian

(Trong đồng cỏ hoa vàng)

Cùng thời, Nguyễn Duy cũng viết bài Trắng và trắng để thể hiện tâm

tư tình cảm của mình Phải chăng hai nhà thơ có sự đồng cảm về thế sự?

Ối giời ơi nõn nà sao Bàn chân lóng ngóng đặt vào nơi đâu Trắng tinh - trắng toát - trắng phau Ngó qua thấy đẹp ngắm lâu rợn người

Với Trần Nhuận Minh thì thơ chỉ có giá trị thực sự khi hướng ngòi bút của mình vào dòng chảy thế sự Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam những cảnh đời, những kiếp người lại được đưa vào trong thơ rõ nét và cụ thể đến như vậy Mỗi bài thơ của ông như một thước phim cận cảnh về cuộc đời mỗi con người

Triệu Đàm trong Đôi suy tư tản mạn về thơ Trần Nhuận Minh đã nhận xét:

“Nhiều năm rồi những con người bé nhỏ, thấp cổ, bé họng dần dần bị đẩy khỏi văn chương nghệ thụât Trần Nhuận Minh dũng cảm đề cập thật dóng diết tới những mất mát tổn thương do vật đổi sao dời mà họ phải gánh chịu” [22, 1]

Có ý kiến cho rằng: “Xung đột đau đớn nhất và nghiệt ngã nhất đối với một nhà thơ, ấy là khoảnh khắc nhận ra thi ca bất lực trước ước vọng bênh vực phẩm giá con người” Nhận xét đó rất đúng với các sáng tác của Trần Nhuận Minh bởi ông luôn băn khoăn, trăn trở về giá trị và ý nghĩa của thơ mình trước cuộc sống nhân sinh:

Trang 22

Chợt nhớ bao người cấy hái Quanh năm lưng bán cho trời Vậy mà đói ăn, thiếu mặc

Chợt thấy thơ mình có lỗi Lạc loài trăng gió chi chi

(Nghe trộm hai bà trò chuyện)

Chính vì cảm giác "có lỗi” ấy mà Trần Nhuận Minh tình nguyện mang thơ nhập vào đời sống, mong thơ mình góp phần thay đổi cuộc sống với những đối nghịch đang diễn ra trước mắt Thơ ông là tiếng kêu gọi lòng trắc

ẩn trong mỗi con người để cảm thông và chia sẻ với những thân phận cơ cực, đau khổ Hơn thế nữa, Trần Nhuận Minh còn chỉ ra tấn bi kịch của cuộc đời trong xã hội tưởng như bình yên:

Nơi này có người bị đẩy lên dàn lửa

Chỗ kia có người bị xô xuống vực sâu

Ở đâu cũng có người bị lăng nhục

Vị anh hùng ơi! Thế gian chẳng bình yên

Dù mỗi sớm tiếng chim trời vẫn hót

Dù thể hiện ở khía cạnh nào của cuộc sống thì thơ Trần Nhuận Minh vẫn luôn trung thành với lý tưởng nhân văn mà nhà thơ được hun đúc qua chiến tranh: bất bình với những bất công, ngang trái, đồng cảm và sẻ chia với những kiếp người cần lao, đau khổ, xót xa với những nghịch cảnh, éo le… Trước những cảnh đau lòng, nỗi lòng ông “nhàu nát”, “đầy phiền muộn”…

Và ông đã tự nhắc mình:

Niềm tin yêu thuở ấy Đâu đã thành xa xôi…

Trang 23

Cái cảm quan về cuộc đời, về thế sự và cả về chính trị nữa của Trần Nhuận Minh, rất minh bạch và dễ chia xẻ Nhà thơ nhìn đời, nhìn chức quyền, danh lợi, thế sự… bằng cái nhìn của “lão nông tri điền” “Ông biết cuộc đời như dòng sông không chảy thẳng Cái đáng tin, đáng quý, chỉ là một tấm lòng

ăn ở với đời, với người mà thô” Vì thế, thơ Trần Nhuận Minh là thơ của sự chiêm nghiệm, suy tư, đồng thời cũng là nơi để giãi bày, chia sẻ:

Những bông hoa lộng lẫy nhất trần gian Đều tự tử âm thầm trong đêm vắng

Cứ có nước là cá tự sinh ra

Ao hồ rộn vang tiếng quẩy đạp sinh đẻ Buồn và vui mặt đất vẫn vô tình

Tôi không hiểu vì sao

Đồng hành cùng nỗi đau nhân dân, Trần Nhuận Minh đã thực sự

"thương người như thể thương thân" Nhà thơ như móc cả gan ruột "phơi ra

giữa trời mây", ông không né tránh sự thật, dù sự thật nhức lòng đến đâu Với

cảm hứng thế sự, đời tư, Trần Nhuận Minh đã gánh tiếp gánh nặng của thi nhân xưa như Nguyễn Trọng Tạo đã từng nhận xét: “Đọc thơ của ông, nó cứ làm tôi day dứt nhớ Đỗ Phủ, Tú Xương một nỗi đau đời, nỗi đau kẻ sĩ, nỗi đau thi nhân” [37, 220]

Hơn 20 năm đổi mới, Trần Nhuận Minh đã để lại những tập thơ ngổn

ngang thế sự, mà độc giả có thể nhớ tên, như Nhà thơ và hoa cỏ, Bản Xônat

hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, hay Miền dân gian mây trắng

Cuộc sống hiện đại đang thờ ơ hơn với mất mát và thua thiệt của con người nhỏ bé, Trần Nhuận Minh thở dài quạnh quẽ, nhận ra:

