1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng thế sự,đời tư trong thơ nguyễn duy

119 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm Hứng Thế Sự, Đời Tư Trong Thơ Nguyễn Duy
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, Hoài Thanh đã nhận thấy Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy được biểu lộ trong vẻ đẹp giản dị, chân thực của bức tranh đời sống mà nhà thơ mô tả.. Dáng vẻ t

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài……… ………1

2 Lịch sử vấn đề nghiờn cứu……… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu……… 6

4 Nhiệm vụ nghiờn cứu……….……… 7

5 Phương phỏp nghiờn cứu……… ………7

6 Đúng gúp của luận văn……… ……8

7 Cấu trỳc của luận văn……… ………8

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHẶNG ĐƯỜNG THƠ VÀ SỰ HèNH THÀNH CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƯ TRONG THƠ NGUYỄN DUY 9

1.1 Hành trỡnh thơ Nguyễn Duy……… 9

1.1.1 Giai đoạn tr-ớc 1975……… ………9

1.1.2 Giai đoạn sau 1975 ……… ………… 15

1.1.3 Sự vận động trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Duy qua cỏc chặng đường thơ……… …21

1.2 Cảm hứng thế sự, đời tư – một cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy sau 1975……… 24

1.2.1 Khỏi niệm “cảm hứng thế sự, đời tư”……… 24

1.2.2 Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy……… 26

1.3 Những cơ sở hỡnh thành cảm hứng thế sự, đời t- trong thơ Nguyễn Duy…… 27

1.3.1 Sự thay đổi trong bối cảnh xó hội – thẩm mĩ thời hậu chiến và Đổi mới…… 27

1.3.2 Sự đổi mới trong quan niệm sỏng tạo của Nguyễn Duy…… ……29

Trang 2

Chương 2: NỘI DUNG CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƯ TRONG THƠ

NGUYỄN DUY 35

2.1 Biểu hiện chớnh của cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy 35

2.1.1 Cảm hứng “nhận thức lại hiện thực”đời sống……… 35

2.1.2 Cảm hứng lí giải về những nghịch lí nhân sinh……… 38

2.1.3 Cảm hứng mụ tả về cỏc mối quan hệ đời thường………… 42

2.2 Những hình t-ợng thế sự, đời t- nổi bật trong thơ Nguyễn Duy 48

2.2.1 Hỡnh tượng cỏi tụi thế sự, đời tư……… 48

2.2.2 Hỡnh tượng quờ hương……… 58

2.2.3 Hỡnh tượng Mẹ và Vợ……… 63

Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƯ TRONG THƠ NGUYỄN DUY 71

3.1 Ngôn ngữ……… 71

3.1.1 Gia tăng cỏch diễn đạt bằng khẩu ngữ…… 72

3.1.2 Sử dụng phổ biến cỏc lớp từ ngữ, hỡnh ảnh dõn gió 75

3.1.3 Gia tăng yếu tố lập luận, “lí sự”…… 78

3.2 Giọng điệu……… 82

3.2.1 Giọng “hỏt ru” 83

3.2.2 Giọng trào lộng 85

3.2.3 Giọng triết lớ 91

3.3 Thể thơ……… 94

3.3.1 Thơ tự do ……… 94

3.3.2 Thơ năm chữ……… 101

3.3.3 Thơ lục bỏt……… 104

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 3

Thành phố Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Duy xuất hiện vào chặng giữa cuộc kháng chiến chống

Mỹ (1969 - 1973) cùng với các tên tuổi như Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, …và là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào “thơ trẻ” thời kỳ này Cho đến nay, ông cũng là một tác giả nổi bật trong nền thơ Việt Nam đương đại

1.2 Nguyễn Duy là một nhà thơ có bề dày sáng tác với nhiều thành tựu Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ:

Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam (trong tập Cát trắng) Năm

1985, ông được tặng giải thưởng loại A về thơ của hội nhà văn Việt Nam Năm 2007, Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật Trong hơn 20 năm sáng tác, Nguyễn Duy đã cho ra đời một khối lượng tác phẩm không nhỏ với 16 đầu sách đã xuất bản Trong đó chỉ có ba tập văn xuôi, còn lại là thơ Thơ Nguyễn Duy đặc sắc ở nhiều phương diện Hơn thế, ông đã tạo đựơc dấu ấn riêng, giọng điệu riêng, phong cách riêng trong nền thơ Việt Nam hiện đại Ông còn được đánh giá cao trong thơ lục bát, một thể thơ dân gian có cảm giác dễ viết nhưng rất khó viết cho hay Nhiều bài thơ

của ông được bạn đọc yêu thích như: Tre Việt Nam, Ánh trăng, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xƣa, Sông Thao, Đò Lèn…Thơ của ông còn được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông với hai bài Tre Việt Nam và Ánh trăng Đặc biệt,

trong thơ Nguyễn Duy, cảm hứng thế sự, đời tư chiếm một vị trí quan trọng,

cho thấy những quan niệm nhân sinh – thẩm mĩ rất độc đáo của tác giả

1.3 Sáng tác của Nguyễn Duy từ lâu đã được giới phê bình, nghiên cứu quan tâm rộng rãi Tuy nhiên vấn đề cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ ông lại chưa được các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm đúng mức Vì vậy tìm hiểu

Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy là một việc cần thiết và có ý

nghĩa

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Ngay từ những sáng tác đầu tay, nhất là sau giải thưởng của cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ 1973, Nguyễn Duy đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của nhiều độc giả và gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu, phê

bình Tuy nhiên, tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy, chúng ta thấy chưa nhiều Rất ít tác giả đề cập trực

diện đến vấn đề này mà chỉ đề cập đến những khía cạnh cụ thể Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số ý kiến tiêu biểu

Trước hết phải kể đến ý kiến đánh giá của Hoài Thanh Trong bài viết

Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy, Hoài Thanh viết: “Thơ Nguyễn Duy đưa

ta về một thế giới quen thuộc: một gốc sim, một bụi tre, một ổ rơm…Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần

cù, gian khổ, không tuổi, không tên…Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoảng qua thì ở anh nó lắng sâu và duờng như dừng lại” [63] Trong bài viết này, Hoài Thanh đã nhận thấy Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy được biểu lộ trong vẻ đẹp giản dị, chân

thực của bức tranh đời sống mà nhà thơ mô tả Cũng theo Hoài Thanh, đây là điểm riêng trong sáng tác của Nguyễn Duy, điểm mà sau này sẽ biến ông trở thành một thi sĩ có tên tuổi: “Một số bài thơ của anh đậm đà phong cách Việt Nam”[63]

Hà Minh Đức trong bài Một số cây bút trẻ gần đây trong quân đội đã

viết: “Thơ Nguyễn Duy mang nhiều màu sắc dân gian Cách suy nghĩ và cảm xúc trên trực tiếp hay gián tiếp đều nằm trong mạch suy nghĩ quen thuộc của dân gian và tự nhiên là anh phải tìm đến một lối phô diễn, một giọng điệu thơ thích hợp” [21]

Đến năm 1984, khi tập thơ Ánh trăng đạt giải thưởng của hội nhà văn

Việt Nam (công bố 1986), Nguyễn Duy được người đọc biết nhiều đến qua

Trang 6

hàng loạt bài viết của các tác giả: Lê Quang Trang, Từ Sơn, Tế Hanh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hữu Sơn, Ngô Vĩnh Bình, Lê Giang, Lê Quang Hưng, Nguyễn Quang Sáng…Những cây bút này đã có nhiều phát hiện mới mẻ xác

đáng về thơ Nguyễn Duy, trong đó có phương diện Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ ông Lê Quang Trang trong bài Đọc Ánh trăng nhận xét:“Quan tâm

nhiều đến mảng hiện thực chiến tranh nhưng thơ anh vẫn đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống hằng ngày, từ thiên nhiên cây cỏ đến bóng

đá, múa hát, từ cô gái chơi đàn đến ông già nông dân Nam Bộ trên đồng ruộng Ở đây, chi tiết trong thơ không chỉ nhằm dựng cảnh mà để nói hiện thực tâm trạng, hiện thực suy nghĩ của một lớp người, thời đại” [42,198] Từ

Sơn nhận xét về đề tài, cảm hứng trong thơ Nguyễn Duy ở hai tập Cát trắng

và Ánh trăng: “Nguyễn Duy không chỉ viết về tuổi thơ và làng quê mình…Tám mươi bài anh chọn in trong tập Cát trắng và Ánh trăng chiếm

một số lượng lớn vẫn là những bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh Một số lượng không nhỏ là những bài thơ viết về tình yêu và suy nghĩ về lẽ sống trên đời” [42,201]

Lê Quang Hưng đã tìm được ra cái đặc sắc riêng của tập thơ Ánh trăng trong đó có Cảm hứng thế sự, đời tƣ: “Với Cát trắng, người đọc thích một

tâm hồn cảm nhận được ý nghĩa và bề sâu của cuộc sống từ sự vật, sự việc có

vẻ bình thường Giờ đây, Nguyễn Duy vẫn nhạy cảm, giàu suy tư như thế và từng trải sâu sắc hơn Ý nghĩa phổ quát, sự suy nghĩ trong thơ Nguyễn Duy thường có điểm tựa từ một âm thanh, một sự vật đậm tính dân tộc” [42, 206]

và “nhiều bài thơ trong tập Ánh trăng thật đậm đà tính ca dao hay thơ”

Trang 7

hoàn cảnh sống… thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian Lời thơ đơn sơ gần với khẩu ngữ Tư duy thơ hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong độ cổ điển phương Đông” [53,81]

