1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp thơ lý bạch

204 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Như đề tài đã xác định, luận án không đi vào toàn bộ hệ thống thi pháp thơ Lý Bạch mà chỉ là một số phương diện chủ yếu, khẳng định nét chung và cái riêng của Lý Bạc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN

-TRẦN TRUNG HỶ

THI PHÁP THƠ LÝ BẠCH

MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CHỦ YẾU

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC CÁC DÂN TỘC CHÂU Á

MÃ SỐ : 5.04.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Hà Nội, 2002

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN

-TRẦN TRUNG HỶ

THI PHÁP THƠ LÝ BẠCH

MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CHỦ YẾU

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC CÁC DÂN TỘC CHÂU Á

Trang 3

tố nội tại, lý giải sức sống lâu dài của nó trong nền văn học Việt Nam

Người Việt Nam vốn có truyền thống thưởng thức và dùng các thể thơ đời Đường

để sáng tác từ lâu đời nhưng về mặt nghiên cứu, rõ ràng không có sự phát triển đồng bộ với quá trình tiếp nhận Những sáng tác của các nhà thơ đời Đường, đặc biệt là của Lý Bạch và

Đỗ Phủ đã trở nên thân thuộc đến nỗi Nguyễn Trãi, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát đã “vô tình” đưa thơ của họ vào sáng tác của chính mình, nhưng công việc nghiên cứu thì phải chờ đến nửa sau của thế kỷ XX mới có những người thực sự quan tâm đến Với những hướng tiếp cận khác nhau, những thành quả nghiên cứu của họ đã tạo ra bước đi ban đầu cho việc nghiên cứu thơ Đường và thơ Lý Bạch nói riêng ở Việt Nam

Xưa nay khi đánh giá về Lý Bạch, người ta đã công nhận ông là đại biểu kiệt xuất của khuynh hướng lãng mạn, đồng vị trí với Đỗ Phủ - đại biểu của khuynh hướng hiện thực trên thi đàn thời Đường Tiến xa hơn một bước, có người còn cho rằng, nếu không có Lý Bạch và Đỗ Phủ thì người đời sau không thể phân biệt được một cách rõ ràng đặc điểm của thơ ca Thịnh Đường với Sơ Đường [123, tr.197]; là nhà thơ đầu tiên của phong trào phục hưng ở Trung Quốc [45, tr.78] Đề tài “Thi pháp thơ Lý

Trang 4

Bạch - một số phương diện chủ yếu” của chúng tôi chính là nghiên cứu một phần tinh hoa nhất của thơ Đường, khám phá một trong những phần quan trọng trong lĩnh vực Trung Quốc học vốn được xem là có vị trí chiến lưọc và hết sức hấp dẫn ở Việt Nam

Trong chương trình văn học nước ngoài tại khoa văn các trường Đại học Khoa học và Đại học sư phạm, bộ môn Văn học Trung Quốc đã được đưa vào giảng dạy với một thời lượng có thể nói là nhiều nhất nếu so với các nền Văn học nước ngoài khác

Hệ thống chuyên đề về Văn học Trung Quốc cho hệ đào tạo cử nhân và cao học cũng cần phải có những tài liệu tham khảo chuyên ngành Ngoài những bộ giáo trình được dịch từ Hán văn sang và một số giáo trình do các Giáo sư Việt Nam viết thì tài liệu nghiên cứu về văn học Trung Quốc, về thơ Đường, về thơ Lý Bạch vẫn còn đang hạn chế Một số chuyên luận được dịch từ các nhà nghiên cứu nước ngoài đã được xuất bản những năm gần đây vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của độc giả Thực tế đó đã hướng chúng tôi quan tâm đến việc nghiên cứu thơ Lý Bạch

Cũng như nhiều người khác, những vần thơ của Lý Bạch đã thực sự cuốn hút tôi với nét hào hoa, phóng khoáng đến kỳ lạ của nó Với một thiên tài như Lý Bạch, thơ của ông vẫn còn rất nhiều điều chưa được khám phá, mãi là những ma lực hấp dẫn mọi người Để hiểu và cảm được thơ Lý Bạch cần phải có quá trình thâm nhập, nghiên cứu Với mong muốn được học hỏi và theo đuổi sự nghiệp đã được các nhà nghiên cứu đã khai phá, chúng tôi chọn đề tài này để bước những bước đi đầu tiên trong đời mình

2 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Thơ Lý Bạch được xem là một trong những đỉnh cao của nghệ thuật thơ Đường, do vậy nghiên cứu thơ Lý Bạch ở góc độ thi pháp chính là góp phần tìm hiểu thi pháp của một thời đại thơ ca - một hướng nghiên cứu mới có tính cập nhật

- Sự vận dụng kết hợp giữa lý luận thi pháp học hiện đại với những ý kiến phẩm bình truyền thống có tính lý luận ở phạm vi hẹp của các nhà phê bình cổ điển sẽ

Trang 5

góp phần làm phong phú thêm lý luận về thi pháp học, làm cơ sở tư liệu cho việc nghiên cứu thi pháp của những nhà thơ cổ điển Phương Đông, kể cả những nhà thơ Việt Nam

- Nghiên cứu thi pháp thơ Lý Bạch còn có ý nghĩa thực tiễn là góp một tiếng nói vào lĩnh vực Trung Quốc học ở Việt Nam, từ đó hiểu thêm vì sao hơn nghìn năm nay, thơ Đường và thơ Lý Bạch nói riêng lại được các thế hệ độc giả Việt Nam yêu thích và chịu ảnh hưởng Những kết quả nghiên cứu của luận án còn nhằm thoả mãn nhu cầu thưởng thức về thơ Đường và thơ Lý Bạch của nhiều độc giả Trong việc dạy

và học bộ môn văn học Trung Quốc ở các trường Đại học, cao đẳng và phổ thông các cấp cũng có thể tìm thấy ở luận án những gợi ý mới, những kết luận mới

3 Mục đích nghiên cứu

Như đề tài đã xác định, luận án không đi vào toàn bộ hệ thống thi pháp thơ Lý Bạch mà chỉ là một số phương diện chủ yếu, khẳng định nét chung và cái riêng của Lý Bạch trong quan niệm nghệ thuật, trong phương thức xây dựng hình tượng, tư duy thể loại và ngôn ngữ

Với những cống hiến xuất sắc ở những phương diện này, Lý Bạch xứng đáng

là đỉnh cao của đỉnh cao, là một trong hai đại biểu ưu tú nhất của thơ ca Thịnh Đường

- cùng với Đỗ Phủ đưa thơ ca đời Đường đạt đến giai đoạn “hoàng kim”

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là toàn bộ thơ Lý Bạch Thực ra, với một luận án không thể đề cập hết tất cả thơ Lý Bạch, do vậy trong khi phân loại, thống

kê, chúng tôi sẽ khảo sát toàn bộ 961 bài thơ của Lý Bạch, nhưng khi vận dụng để chứng minh hoặc phân tích luận điểm, luận án hướng đến những tác phẩm chọn lọc, được xem là tinh tuý nhất của Lý Bạch Ngoài ra, luận án cũng mở rộng nghiên cứu đến thơ ca trước, cùng thời và sau Lý Bạch, đặc biệt chú ý đến các nhà thơ cùng thời như Vương Duy, Đỗ Phủ, tìm ra nét chung và nét riêng của mỗi tác giả để làm rõ vấn