Khi hai bờ xa nối được với nhau bằng một cây cầu Thì hồn vía con sông hoàn toàn đổi khác

Trang 24

Tiếng hờn giận bên này

sự lạnh lùng bên kia Đều lẫn sang nhau

Con sông mất giới tính Chảy miên man về phía cuối chân trời…

Cảm hứng thế, đời tư là cảm hứng lớn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Trần Nhuận Minh Song cảm hứng đó càng trở nên đậm nét từ sau năm 1975, đặc biệt là từ sau 1986 Cảm hứng đó đã đem lại cho thơ Trần Nhuận Minh một dấu ấn khác biệt, dễ nhận thấy trong nền thơ đương đại Không chỉ riêng trong trường hợp Trần Nhuận Minh, nhìn rộng ra, có thể thấy đây cũng là một

xu hướng vận động mang tính quy luật của thơ Việt Nam sau 1975

1.3 Những cơ sở nảy sinh cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Trần Nhuận Minh

1.3.1 Bối cảnh văn hóa, xã hội thời kì hậu chiến và Đổi mới

Thời đại sau 1975, đánh dấu mốc lịch sử đã bước sang trang mới Đây

là thời kỳ đất nước bước vào công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đang diễn ra mạnh mẽ Đồng thời, đây cũng là thời kỳ con người được đặt trong nhiều mối quan hệ phức tạp: quan hệ với gia đình, bè bạn, công việc Đặc biệt, những khó khăn, thử thách mới của thời kỳ hậu chiến đã khiến cho con người phải suy tư trước những vấn đề đặt ra của cuộc sống Trước sự chi phối của nền kinh tế thị trường, những quan hệ đạo đức bị đảo lộn, con người

bị băng hoại về nhân cách Xã hội đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, hỗn độn và con người nhiều lúc chưa thể kiểm soát được mình Nó không chỉ diễn

ra trên phạm vi xã hội mà còn cả trong gia đình, trong chính bản thân của mỗi

cá nhân Trong xã hội ấy, có khi con người vì đồng tiền, vì những toan tính thấp hèn mà đánh mất lương tâm, nhân phẩm của chính mình Bản thân mỗi

cá nhân luôn tồn tại hai mặt đối lập: tốt - xấu, cao cả - thấp hèn, thiện - ác,

Trang 25

sống - chết, và có sự giao tranh giữa các mặt ấy Đây chính là thời kỳ con người bắt đầu có sự bừng tỉnh, có thời gian nhìn nhận lại quá khứ, nhìn nhận hiện tại một cách trung thực, chân thật hơn bao giờ hết Đặc biệt, đây là lúc

mà “văn học nhìn vào chính nó để nhìn thấy khuôn mặt thật của mình, ánh sáng thật của tâm hồn mình, đồng thời những khuyết tật ngay trên cơ thể mình” (Hoàng Như Phương)

Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước đã dành lại được tự do và độc lập Song chúng ta lại phải bước vào cuộc chiến mới Đó là cuộc nội chiến với nạn khủng hoảng kinh tế và tàn dư của chiến tranh để lại Đồng thời, văn học cũng chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kỳ hậu chiến Sự chuyến tiếp trong văn học thể hiện ở các đề tài, cảm hứng, phương thức nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học

Vào nửa cuối thập kỷ 70, những năm liền ngay sau khi kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nền văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật và cảm hứng của thời kỳ chiến tranh chống

Mỹ Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi chiếm vai trò chủ đạo tuy đã

có những tìm tòi và bước phát triển mới, ở cả thơ và văn xuôi Sang những năm đầu thập kỷ 80, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn và cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học Đó là tình trạng mất phương hướng sáng tác của đội ngũ văn nghệ sĩ Bởi phần lớn văn nghệ sỹ và công chúng chưa chuyển biến kịp với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kỳ trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Nguyên Ngọc đã gọi thời kỳ này là: “Khoảng chân không trong văn học” Nhưng cũng chính thời gian này, văn học đã có sự chuyển mình với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở những nhà văn mẫn cảm trước đòi hỏi của cuộc sống và ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình

Trang 26

Người được xem là đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, mở đường tinh anh trong văn học với các tác phẩm hướng vào vấn đề thế sự - đạo đức ở lĩnh vực tiểu thuyết và truyện ngắn là Nguyễn Minh Châu Bên cạnh đó còn

có Nguyễn Khải (Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người); Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển), Dương Thu Hương (Bên kia bờ ảo vọng)… Về thơ

có Nguyễn Duy (Ánh trăng), Ý Nhi (Người đàn bà ngồi đan), trường ca có Thanh Thảo (Những ngọn sóng mặt trời, Khối vuông Rubich), Trần Nhuận Minh (Nhà thơ và Hoa cỏ)… Thể loại kịch có Lưu Quang Vũ, Xuân Trình

đã lên án một cách mạnh mẽ những mặt tiêu cực, trì trệ trong xã hội Những thành công này đã mở ra cho văn học hướng tiếp cận mới Đó là hướng tiếp cận với hiện thực cuộc sống đa dạng, phong phú, đặc biệt là vấn đề đời tư, thế

sự, vấn đề đạo đức đang nổi cộm, đòi hỏi văn học phải lên tiếng Và những tác phẩm văn học ấy đã rút bớt khoảng cách giữa văn học với đời sống, tác phẩm với công chúng, đồng thời đó cũng là nền tảng để văn học bước vào thời kỳ mới

Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xác định đường lối đổi mới toàn diện,

mở ra một thời kỳ mới cho đất nước thoát khỏi thời kỳ khủng hoảng và bước vào thời kỳ phát triển ngày càng mạnh mẽ và vững chắc Đường lối đổi mới tại đại hội VI của Đảng, nghị quyết 05 của Bộ chính trị và cuộc gặp của Tổng

bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ năm 1987 đã thay đổi toàn bộ trào lưu sáng tác của nền văn học nước nhà trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Ở những năm cuối 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản chiếm ưu thế Tuy nhiên, cảm hứng phê phán cũng có lúc bị đẩy tới cực đoan, lệch lạc và người viết đôi khi có cái nhìn hoài nghi, thiên lệch Với hướng tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự - đời

tư đã mở ra từ đầu những năm 80, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân với những quan hệ bề bộn, phức tạp của cuộc sống đời thường

Trang 27

Đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật

là những động lực tinh thần cho văn học thời kỳ này phát triển mạnh mẽ và sôi nổi Ý thức đổi mới trong văn học nghệ thuật cũng ăn sâu vào đời sống văn nghệ sỹ Chính vì thế, chức năng văn học, mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn đọc và về sự tiếp nhận văn học cũng thay đổi Việc tìm kiếm, thể nghiệm về cách tiếp cận thực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật không ngừng được phát huy trong văn học Đồng thời, cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn cũng được đề cao

Khi đối diện với hiện thực cuộc sống ngổn ngang, với bao mối quan hệ phức tạp, đa diện thì công chúng không còn ưa lối nói một chiều, mà đòi hỏi

lý giải, cắt nghĩa nhiều dữ kiện của đời sống, nhận thức lại nhiều vấn đề Điều

đó lý giải vì sao văn học thời kỳ này lại có xu hướng nhạt dần cảm hứng sử thi, quan tâm nhiều hơn đến số phận đời tư, đời thường Công chúng đòi hỏi văn học nghệ thuật phải phản ánh được hiện thực đời sống hàng ngày, những quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự, phức tạp, chằng chịt được đan dệt bằng những mạch nổi, mạch ngầm Trong yêu cầu đó, thơ dẫu chưa có được những thành tựu rực rỡ, những đỉnh cao tiêu biểu, nhưng vẫn mang được hơi thở và khát vọng của thời đại, cố gắng vươn tới những cảm hứng phong phú và vĩnh cửu vốn có của thể loại trong tiến trình đổi mới

Từ những năm 90 đến nay, có ý kiến cho rằng văn học giai đoạn này đã chững lại Mới nhìn bề ngoài người ta dễ đánh giá như vậy, nhưng nếu đi sâu vào bên trong ta mới thấy sự chuyển biến mạnh mẽ của văn học giai đoạn này Vẫn nằm trong xu hướng dân chủ hóa của thời kỳ đầu đổi mới, song văn học lúc này chủ trương hướng ngòi bút về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, đồng thời có ý thức cao độ về hình thức nghệ thuật và phương thức thể hiện Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình hình văn học có trầm lắng hơn

Trang 28

Cảm hứng thế sự, đời tư đã trở thành một trong những cảm hứng lớn của thơ sau 1975 Nó chi phối cái nhìn của nhà thơ, giúp họ phát hiện ra những vấn đề nhức nhối của đời sống xã hội, đặc biệt là số phận của những người không may mắn Thơ trở nên giàu cảm thông hơn trên cơ sở tính nhân bản

Con người trong văn học hiện đại được soi rọi từ nhiều hướng, nhiều chiều, bí ẩn và phức tạp Nó có sự đan xen, chen lấn giữa các nét đẹp của thiên thần với sự xấu xa của quỷ dữ, giữa cái cao cả và cái tầm thường Trong văn học 1945 -1975, con người ít được đi sâu, khai thác thế giới nội tâm Trái lại, con người trong văn học sau này lại được khai thác khá kỹ ở đời sống tinh thần cá nhân Bởi tâm hồn là một thế giới chứa đựng sự bí ẩn, phong phú và phức tạp Đúng như Nguyễn Minh Châu đã từng nói, trong thời kỳ này diễn ra

“một cuộc đối chứng giữa hai mặt nhân cách và phản nhân cách, giữa cái hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng tối vẫn còn rơi rớt trong tâm hồn con người - miếng đất mầu mỡ gieo mầm tội ác” (Nguyễn

Minh Châu, Bến quê, nhà xuất bản tác phẩm mới, 1975)

Những người làm thơ hôm nay dám đi sâu vào mọi đề tài, mọi lớp người, mọi sự kiện, mọi góc cạnh của cuộc sống miễn sao có thể dựng lên bức chân dung về cuộc đời trong thời đại mới Chúng ta thấy rằng: dường như trước đây mọi việc đều đơn giản, nhưng trong cuộc sống hiện nay họ vừa phải sống, vừa phải suy nghĩ, ngẫm nghĩ về những vấn đề nhân tình, thế thái Họ là những con người luôn nặng trĩu suy tư, đầy sự chiêm nghiệm, trách móc, dò xét Chính trong hoàn cảnh này, nhà văn phải “có cái nhìn sắc sảo hơn đối với cuộc sống, biết nhìn ra những mâu thuẫn, biết phân tích các đối cực, các nghịch lý” (Chu Văn Sơn)

Như vậy, con người trong văn học sau 1975 được nhìn nhận, soi rọi, khám phá từ nhiều chiều, nhiều phương diện Các nhà thơ đi vào “mổ xẻ”, suy tư, nghiền ngẫm về con người Chính vì vậy, con người trong văn học giai