Vương Trí Nhàn trong bài Một bản sắc đã đến lúc định hình viết: “Với tập thơ Về, từ chỗ pha giọng chập chững mày mò, nhà thơ đã đi tới một giọng

thơ nhiều phẩm chất thuần nhất Dân dã mà hiện đại; dạn dày song lại run rẩy, tinh tế; ngậm ngùi ngay trong khi cười cợt, đắm say; lầm lũi rộng dài mà vẫn

có những nét cao sang riêng Thơ Nguyễn Duy…gợi ra một bản sắc đã chín,

đã đến lúc định hình” Ông cũng lướt qua phương diện cảm hứng trong thơ Nguyễn Duy: “Quả thực, đọc thơ Nguyễn Duy rất hay bắt gặp những gì bâng quơ, bất chợt, những gì hồn nhiên mà đẹp như vậy” [44]

Tác giả Vũ Văn Sỹ trong bài viết Nguyễn Duy - Người thương mến đến tận cùng chân thật đánh giá: “Cái đáng quý nhất trong thơ Nguyễn Duy là anh

viết về đất nước, về nhân dân, về đồng đội, về những người thân và về chính mình bằng tấm lòng “thương mến đến tận cùng của chân thật”” [59]

Đặc biệt, Chu Văn Sơn trong bài viết Nguyễn Duy- Thi sĩ thảo dân, đã

có nhiều khám phá mới mẻ, mang tính hệ thống về thơ Nguyễn Duy Trong

đó tác giả phân tích khá sâu về cái Tôi Nguyễn Duy, một cái tôi mang đậm

chất thế sự, đời tư: “Các đối cực ngỡ đầy nghịch lý hài hoà trong một nhất

thể Một mặt, nó cực bụi: “Ta nhớ ta bụi bặm quê mùa” Mặt khác nó cực nghiêm “Xin nghe anh nói cực nghiêm/ Linh hồn cát bụi ở miền trong veo”;

về quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Duy: “Là ta hát những lời của ta” Cả

trong thơ lẫn trong đời, Nguyễn Duy đều coi chân thành là cứu cánh, là cứu tinh của mình… Nguyễn Duy nhạy cảm với cái khổ…khắc chế cái khổ và vượt lên cái khổ đó chính là cái đẹp Quan điểm nghệ thuật ấy đã giúp Nguyễn Duy vững vàng trong suốt con đường nghệ thuật của mình”[54]

Nguyễn Thị Thanh Đạm trong chuyên luận về Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy đã trực tiếp đề cập đến Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ

Trang 8

Nguyễn Duy: “Nhìn chung, thơ Nguyễn Duy chủ yếu hướng về sự vật, sự việc, con người bình thường, trong đó hình ảnh làng quê và người nông dân được tập trung thể hiện ở nhiều bài thơ hay Dáng vẻ thẩm mỹ của hình tượng thơ gây ấn tượng sâu sắc với người đọc là vẻ đẹp đời thường, đậm đà bản sắc dân tộc của con người Việt Nam trong cuộc sống hằng ngày” [20,92]

Ngoài các bài viết trên, ta còn thấy một số bài viết khác đề cập đến các

khía cạnh cụ thể hơn của Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy

Tìm hiểu về Hình ảnh người vợ trong thơ Nguyễn Duy, Đỗ Ngọc Thạch

viết:“Tập Vợ ơi khiến người đọc giật mình về độ lớn cũng như chiều sâu của

hình tượng văn học “người vợ” và “về với vợ” có vị trí đặc biệt quan trong tâm linh thơ Nguyễn Duy được viết bằng những câu thơ có ấn tượng mạnh

Nếu như ở tập thơ Về có cái gì đó trừu tượng, mông lung, huyền ảo thì ở đây

Hoàng Thu Huệ trong bài Một số câu hỏi tu từ trong thơ Nguyễn Duy

từ việc khảo sát hình thức thơ Nguyễn Duy từ việc khảo sát hình thức thơ

Nguyễn Duy đã đưa ra những nhận xét khái quát khá xác đáng về Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ ông: “Tâm hồn Nguyễn Duy dễ rung cảm truớc những

điều nhỏ nhặt nhất của cuộc sống, cũng như những cái lớn lao cao cả Thơ anh là thơ tranh biện, bàn lụân về mọi vấn đề Có khi là những vấn đề cơm áo,

có khi là vấn đề quốc gia đại sự Ở vấn đề nào anh cũng thường đặt ra những câu hỏi trong thơ, hỏi mình, hỏi người Hỏi không phải để hỏi mà để tự bộc lộ nỗi lòng” [33,55]

Trang 9

Ngoài những bài viết mang tính chất nghiên cứu, phê bình trên đây ta thấy còn một số bài viết đi theo khuynh hướng phân tích, bình giảng về một

số bài thơ mang Cảm hứng thế sự, đời tƣ cụ thể Tác giả Vũ Quần Phương viết về bài Hơi ấm ổ rơm Tác giả Bùi Vợi viết về bài thơ Ánh trăng Tác giả

Lê Trí viết về bài Tre xanh Tác giả Chu Huy cũng có bài viết về Tre Việt Nam của Nguyễn Duy Tác giả Nhị Hà viết về bài Xuống đầy Hoàng Nhuận Cầm có bài Tiếc thay áo trắng má hồng Ngoài ra, còn có một số bài viết của

các tác giả khác như: Trần Hoà Bình, Trần Đăng Khoa, Văn Giá, Đoàn Minh Tuấn, Nguyễn Thị Bích Nga…

Tóm lại, qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng chưa có một công trình nào đi

sâu nghiên cứu về Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy Do đó,

chúng tôi thấy cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu tập trung hơn, đầy đủ hơn về vấn đề này

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy

3.2 Phạm vi tài liệu khảo sát

Để nghiên cứu vấn đề Cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy,

chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số tập thơ sau đây:

Trang 10

10 Bụi (Nxb Hội nhà văn, 1997)

11 Tuyển tập thơ Nguyễn Duy (NXb Giáo dục, 1998), Trần Đăng Khoa

tuyển chọn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

- Tìm hiểu về vị trí của cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy

và những cơ sở xã hội – thẩm mĩ đã làm nẩy sinh cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ ông

- Tìm hiểu nội dung biểu hiện của cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Nguyễn Duy

- Khảo sát, phân tích một số phương thức, biện pháp thể hiện cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Trong đó, có ba phương pháp chính:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Luận văn sẽ sử dụng phương pháp

này khi đi vào khảo sát các tập thơ cụ thể của nhà thơ Nguyễn Duy để thống

kê những bài thơ mang cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ ông

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng

tôi đi sâu vào miêu tả các đặc điểm cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy Cùng với quá trình phân tích miêu tả luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu giữa cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy với cảm hứng thế

sự, đời tư trong thơ của các nhà thơ khác để làm nổi bật đặc điểm riêng của cảm hứng trong thơ ông

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Qua quá trình nghiên cứu, phân tích

các tín hiệu ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy, chúng tôi tiến hành khái quát những đặc điểm cơ bản về cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ ông

Trang 11

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đi sâu vào tìm hiểu cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy, qua đó nhằm góp phần làm rõ và khẳng định bản sắc của thơ Nguyễn Duy Kết quả của luận văn có thể vận dụng, tham khảo cho vấn đề

dạy và học thơ văn Nguyễn Duy ở trường phổ thông

7 Cấu trúc của luận văn

- Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Khái quát về các chặng đường thơ và sự hình thành cảm hứng

thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy

Chương 2: Nội dung cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy Chương 3: Phương thức thể hiện cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ

Nguyễn Duy

Trang 12

Chương 1

KHÁI QUÁT CÁC CHẶNG ĐƯỜNG THƠ

VÀ SỰ HÌNH THÀNH CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƯ

TRONG THƠ NGUYỄN DUY

1.1 Hành trình thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, thị xã Thanh Hoá (nay là thành phố Thanh Hoá), tỉnh Thanh Hoá Thuở nhỏ, ông được bà ngoại đọc cho nghe rất nhiều hò, vè, ca dao và những chuyện nôm khuyết danh Nguồn văn hoá dân gian ấy như dòng sữa ngọt ngào đã nuôi dưỡng và thấm sâu vào thơ ông Những năm làm lính và làm báo đã tạo điều kiện cho Nguyễn Duy có dịp đi qua nhiều nơi trên đất nước Ông được ví như con ngựa sung sức, luôn ở tư thế động, đôi chân không biết mỏi Ông cũng đã sang các nước Xã hội chủ nghĩa, qua các nước Tây Âu và Mĩ Đến đâu ông cũng có thơ và thơ hay Ông hăm hở lao vào cuộc sống để nếm trải, lắng nghe, quan sát và suy nghiệm Bởi thế, Nguyễn Duy có cả một “núi cát” đời sống để sàng lọc, để “đãi cát tìm vàng” đưa vào thơ Một sự thật khách quan là Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng, không pha tạp

do hoàn cảnh sống Chính những cuộc chu du đó, nhất là ở cái tuổi chín muồi hình như đã giúp Nguyễn Duy thể hiện thơ hay hơn, đặc sắc hơn

1.1.1 Giai đoạn trước 1975

Nguyễn Duy làm thơ rất sớm Tác phẩm đầu tay Trên sân trường sáng

tác khi nhà thơ mới học lớp 2 Song phải chờ đến sự ra đời của hàng loạt các

tác phẩm như Trận địa tím (1969), Khẩu súng trên tay ta (1970), Khúc hát dân ca (1970), Tiếng hát mùa gặt (1971)… Đặc biệt là tác phẩm: Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm (chùm tác phẩm đoạt giải nhất trong

Trang 13

cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ 1972 - 1973 ) Nguyễn Duy mới bộc lộ rõ một thế giới nội tâm có bản sắc để từ đó định hình một phong cách thơ