Trang 6

đề : Sự phong phú, đa dạng trong việc cảm nhận và biểu hiện cuộc sống của thơ Đường

Phạm vi khảo sát chính của luận án là cuốn Lý Bạch toàn tập, Bão Phương hiệu

điểm, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã (1996) với 961 bài thơ (không kể phần “bổ di”)

Ngoài ra, luận án còn tham khảo một số tuyển tập như Lý Bạch thi tuyển chú của nhiều tác giả, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã (1978); Đường nhân vạn thủ tuyệt cú tuyển hiệu chú

của Vương Sĩ Trinh, Lý Vĩnh Tường tuyển chú, Tề Lỗ thư xã xuất bản (1995) , các tuyển

tập thơ Đường ở Việt Nam như Thơ Đường của nhà xuất bản Văn học (2 tập, 1987),

Đường thi của Trần Trọng Kim, Thơ Đường của Trần Trọng San Ở các tác giả khác,

chúng tôi khảo sát Vương Tả Thừa tập tiên chú, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã (1998), Đỗ

Phủ toàn tập, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã (1997) và một số tuyển tập khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau :

- Phương pháp hệ thống đặt thơ Lý Bạch trong một hệ thống thi pháp vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù và lưu ý tính đặc thù của thơ Lý Bạch

- Phương pháp thống kê, phân loại để có những số liệu chính xác nhằm tăng sức thuyết phục của luận điểm

Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu văn học sử xem xét thơ Lý Bạch trong quá trình sáng tác để thấy được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội đến việc xử lý hệ thống đề tài cũng như các yếu tố cấu trúc nội tại của tác phẩm; Phương pháp so sánh văn học để tìm ra nét tương đồng và dị biệt giữa thi pháp thơ Lý Bạch với các tác giả trước, cùng thời và sau Lý Bạch; Phương pháp phân tích để làm sáng tỏ luận điểm cũng được chúng tôi vận dụng trong luận án

6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trang 7

Theo những tư liệu tuy chưa đầy đủ và hệ thống mà chúng tôi hiện có, có thể rút ra một điều là : Thơ Lý Bạch nói chung và những vấn đề về thi pháp thơ Lý Bạch

từ lâu đã thực sự thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu trên thế giới Chúng tôi tạm thời phân loại các ý kiến về thi pháp Lý Bạch ở hai mảng : Mảng tư liệu Tiếng Việt và mảng tư liệu Tiếng Trung

6.1 Nghiên cứu thi pháp Lý Bạch qua mảng tư liệu Tiếng Việt

Ở mảng tư liệu này, chúng tôi quan tâm đến hai bộ phận : Những ý kiến của các nhà nghiên cứu Việt Nam và của các nhà nghiên cứu nước ngoài (bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp) đã được dịch sang tiếng Việt

Thơ Lý Bạch đến Việt Nam khá sớm theo con đường giao lưu văn hoá thời Trung đại Các nhà thơ Trung cận đại Việt Nam trong sáng tác của mình ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của thơ Đường nói chung và Lý Bạch nói riêng, tiêu biểu nhất phải kể

đến Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và thơ Cao Bá Quát Tuy vậy, phạm vi tiếp

thu cũng chỉ giới hạn chủ yếu ở tầng lớp sĩ đại phu phong kiến Cho đến khi chữ Nôm

thịnh hành, nhiều bản dịch thơ Đường xuất hiện như Đường thi quốc âm, Đường thi

trích dịch, Đường thi tuyệt cú diễn ca , thơ Đường vẫn chỉ là đối tượng để ngâm nga

và thưởng thức Thơ Đường và thơ Lý Bạch được giới thiệu rộng rãi bằng chữ Quốc

ngữ vào những năm 30 - 40 của thế kỷ này trên các tạp chí như Nam Phong, Tiểu

thuyết thứ bảy, Tri tân cùng với các tuyển tập của Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố

Nhìn chung, những tuyển tập này đều làm nhiệm vụ dịch chú, chỉ có Đường thi của

Trần Trọng Kim có quan tâm đến việc giới thiệu “phép làm thơ” khi ông phân loại thơ tuyển thành ba phần : Cổ phong, luật thi và tuyệt cú

Đến những năm 60 trở về đây, tình hình nghiên cứu thơ Đường và thi pháp thơ Lý Bạch bắt đầu có những chuyển động mới Đầu tiên là những công trình về văn học sử như

Lịch sử Văn học Trung Quốc (Trương Chính chủ biên, 1963); Văn học Trung Quốc

(Nguyễn Khắc Phi chủ biên, 1987); những công trình mang tính chuyên luận hoặc tập hợp

Trang 8

những công trình riêng lẻ như Thơ Đường (1993), Diện mạo thơ Đường (1995), Thi tiên Lý

Bạch (1995) của Lê Đức Niệm, Một số đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường

(1996) của Nguyễn Sĩ Đại, Thi pháp thơ Đường (1995) của Nguyễn Thị Bích Hải, Về thi

pháp thơ Đường (1997) của Nguyễn Khắc Phi và Trần Đình Sử, Thơ văn cổ Trung Hoa, mảnh đất quen mà lạ (1998) của Nguyễn Khắc Phi, “Lý Bạch” trong sách Đỗ Phủ,nhà thơ dân đen, “Cái hay của thơ Đường” (in lại trong Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, 2000) của Phan Ngọc đã có nhiều ý kiến có liên quan đến thi pháp Lý Bạch PGS

Phan Ngọc đã dành cho thơ Lý Bạch một vị trí khá nhiều khi ông phân tích và chứng minh

“cái hay” ở các lĩnh vực như phương thức khám phá hiện thực, không gian và thời gian, ngôn ngữ thơ Đường nói chung[ 60,tr.142-176] Nguyễn Thị Bích Hải cũng giành một vị trí xứng đáng cho thơ Lý Bạch khi khảo sát về hình tượng con người vũ trụ, không gian, thời gian vũ trụ trong thơ Đường GS Trần Đình Sử với bài “Thời gian, không gian trong thơ Đường” chú ý đến cảm quan về thời gian, không gian của Lý Bạch như ý thức về giá trị của hiện tại, cách khắc phục thời gian, về sự phối hợp các biên độ không gian [69, tr.6-31]

Cũng trong công trình Về thi pháp thơ Đường, PGS Nguyễn Khắc Phi nghiên cứu về đối

ngẫu trong thơ Đường luật và kết cấu của một bài thơ luật, tuy không đề cập nhiều đến thơ

Lý Bạch nhưng là những ý kiến có giá trị lý luận và thực tiễn để gợi mở cho hướng nghiên

cứu thi pháp một tác giả cụ thể Ngoài ra, các bài viết về Hành lộ nan, Thái liên khúc, Tảo

phát Bạch đế thành của PGS Nguyễn Khắc Phi in trong Thơ văn cổ Trung Hoa, mảnh đất quen mà lạ cũng có những gợi ý qúy báu để nghiên cứu thi pháp thơ Lý Bạch Năm 1998,