Trang 29

đoạn này được thể hiện một cách sâu sắc, toàn diện Cái tôi cá nhân trở thành

vị trí trung tâm của sự cảm nhận

Bước vào giai đoạn mới, cũng như Trần Nhuận Minh, nhiều nhà thơ tự phát hiện ra mình, tự thấy chán ghét lối thơ công thức, sơ lược, giả tạo, đồng thời xác nhận trách nhiệm và địa vị nhà thơ đối với lịch sử Một ý thức mới về thơ xuất hiện Với quan niệm phải dấn thân vào cuộc đời, phải tôn trọng sự thật là một mô típ trữ tình phổ biến trong sáng tác về thơ giai đoạn này

Nguyễn Khoa Điềm từng viết: “Thơ lặng lẽ, gày gò, thơ như thanh thép

nguội, thơ làm cột thu lôi dưới bão giông này”

Và đây cũng là giai đoạn, cảm hứng về việc nhận thức, lý giải những vấn đề thế sự, đời tư xuất hiện nhiều trong thơ Với khát vọng dân chủ, ý thức tôn trọng sự thật, các nhà thơ cùng thời đã không ngần ngại chạm đến những vấn đề cốt lõi của thực tại Cái nhìn của họ trở nên hiện thực, gai góc hơn so với cái nhìn thuần nhất, lý tưởng, với phong cách ngợi ca quen thuộc giai đoạn trước:

- Có một thời ta mê hát đồng ca Chân thành và say đắm (Nguyễn Duy)

- Cái thời sẵn lòng tin và dễ đồng lòng Cái thời dễ nghe, hay khen, cái thời quen nghĩ theo một chiều xuôi như chiều nước chảy (Phùng Khắc Bắc)

Trên nền tảng đó, thơ ca trở về nơi chôn rau cắt rốn, trở về nơi nó đã sinh ra, trở về với cái tôi Cái "tôi" trực tiếp xuất hiện nhiều hơn Và “Thơ đang lấy lại cân bằng trên nhiều mối quan hệ: cái tôi và cái ta, hướng nội và hướng ngoại, phê phán và ngợi ca, tương lai và hiện tại ” (Nguyễn Bá Thành) Thơ ca giai đoạn này đặc biệt đi vào cái riêng, những vấn đề cá nhân của con người như tình yêu lứa đôi, nhu cầu trở về bản thân với tâm tư, tình cảm phức tạp

Nhìn chung, những tiền đề xã hội - thẩm mỹ đã góp phần tạo nên những nét mới cho văn học giai đoạn sau 1975 Có thể thấy rằng, bước sang

Trang 30

giai đoạn này, quan niệm nghệ thuật về con người đã được bổ sung hoàn thiện hơn, đi sâu vào khám phá nhiều mặt của hiện thực cuộc sống, của bản chất con người Đồng thời, giai đoạn này cũng có có nhiều cách tân, đổi mới trong

tư duy nghệ thuật và biểu hiện Nhu cầu của cuộc sống đã buộc văn học phải thay đổi Có thể nói, bức tranh đa dạng, đa sắc và đầy đủ phức tạp của đời sống đã phản ánh vào văn học, đổ bóng xuống các tác phẩm thi ca

1.3.2 Quan niệm về nghệ thuật của Trần Nhuận Minh

1.3.2.1 Về mối quan hệ giữa thơ và hiện thực đời sống

Hơn bốn mươi năm cầm bút, cái đích mà Trần Nhuận Minh luôn hướng tới là tìm hiểu, lí giải bản chất của thơ ca cũng như hiện thực cuộc đời Ngay

từ khi mới sáng tác, ông đã nhận thức được rằng, giữa thơ ca và hiện thực đời sống có một mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ Đặc biệt, thơ ca cũng chính là phương tiện hữu ích để tác động tới đời sống hiện thực và tâm hồn con người Tác dụng quan trọng và lâu bền nhất của thơ ca chính là nhân đạo hóa con người Quan niệm này có vẻ như không mới, nếu xét trong thời điểm bây giờ Tuy nhiên, với Trần Nhuận Minh, quan niệm đó đã được ông theo đuổi và thực hành một cách nhất quán trong cả đời thơ Ý thức đó xuất phát từ một tâm hồn nghệ sĩ giàu tinh thần trách nhiệm với cuộc đời và luôn gắn bó với con người, nhất là những con người bé mọn, đau khổ

Trong thời gian đầu, sáng tác nhiều, song Trần Nhuận Minh cảm thấy như chưa đụng đến được vào bản chất của đời sống nên ông đã “gửi lại dọc đường” để đi tìm cái có ý nghĩa hơn Sau chiến tranh, đặc biệt là sau công cuộc Đổi mới, Trần Nhuận Minh đã tìm được hướng đi mới cho mình Ông tỉnh táo và sáng suốt để nhìn vào bản chất xã hội và số phận của những kiếp người, với một bút pháp mô tả hiện thực nghiêm nhặt, sâu sắc Chính bởi điều

đó mà trong Nhà thơ và Hoa cỏ, ông đã ghi được cái nghịch lý, nghịch cảnh

của xã hội giao thời bằng niềm thương cảm, xót xa Trong tập thơ này, Trần

Trang 31

Nhuận Minh như một người thư ký trung thành của thời đại Mỗi bài thơ của ông gắn với tên tuổi cụ thể và một cảnh ngộ riêng thực đến xé lòng

Lấy đề tài từ cuộc sống hiện thực với mong muốn “hóa giải nỗi đau

thời đại”, với Nhà thơ và Hoa cỏ, ta thấy Trần Nhuận Minh đã “áp tải” cuộc

sống đến “những bến cuối cùng” với hy vọng có thể chia sẻ được phần nào gánh nặng, nỗi buồn đau của mỗi kiếp người bất hạnh, nhỏ bé, cô đơn…