Cát trắng là tập thơ đầu tay của Nguyễn Duy Ở tập thơ đầu tay này,

Nguyễn Duy đã khẳng định được diện mạo riêng Với Cát trắng Nguyễn Duy

được chú ý đến như một gương mặt thơ có tiềm năng Hoài Thanh đã nhận xét: “Thơ anh thường hay cảm xúc và suy nghĩ trước những chuyện lớn nhỏ quanh mình Cái điều ở người khác có thể chỉ là thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại…Dẫu sao cũng chỉ là bước khơi đầu, thơ anh có

thể còn nhiều hứa hẹn” [63] Trong tập Cát trắng, chiếm số lượng lớn là

những bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo

đường chiến tranh: Hầm chữ A, Chiều khẩu đội, Bầu trời vuông, Cát trắng,

…Còn lại là những bài thơ viết về tình yêu và lẽ sống ở đời: Nhớ, Xó bếp, Hơi ấm ổ rơm,… Những năm chiến đấu trong chiến trường cũng là thời gian

Nguyễn Duy lăn lộn trong cuộc sống, mở rộng tầm mắt, căng phồng ngực để đón nhận vào tâm hồn mình những sắc, mầu, hương thơm, mật ngọt và cả những đắng cay của cuộc sống Thơ viết ra vừa là để trang trải “món nợ” với đời, vừa là những bước chân trên chặng đường dài tự tìm và tự khẳng định mình Tập thơ chưa thật đặc sắc, nhưng ta cũng đã có thể tìm được nhiều tứ thơ hay:

Tôi say sắc chiều ươm chín đỏ cánh đồng

Chiều bồn chồn chảy tím dòng sông

Chiều dát bình minh theo đường viền núi

Ráng chiều nung nấu màu chờ đợi

Ơi chiều khẩu đội tôi say

(Chiều khẩu đội)

Cong cong võng bạt anh nằm Khuyên lên nền lá vành trăng lưỡi liềm (Võng trăng)

Trang 14

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã khơi dậy nguồn cảm hứng lớn lao cho văn học nói chung và cho thơ ca chống

Mỹ nói riêng Tập thơ Cát trắng ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như thế nên

nó cũng mang âm hưởng chung của dân tộc và thời đại:

Thắng rồi trận đánh thọc sâu Lại về với mái tăng bầu trời vuông (Bầu trời vuông) Trong Cát trắng, ta thấy tác giả còn thể hiện một tình yêu nước sâu

sắc Tình yêu ấy được cụ thể hoá qua tình yêu với quê hương, với từng căn hầm lánh nạn mà tác giả thấy trên đường hành quân, với mỗi mảnh đất, mỗi con người mà tác giả đã đi qua…

Cần chi ở tháng ở năm Trú chân một lát hay nằm một đêm Một đời không thể nào quên Lòng dân - chiếc mộc vững bền che ta

(Hầm chữ A) Trong tập thơ Cát trắng ta thấy có nhiều bài sự khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sự khẳng định sức mạnh dân tộc, nhân dân như : Tre Việt Nam, Giọt nước mắt và nụ cười, Cát trắng… Ở bài Tre Việt Nam, sức

mạnh phẩm chất, tâm hồn con người Việt Nam được hình tượng hoá qua hình ảnh cây tre:

Thân gầy guộc lá mong manh

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi ?

Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu ?

… Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã mọc như chông lạ thường (Tre Việt Nam)

Trang 15

Qua ngòi bút của Nguyễn Duy, những đặc điểm ngoại hình và phẩm chất bên trong của cây tre Việt Nam đã thể hiện một cách sâu sắc đặc điểm, phẩm chất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam.Đó chính là ý chí kiên cường, bảo vệ thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm hung dữ; siêng năng, lạc quan, giàu lòng nhân ái, giàu đức hi sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước Bài thơ được viết trong những ngày chống Mỹ cứu nước sôi động như một tiếng nói bình tĩnh lạc quan, khẳng định tư thế chiến thắng của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách của kẻ thù

Ở bài thơ Giọt nước mắt và nụ cười ta lại thấy sức mạnh, phẩm chất,

tâm hồn con người Việt Nam thể hiện qua hình ảnh một con người cụ thể Đó

là hình tượng người chính uỷ trong chiến tranh:

Giọt nước mắt đã già như tuổi Riêng nụ cười là vẫn trẻ trung

Trong tâp thơ này Cát trắng là một trong những bài thơ tiêu biểu, được

tác giả lấy tên đặt cho cả tập thơ:

Chiều nay tôi về biển Gio Linh Vốc nắm cát soi

Cát trắng ánh lên màu đỏ

(Cát trắng)

Bài thơ đã diễn tả được nỗi đau khôn tả của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đồng thời nó cũng khẳng định ý chí quật cuờng,

Trang 16

quyết tâm đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và tinh thần sống bất diệt của cả dân tộc Việt Nam

Bên cạnh việc khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định

sức mạnh dân tộc nhân dân, tập thơ Cát trắng còn khẳng định sự gắn bó cá nhân và cộng đồng, tình quân dân, tình đồng chí : Hơi ấm ổ rơm, Bát nước ngô của người mẹ Việt ở Cam Lộ, Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh,… Đây

cũng là một trong những nội dung quan trọng biểu hiện cảm hứng sử thi của thơ ca Nguyễn Duy thời kỳ này nói riêng và thơ ca chống Mỹ nói chung

Bài Hơi ấm ổ rơm là một trong những bài thơ hay về tình quân dân

trong thời kỳ chống Mỹ Bài thơ là dòng tâm sự chân tình, nhỏ nhẹ, sâu lắng nhưng tầm tư tưởng lại vút lên xen lẫn niềm tự hào của anh bộ đội Tình cảm của nhân dân đối với anh bộ đội thật đặc biệt, sẵn sàng che chở cho bộ đội trong mọi hoàn cảnh Nhà thơ - người chiến sĩ cảm thấy hạnh phúc, tự hào Nhà thơ kết thúc tác phẩm bằng một triết lý:

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no Riêng cái ấm nồng nàn như lủa Cái mộc mạc lên hương của lúa Đâu dễ chia cho tất cả mọi người

(Hơi ấm ổ rơm) Nếu hai bài thơ Hơi ấm ổ rơm, Bát nước ngô của người mẹ Việt ở Cam

Lộ nói về tình quân dân thắm thiết, tình nghĩa thì bài thơ Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh lại nói về tình đồng chí tương thân tương ái, chia ngọt sẻ bùi

cùng nhau trong mọi hoàn cảnh:

Hai thế hệ chia nhau cái rét tập đoàn

Da thịt lại đắp lần da thịt

(Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh)

Như vậy cùng với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh dân tộc nhân dân và nhất là sự gắn bó cá nhân với cộng đồng, tình quân dân, tình

Trang 17

đồng chí mà nhân ta đã đánh thắng rất nhiều kẻ thù xâm lược, trong đó có đế quốc Mỹ Đồng thời nó cũng làm thành cảm hứng sử thi trong văn học chống

Mỹ nói chung và trong tập thơ Cát Trắng của Nguyễn Duy nói riêng

Thơ Nguyễn Duy viết trong tập Cát trắng là sản phẩm từ cảm hứng yêu

nước, tự hào cách mạng, nhưng ngôn ngữ rất giản dị, trong sáng câu thơ như lời nói tự nhiên mộc mạc, ân tình Giọng điệu này, thường bắt gặp trong thơ chống Mỹ lúc bấy giờ Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy rất gần với ca dao, tạo thành giọng điệu thơ đằm thắm, ngân nga, thể hiện một tâm trạng tràn đầy yêu thương, thi vị, lạc quan:

Đêm nằm ngủ dưới gốc cau Gió mang hương xuống hầm sâu với người

Ơ hay trong đất có trời Thơm man mác ánh trăng soi vách hầm

(Hương cau trong đất)

Thơ Nguyễn Duy thời kỳ này đã đậm giọng điệu triết lý Để thể hiện giọng điệu triết lý ấy, nhà thơ thường dùng ngôn ngữ giàu hình tượng với từ ngữ gợi cảm, liên tưởng Cách sử dụng ngôn ngữ kiểu như thế ta bắt gặp ở rất

nhiều các bài thơ khác như: Tre Việt Nam, Khúc dân ca, Võng trăng, Hơi ấm

ổ rơm, Tiếng chim bạn bè…

Tóm lại, trước năm 1975, thơ trữ tình Nguyễn Duy mang nặng ý thức trách nhiệm của thế hệ trước vận mệnh của tổ quốc Những vần thơ được sinh

ra từ lửa đạn, mang theo hơi thở của chiến trường, mang theo nhịp đập của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi Cái tôi ấy cũng trăn trở, suy ngẫm nhưng vẫn mang nhiều mầu sắc sử thi Để chuyển tải nội dung thơ mang cảm hứng sử thi, tác giả đã sử dụng bút pháp lãng mạng cách mạng Trong đó điểm nhấn là lớp ngôn ngữ giản dị nhưng vẫn bay bổng, giàu tính nhạc, tính biểu cảm

Trang 18

1.1.2.Giai đoạn sau 1975

Xu hướng chung của quá trình vận động thơ ca Việt Nam từ sau 1975

là đi từ cảm hứng sử thi đến cảm hứng thế sự, đời tư Giai đoạn thơ trữ tình sau 1975 đã bớt đi ít nhiều chất mượt mà, ngôn ngữ hoa mĩ trau chuốt, thêm vào đó là sự xuất hiện của chất đời thường trước tác động của hiện thực cuộc sống Nguyễn Duy cũng không là ngoại lệ