Lê Giảng biên soạn Đến với thơ Lý Bạch, phần nhiều là dịch từ lời bình tác phẩm của các

tác giả Trung Quốc, do vậy cũng không có gì mới hơn Luận án PTS Ngữ văn của Phạm

Hải Anh Thơ tứ tuyệt Lý Bạch - Phong cách và thể loại (1996) vận dụng lý luận về thi pháp

học hiện đại để nghiên cứu phong cách thơ tứ tuyệt Lý Bạch được xem là công trình nghiên cứu có quy mô nhất ở Việt Nam cho đến lúc này trên bình diện thi pháp thơ Lý Bạch Tuy đối tượng chủ yếu của luận án là thơ tứ tuyệt nhưng tác giả còn mở rộng so sánh với các thể loại khác của Lý Bạch cũng như với các tác giả khác để đúc kết thành những ý kiến khá

Trang 9

thuyết phục ở các phương diện : Cái tôi cá nhân cá tính, bút pháp tả cảnh nhập thần, ý tận khí hùng, tự nhiên Đây cũng chính là những đặc sắc về thi pháp thơ Lý Bạch biểu hiện trong tứ tuyệt

Tuy chưa được dịch và giới thiệu nhiều ở Việt Nam nhưng những công trình

gần đây nhất như Phương Đông và Phương Tây của N.Konrat, Bút pháp thơ ca Trung

Quốc của F.Cheng, Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường của Cao Hữu Công và Mai Tổ

Lân cho thấy được một vài khuynh hướng nghiên cứu thi pháp thơ Đường nói chung

và thơ Lý Bạch nói riêng ở Nga, Pháp, Mỹ Chẳng hạn Konrat cho rằng, thơ Lý Bạch

là “hiện thân của tinh thần tự do, sống động và thực tiễn Tinh thần này được thể hiện trong thơ của ông, thứ thơ đầy ma lực của tình cảm nội tâm, loại trữ tình cao cấp” [45, tr.90], đã nêu được phương thức chiếm lĩnh hiện thực theo khuynh hướng chủ quan -

cơ sở để hình thành thi pháp Lý Bạch F.Cheng đã dùng đến 6 trang để phân tích bút

pháp tượng trưng ẩn dụ của Lý Bạch qua Ngọc giai oán [69, tr.216- 222] Cao Hữu

Công và Mai Tổ Lân còn vận dụng và phân tích khá nhiều dẫn chứng từ thơ Lý Bạch khi bàn về cú pháp thơ Đường

Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu thi pháp Lý Bạch ở Việt Nam cũng như những công trình dịch thuật đã bước đầu có những kết quả đáng trân trọng nhưng phần nhiều chưa lấy thơ Lý Bạch làm đối tượng nghiên cứu chính, hoặc chỉ thiên về một mảng thơ Lý Bạch chứ chưa đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện Chúng tôi đã tiếp thu ở nguồn tài liệu này những gợi ý qúy báu trong khi tiến hành khảo sát thi pháp thơ Lý Bạch

6.2 Nghiên cứu thi pháp Lý Bạch qua mảng tư liệu tiếng Trung Quốc

Lý Bạch vừa xuất hiện trên thi đàn, thơ ca của ông ngay lập tức được người đương thời chú ý Có lẽ bắt đầu từ Đỗ Phủ, kế đến là Ân Phồn, Lý Dương Băng, Bạch

Cư Dị, Nguyên Chẩn, Hàn Dũ qua các thời kỳ với Tăng Củng, Tô Thức, Chu Hy, Lưu Khắc Trang, Nghiêm Vũ, Dương Chấn (Tống Nguyên), Lý Phàn Long, Vương Thế Trinh, Lục Thời Ung, Thẩm Đức Tiềm, Hồ Chấn Hanh, Hứa Học Di, Vương Phu

Trang 10

Chi, Ngô Kiều, Diệp Nhiếp, Thi Bổ Hoa (Minh Thanh), Củng Tự Trân, Lưu Hi Tái (cận đại) đều dành cho thơ Lý Bạch những lời bình phẩm thấu đáo, trong đó không ít những ý kiến có liên quan đến thi pháp Trong giai đoạn hiện đương đại, các nhà nghiên cứu tiếp tục phát huy truyền thống nghiên cứu về Lý Bạch thời trung cận đại, bên cạnh hướng nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng, nội dung thơ Lý Bạch, một bộ phận khác có khuynh hướng nghiên cứu về thi pháp (mặc dù chưa có nhiều người hiểu theo nghĩa hiện đại, hoặc được hiểu như “phép làm thơ” truyền thống) Có những chuyên

san nghiên cứu về Lý Bạch, như những năm 60 có Lý Bạch nghiên cứu luận văn tập, những năm 80 có Lý Bạch học san, những năm 90 có Trung Quốc Lý Bạch nghiên

cứu đăng tải một số ý kiến của Tiêu Điều Phi, Viên Hành Bái, Lương Thâm, Trương

Minh Phi, Tôn Cầm An đại thể có liên quan đến một vài yếu tố thi pháp Lý Bạch như cá tính và ý thức chủ thể của Lý Bạch, ý thức vũ trụ của Lý Bạch, nghệ thuật không gian thời gian Sau đây chúng tôi sẽ phân loại giới thiệu ở một vài phương diện chủ yếu

Ở phương diện phong cách nói chung, ý kiến của Đỗ Phủ có lẽ là sớm nhất

Trong Xuân nhật ức Lý Bạch, Đỗ Phủ cho rằng thơ Lý Bạch thanh tân, phiêu dật Bì Nhật Hưu trong Lưu táo cường bi cho rằng, ngôn ngữ thơ Lý Bạch “ở ngoài vòng trời

đất”, “không phải là tiếng nói của thế gian” Tăng Củng chú ý đến nét tự nhiên nhưng

đẹp đẽ của ngôn ngữ thơ Lý Bạch trong Lý Bạch thi tập hậu tự Nghiêm Vũ cũng cho ngôn ngữ Lý Bạch “phần nhiều chân suất, tự nhiên mà thành” (Thương Lãng thi

thoại) Cố Lâm trong Tức viên tồn cảo phát triển ý “kỳ chi hựu kỳ” của Ân Phồn mà

cho rằng thơ Lý Bạch có cái kỳ của binh pháp (giai binh pháp sở vị kỳ dã) Lục Thời

Ung trong Đường thi kính lại không chú ý đến cái kỳ mà tuyên dương cái “khí vận”

của thơ Lý Bạch Những cách bình phẩm thiên về cảm quan này vẫn được giới

nghiên cứu đương đại kế thừa Trong những công trình xuất bản gần đây như Đường

thi giám thưởng từ điển (1994), Lý Bạch học san (1990), Trung Quốc Lý Bạch nghiên cứu (1990, 1991 ), cả những công trình của Trương Minh Phi (Đường âm luận tẩu,

Trang 11

1993), Viên Hành Bái (Trung Quốc thi ca nghệ thuật nghiên cứu, 1996), những bài viết trong Đường đại văn học nghiên cứu năm 1992, 1993, 1994 các thuật ngữ

thường được sử dụng như “thiên mã hành không”, “hành vân lưu thuỷ”, “dã mã thoát ki” , chú ý đến nét phóng khoáng trong ngôn ngữ, cấu tứ thơ Lý Bạch, nhưng ở các phương diện cú pháp, từ pháp và đặc sắc ngôn ngữ của Lý Bạch vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu thoả đáng