Không chỉ với Nhà thơ và Hoa cỏ, mà ở Bản xô nát hoang dã và 45 khúc đàn

bầu của kẻ vô danh, tuy được đánh giá là đã lột xác hiện thực để thay bằng

chất lãng mạn thì đằng sau những câu chữ ấy vẫn là khát vọng muôn thuở của Trần Nhuận Minh mong muốn cho cuộc đời được tốt đẹp và hạnh phúc hơn như có lần ông đã tâm sự: “Tôi làm thơ về nhân dân, với khái niệm cụ thể là những người dân cùng những vui buồn có thật trong đời họ mà mình thấy, mình hiểu (chứ không phải mình tưởng tượng ra theo ý là nó phải nghệ thuật mới đúng)” [69,418]

Trong quan niệm của Trần Nhuận Minh, nghệ thuật, dù có khi là "tia

nắng quái", nhưng vẫn là tia nắng rất thật của đời Ở bốn câu cuối bài Thăm

bạn ông viết:

Lòng băn khoăn không dứt Bỗng thèm một chén trà Cuối trời tia nắng quái Cháy kinh hoàng sau ta…

Nghệ thuật thi ca Trần Nhuận Minh luôn là tia nắng ấm áp để sưởi cho đời Hy vọng rằng, thơ ông sẽ tìm ra hướng đi mới để cũng là nắng, nhưng là tia nắng quái để một lần nữa làm thức tỉnh người đọc

Khát vọng về cuộc đời và con người qua thơ Trần Nhuận Minh quả là

lớn lao và đáng chân trọng Là nhà thơ trải qua những năm tháng chiến tranh của đất nước, Trần Nhuận Minh luôn trung thành với lí tưởng nhân văn của

Trang 32

thời đại, sống hết mình cho cái Ta chung Ông nhạy cảm hơn với mọi biểu

hiện của sự tồn tại bất công, oan trái Chính vì thế mà ông luôn khao khát:

Những câu thơ mỏng tựa cánh chuồn Ngàn năm bay ngược bão

Mang sấm sét của những vùng chưa qua Mang ánh trăng của những thời chưa tới…

Và ông cũng ý thức được vai trò quan trọng của thơ ca trong cuộc sống:

Muốn khóc thì cứ khóc Thích cười thì được cười

Vì điều đơn giản ấy Máu bây giờ … vẫn rơi…

Chế Lan Viên từng nói: “Thơ không phải chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh/

Không phải chỉ ơ hời mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan” (Nghĩ về nghề, nghĩ

về thơ, nghĩ…) Thơ Trần Nhuận Minh không “đập bàn, quát tháo” nhưng

thực sự là những vần thơ “thức tỉnh”, “lo toan” trong trong xã hội còn đầy những tham vọng và sự bất công

1.3.2.2 Về vai trò và trách nhiệm xã hội của người cầm bút

Luôn gắn với trách nhiệm xã hội là một đặc điểm lớn của thơ Việt Nam Đó là truyền thống quý báu đã làm nên tầm vóc và giá trị của thơ trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và khắc sâu trong tâm hồn mỗi người dân yêu nước Tiếp nối truyền thống lịch sử của cha ông, Trần Nhuận Minh như một đại diện của nhà thơ thế hệ mới tiếp nối nhiệm vụ:

Lấy cán bút làm đòn chuyển xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền

(Trường Chinh)

Trang 33

Có lẽ Trần Nhuận Minh cũng như nhiều nhà thơ cùng thời, đã chán ghét những bài “tụng ca dễ dãi, lãng mạn giả tạo” và đi theo quan điểm:

Tôi lột hết ngôn ngữ bóng bẩy, Những áo sống triều trần trong những tụng ca Những bài thơ cởi áo dưới mặt trời làm nghĩa vụ công dân

(Thu Bồn)

Những bài thơ của Trần Nhuận Minh đã thực sự “cởi áo dưới mặt trời

làm nghĩa vụ công dân” khi ông viết:

Mọi đặc quyền đều xúc phạm nhân dân

Và bất công như quả bóng lăn tròn

Từ chân người này sang chân người khác

Im lặng là vàng ư?

Im lặng là tội ác

Giữa đời sống kinh tế thị trường điên đảo với những tệ nạn và tham vọng, những vần thơ của Trần Nhuận Minh như một hồi chuông cảnh tỉnh mọi người hãy dừng lại giữa dòng đời hối hả để nhìn lại chính mình và lên tiếng trước thực trạng xã hội

Cũng như Thanh Thảo, khi tác giả này tuyên bố:

Cái đẹp là sự thật Hơn cả tắm trong nước là tắm trong những ý nghĩ

Trần Nhuận Minh cũng luôn tâm niệm một tuyên ngôn “áp tải sự thật”

tới bờ chân lý Và những vần thơ của ông thực sự đã là:“Một câu thơ chống

đỡ mấy mạng người” (Nguyễn Duy)

Chính vì ý thức được trách nhiệm cao cả của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống, nên Trần Nhuận Minh đã luôn có thái độ "dấn thân" vào cuộc đời Với phương châm tôn trọng sự thật, ông đã phản ánh chân thực cuộc đời đầy bất trắc, đồng thời biến ngòi bút của mình thành vũ khí bảo vệ lẽ phải, đứng

Trang 34

về phía những kiếp người lao khổ Ông lên tiếng gọi thống thiết những trái tim nhiệt huyết với đời, những nghệ sĩ chân chính, những “anh hùng thời bình” hãy lên tiếng vì cuộc đời, vì con người khi vẫn còn những bất công, những “bóng đêm” bao trùm cuộc sống của người dân lương thiện Trong bài