Lời “tiên đoán” của Hoài Thanh đã không nhầm: với tập Ánh Trăng, sự

nghiệp thi ca của Nguyễn Duy thêm một lần toả sáng Đó là giải A cùng với

Hoa trên đá của Chế Lan Viên trong giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Tập thơ Ánh trăng chỉ có khoảng 30 bài nhưng diện đề tài khá rộng Ánh trăng đã bao quát được hầu khắp các vùng của đất nước Cùng chung một cái

gốc nhân bản và một tâm hồn nhân hậu, thế mà ở thơ Nguyễn Duy, mỗi khu vực địa lý vẫn có những nét khác nhau Đồng bằng Bắc bộ hiện ra sau một khúc dân ca, hoặc một luỹ tre Hàm súc và gợi cảm biết bao, là những câu thơ

về ruộng đồng miền bắc:

Vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải

Bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua

(Tuổi thơ) Giọt sương muối co ro đầu nhánh mạ Nhức nhối bàn chân phì phọp thở trong bùn (Lời ấm áp từ gió lạnh)

Dù có nói về tre, về rơm rạ, bùn đất hay cua ốc, thì vẫn là nói về người Phong cảnh cũng có người Đây phong cảnh Huế:

Gió ù ù ngang họng súng thần công

Tiếng chuông chùa đi thủng thỉnh trong không

Áo em trắng đi từ đằng xa vẳng lại

Thời gian đi xám mặt đỉnh đồng

(Đi qua thành nội)

Trang 19

Rồi Hà Nội, sông Thao, Nha Trang, Đà Lạt…với nơi nào thì Nguyễn Duy cũng gây được ấn tượng tâm hồn người nơi đó Với đồng bằng sông Cửu Long cũng vậy:

Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng

Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu

Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía

Nón áo khỏi lo nhưng phải nhậu đều đều

Ai nghèo đói qua nhường cơm xẻ áo

Bụng người sôi cũng giống bụng ta

Ki cóp một thân làm chi cho cực

(Ông già sông Hậu)

Về mũi Cà Mau Nguyễn Duy viết:

Cùng là phiêu bạt theo nhau

Về đây , chót mũi Cà Mau gặp cò

Việc mở mang vùng đề tài ấy gắn liền với sự phong phú hơn trong cách cảm, lối nghĩ đã tạo điều kiện cho ông đa dạng thêm trong cách dựng tứ

Trong Ánh trăng, có chùm thơ kỷ niệm với nhiều bài thơ giàu xúc động như Tuổi thơ, Cầu Bố, Đò Lèn, Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố, có kiểu thơ chân dung như Ông già sông Hậu, có truyện thơ ngắn (Trở lại khúc hát ru) có những câu thơ gần văn xuôi, cũng có bài thơ liên hoàn (Lời của cây…Và lời của quả) lại có những bài thơ ghi lại một thoáng tâm trạng bàng bạc, buâng

quơ, dường như chẳng có gì nhưng lại để lại dư âm sâu lắng trong lòng người

đọc như Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng…

Bài Ánh trăng là một bài thơ hay, có phát hiện Trong bài thơ ông đã

miêu tả lại khoảnh khắc tâm trạng của người lính sau chiến tranh vào sống ở một đô thị ồn ào, náo nhiệt Do không khí sôi động của thành phố nên người

lính đã vô tình không để ý đến cái vầng trăng vẫn hằng đêm thường đi qua ngõ Rồi một đêm vầng trăng bỗng xuất hiện đột ngột trước khung cửa sổ, nó

Trang 20

như một chứng nhân của lịch sử cho sự hội ngộ giữa quá khứ và hiện tại của

cuộc đời nhà thơ Từ Hồi nhỏ sống với đồng - Với sông rồi với bể đến Hồi chiến tranh ở rừng - Vầng trăng thành tri kỷ quyện với Từ hồi về thành phố - Quen ánh điện ánh gương - Vầng trăng đi qua ngõ – Như người dưng qua đường Nhà thơ ngầm trách mình trước sự đổi thay của cuộc sống đã vô tình

với một vẻ đẹp vẫn diễn ra hằng đêm, một vẻ đẹp đã từng ăn sâu vào tiềm thức, đã từng trở thành tri âm tri kỷ:

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng Như là đồng là bể Như là sông là rừng Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình

(Ánh trăng) Cũng trong năm 1978, Nguyễn Duy viết bài Nghe tắc kè kêu trong thành phố Đây cũng là một bài thơ khi ra đời và cho đến hiện nay gây ấn

tượng rất mạnh đối với bạn đọc đặc biệt là bạn đọc cùng thời với tác giả Những người đã đi qua chiến tranh, giành độc lập cho tổ quốc:

Tắc kè Tắc kè Tôi giật mình…

Cái âm thanh của rừng lạc về phố…

Từ nghe tiếng tắc kè, những âm thanh bi tráng của thời chống Mỹ mà tác giả và đồng đội đã từng nếm trải lại hiện về Những âm thanh đau thương

mà tự hào vang vọng gây xúc động trong lòng ngưòi đọc:

Trang 21

Chợt hiện về thăm thẳm núi non kia Dưới lá là hầm là tăng là võng

Là cơn sốt rét rừng vàng bủng

Là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn…

Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn Ngủ ôm súng suốt một thời trai trẻ Như thế, ký ức về chiến tranh trong thơ Nguyễn Duy ở tập Ánh trăng

hiện về qua các hình tượng thơ bắt đầu từ cuộc sống bình thường của dân tộc

Vẻ đẹp của hình tượng thơ Nguyễn Duy lúc này là sự quyện se giữa cái bình thường trong đời sống với cái cao cả cho nên hình tượng thơ chân thật, sâu sắc, giàu ý nghĩa nhân sinh

Tuy nhiên chất hiện thực chỉ thực sự thể hiện rõ trong sáng tác của Nguyễn Duy từ sau những năm 1986

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần xã hội Văn học nghệ thuật cũng vì thế mà nhập vào dòng chuyển động ấy Thơ trữ tình giai đoạn này chuyển hướng mạnh mẽ vào các chủ đề chính là các vấn đề xã hội, nhân thế Nhà thơ đặt lên hàng đầu những suy nghĩ cá nhân và bộc lộ những chính kiến của mình Cũng vì vậy, thời kỳ này, ta thấy Nguyễn Duy có nhiều bài thơ mang tính chất thời sự, được dư luận chú ý.Đặc biệt, Nguyễn Duy đã cho ra đời nhiều tập thơ như:

Mẹ và em (1987), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Sáu và tám (1994), Về (1994),

Tình tang (1995), Vợ ơi (1995), Bụi (1997)…

Tập sơ tuyển Mẹ và em (1987) là tập thơ đặc sắc nhất Hầu hết những bài thơ hay nhất trong đời thơ Nguyễn Duy đều nằm trọn trong tập thơ ấy: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Ánh trăng, Đò Lèn, Cầu Bố, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng…Các tập thơ còn lại tuy không phải

Trang 22

bài nào cũng đặc sắc nhưng chúng đã góp phần quan trọng làm nên sự nghiệp,

phong cách thơ ông Chủ đề chính trong thơ lúc này số phận của con người,

là công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Cảm hứng chính của tập thơ này

Thắng cũng thương mà thua cũng thương

(Hoa hậu vườn nhà ta)

Những bài thơ viết về làng quê nghèo của Nguyễn Duy trong thời kỳ này mang vẻ đẹp chân thật, đậm chất suy tư Tác giả thể hiện sự thiêng liêng

và tôn kính đối với những người nông dân cần cù, nhẫn nại, giàu lòng nhân ái,

dù trong khó khăn gian khổ vẫn trong sáng, đẹp đẽ cao thượng, hình tượng làng quê:

Làng ta ở tận làng ta Mấy năm một bận con xa về làng Gốc cây hòn đá cũ càng Trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay

(Dân ơi)

Trang 23

Những bài viết của Nguyễn Duy viết về thực tại của đất nước, con người trong thời đại kinh tế thị trường không khỏi gợi cho chúng ta những suy nghĩ:

Công nghiệp hoá là thế đó em ạ Còn dời non, còn lấp bể dài dài Liệu con chữ có xoay ra và đóng hộp Bài thơ tình đông lạnh gửi cho ai?

(Ở nơi mặt trời lặn xuống bể)

Qua khái quát trên ta thấy, nếu trước năm 1975, Nguyễn Duy sáng tác chủ yếu bằng cảm hứng sử thi thì sau năm 1975, ông lại sáng tác chủ yếu bằng cảm hứng thế sự, đời tư.Và để chuyển tải nội dung thơ mang cảm hứng thế sự, đời tư ông đã lựa chọn một hình thức thơ tương ứng Về thể thơ, Nguyễn Duy đã chọn hình thức nghệ thuật truyền thống là thơ lục bát và thơ

tự do làm phương tiện nhận thức, biểu hiện và sáng tạo Vì vậy, thơ ông có sự thống nhất cao độ về nội dung và hình thức Ngôn ngữ thơ Nguyễn duy là sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ bác học Trong đó, ngôn ngữ đời thường là chủ đạo, tạo nên giọng điệu thơ mang âm hưởng đằm thắm trữ tình pha lẫn sự suy tư, hài hước, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại

Như Chu Văn Sơn đã từng nhận xét: hành trình thơ Nguyễn Duy là hành trình của những con chữ và vần điệu, không được đánh dấu bằng mốc thời gian mà bởi những chặng đường: Đường làng - Đường nước - Đường xa