Có lẽ tập trung nhất và thành công nhất trong lịch sử nghiên cứu thơ Lý Bạch là

ở mặt thể loại Ngay từ những ngày đầu, người ta đã chú ý đến nét “tung hoành biến

hoá” của thơ cổ thể Lý Bạch với những ý kiến của Vương Thế Trinh trong Nghệ uyển

chi ngôn, của Hồ Chấn Hanh trong Đường âm quỳ tiêm, của Lục Thời Ung trong Đường thi kính, của Hứa Học Di trong Thi nguyên biện thể ; nét “tự nhiên thiên

thành” của tuyệt cú Lý Bạch, như Lý Phàn Long nói “không dụng ý mà hay” (Đường

thi tuyển tự), hoặc “lấy khí làm chủ” như lời Hứa Học Di Nhiều người khác như

Mao Tiên Thự, Ngô Kiều, Quách Triệu Lân đánh giá luật thi của Lý Bạch là “bình dị thiên chân”; hoặc chú ý đến sự đột phá về luật của Lý Bạch : “Lý Bạch làm thơ luật

mà như làm cổ phong, không có dấu tích của đối ngẫu” (Điền Văn - Cổ hoan đường

tập tạp trứ) Cũng có người chú ý đến tàn tích của thơ cung thể Nam triều trong những

bài thơ Cung trung hành lạc từ của Lý Bạch như Quách Triệu Lân trong Mai Nhai thi

thoại Nhìn chung, những ý kiến này đã nêu được những đặc trưng cơ bản các thể

loại thơ Lý Bạch, có phần khai phá và tiếp cận thơ Lý Bạch trên hệ thống thi pháp

Vài thập kỷ trở lại đây, việc nghiên cứu thể loại thơ Lý Bạch trở nên vô cùng rầm rộ Một tình hình khá phổ biến là các bài viết đã chú ý vào những giá trị nội dung trong mối tương quan với hình thức biểu đạt (thể loại), như Phòng Nhật Tích phát hiện

sự phức tạp trong tình cảm của Lý Bạch, do vậy thơ thất ngôn cổ thi đột phá mọi ước

thúc, qui cách (Lý Bạch học san) Giả Phổ Hoa khai thác chất tự nhiên chân thực trong thơ ngũ cổ Lý Bạch (Trung Quốc Lý Bạch nghiên cứu, 1991) Với tuyệt cú Lý Bạch,

gần đây Thẩm Tổ Phân cũng dẫn ý kiến của Hồ Ứng Lân đánh giá tứ tuyệt Lý Bạch

Trang 12

và Vương Xương Linh : “Đại khái Lý Bạch tả cảnh nhập thần, Vương Xương Linh ngôn tình lên đến đỉnh cao”, hoặc ý kiến của Diệp Nhiếp : Tứ tuyệt Lý Bạch đẹp đẽ, hào sảng, của Vương Duy “hàm súc” có thể là bước phát triển trên cơ sở kế thừa

những ý kiến của người đi trước trong Đường nhân thất tuyệt thi thiễn thích (1997)

Đỗ Phủ trong Ẩm trung bát tiên ca, Ân Phồn trong Hà nhạc anh linh tập đã bắt

đầu chú ý đến con người hào phóng, ngạo ngược của Lý Bạch thể hiện trong cuộc đời

và trong thơ Ngụy Khánh Chi cho Lý Bạch là “phượng hoàng kỳ lân trong thế giới

loài người” (Thi nhân ngọc tiết) Diệp Nhiếp ca tụng khí chất bất phục tòng quyền qúy của Lý Bạch trong Nguyên thi Gần đây, một số bài viết như “Lý Bạch cá tính luận” của Bùi Phỉ; “Lý Bạch chủ thể ý thức” của Vương Định Chương (Trung Quốc Lý

Bạch nghiên cứu, 1990) đã bắt đầu nghiên cứu về con người Lý Bạch trong thơ Tuy

chưa trực tiếp và chưa thực sự toàn diện, nhưng đánh giá về những biểu hiện của cái tôi vượt ra ngoài những quy phạm ở Lý Bạch của Bùi Phỉ, những biểu hiện về ý thức theo đuổi tự do, bảo toàn nhân cách ở Lý Bạch của Tôn Cầm An, Vương Định Chương phần nào đã đề cập đến những khía cạnh cơ bản trong con người Lý Bạch,

về cái tôi chủ thể và ý thức cá nhân của Lý Bạch

Một vấn đề tương đối mới mẻ và được xem là bước khám phá đầu tiên là nghiên cứu sự tồn tại của con người trong không gian và thời gian Ngoài những ý

kiến rải rác đề cập trong các bài giám thưởng trong Đường thi giám thưởng từ điển,

theo tài liệu chúng tôi có được từ 1990 đến 1995 có hai bài trực tiếp lấy không gian thời gian làm đối tượng nghiên cứu Lý Hạo trong “Luận Đường thi đích thời không

quan niệm” (Đường đại văn học nghiên cứu,1993) đề cập đến quan niệm về thời gian

vận động và không gian rộng trong thơ Đường nói chung Trương Thụy Quân trực

tiếp bàn về nghệ thuật miêu tả không gian và thời gian của Lý Bạch (Trung Quốc Lý

Bạch nghiên cứu, 1990) nhưng lại thiên về nghiên cứu cách miêu tả hơn là xét không

gian thời gian trong mối quan hệ với sự tồn tại của con người Ngoài ra còn phải kể

đến Viên Hành Bái với bài “Lý Bạch đích vũ trụ ý thức” (Trung Quốc Lý Bạch nghiên

Trang 13

cứu, 1990) chú ý các biểu tượng vũ trụ trong cảm quan nghệ thuật của Lý Bạch Cũng

như phần con người Lý Bạch, những ý kiến về không gian thời gian này chỉ dừng lại ở

sự cảm nhận đầu tiên mà chưa được xem xét trong một hệ thống thi pháp hoàn chỉnh

Nhìn một cách tổng quát, những vấn đề chủ yếu của thi pháp thơ Lý Bạch như quan niệm nghệ thuật, không gian, thời gian, phương thức biểu hiện hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đã có những ý kiến đề cập Trong sự kết hợp giữa lý luận thi pháp hiện đại với thi pháp

cổ điển, chúng tôi đã tiếp thu những gợi ý từ các nhà phê bình cổ điển cũng như kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đương đại trong luận án của mình

Ở mảng tư liệu tiếng Trung còn có một bộ phận khác : Đó là tình hình nghiên cứu thi pháp thơ Lý Bạch ở các nước Đông Á được các học giả hoặc là người Trung Quốc hoặc là người bản xứ giới thiệu khái quát đăng ở các niên giám và các chuyên

san Đường đại văn học nghiên cứu Theo học giả Nhật Bản Tự Vĩ Cương, việc giới

thiệu, nghiên cứu thơ Đường nói chung và thơ Lý Bạch nói riêng ở Nhật đã có lịch sử tương đối lâu đời Đầu thế kỷ XX, việc phiên dịch và giới thiệu thơ Lý Bạch đã có

những công trình đáng chú ý như Lý Thái Bạch thi tập của Cửu Bảo Thiên Tuỳ, chuyên luận Lý Bạch, hào phóng nhi bất hạnh đích thi tiên (1969) của Phúc Long Nguyên Tàng, Lý Bạch - thơ ca cập kỳ nội tại tâm tượng của Tùng Phố Hữu Cữu Năm 1971, Đại Dã Thực Chi Trợ có xuất bản Lý Thái Bạch nghiên cứu, trong đó có

các chương như chương 4 bàn về các phương thức biểu hiện Năm 1976, Tùng Phố

Hữu Cữu tiếp tục cho ra mắt Lý Bạch nghiên cứu, 7 chương, trong đó chương 1 bàn

về kết cấu của phương thức trữ tình, chương 4 bàn về cái tôi Lý Bạch được xem là những ý kiến có tính khám phá về thi pháp Lý Bạch ở Nhật Bản Năm 1982, Vũ Bộ