Trần Nhuận Minh giữa niềm dân gian mây trắng, Lê Thiếu Nhơn viết: “Trần

Nhuận Minh buông sự đời hối hả xuống trang giấy như một minh chứng thuyết phục nhất cho ý niệm, nhà thơ không có nhiệm vụ nào khác là góp phần hoá giải nỗi đau của thời đại mình” [94,3]

Ước muốn thay đổi cuộc sống còn nhiều bất công, oan trái, mong muốn một cuộc sống bình yên, tốt đẹp hơn cho những phận người bé nhỏ, đau khổ, nhà thơ luôn trăn trở về ngòi bút của mình:

Sự đời bao rắc rối

Phải trái tính sao đây Lòng mình thì nhàu nát Kinh sách thì thơ ngây

Với tim luôn ưu tư, trăn trở, dằn vặt với đời, thơ ông thường hướng đến nỗi đau, sự bất công, ngang trái, và khao khát con người sống với nhau nhân

ái hơn, vị tha hơn, có trách nhiệm hơn Với một tinh thần nhập cuộc đầy quả quyết, thơ Trần Nhuận Minh thấm đẫm cảm hứng phê phán nghiêm khắc, nhưng đó là sự phê phán của một con người giàu ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng Trần Nhuận Minh từng tâm sự: “Tôi muốn người đọc nhận ra

nụ cười sau những giọt nước mắt, và theo tôi chỉ có những ai thẩm thấu được

vị mặn chát của những giọt nước mắt, mới hiểu được nụ cười thực sự là như thế nào Đây cũng là một cách tiếp cận với hạnh phúc ”

Ý thức được vai trò và trách nhiệm của nhà thơ trong cuộc sống hiện tại, Trần Nhuận Minh đã sử dụng nhiều lối diễn đạt khác nhau Chẳng hạn, khi đánh giá về Khuất Nguyên, một nhà thơ lỗi lạc Trung Quốc, đã nhảy

Trang 35

xuống sông tự vẫn để thể hiện thái độ quay lưng lại với thời cuộc đen bạc, ông viết:

Khuất Nguyên Chê cuộc đời quá đục Chọn chỗ nước trong để trẫm mình Tiếc thay!

Con cá lớn nuốt ông Trong bụng cá

Thức ăn đang thối rữa

(Bốn lăm khúc đàn bầu của kẻ vô danh)

Thể hiện thái độ trước thời cuộc, Trần Nhuận Minh mong muốn thơ mình phải là những “ngọn giáo dài” và “đi trong tái nhợt những đêm trăng”

để diệt trừ lũ “Cối Xay Gió”, thực hiện công lý, đòi lại công bằng xã hội:

Thế gian vẫn còn nhởn nhơ lũ “Cối Xay Gió”

Vẫn còn ngổn ngang bao oan khổ kiếp người

Nhưng nàng Đunxine của anh ơi Nếu còn một ai bị đói khổ và đoạ đày,

ở bất cứ nơi nào lên tiếng gọi Anh sẽ lại trở về trên lưng ngựa Rốt-ximăng Giương thẳng ngọn giáo dài

Lừng lững đi trong tái nhợt

những đêm trăng

(Đông-Ki-sốt)

Ở mỗi tác phẩm văn học, cái tôi trữ tình đều có sự lý giải cuộc sống và khẳng định tiếng nói riêng của mình Trong thơ Trần Nhuận Minh, đó là cảm hứng thế sự, đời tư hiện lên với những băn khoăn, trằn trọc, không ngừng, với

Trang 36

những lý giải và cắt nghĩa cuộc sống theo cách riêng của mình Như có lần ông tâm sự: “Cuộc sống, số phận và những khát vọng của nhân dân luôn làm xúc động tôi Mọi cố gắng của cả đời tôi là biến những xúc động đó thành nghệ thuật Tôi cố viết thật trong sáng, giản dị, thấm thía, và dành một khoảng rộng sau mỗi bài thơ của mình cho người đọc cảm tiếp, nghĩ tiếp, điều tôi đã gợi cho họ từ những câu chữ nhọc nhằn của mình Tôi tin những gì tôi đã làm,

sẽ được nhiều bạn đọc đồng cảm” [37,87]

Ý thức trách nhiệm của một công dân có trái tim nhiệt huyết với đời, với cảm hứng mô tả về nhân sinh, thế sự đã đem đến cho thơ Trần Nhuận Minh những giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc Đọc thơ Trần Nhuận Minh, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên cũng chia sẻ: “Bài thơ nào của Trần Nhuận Minh sẽ còn lại với mai sau? Bài thơ nào sẽ sống mãi trong lòng người? Tôi không dám chắc Tôi chỉ là người của ngày hôm nay, ngổn ngang vui buồn và tôi đọc thơ Trần Nhuận Minh như bắt gặp một người vừa lạ vừa quen, vừa giản dị vừa tinh tế, phức điệu, bắt gặp một nhà thơ trung thành với sứ mệnh thơ của mình" [37,428]