- Đường về Những chặng đường ấy dường như cũng “trùng khớp” với những

chặng đường đời của một nhà thơ Nếu như Đường làng đưa người đọc về với những kí ức tuổi thơ “mang dấu ấn ruộng vườn” với cánh đồng, cỏ lúa và hoa; bờ ruộng lấm tấm dấu chân cua, những cọng rơm xơ xác gầy gò, con cá kho dưa, quả cà kho tép, cơm nếp thơm, canh cua ngọt, khoai sắn nướng lùi…, thì Đường nước hằn in dấu chân người lính trên mỗi bước đường hành

quân dọc chiều dài đất nước, thấm đẫm nghĩa tình quân dân, nghĩa tình đồng

Trang 24

đội Đường xa giống như cuốn băng đậm chất du ký với những thước phim

thơ trải dài từ Á sang Âu, sang Mỹ, từ vùng đất cổ kính này sang thành phố hiện đại khác, từ miền hồi ức sang thế giới hiện tại, đầy ắp sự trải nghiệm

Đường về - quay trở lại với mảnh đất quê hương , phần nhiều là trở về với

hương đồng gió nội, để tìm ra cái quý nhất còn đọng lại, bởi cuối cùng:

Đâu biết những gì chờ ta đằng kia

Chỉ biết ta khởi đầu từ nơi ấy

(Đường 9, Nam Lào, 1971)

Sau hơn ba mươi năm với hơn mười tập thơ trong đó có nhiều nổi tiếng, Nguyễn Duy tuyên bố không làm thơ nữa Sự thực không phải vậy, Nguyễn Duy chân thành: “thơ bỏ tôi chứ tôi không bỏ thơ” Thơ bỏ Nguyễn Duy vì bản thân ông nhận ra rằng mình cứ lặp đi lặp lại mình nên không làm thơ nữa Tuy vậy, cái nghĩa vụ của một người công dân yêu nước vẫn theo đuổi ông Những năm gần đây, mỗi dịp tết đến, xuân về, Nguyễn Duy lại làm lịch bằng thơ, làm thơ bằng lịch với những minh hoạ ngộ nghĩnh của gồng gánh, thúng mủng, nong nia, giành mẹt, rổ rá, dần sàng, chum vại, cái nồi đất, cái điếu cày… như để trình bày cái tông tích, cái cội rễ của thơ mình Có lẽ ông là người đầu tiên đưa thơ đi triển lãm Bởi thế, khi Nguyễn Duy tuyên bố gác thơ, ngừng thơ thì chúng ta chỉ nên hiểu là ngừng làm thơ chứ không ngừng sống với thơ Với ông ngừng làm thơ tức là ngừng thở Năm 2010, ông còn cho ra đời tuyển tập thơ Nguyễn Duy

1.1.3 Sự vận động trong tư duy nghệ thuật của Nguyễn Duy qua các chặng đường thơ

Theo Lại Nguyên Ân: “Tư duy nghệ thuật là một dạng hoạt động trí tuệ, nhằm sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Đây là một dạng riêng của tư duy con người, khác biệt về tính chất diễn biến, về mục tiêu cuối cùng,

về chức năng xã hội, về phương thức gắn nối với thực tiễn xã hội” [3,356] Tư duy nghệ thuật không phải là một hiện tượng nhất thành bất biến Nó bị quy

Trang 25

định bởi chính những nhận thức, quan niệm của người nghệ sĩ về cuộc sống, con người và về nghệ thuật Nó cũng chịu tác động rất lớn bởi bối cảnh lịch

sử, văn hóa, thẩm mĩ tương ứng Qua sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy, chúng ta thấy sự thay đổi trong cảm hứng sáng tác của ông cũng bắt nguồn từ

sự vận động thay đổi trong tư duy nghệ thuật

Nguyễn Duy sinh ra và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ Trong phong trào thơ ca chống Mỹ lúc đó có rất nhiều phong cách thơ đặc sắc như: Thu Bồn, Nguyễn Hữu Thỉnh, Lê Anh Xuân, Bằng Việt, Xuân Quỳnh…Tất cả tạo nên một dàn đồng ca với đầy đủ âm thanh và giọng điệu Nguyễn Duy cũng là một thanh âm đặc sắc trong dàn đồng ca ấy Cũng như bao nhiêu nhà thơ khác, khi bước ra khỏi cuộc chiến, Nguyễn Duy không khỏi ngỡ ngàng vì sự đổi thay của cuộc sống Từ kinh nghiệm sáng tạo, từ vốn tri thức, văn hoá, kết hợp với sự đổi thay của đất nước sau 1975, đặc biệt là từ

sau ngày đường lối đổi mới của Đảng khởi phát, Nguyễn Duy đã tự duyệt lại

quá trình sáng tạo của mình, của một thời văn học đã qua Ông lại một lần nữa

có sự vận động, đổi thay trong tư duy nghệ thuật Nếu như trước kia ông sáng tác bằng cảm hứng sử thi, nhìn điều gì cũng thấy tự hào, ngưỡng vọng, ngợi

ca và khẳng định, đề cao tôn vinh Thì nay ông đã đặt ra vấn đề “nhìn lại”, nhìn lại quá trình sáng tạo của bản thân, nhìn lại hành trình của nền văn học nước nhà, và nhất là nhìn lại hiện thực đất nước từ sau ngày giải phóng Ông

đã cho ra đời những bài thơ có sức mạnh lớn: Đánh thức tiềm lực, Nhìn từ xa… tổ quốc!, Kim mộc thuỷ hoả thổ… Cũng từ đây ta thấy ông khai thác sâu

hơn, rộng hơn về mảng thơ mang cảm hứng thế sự, đời tư Những bài thơ thể

hiện sự day dứt, dằn vặt trước thử thách gian lao của cuộc sống: Thơ tặng người ăn mày, Bán vàng, Xẩm ngọng Những suy nghĩ riêng tư: Ánh trăng, Nghe tắc kè kêu trong thành phố… Những tình cảm cá nhân: Cầu Bố, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Gửi về Lam Sơn, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng, Bất chợt,…

Trang 26

Tìm hiểu sự vận động trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Duy, ta thấy

từ rất sớm, ông đã xác định cho mình khuynh hướng sáng tác bám sát hiện thực đời thường, bám sát thời cuộc với những vấn đề “nóng bỏng” của toàn

xã hội cũng như những day dứt và trưởng thành của mỗi cá nhân Đó cũng

là chặng đường trưởng thành về nhận thức, có hệ quả khăng khít là sự rộng

mở, bao dung của tâm hồn nhà thơ trước những biển dâu, những bất trắc khôn lường và cả những đổ vỡ đau đớn của đời sống Thơ Nguyễn Duy có khi mộc mạc, chân phương, dễ hiểu vì những gì nó hướng tới cũng không quá trừu tượng, không vượt ra đời sống tai nghe mắt thấy của con người Những bài thơ hay nhất của Nguyễn Duy chưa thoát khỏi nhịp điệu bằng lặng ngay ngắn của thơ lục bát Nhưng để nói đến nhịp điệu như một khía cạnh quan trọng của điệu thức tâm hồn của nhà thơ nhạy bén bắt kịp với tâm cảm của thời đại, thì những bài thơ viết theo lối tự do của ông cũng đáng được chú ý Đó là sự xộc xệch, bứt phá khỏi cảm quan ổn định, nghiêm ngắn, có phần hiền lành của nhà thơ trước cuộc đời Đúng như nhà phê bình Chu Văn Sơn đã từng nhận xét: “Có thể thấy tư tưởng của Nguyễn Duy định hình cùng hai bước ngoặt lớn Lần thứ nhất, đối mặt với thực tại chiến tranh Trước khi vào lính, cũng như bao nhiêu người khác,

Nguyễn Duy còn sống giữa hai bờ hư thực, nghĩa là cả tin và ngây thơ giữa

cõi thực và cõi hư, mà hư lại nhiều hơn thực Thực tại tàn khốc của chiến tranh (…) đã thẳng tay ném Nguyễn Duy về hiện thực (…) Và lần thứ hai, đối mặt với thực tại sau chiến tranh, khi thấy “tầng ôzôn có vấn đề gì đó”

Một lần nữa, ông lại thấy Bụi thần thánh nhấp nháy rơi Và nhất quyết đem Trả cho sao một chút trời xa xăm, còn mình thì hoàn toàn bình tâm làm hạt bụi người mà bay” [54] Có thể khẳng định, hiện thực đời sống nhân sinh,

ấy là động lực sáng tạo, là cội nguồn tư tưởng thúc đẩy ngòi bút và đem lại

những giá trị nghệ thuật đích thực cho sáng tác của Nguyễn Duy

Trang 27

1.2 Cảm hứng thế sự, đời tƣ - một cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy sau 1975

1.2.1 Khái niệm cảm hứng thế sự, đời tư

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm cảm hứng chủ đạo trong

sáng tạo nghệ thuật là: “Trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm văn học, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định Gây tác động đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm Biêlinxki coi cảm hứng chủ đạo là điều không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực Bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần thuý trí óc với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”” [27,32]

Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy là cảm hứng thế sự, đời tư

“Cảm hứng thế sự, đời tư là loại cảm hứng mô tả đời sống nhằm mục đích nhận thức nó trong tất cả các trạng thái nhân thế phức tạp vốn có Cảm hứng sáng tạo này gắn liền với ý thức trách nhiệm đạo đức - xã hội, với tinh thần

“nhập thế” tích cực của người nghệ sĩ Cảm hứng thế sự, đời tư thường trỗi dậy mạnh mẽ khi con người phải đối mặt với hiện thực “méo mó, bất toàn”,

do đó, nó thường đi cùng tinh thần phê phán trên cơ sở hướng tới một môi trường xã hội nhân văn tiến bộ Với khao khát “nhìn thẳng vào sự thật”, “nói

rõ sự thật”, nhà thơ trự diện hướng ngòi bút vào các chủ đề xã hội, đặt lên hang đầu những suy nghĩ và chủ kiến cá nhân để phản ánh, lý giải hiện thực một cách triệt để Đi cùng với một ý thức trách nhiệm đạo đức - công dân, một thái độ, một lý tưởng xã hội mạnh mẽ, tích cực, họ cũng khẳng định mình trong tư cách “con người đời thường”, với tất cả mọi biểu hiện chân thực, nhân bản ” [50]