Lợi Nam viết Lý Bạch đích mộng có đề cập đến một số hình tượng thơ như “minh

nguyệt”, “hoa”

Ở phương diện thể loại, một số bài viết đăng tải ở các tạp chí cho thấy các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chú ý nghiên cứu ở phương diện thi pháp, chẳng hạn Đảo Điền Cửu Mỹ cho rằng thơ Nhạc phủ của Lý Bạch có 4 đặc điểm lớn là tính tự sự,

Trang 14

phương thức tạo hình, trí tưởng tượng và tinh thần lạc quan (“Về thơ nhạc phủ của Lý Bạch”, 1958); Tùng Phố Hữu Cữu cũng cho rằng, thơ tứ tuyệt của Lý Bạch là vô cùng

tự nhiên, chân thực (1968)

Ở phương diện ngôn ngữ thơ, một số bài viết đi vào khảo sát những nét độc đáo trong cách dùng từ của Lý Bạch Chẳng hạn Cốc Châu Anh Tắc chỉ nghiên cứu hai từ “nghi thị” và “chính thị” của Lý Bạch và Đỗ Phủ, cho rằng chỉ với hai từ này đã chi phối đến cảm tình và phong cách thơ của hai “đại gia” này Nhiều bài viết chú ý đến sắc thái từ trong thơ Lý Bạch, đặc biệt chú ý đến màu trắng trong thơ Lý Bạch, như Đại Dã Thực Chi Trợ trong bài “Lý Bạch thi ca trung đích bạch sắc ý nghĩa” (1970) và Tự Vĩ Cương trong “Quan vu Lý Bạch thi ca trung bạch sắc từ đích vận dụng” (1986) đều thống nhất rằng, Lý Bạch thích dùng mầu trắng và gam mầu nhạt trong thơ để tạo nên ấn tượng thanh thoát

Ở Hàn Quốc, so với Nhật Bản thì việc nghiên cứu thơ Đường nói chung và thơ

Lý Bạch nói riêng có chậm hơn Theo ý kiến tổng quan của hai nhà nghiên cứu Hàn Quốc là Lý Chương Tá [109, tr.343 - 349] và Kim Tại Thừa [101, tr.872 - 882], thì mãi đến những năm 50 của thế kỷ này mới có những công trình đầu tiên, cho đến đầu thập kỷ 90, tình hình nghiên cứu văn học Trung Quốc vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn bước đầu Theo tổng kết của Kim Tại Thừa, từ 1980 đến 1993, những công trình có liên quan đến Lý Bạch chỉ có một tập tuyển dịch thơ Lý Bạch của Hứa Thế Húc

(1987); một chuyên luận của Lý Tử Hạo (Lý Thái Bạch và Đạo giáo, 1981); 10 bài

viết ở các tạp chí, trong đó chỉ có 5 bài đề cập đến thế giới nghệ thuật thơ Lý Bạch có khả năng có liên quan ít nhiều đến vấn đề thi pháp như của Quách Lợi Phu : “Hình

tượng nguyệt trong thơ Lý Bạch” (1985), của Ngô Thế Hoa : “Vận luật trong tuyệt cú

của Lý Bạch” (1986), của Trần Ngọc Khanh : “Những ý tượng truyền thống trong thơ nhạc phủ Lý Bạch” (1986)

Có thể còn nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến thi pháp thơ Lý Bạch

ở Nhật Bản và Hàn Quốc những năm gần đây mà chúng tôi chưa đề cập đến Qua

Trang 15

những điều mà chúng tôi thâu lượm được, có thể thấy rằng, tuy chưa thực sự hệ thống

và toàn diện nhưng rải rác đã có những nghiên cứu ban đầu về thi pháp Lý Bạch ở hai quốc gia này Rất tiếc là một bộ phận lớn trong số những tư liệu ấy chúng tôi lại không được trực tiếp tiếp cận, do vậy cũng không thể đánh giá được cụ thể kết quả nghiên cứu của họ

Qua lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng : Thi pháp thơ Lý Bạch đã được xem xét ở khá nhiều góc độ, đã có nhiều ý kiến rất đáng chú ý về cái tôi Lý Bạch, về đặc trưng thể loại và ngôn ngữ, về giọng điệu thơ Tuy vậy, các ý kiến trên vẫn chưa thành hệ thống, riêng lẻ, rất khó có thể hình dung một cách đầy đủ về thi pháp Lý Bạch Do vậy, đề tài “Thi pháp thơ Lý Bạch - một số phương diện chủ yếu” của chúng tôi vừa có thể tiếp thu những thành quả nghiên cứu của người đi trước, đồng thời vẫn mở ra một hướng nghiên cứu độc lập về thơ Lý Bạch

7 Những đóng góp mới của luận án

Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện về thi pháp Lý Bạch ở Việt Nam Những phương diện chủ yếu của thi pháp Lý Bạch : Con người trong thơ, không gian

và thời gian nghệ thuật, phương thức biểu hiện đều chịu sự chi phối bởi ý thức cá nhân, cá tính hết sức phong phú và phức tạp của Lý Bạch Ông tuyên dương cái đẹp tự nhiên của nghệ thuật, chống bắt chước và đề cao sự ký thác tâm tình trong sáng tạo Con người Lý Bạch vừa cuồng phóng, vừa chân thực trong thơ ca Con người ấy muốn khẳng định và xác lập chân giá trị của chính mình trong cuộc đời thực và những hoạt động thực tiễn

Luận án chú trọng khai thác một phạm trù đặc trưng nhất trong cảm quan thời gian của Lý Bạch : Thời gian sinh mệnh cá thể với những cảm nhận trăn trở đầy chất nhân văn Lý Bạch cũng chọn cho mình một không gian rộng để con người cá nhân khổng lồ ở ông được tự do và tỏ bày tráng chí

Trang 16

Luận án còn phát hiện được những đặc sắc trong từng thể loại thơ Lý Bạch : Thơ ngũ cổ mực thước, trang trọng; thơ thất cổ hào mại, phóng túng; thơ luật đẹp diễm

lệ và thơ tứ tuyệt tự nhiên chân thực Ngôn ngữ thơ Lý Bạch vừa thể hiện nét chung của tư duy nghệ thuật trung đại, của thơ Đường nhưng cũng có những đặc sắc riêng : không gọt giũa mà lại đẹp, kỳ lạ, hư ảo nhưng lại rất chân thực

Những con số thống kê về số lượng từng thể loại, về câu nghi vấn, câu cảm thán, câu cầu khiến; về sự xuất hiện nhiều của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, của các

hư từ trong sự so sánh với các nhà thơ khác; những dẫn chứng được chọn để phân tích và chứng minh phần nhiều chưa được dịch ở Việt Nam cũng là những đóng góp của luận án, có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến thơ Lý Bạch về sau

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có 3 chương chính :