1.3.2.3 Về sự cần thiết phải đổi mới cách nghĩ, cách viết

Trong lần trả lời phỏng vấn Tạp chí Phố Hiến, nhà thơ Trần Nhuận

Minh đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong sáng tác: “Thơ chỉ cần hay Nhưng trong ý nghĩ của tôi cái hay không tách rời cái mới Không phải cái mới nào cũng hay song bất cứ cái hay nào cũng có cái mới… Vì thế, đổi mới

cũng là sự sống còn của thơ” Và phải chăng với Nhà thơ và Hoa cỏ và Bản

xô nát hoang dã Trần Nhuận Minh đã hai lần lột xác, như nhiều nguời đã

nhận xét, thơ ông đã thực sự “hay” và “mới” như ông từng khao khát

Chính vì luôn tâm niệm phải đổi mới cách nghĩ, cách viết nên Trần Nhuận Minh đã khoanh vùng 25 năm đầu làm thơ (1960-1985) và “gửi lại dọc đường” để suy ngẫm và tìm hướng đi mới cho mình Đại hội đổi mới của

Trang 37

Đảng vào năm 1986, như ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp sáng tác của Trần Nhuận Minh mà ông đã từng công nhận đã có ảnh hưởng đến ông như

một cuộc “khai sinh lần thứ hai” Bài thơ Nhà thơ áp tải là mốc đầu tiên của lần “lột xác” này Với tập Nhà thơ và hoa cỏ, Trần Nhuận Minh đã làm nên

“vệt thơ chân dung” mà Nguyễn Bùi Vợi cho rằng thơ ông đã đổi mới, đã “lật cánh” để bay ở một tầm bay mới

Và rồi “vệt thơ chân dung” lại khiến ông “không còn hào hứng nữa Tôi nghĩ là mình phải bật lên một kênh khác thì mới nên viết tiếp” [37,41] Một lần nữa nhà thơ lại “rơi vào cảm giác trống vắng” vì không biết viết như thế nào để làm mới mình Trong một đêm dự biểu diễn văn nghệ, tâm hồn nghệ

sỹ khát khao làm mới mình đó đã bắt gặp một cái gì đó làm ông “vô cùng xúc

động” và Bản xô nát hoang dã ra đời Ông tự đánh giá rằng: Nếu Nhà thơ và

Hoa cỏ là thực thì Bản xô nát hoang dã là ảo” [69,420] Song ông không chia

cắt hai chặng đường sáng tác của mình mà xem chặng thứ nhất là nhịp cầu nối của chặng đường thứ hai: “Thực ra, đây là hai mặt của một vấn đề, chúng kế

thừa và phát triển nhau, và yếu tố đã có từ Nhà thơ và Hoa cỏ, thì nay chảy thành dòng” trong Bản xô nát hoang dã [69,420] Có ý kiến cho rằng sau Bản

xô nát hoang dã, Trần Nhuận Minh sẽ kiệt sức Đáp lại ý kiến đó ông nói:

“Không chỉ trong sáng tác mà trong cả công việc,…bao giờ tôi vào cuộc cũng hết lòng,…làm việc hay viết, đều cố gắng đi đến tận cùng cái có thể trong cái không thể Và trở lại, như phù sa của một dòng sông, cái “kiệt cùng” đó, sẽ bồi đắp lại cho mình, để sẽ có một mùa thu hoạch sau” [69,421] Ở tuổi 65, đã

là tuổi nghỉ ngơi sau bao năm lao động cật lực, nhưng Trần Nhuận Minh với trái tim không mệt mỏi muốn đập mãi với đời, ông vẫn hứa hẹn: “Tôi sẽ viết tiếp và lại hy vọng sẽ lại bật lên được một kênh khác” Tôi lại bắt đầu từ ABC, học hỏi và tích tụ để chuận bị cho một cố gắng mới mà hiện nay tôi còn

Trang 38

chưa nghĩ ra” [69,421] Suốt đời ông sống và lao động nghệ thuật không ngơi nghỉ theo tâm niệm hai câu “Kinh thánh”:

Hãy gõ rồi cửa sẽ mở Hãy tìm rồi người sẽ gặp

Trần Nhuận Minh đã không ngừng tìm kiếm trên con đường sáng tác

Vũ Quần Phương đã nhận xét rất tinh tế và sâu sắc về phương châm sáng tác của Trần Nhuận Minh: “Trần Nhuận Minh đã có đến bốn mươi năm làm thơ Ông kiên trì tìm hiểu bản chất của thơ và luôn luôn cố gắng nhìn cho

ra thực chất của đời, chịu thay đổi bút pháp và cả quan niệm sáng tác để thơ đến được bạn đọc và có ích” [37,186] Có lẽ vì thế mà trong hai mươi năm đầu cầm bút, Trần Nhuận Minh luôn khát khao và mong đợi một cái gì đó mà mình chưa đạt tới Bởi ông nghĩ thơ ông “chưa đụng được vào chất thơ của đời”, mới chỉ là những phản ánh thực tế nông nổi theo thời cuộc Với trào lưu sáng tác của những năm sau chiến tranh, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ

VI của Đảng, Trần Nhuận Minh đã tìm được con đường sáng tác riêng của mình, “ông tỉnh táo và tin vào mắt mình khi nhìn thực chất xã hội, khi dõi theo những số phận người” Ông không cố tình ngợi ca, cũng không có ý phê phán, ông chỉ muốn lột tả được đúng nhất, bản chất nhất cái vốn có của cuộc đời trong buổi giao thời với nhiều nghịch lý, nghịch cảnh.Với bút pháp hiện thực nghiêm khắc, sâu sắc và hàm súc đã giúp ông thể hiện một cách cô đọng nhất bức tranh đời sống thực tại

Bằng sự nhạy cảm của một nhà thơ, Trần Đăng Khoa đã có đúc kết rất sâu sắc về dòng chảy thế sự trong thơ Trần Nhuận Minh:

Bác âm thầm chìm nổi Cùng kiếp người lang thang

Tóm lại, trước cuộc sống bộn bề, phức tạp, cái tôi sử thi trong thời kỳ đầu của Trần Nhuận Minh nhường chỗ cho cái tôi đời thường mang những

Trang 39

trăn trở, khát vọng của thời đại Ý thức tôn trọng sự thật, khát vọng dấn thân vào cuộc đời trở thành niềm nhức nhối trong mỗi vần thơ, và là yếu tố cội nguồn tạo nên bước chuyển mạnh mẽ làm thay đổi khuynh hướng nội dung trữ tình trong thơ ông Trong cuộc đời sáng tác, Trần Nhuận Minh luôn có ý thức làm mới mình như có lần ông tâm sự: “Tôi có ý thức làm mỗi tập mỗi khác, khác về tư duy nghệ thuật, về ý tưởng, kết cấu, bút pháp và giọng điệu, tự làm đa dạng mình, hy vọng nhờ thế mà phản ánh cuộc sống và tâm trạng nhiều chiều hơn, như nó đã và đang tồn tại” [37, 7]

Trang 40

Chương 2 NỘI DUNG CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƯ TRONG THƠ TRẦN NHUẬN MINH

2.1 Biểu hiện chính của cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh

2.1.1 Ý thức “áp tải sự thật” khi mô tả hiện thực đời sống

Trong một sáng tác của mình, Trần Nhuận Minh đã phát biểu: “Hãy áp

tải sự thật/ Đến những bến cuối cùng” (Nhà thơ áp tải) Có thể nói, ý thức “áp

tải sự thật” đã trở thành một phương châm sáng tác của Trần Nhuận Minh Nói cách khác, trong sáng tác, ông luôn chủ trương "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", cho dù đó có thể là những sự thật gai góc, khiến nhiều người e ngại, tránh né Tôn trọng sự thật khi mô tả hiện thực đời sống, ngòi bút của ông không ngại đi sâu vào những góc tối, góc khuất, những vấn đề nhức nhối

và phê phán với thái độ nghiêm khắc Dĩ nhiên, đấy là sự phê phán của ý thức trách nhiệm, nhằm hướng tới xây dựng một xã hội thực sự công bằng hơn, dân chủ hơn, nhân đạo hơn Và để chuyển tải sự thật đời sống gai góc ấy, nhà thơ tìm đến một thứ ngôn ngữ giản dị, chân mộc, không trau chuốt, tô vẽ Chính vì thế, thơ của ông gần với ký, ghi chép và mô tả về sự thật, đồng thời còn góp phần vào tiếng nói “chống tiêu cực” trong xã hội Từ "những điều trông thấy", thi sĩ đã trải lòng mình ra, để thâu về bao nhận thức, xúc cảm về nhân sinh, thế sự

“Hiện thực” đã từng là một trong những nội dung quan trọng của cái tôi trữ tình thơ ca giai đoạn trước Khi cái tôi trữ tình làm nghĩa vụ công dân, hiện thực đi vào trong thơ có định hướng để hỗ trợ cho cái nhìn sử thi Tuy nhiên, như đã nói trong chương 1, cái tôi trữ tình của thơ sau năm 1975 hướng đến phản ánh hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó Trong hoàn cảnh

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đạ i- nhận thức và thẩm mỹ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đạ i- nhận thức và thẩm mỹ
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
3. Thục Anh (19/9/2001), “Tiếng của trái tim”, Phụ nữ thủ đô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng của trái tim”
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
6. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 – 2000, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 – 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
7. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
8. Nguyễn Bảo Chân (2005), “Thơ Ý Nhi, nơi nỗi buồn nương náu”, Báo Phụ nữ Tp Hồ Chí Minh (Ngày 8-3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Ý Nhi, nơi nỗi buồn nương náu
Tác giả: Nguyễn Bảo Chân
Năm: 2005
9. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (1975- 2000), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (1975-2000)
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2007
10. Nguyễn Việt Chiến (2008), “Thơ Việt Nam 30 năm cách tân 1975 – 2005”, Quân đội nhân dân, (Số 16887) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam 30 năm cách tân 1975 – 2005”, "Quân đội nhân dân
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2008
11. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hoá – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2005
12. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường
Tác giả: Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
13. Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi (1974), Trái tim nỗi nhớ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái tim nỗi nhớ
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1974
14. Lâm Thị Mỹ Dạ (2003), “Cuộc sống cho tôi tình yêu”, Phụ bản thơ, (Số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống cho tôi tình yêu”, "Phụ bản thơ
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ
Năm: 2003
15. Nguyễn Văn Dân (2000), Lý luận văn học so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
16. Hồng Diệu (1993), Nhà văn và trang sách, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và trang sách
Tác giả: Hồng Diệu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1993
17. Xuân Diệu (1985), “Mấy cảm nghĩ”, Văn nghệ, (Số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy cảm nghĩ”, "Văn nghệ
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1985
18. Gia Dũng (biên soạn - tuyển chọn 2007), 100 bài thơ chọn lọc thế kỷ 20, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 bài thơ chọn lọc thế kỷ 20
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
19. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
20. Phan Huy Dũng (1999), “Tứ thơ - hạt nhân két cấu của hình tượng thơ trữ tình”, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, (Số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thơ - hạt nhân két cấu của hình tượng thơ trữ tình”, "Diễn đàn văn nghệ Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
21. Nguyễn Công Dương (1994), “Phác thảo về mối quan hệ giữa ảo và phi lý trong thơ”, Sông Hương, (Số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo về mối quan hệ giữa ảo và phi lý trong thơ”, "Sông Hương
Tác giả: Nguyễn Công Dương
Năm: 1994

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w