Theo Phạm Quốc Ca: “Thơ trữ tình thế sự phản ánh diện mạo tinh thần

và quan hệ xã hội với tất cả sự phức tạp của nó…Nhìn chung thể tài thơ này chỉ tồn tại và phát triển trong điều kiện một nền văn học phi sử hoá , không còn bị

áp bức bởi cảm hứng ngợi ca và cái nhìn lãng mạn với hiện thực…Cảm hứng

Trang 28

chính của thơ trữ tình thế sự là sự thật…”[5,59] Tác giả Lê Hồ Quang thì cho rằng, “Do hoàn cảnh lịch sử có tính đặc thù, văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 chủ yếu bị /được chi phối bởi cảm hứng sử thi Vào quãng cuối thập kỉ

70, đầu thập kỉ 80, cảm hứng thế sự đời tư mới chỉ xuất hiện rải rác trong sáng tác của một số tác giả và chịu phê phán nặng nề của dư luận Nó chỉ thực sự trỗi dậy mạnh mẽ trong văn học Việt Nam vào quãng giữa những năm 80, được bảo chứng và hậu thuẫn bởi tư tưởng dân chủ và Đổi mới của xã hội và những quan niệm nhân sinh - thẩm mĩ tiến bộ, cởi mở” [50]

Chúng ta thấy, thơ trữ tình thế sự, đời tư đã có một truyền thống lâu dài trong thơ ca dân tộc Thế nhưng ở mỗi giai đoạn lịch sử loại thơ này lại có những vị trí khác nhau Trước 1975, đất nước phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi, thơ là một phương tiện để kêu gọi, tập hợp sức mạnh tinh thần của quần chúng nhân dân Nhưng khi cơn binh lửa đã qua đi, thơ phải được nhìn nhận đánh giá bằng một hệ mĩ cảm mới, một thang giá trị mới Sau 1975, thơ tiếp tục được đề cao, song không phải là đề cao chức năng

xã hội Người ta nhận thấy rằng cần phải trả lại cho thơ bản chất đích thực của

nó Thơ trước hết phải là thơ Thơ không chỉ là công cụ phục vụ chính trị Khả năng to lớn của thơ ca phải xuất phát từ chính đặc trưng, bản chất nghệ thuật của nó Nhà thơ Vương Trọng cho rằng: “Thơ sinh ra không phải để cho người đời chơi chữ, mà cốt để chuyển tải nỗi lòng Bài thơ hay nhiều khi không còn thấy thơ đâu mà chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng, số phận” Thơ là một phương tiện để tự thể hiện, đáp ứng nhu cầu tự khám phá của con người Nhà thơ viết để “kiến tạo bản thân mình”, “Tôi làm thơ để giải toả những mong đợi” (Vi Thuỳ Linh)

Không còn bị ám ảnh nặng nề bởi những nghĩa vụ chính trị xã hội, thơ sau 1975 rất mạnh mẽ và quyết liệt trong thái độ phản ánh hiện thực Hiện thực được phản ánh không phải chỉ bề mặt mà còn ở bề sau, bề sâu, bề xa, ở những góc khuất, thậm chí những xó tối… Hiện thực phải được phản ánh như nó đang

Trang 29

có, vốn có Với Thanh Thảo, thơ không thể xa rời đời sống khốn khó của nhân

dân Trong bài thơ Cái nhìn của tương lai nhà thơ một nền thơ mang khát vọng

dân chủ, nhân đạo và tiến bộ không thể né tránh những thực tế nhức nhối của đời sống Nhà thơ Trần Nhuận Minh thì xác định sứ mệnh của mình:

Hãy áp tải sự thật Đến những bến cuối cùng (Nhà thơ áp tải)

Như vậy, sau 1975 thể tài thơ thế sự, đời tư phát triển rất mạnh mẽ Cảm hứng thế sự đời tư có thể coi là một cảm hứng chủ đạo, chi phối thơ ca giai đoạn này Chính cảm hứng này đã tạo nên một dòng thơ hiện thực sau chiến tranh

1.2.3 Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Nguyễn Duy

Nhìn vào sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy, ta thấy ông là một đại diện đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Mỹ và là một tên tuổi tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới Có được điều này ngoài tài năng, vốn văn hoá, sự trải nghiệm ông còn là một nhà thơ rất nhạy cảm với thời cuộc, rất tâm huyết với văn chương và nhất là rất có trách nhiệm với nhân dân, đất nước Trước 1975, khi cả nước đang phải đối đầu với giặc ngoại xâm, thơ ca

là một vũ khí chiến đấu đắc lực, Nguyễn Duy sáng tác chủ yếu theo cảm hứng

sử thi Cùng với những nhà thơ cùng thời, ông đã góp sức làm nên một nền thơ “có nhiều bài thơ, nhiều câu thơ xứng đáng xếp vào hàng những vần thơ yêu nước đẹp nhất trong thơ ca dân tộc” [66,160] Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, âm hưởng hào hùng đã lắng xuống, cảm quan hiện thực dần trỗi dậy mạnh mẽ trong thơ ông:

Lúc này ta làm thơ cho nhau Đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt nhạt

Ta ca hát quá nhiều về tiềm lực Tiềm lực còn ngủ yên

(Đánh thức tiềm lực)

Trang 30

Và từ chỗ đứng cao của cái tôi sử thi, giờ đây, tư thế trữ tình của nhà

thơ là tư thế của người trong cuộc, tư thế của một người trong muôn người giữa sinh hoạt xô bồ của đời thường:

Cứ chìm nổi giữa đám đông Riêng ta xác định ta không là gì

thơ mang cảm hứng thế sự - đời tư (chiếm 33 %) , trong số 38 bài thơ của tập

Đãi cát tìm vàng có 18 bài mang cảm hứng thế sự, đời tư (chiếm > 47%), trong số 35 bài thơ của tập Mẹ và em có 21 bài mang cảm hứng thế sự, đời tư (chiếm 60%), trong số 31 bài thơ của tập Quà tặng có 26 bài thơ mang cảm hứng thế sự, đời tư (chiếm > 83 %), trong số 98 bài thơ của tập Sáu và tám có

34 bài mang cảm hứng thế sự, đời tư (chiếm > 34 %), tập thơ Bụi phần lớn

các bài thơ làm theo cảm hứng thế sự, đời tư

Những bài thơ thực sự gắn với tên tuổi Nguyễn Duy, những bài thơ đưa ông vào hàng ngũ tên tuổi tiêu biểu của thơ ca thời kỳ đổi mới đều được sáng

tác bằng cảm hứng thế sự - đời tư như: Ánh trăng, Đà Lạt một lần trăng, Ông già sông Hậu, Đò Lèn, Cầu Bố, Về làng, Vợ ơi, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xƣa

1.3 Những cơ sở hình thành cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy

1.3.1 Sự thay đổi trong bối cảnh xã hội - thẩm mỹ thời hậu chiến và Đổi mới

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, đời sống xã hội từng bước chuyển đổi, kéo theo sự đổi thay về đời sống thẫm mỹ Toàn Đảng, toàn dân vui mừng, phấn khởi vì đất

Trang 31

nước thống nhất nhưng cũng đau đớn khôn nguôi với những mất mát, hi sinh, trong chiến tranh và phải oằn mình với những khó khăn của mười năm thời bao cấp (1975 - 1985) Năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã thổi luồng gió mới vào đời sống, vào các lĩnh lực hoạt động kinh

tế, xã hội, văn hoá… Trong mười lăm năm đầu thời kỳ đổi mới (1986 - 2000) kinh tế đất nước tăng với tốc độ đáng kể, từ thiếu gạo nước ta đã có gạo xuất khẩu đứng thứ ba thế giới, quan hệ quốc tế mở rộng Trên các lĩnh vực kinh tế,

xã hội đã xuất hiện nhiều tấm gương mới góp phần làm giàu cho đất nước, nêu gương sáng cho mọi người Nhưng mặt khác, một số tệ nạn xã hội cũng xuất hiện và ngày càng gia tăng Sự thật đời sống ấy đã chi phối hành động, tâm lý

và tình cảm của mọi người Nó đã tác động đến người cầm bút, buộc họ phải

tự duyệt lại mình, tìm tòi, sáng tạo, hướng vào sự thật đời sống hằng ngày để sống thiết thực hơn cho cá nhân mình và xã hội

Cùng với sự đổi mới tư duy kinh tế, tư duy sáng tạo văn học nghệ thuật từng bước đổi mới Trước tình hình thực tế, tháng 7 năm 1998 Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá VIII) đã ra nghị quyết “về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã trở thành một nội dung quan trọng trong hoạt động của toàn Đảng, toàn dân Những nét mới trong chuẩn mực văn hoá và trong nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá từng bước được hình thành Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng, bản, buôn, thôn, ấp, phường văn hoá, huyện văn hoá… được tiến hành rộng khắp trong cả nước Trong đời sống thực tế đã hình thành ở mỗi con người ý thức sống có văn hoá Điều này được thể hiện trong các mặt: ăn, ở, đi lại, học hành, giao tiếp, lao động sản xuất,… Vì vậy, cá tính con người được phát triển đa dạng, phong phú theo định hướng nhân văn Từ thực tế này đã hình thành trường thẩm mỹ mới trong đời sống thẩm mỹ xã hội, trong đó vẻ đẹp đời thường, thế sự được

Trang 32

đề cao, chi phối mọi hoạt động thẩm mỹ của mọi người, đặc biệt là của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo

Tóm lại, đời sống xã hội, thẩm mỹ trong xã hội Việt Nam sau 1975, đặc biệt sau 1986, có sự vận động từ cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng đến cái đẹp đời thường với nhiều dáng vẻ khác nhau Thực tế này đã tác động sâu sắc đến quan điểm nghệ thuật và ý thức thẩm mỹ của Nguyễn Duy trong sáng tác thơ ca

1.3.2 Quan niệm sáng tạo của Nguyễn Duy

Vào những năm cuối thập kỷ sáu mươi của thế kỷ XX, khi mới bước chân vào bộ đội, khi mới bắt đầu công việc sáng tác của một nhà thơ chuyên nghiệp, ta thấy Nguyễn Duy đã viết:

Một đời không thể nào quên Lòng dân - chiếc mộc vững bền che ta Như vậy, ngay từ đầu ta thấy Nguyễn Duy đã nhận ra và tâm niệm: sống

và sáng tạo phải gắn bó với nhân dân, từ nhân dân và vì nhân dân Cũng vì thế trong tập thơ đầu tay - Cát trắng, những bài thơ hay nhất là những bài thơ được sáng tác từ cuộc sống gần gũi, chan hoà với người dân: Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam, Khúc dân ca… Trong bài Khúc dân ca, nhà thơ viết:

Mây bay bằng gió của trời

Là ta ta hát bằng lời của ta

Nguyễn Duy từng tâm sự:“Tôi sinh ra ở nông thôn, làm ruộng từ bé, đằm mình trong đất cát, rơm rạ, cua ốc và ngôn ngữ nhà quê Lớn lên thì lang thang nhiều nơi, nhưng cái thần hồn của làng quê cứ nhập vào tôi như lên đồng ” [31, 27] Và trong nhiều bài thơ, Nguyễn Duy viết:

Tôi trót sinh ra nơi làng quê nghèo Quen cái thói hay nói về gian khổ

Dễ chạnh lòng trước những cảnh thương tâm

(Đánh thức tiềm lực)

Trang 33

Vì thế mà Nguyễn Duy viết nhiều về người và hình ảnh làng quê bằng thể thơ lục bát với một tình yêu thật da diết và một giọng điệu thật nhuần nhị, đằm thắm

Ngoài những điều với Nguyễn Duy đã là xác tín như: Lòng dân- chiếc mộc vững bền che ta, ta thấy Nguyễn Duy còn là một nhà thơ trung thành với hiện thực

Như chúng ta thấy hiện đời sống là chất liệu của thơ ca “Ở đâu có cuộc sống ở đó có thơ ca”(Biêlinxki) Trong quá trình sáng tạo nhà văn sẽ lựa chọn và hư cấu hiện thực theo quan điểm nghệ thuật của bản thân Xuân Diệu nói: “Tác phẩm thơ được sinh ra do sự quyện se giữa thực tại khách quan và tâm hồn, trí tuệ nhà văn” Timofiep khẳng định: “Tác phẩm văn học trước hết

là sự trình bày thái độ tư tưởng của nhà văn với hiện thực bằng hình tượng Hình tượng văn học là sự thống nhất thẩm mỹ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ” [61,38] Khi nói về nghệ sĩ người ta thường nói họ là chủ thể sáng tạo Bởi vì nói như vậy mới phản ánh được tính năng động trong ý thức nhà nghệ sĩ đối với việc tái hiện đời sống trong sáng tác Tính năng động biểu hiện ở chỗ nhà văn không phải là người chụp ảnh hiện thực mà là người miêu

tả hiện thực theo phương pháp điển hình hoá Chất liệu văn học là đời sống cụ thể Nhưng “văn học không trình bày theo lối ăn tươi nuốt sống tất cả những

gì xảy ra hay có mặt trên đời này mà chỉ tái hiện những người và việc nào trong đó tiềm tàng sự thật sâu xa của cuộc sống, ở nơi nào đời sống hiện ra trong dáng vẻ sinh động, hấp dẫn, đáng mong ước Văn học nghệ thuật có thể chỉ thoảng qua như hạt sương mà phản chiếu lại cái huy hoàng lộng lẫy của cảnh mặt trời mọc, hay có thể chỉ qua một giọt nước một hạt cát mà gợi lên cái mênh mông của đại dương Giữ lại cái gì, bớt đi cái gì nghệ thuật bắt đầu

từ đó”[35,16] Nhà văn phản ánh hiện hực đời sống đồng thời cũng trình bày

tư tưởng tình cảm của mình đối với đời sống “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn thực tại Nhưng người nghệ sĩ không ghi

Trang 34

chép lại cái đã có rồi mà muốn nói một cái gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm

một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào

cuộc sống xung quanh” (Nguyễn Đình Thi)

Nguyễn Duy là người sớm thấy tầm quan trọng trong mối quan hệ giữa

thơ ca và hiện thực Càng ngày, quan niệm về hiện thực của ông càng được

mài sắc hơn, mạnh mẽ, dân chủ và cận nhân tình hơn

Trước 1975, phản ánh hiện thực được coi như một phẩm chất, một tiêu

chí để đánh giá thơ Những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ cách mạng đều quán

triệt tinh thần này Chế Lan Viên yêu cầu thơ “tả sự thực”, thơ nói “sự việc” :

“Làm nghệ sĩ là để tả sự thật Vả chăng sau này muốn truyền cảm cho người

đọc, có nhiên không chỉ nói cảm xúc mà ta phải nói cả sự việc Nghe cảm xúc

chưa hẳn độc giả đã hình dung lại sự việc Nhưng nghe sự việc, nhất định độc

giả nhất định độc giả sẽ nhờ đó mà cùng ta cảm xúc” Nhà thơ Tố Hữu – lá cờ

đầu của thơ ca cách mạng thì xác định: “Văn học phải xuất phát từ cuộc sống…

Tách khỏi thực tế cuộc sống thì cuộc sống thơ ca sẽ như “cây nhổ khỏi đất”,

“cá ra ngoài nước”" Thực ra, khái niệm hiện thực ở đây được hiểu theo nghĩa

hẹp Hiện thực ấy là hiện thực chiến đấu, hiện thực cách mạng, hiện thực được

coi như mục đích cuối cùng của sự phản ánh nghệ thuật (vì thế văn học cũng xa

lạ với tư duy siêu hình, với những vùng bí ẩn của cuộc sống ) Về cơ bản đấy là

cái hiện thực đã được lựa chọn theo chiều hướng có lợi cho Cách mạng Hiện

thực nào đi chệch khỏi quỹ đạo đó, lập tức bị tẩy chay (Màu tím hoa sim - Hữu

Loan, Vòng trắng - Phạm Tiến Duật, Sẹo đất – Ngô Văn Phú)

Sinh ra và trưởng thành trong phong trào thơ ca chống Mĩ, lúc bấy giờ

ta thấy thơ của Nguyễn Duy cũng mang âm hưởng chung của thời đại

Nhưng sau 1975, nhất là từ năm 1986 đến nay do hoàn cảnh xã hội thay đổi,

kéo theo sự thay đổi trong quan điểm sáng tạo nghệ thuật Như nhiều nhà thơ

cùng thời, Nguyễn Duy đã chán ghét những bài “tụng ca dễ dãi, lãng mạn giả

tạo”, mà ông muốn “nhập cuộc” mạnh mẽ vào đời sống hiện thực:

Trang 35

Tôi nhập cuộc giữa dòng nước xiết

Dù tới đâu dù dạt bến nào Thấy hạt cát có cái gì bất diệt

(Dòng sông mẹ)

Cũng như nhà thơ Thu Bồn:

Tôi lột hết ngôn ngữ bóng bẩy Những áo sống triều trần trong những tụng ca Những bài thơ cởi áo dưới mặt trời làm nghĩa vụ công dân Hay như nhà thơ Ngô Thế Oanh:

Anh hãy rời bỏ những cái gì quá xa vời dù có cao siêu

Để trở lại thế giới thực quanh anh còn những người nhặt rác Anh hãy đi bộ dọc theo những ngõ phố hoàng hôn

Để thấy trái tim mình đau thắt

Những bài thơ của Nguyễn Duy đã thực sự “lột hết ngôn ngữ bóng bẩy”, “Cởi áo dưới mặt trời làm nghĩa vụ công dân ” khi ông viết:

Cái ác biến hình lởn vởn quanh ta Tai ách đến bất thần không báo trước

Tờ giấy mỏng manh che chở làm sao được Một câu thơ chống đỡ mấy mạng người (Bán vàng)

Chứng kiến cuộc sống mới với nhiều điều bất công, ngang trái, ngòi bút của Nguyễn Duy không né tránh, rụt rè Trái lại, ông đi sâu vào tìm hiểu, phân tích; đưa ra những nhận định sắc sảo, sáng tác những bài thơ có sức ảnh hưởng đến nhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội; góp tiếng nói làm thay đổi tích cực đời sống Những bài thơ của ông không chỉ nói đến những vấn đề xã hội đơn lẻ mà còn mang thái độ chính trị rất kiên quyết, rõ ràng Những bài thơ cho ta thấy những suy nghĩ, trăn trở, day dứt của một người nghệ sĩ chân

chính như: Mười năm bấm đốt ngón tay, Đánh thức tiềm lực, Kim mộc thuỷ

Trang 36

hoả thổ, Nhìn từ xa … tổ quốc!…Để làm được điều đó, nhà thơ không chỉ cần

trung thành với hiện thực mà còn cần đến lương tri, bản lĩnh và lòng dũng

cảm Chính Nguyễn Duy đã tâm sự trong bài phỏng vấn Hành trình thơ – Đánh thức tiềm lực: “Thời đó, thơ như thế là “gai góc” quá, thậm chí là “phản

động”, không những bị cấm in mà còn cấm đọc Cái thời hễ có ai phát ngôn khác đi so với công thức phát ngôn chính thống thì đều bị quy là “phản động”,

bị “kiểm thảo”, bị “kỷ luật”

Không chỉ thay đổi cái nhìn về hiện thực, Nguyễn Duy cũng ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm mới của người nghệ sĩ trước thời cuộc hôm nay Ông không chỉ muốn dùng ngòi bút làm “vũ khí” tấn công vào những mặt trái của xã hội, ông còn hướng ngòi bút vào những số phận bất hạnh, những gian lao khổ ải của người dân trong cuộc sống hằng ngày Những vần thơ của ông không chỉ đưa người đọc đến với những số phận bất hạnh, mà nó còn thức tỉnh lương tri và lòng nhân ái trong mỗi con người Cũng từ đây, quan niệm của ông về thơ ca, về nghệ thuật cũng trở nên khoáng đạt, cởi mở

và mang đậm tinh thần dân chủ Bởi nhà thơ nhận ra rằng thơ ca phải chắt ra

từ sự sống hồn nhiên bình dị chứ không phải là một mớ triết lý suông:

Ta quàu quạu học đòi triết gia táo bón

Những câu thơ nhăn nhó nhọc nhằn

Trang 37

Phải chăng đó chính là triết lý nghệ thụât bằng thơ của tác giả?