Chương 1 : “Quan niệm thơ ca và con người Lý Bạch trong thơ” Chương này khám phá những ý kiến của Lý Bạch bàn về thơ và một Lý Bạch cá thể, nhiều Lý Bạch trong một Lý Bạch giữa thời Trung đại

Chương 2 : “Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch” Chương này tập trung khảo sát một Lý Bạch trăn trở về tồn tại trong một cảm quan thời gian thoáng chốc và không gian cao rộng

Chương 3 : “Thể loại và ngôn ngữ thơ Lý Bạch” Chương này khám phá những đặc sắc trong thi pháp thể loại cũng như ngôn ngữ của Lý Bạch

Trang 17

Chương 1

QUAN NIỆM THƠ CA VÀ CON NGƯỜI LÝ BẠCH

TRONG THƠ

1.1 Quan niệm thơ ca

Trong quá trình sáng tác thực tiễn, các nhà nghệ sĩ lớn đã dần dần đúc kết được những quan niệm về sáng tác của chính bản thân mình Những quan niệm ấy không những biểu hiện được khuynh hướng, chủ trương sáng tác của cá nhân người nghệ sĩ mà đồng thời còn có thể phản ánh được nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ

Trang 18

chung của thời đại Đến lượt mình, sáng tác sẽ là cơ sở để các nhà nghệ sĩ tự đánh giá, tự điều chỉnh ngòi bút cũng như bình luận sáng tác của người khác

Tuy không có những tác phẩm lý luận “đại thành” như Văn tâm điêu long thời kỳ trước hoặc Thương Lãng thi thoại, Tuỳ Viên thi thoại thời kỳ sau, nhưng

hầu như các “đại gia” đời Đường, bằng hình thức này hay hình thức khác đều có những ý kiến về văn học nói chung và thơ ca nói riêng Có lẽ đến thời kỳ này, các thi nhân đã tự ý thức được hoạt động sáng tạo của mình là một hoạt động tự giác,

do vậy họ mới có ý thức trình bày quan điểm sáng tác “Sự thật thì lý luận văn chương là từ thực tiễn sáng tác mà ra, nhưng là hai chuyện khác nhau Chỉ khi nào cái sau tự ý thức thì mới thành ra cái trước” [52, tr.6] Thời Sơ Đường có Thượng

Quan Nghi với Bút trác hoa lương, Lý Kiểu với Bình thi cách, Thôi Dung với

Đường triều tân định thi cách Thi đàn Thịnh - Trung Đường chứng kiến sự xuất

hiện của Thi cách (Vương Xương Linh), Thi thức, Thi nghị (Thích Hiệu Nhiên),

Nhị phong thi luận (Nguyên Kết), Tân nhạc phủ tự, Ký Đường sinh, Dữ Nguyên Cửu thư của Bạch Cư Dị, Đổng thị Vũ Lăng tập ký của Lưu Vũ Tích, Nhị thập

tứ thi phẩm của Tư Không Đồ đều là những đúc kết thành quả của thực tiễn sáng

tác, mở ra một hướng tìm tòi mới cho diện mạo thơ ca đời Đường - “thời kỳ hoàng kim” của thơ ca cổ điển Trung Quốc

Những ý kiến về thơ ca của Lý Bạch hầu hết được phát biểu dưới dạng sáng

tác, tập trung ở các bài thơ như Cổ phong 1, Cổ phong 35 và những phát biểu rải rác được sao lục trong Bản sự thi (Mạnh Khởi) và Hà nhạc anh linh tập (Ân Phồn)

1.1.1 Theo đuổi cái đẹp tự nhiên

Quan điểm mỹ học về cái đẹp tự nhiên (tự nhiên chi mỹ) vốn bắt nguồn từ trong học thuyết của Đạo gia thời Tiên Tần Trong khi đề xướng chủ trương thuận ứng với cái Đạo tự nhiên trong triết học vũ trụ và nhân sinh, Lão Tử thường đề cập

đến khái niệm phác (mộc mạc, chất phác) : “Đạo thường vô danh, phác, tuy tiểu,

Trang 19

thiên hạ mạc năng thần dã” (Đạo thường không có tên, mộc mạc, tuy nhỏ, nhưng

chưa có ai thần phục được - Đạo đức kinh, chương 32) Phác cùng với chân, tố (thuần trắng), thuần (tinh khiết), thực là những khái niệm về đại thể là đồng nghĩa

vẫn thường xuất hiện trong sách của Lão Tử, tất cả đều tuyên dương cái Đạo tự nhiên Giai cấp thống trị đương thời đề xướng tông pháp, nhân nghĩa đạo đức , theo Lão Tử đều là giả tạo (ngụy) : “Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa, trí huệ xuất, hữu đại ngụy” (Đạo lớn (tự nhiên) bị phế bỏ mới có nhân nghĩa, trí huệ sản sinh, điều

giả tạo cũng ra đời - Đạo đức kinh, chương 18) “Ngụy” tức là phá hoại cái tự nhiên

anh nhi của nhân tính, từ đó Lão Tử phản đối tất cả, kể cả ngôn từ hoa mỹ : “Mỹ ngôn bất tín, tín ngôn bất mỹ” (Lời đẹp không đáng tin, lời đáng tin không đẹp -

Đạo đức kinh, chương 81) Có thể xem đây là quan điểm mỹ học sơ khai về nghệ

thuật ngôn từ ở Trung Quốc Nó được phát huy bởi Trang Tử Trong quan niệm về

vũ trụ tự nhiên của Trang Tử, ta cũng bắt gặp những khái niệm thiện, phác, tố,

thuần, chân, sơ, thực nhằm đề cao bản tính tự nhiên của vạn vật, kể cả con người,

trong đó nhiều nhất là chân : “Pháp thiên quý chân, bất câu vu tục” (Theo tự nhiên, qúy cái chân, không câu nệ vào thói tục - Nam hoa kinh, “Ngư phụ”) “Tục” tức

những điều trung, hiếu, tiết, nghĩa, đạo đức có thể làm cho con người trở thành giả tạo, hư rỗng Theo đuổi tự nhiên, qúy chân không chỉ là triết học nhân sinh mà còn là chủ trương văn nghệ, gần gũi với những quan niệm mỹ học của Trang Tử như:

- “Tố phác nhi thiên hạ mạc năng dữ chi tranh mỹ‟ (Mộc mạc tinh khiết mà

thiên hạ khó cùng nó tranh đẹp - “Thiên đạo”)

- “Thiên hạ hữu đại mỹ nhi bất ngôn” (Trong thiên hạ có cái Đẹp mà không nói - “Tri bắc du”)

Cái đẹp theo Trang Tử là thiên lại (tiếng sáo của trời) : “Kìa như gió thổi

khiến muôn tiếng không đồng nhau vang lên, nhưng lại khiến cho nó tự ngưng đi

hoặc nổi lên, là gì đấy ?” (“Tề vật luận”) Quách Tượng khi chú sách Trang Tử,

Trang 20

cho rằng thiên lại là thiên nhiên, do vậy cái đẹp thiên lại cũng chính là cái đẹp tự

nhiên [138, tr.167]

Những ý kiến của Lão Tử, Trang Tử chưa trực tiếp đề cập đến văn học mà chỉ là quan niệm mỹ học nói chung nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sau Thời Đông Hán, khi Vương Sung (27 - 97) đề xướng cái đẹp chân thực (chân mỹ) và phản đối thứ văn phong hoa lệ giả dối (hoa ngụy chi văn) thì nội hàm chủ yếu của văn vẫn là Phú - thể tài đặc trưng của thời Hán Nhà huyền học nổi tiếng Quách

Tượng thời Ngụy - Tấn khi chú sách Trang Tử, trong cách lý giải về cái đẹp tự

nhiên đã tuyên dương cái đẹp hình thức phù hợp với bản chất tự nhiên của vạn vật, như rồng phượng phải có bộ lông sặc sỡ Đó là cái đẹp chân chính; còn dê và chó

nếu có đem cạo sạch lông thì cũng không thể gọi là phác (mộc mạc) hoặc tố (tinh

khiết) được [138, tr.170] Tuy cách kiến giải có khác, nhưng về căn bản, Quách Tượng vẫn nhất trí với Lão,Trang ở chỗ khẳng định cái đẹp tự nhiên Sau này Lưu

Hiệp trong Văn tâm điêu long cũng cường điệu cái đẹp tự nhiên nhưng không hề

phản đối “lệ từ”, “tình thái” có lẽ tiếp thu ảnh hưởng từ Quách Tượng

Từ khi thơ ngũ ngôn xuất hiện trên thi đàn và chiếm địa vị trọng yếu trong suốt một thời gian dài từ thời Đông Hán đến Sơ Đường, cái đẹp tự nhiên đã trở thành tiêu chuẩn thẩm mỹ phổ quát trong thực tiễn sáng tác, trước tiên phải kể đến

Cổ thi thập cửu thủ và sáng tác của các nhà thơ thời kỳ Kiến An Tuy không có

những phát biểu mang tính lý luận nhưng 19 bài Cổ thi (khuyết danh) với phong

cách ngôn ngữ bình dị và với cảm xúc đời thường như nỗi buồn đời người ngắn ngủi, tâm trạng lữ khách nhớ quê, tình yêu nam nữ rạo rực bộc lộ tự nhiên, chân thành được xem là khúc dạo đầu cho “thời đại văn học tự giác” (chữ dùng của Lỗ

Tấn về giai đoạn văn học Ngụy Tấn - Nam Bắc Triều) Chung Vinh trong Thi

phẩm căn cứ một phần vào tiêu chuẩn tự nhiên mà xếp phẩm trật cho thi nhân,

chẳng hạn xếp thơ Tạ Linh Vận - một nhà thơ Nam Triều vào Thượng phẩm vì thơ

Tạ “xuất vu tự nhiên” (bắt nguồn từ tự nhiên); còn Thang Huệ Hưu thì khen : “Tạ

Trang 21

thi như phù dung xuất thuỷ” Có phải được gợi ý từ đây mà sau đó hàng trăm năm,

Lý Bạch cũng lấy “Thanh thuỷ xuất phù dung” làm tuyên ngôn sáng tác ?

Người tổng kết phong khí tôn sùng tự nhiên và nâng lên thành tiêu chuẩn thẩm mỹ có tính lý luận sâu sắc là Lưu Hiệp : “Tâm sinh nhi ngôn lập, ngôn lập nhi văn minh, tự nhiên chi đạo dã” (Con người có hoạt động tinh thần thì lời nói xuất

hiện Lời nói xuất hiện thì cái văn sáng lên Đó là cái đạo tự nhiên vậy - Văn tâm

điêu long, “Nguyên đạo”) Theo Lưu Hiệp, hoạt động sáng tác văn học (thơ ca) là

sự bộc lộ tính tình, do vậy nó phải tự nhiên : “Con người sẵn có bảy tình, bị sự vật xúc động thì sinh ra cảm xúc, cảm xúc thì nói chí, đó là tự nhiên - “Minh thi”) Lưu Hiệp đề cao tiêu chuẩn Chân : “Vì tình mà sáng tác cốt phải gọn và chân thực”, gọi

đây là thứ văn học “vì tình mà tạo văn” (vị tình nhi tạo văn) và đối lập với nó là thứ văn hư ngụy, trống rỗng mà ông gọi là “vì văn mà tạo tình” (vị văn nhi tạo tình) [119, tr.2, 56, 385]

Như vậy, đến thời Lý Bạch, theo đuổi cái đẹp tự nhiên trong sáng tác đã có một quá trình tích tụ và phát triển khá lâu dài Đến thời Sơ - Thịnh Đường, nó cũng

là một tiêu chuẩn thẩm mỹ được các nhà thơ như Vương Tích, Trần Tử Ngang hết

sức đề cao Tuy không trực tiếp bàn đến cái đẹp tự nhiên, nhưng trong Tu trúc thiên

tự - tác phẩm lý luận chủ yếu của Trần Tử Ngang, ông có những nhận xét về văn

phong thời Tề Lương như “phần nhiều hoa lệ đẹp đẽ” (thái lệ cánh phồn), “quanh

co uốn lượn, bạc nhược mà không theo phong nhã” (Uy dĩ đồi mị, phong nhã bất tác) cho thấy Trần Tử Ngang cũng đề cao tự nhiên và chân tình thực cảm trong sáng tác thơ ca Những cố gắng của Trần Tử Ngang trong lý luận và thực tiễn sáng tác là “hồi chuông đánh thức thi đàn Sơ Đường hàng trăm năm tịch mịch”, là cơ sở, bước quá độ để Lý Bạch và những người khác như Thích Hiệu Nhiên, Tư Không Đồ đưa cái đẹp tự nhiên thành khuynh hướng thẩm mỹ phổ biến nhất, quan trọng nhất trên thi đàn Thịnh - Trung Đường

Trang 22

Năm Càn Nguyên thứ hai (759), khi lưu lạc tại vùng Giang hạ, Lý Bạch

sáng tác bài Kinh loạn ly hậu, thiên ân lưu Dạ Lang, ức cựu du thư hoài, tặng

Giang hạ Vi thái thú Lương Tể - bài thơ dài nhất của Lý Bạch, trong đó có hai câu :

“Thanh thuỷ xuất phù dung, Thiên nhiên khử điêu sức.”

(Nước trong lộ hoa sen,

Tự nhiên vứt bỏ những trang sức đẽo gọt.) Đây là lời tán dương phong cách thơ văn tự nhiên của Vi Lương Tể, cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Lý Bạch Phù dung vốn là loài hoa đẹp, thanh khiết Cho nên câu thơ thứ nhất đã đề cập đến hai tiêu chuẩn sáng tác : đẹp mà trong sáng Ở câu thứ hai, “thiên nhiên” là tự nhiên, là “thiên chân”, đối lập với nó

là sự đẽo gọt, trang sức (điêu sức) Do vậy, có thể cụ thể hoá quan niệm thẩm mỹ

“tự nhiên” của Lý Bạch thành hai phạm trù thanh và chân Trong thơ Lý Bạch, hai phạm trù này không ít lần kết hợp để trở thành thanh chân, tuyệt đại đa số trường

hợp biểu hiện một trạng thái tinh thần của con người có căn duyên từ Đạo gia :

“Ngã gia tiên ông ái thanh chân”

(Tiên tổ nhà ta vốn thích thanh chân)

(Minh Cao ca phụng tiễn Tùng ông Thanh

quy Ngũ ngạn sơn cư)

“Lập đức quý thanh chân”

(Lập đức qúy ở chỗ thanh chân)

(Nam Lăng Ngũ Tùng sơn biệt Tuân Thất)

Thanh chân ở đây thống nhất với chủ trương đề cao bản tính tự nhiên, đồng

thời là một tiêu chuẩn thẩm mỹ của Lão Tử và Trang Tử Chỉ duy nhất một lần

thanh chân đề cập trực tiếp đến văn chương :

“Thánh đại phục nguyên cổ,

Trang 23

Thuỳ y qúy thanh chân.”