Như vậy, với cái nhìn sắc sảo và tỉnh táo về hiện thực cùng với sự tự ý thức cao độ của người cầm bút, Nguyễn Duy đã dùng những bài thơ của mình làm vũ khí tấn công vào những mặt trái xã hội, tạo tiếng nói thức tỉnh mọi người Sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực, trong vai trò nghệ sĩ, trong bản chất của hoạt động sáng tạo đã dẫn đến những đổi thay tích cực trên nhiều phương diện nghệ thuật của thơ ông Vì vậy, nếu trước năm 1975, Nguyễn Duy được xem là gương mặt tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến chống Mỹ thì trong thời kỳ Đổi mới ông cũng được xem là một đại diện xuất sắc

Trang 38

Chương 2

NỘI DUNG CẢM HỨNG THẾ SỰ, ĐỜI TƢ

TRONG THƠ NGUYỄN DUY

2.1 Biểu hiện chính của cảm hứng thế sự, đời tƣ trong thơ Nguyễn Duy

2.1.1 Cảm hứng “nhận thức lại” hiện thực đời sống

Đây là một cảm hứng mô tả nổi bật trong thơ Nguyễn Duy sau 1975, thể hiện nỗ lực đổi mới của nhà thơ trong cách nhìn nhận, lý giải hiện thực cũng như trách nhiệm công dân của ông Cảm hứng này được “hậu thuẫn” mạnh mẽ bởi không khí đổi mới của đời sống lịch sử - xã hội thời kỳ này

Có thể nói, Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ đi đầu trong công cuộc Đổi mới của văn học Việt Nam giữa những năm 80 của thế kỉ XX Cùng chung quan điểm đổi mới với ông còn có nhiều tác giả khác, chẳng hạn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Dương Thu Hương… ở văn xuôi, Lưu Quang Vũ, Xuân Trình trong kịch, Thanh Thảo, Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo, Thạch Quỳ… trong thơ Nhìn vào văn học thời kỳ này,

chúng ta không thể không nhắc đến bài viết của Nguyễn Minh Châu Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ Bài viết có thể xem là tuyên

ngôn nghệ thuật của ông và những người cùng “chí hướng” với ông trong giai đoạn văn học lúc bấy giờ Trong bài viết có những câu “sắt thép” như: “Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng – nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn – không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống

đa dạng và rộng lớn Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do

Trang 39

nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế (thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó là cái mới, là hoàn cảnh "lột xác")

Từ đấy rồi trở thành thói quen” [75] Quan niệm này ta cũng thấy Nguyễn Duy thể hiện trong thơ:

Vâng- một thời không thể nào phủ nhận

Tất cả trôi xuôi - cấm lội ngược dòng (Nhìn từ xa…tổ quốc!)

Nhà thơ đã không ngần ngại “đối thoại” với quan niệm sử thi một thời

để đưa đến một cái nhìn đời thường hơn, sâu sắc hơn, giàu tính nhân văn hơn

về con người và đời sống Từ đó, nhà thơ đưa ra sự nhận thức lại về lịch sử,

về đất nước:

Đã qua đi những huyền thoại cũ mèm Những đồng lúa mà không trồng mà gặt Những ruộng cá không trồng mà sẵn bắt Những ghểnh cẳng vuốt râu mà làm chơi ăn thật Miếng ăn nào không nước mắt mồ hôi

(Đánh thức tiềm lực)

Đồng thời nhà thơ cũng tự nhận thức về bản thân một cách nghiêm khắc Ông thú nhận:

Có một thời ta mê hát đồng ca Chân thành và say đắm

Ta là ta mà ta vẫn mê ta (Đánh thức tiềm lực)

Nên ông tự hỏi:

Lúc này tôi làm thơ tặng em

Em có nghĩ tôi là đồ vô dụng?

Vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì?

Và trả lại được gì cho cuộc sống?

(Đánh thức tiềm lực)

Trang 40

Trước sự đổi thay của đất nước, nhạy cảm với những chuyển biến của

xã hội, quan niệm về thơ của ông lúc này là:

Thơ ơi ta bảo thơ này

Để ta đi cấy đi cày nuôi thơ

(Bao cấp thơ)

Nguyễn Duy đã “nhận thức lại” hiện thức đã viết không phải trên tinh thần phủ nhận tiêu cực mà tinh thần xây dựng Tinh thần xây dựng của một người nghệ

sĩ có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, với cả dân tộc, giống nòi:

Lạy ông cơ - chế lạy bà tư - duy Xin đừng hót những lời chim chóc mãi (Nhìn từ xa… tổ quốc!)

Từ việc “nhìn thẳng vào sự thật” và “nhận thức lại” các hiện tượng đời sống, Nguyễn Duy đã đi sâu vào miêu tả những cảnh đời, những số phận trớ trêu đau khổ Bằng ngôn ngữ sự kiện chắt lọc, dồn nén các chi tiết đời sống chân thực, những cảnh ngộ, những số phận, bức tranh đời thường được nhà thơ tái hiện nguyên dạng trần trụi, không một chút dấu diếm, quanh co Đó là

hai mẹ con người ăn mày với “Bàn tay run run chìa ra đấy”, “Bàn tay xỉa vào mặt tôi gấp gáp”, là hòn Vọng Phu bị nung vôi, là hình ảnh quê nhà “Nơi thuở ruộng bạc phếch nứt nẻ / Nơi đồi núi trọc lốc xơ xác / Nơi dòng nước cạn kiệt tôm cá / Nơi những đám mây chưa kịp mọng thành mưa”, là những thói

hư tật xấu đầy rẫy của con người “Nghề mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau / Nghề chửi đổng, nhề ngồi lê, nghề vu cáo”, “Nghề ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồn bào”…Cái chất đời ấy đã lên tiếng về một hiên thực diễn ra đầy bất

công, ngang trái với cái đói, cái nghèo đang ngự trị

Những câu chuyện cuộc đời, những hiện thực xã hội trong thơ Nguyễn Duy đều được gợi lên từ một hình ảnh, một sự việc, một chi tiết hết sức nhỏ

bé, đời thường giản dị: một người ăn mày, một tràng pháo tết, một ông già nông dân vùng dồng bằng sông nước, một ổ rơm trong đêm giá lạnh…Nhưng

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. Lại Nguyên Ân (1986), “Tìm giọng thơ thích hợp với người thời mình”, Văn nghệ (15) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm giọng thơ thích hợp với người thời mình”, "Văn nghệ
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Nguyễn Thị Bông (1998), Phê bình, bình luận văn học, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình, bình luận văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bông
Nhà XB: Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
5. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 – 2000, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 – 2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
6. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và giáo dục trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và giáo dục trung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
7. Hoàng Nhuận Cầm (1996), “Tiếc thay áo trắng má hồng”, Tuổi trẻ hạnh phúc (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếc thay áo trắng má hồng”, "Tuổi trẻ hạnh phúc
Tác giả: Hoàng Nhuận Cầm
Năm: 1996
8. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới góc độ ngôn ngữ học, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới góc độ ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
9. Nguyễn Duy (1973), Cát trắng, Nxb Quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát trắng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Quân đội
Năm: 1973
10. Nguyễn Duy (1984), Ánh trăng, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ánh trăng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
11. Nguyễn Duy (1990), Quà tặng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quà tặng
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1990
12. Nguyễn Duy (1994), Về, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Về
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1994
13. Nguyễn Duy (1994), Sáu và Tám, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sáu và Tám
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
14. Nguyễn Duy (1995), Vợ ơi, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vợ ơi
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1995
15. Nguyễn Duy (1987), Mẹ và em, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹ và em
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 1987
16. Nguyễn Duy (1987), Đãi cát tìm vàng, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 17. Nguyễn Duy (1989), Đường xa, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đãi cát tìm vàng", Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 17. Nguyễn Duy (1989), "Đường xa
Tác giả: Nguyễn Duy (1987), Đãi cát tìm vàng, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 17. Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 17. Nguyễn Duy (1989)
Năm: 1989
18. Nguyễn Duy (1997), Bụi, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bụi
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: Nxb Hội nhà Văn
Năm: 1997
19. Phan Huy Dũng (2001), “Nhận diện thơ trữ tình”, Ngôn ngữ (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện thơ trữ tình”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2001
20. Nguyễn Thị Thanh Đạm (2009), Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thẩm mỹ thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009
21. Hà Minh Đức (1973), Về một số cây bút trẻ gần đây trong thơ quân đội, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số cây bút trẻ gần đây trong thơ quân đội
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1973

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w