(Thời đại vua thánh khôi phục đạo xưa,

Rủ áo chuộng sự thanh chân.)

(Cổ phong 1)

Lý Bạch muốn đem thanh chân để cứu lấy căn bệnh ỷ lệ - một di phong của

thơ ca Lục triều trên thi đàn Sơ - Thịnh Đường Trong thế giới hình tượng thơ Lý Bạch, cảm quan về sự trong suốt hầu như quán xuyến Sơn, thuỷ, lâm, tuyết,

nguyệt, phong tất cả đều thanh Cái đẹp tự nhiên (thiên lại - tiếng sáo trời) của Trang Tử được Lý Bạch cảm nhận khi chia tay với Sầm Huân ở đỉnh Minh Cao:" Văn thiên lại chi tào tào”( Nghe sáo trời rộn rã- Minh Cao ca tống Sầm chinh quân)

và được cụ thể hóa trong thơ bằng những khái niệm mới như thanh ca (lời ca trong), thanh thanh (âm thanh trong vắt), thanh nhạc (khúc nhạc thanh cao), thanh

huyền (tiếng đàn trong trẻo) khi bàn về âm nhạc Trực tiếp bàn về thơ có :

“Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát”

(Trong đó Tiểu Tạ lại càng thanh tao rất mực)

(Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân)

“Thi truyền Tạ Diểu thanh”

(Thơ truyền đến Tạ Diểu thì đã trong sáng)

(Tống Trừ Ấp chi Vũ Xương) Song song với thanh là chân - Lý Bạch đem “tâm tình con trẻ” (đồng tâm) đối đãi với cuộc đời, do vậy đâu đâu ông cũng thấy những chân nhân, chân tăng,

chân sơn Nó trở thành tiêu chí cao nhất mà Lý Bạch muốn hướng đến khi biểu

hiện những trạng thái tinh thần chủ quan Tình thì phải là chân tình : “Rửa lòng sẽ được chân tình” - (Tống Bùi thập bát Đồ Nam quy Tung Sơn); thú thì phải là chân

thú : “Tấm lòng trong trắng tự có, Cái thú chân chính không phải mượn ở ngoài”

(Nhật tịch sơn trung hốt nhiên hữu hoài); tâm thì phải là chân tâm : “Tấm lòng chân thật, sâu xa và trong suốt” (Lư Sơn Đông Lâm tự dạ hoài) Ngoài ra còn có

Trang 24

chân ý, chân cốt Tiêu chuẩn chân ở Lý Bạch cũng chính là phác, là tự nhiên của

Trang Tử : “Chân giả, sở dĩ thụ vu thiên dã, tự nhiên bất khả dị dã” (chân, sở dĩ tiếp

thu từ trời, tự nhiên không thể khác được - Nam hoa kinh - “Ngư phụ”) Theo Lý

Bạch, sự mộc mạc mà mất đi cũng có nghĩa là đã đánh mất cái bản chất tự nhiên

thiên thành của con người, của nghệ thuật Trong bài Thù Vương bổ khuyết Huệ

Dực trang tống Thừa Tỷ tặng biệt, Lý Bạch tuyên bố :

“Phác tán bất thượng cổ, Thời ngoa giai thất chân.”

(Không sùng thượng cổ xưa thì sự mộc mạc mất, Mất sự chân thực thì sự lừa bịp ra đời.)

Tư tưởng “pháp thiên quý chân” (theo tự nhiên, quý chân thực) còn được Lý Bạch đề cao trong hội hoạ khi ông yêu cầu “bút tả thiên chân” (ngọn bút tự nhiên

chân thực - Kim Lăng danh tăng Thạch Công phấn đồ từ thân tán), hoặc khi bàn về

thư pháp, ông cũng yêu cầu “thiên sinh” : “Cổ lai vạn sự quý thiên sinh” (Xưa nay

mọi việc qúy ở chỗ tự nhiên sinh thành - Thảo thư ca hành)

Tình cảm là linh hồn của thơ ca “Tình động vu lý nhi hình vu ngôn” (Tình

động bên trong mà thành ra lời - Mao thi tự), do vậy thơ phải chân thực phản ánh

thế giới nội tâm con người Không phải ngẫu nhiên mà người đời thú vị với những truyền thuyết về phong cách làm thơ cực kỳ phóng túng của Lý Bạch : Trong cơn

say làm thơ (Thanh bình điệu tam thủ), sau cơn say tỉnh dậy làm thơ (Xuân nhật túy

khởi ngôn chí) Vô ý mà thành thơ, vung bút là thành thơ trở thành đặc trưng trong

công việc sáng tác của Lý Bạch Quá câu nệ vào ngôn từ, lập ý, kết cấu thì không thể nào bộc lộ được những cảm xúc bất chợt đến, bất chợt đi trong thế giới tinh thần của con người Trong thơ Lý Bạch thường bắt gặp những trạng thái “hốt”,

“đột”, “hốt nhiên” Chẳng hạn:

Trong thi đề : Nhật tịch sơn trung hốt nhiên hữu hoài

Trong câu thơ : “Hốt nhiên cao vịnh thế tứ liên”

Trang 25

(Bỗng nhiên ngâm vịnh, nước mắt chảy dài)

(Ngọc hồ ngâm) Bởi thế, Lý Bạch mới đùa cợt sự dụng công khi làm thơ của Đỗ Phủ Bài Hý

tập của Lý Bạch (Lý Bạch toàn tập [117] đưa bài thơ này vào phần “bổ di”), nhưng

trong thơ mình cũng không hiếm lần Đỗ Phủ tự thừa nhận “làm thơ khổ” :

“Tri quân khổ tư duyên thi sấu”

(Biết anh khổ công suy nghĩ vì thơ mà gầy gò)

(Mộ đăng Tử ân tự chung lâu ký Bùi thập Địch)

“Tân thi cải bãi tự trường ngâm”

(Sửa xong bài thơ mới tự ngâm dài”

(Giải muộn, bài 7)

“Vãn tiết tiệm vu thi luật tế”

(Cuối đời càng gần gũi với cái tế vi của luật thi)

(Khiển tâm hí trình Lộ thập cửu Tào Trường)

Và không thể không nhắc đến danh cú “Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu”(

Giang thượng trực thủy như hải thế liêu đoản thuật) vốn được xem là tuyên ngôn

sáng tác của Đỗ Phủ Với Lý Bạch, thơ cốt ở chân tình thực cảm (tất nhiên Đỗ Phủ

Trang 26

không vì “tác thi khổ” mà không chân thực) cho nên cần tự nhiên, tránh sự đẽo gọt, trau chuốt thái quá :

“Nhất khúc phỉ nhiên tử, Điêu trùng táng thiên chân

Cức thích tạo mộc hầu, Tam niên phí tinh thần.”

(Những kẻ chăm chú vào văn từ hoa lệ,

Sự khéo léo vặt vãnh sẽ làm mất thiên chân

Đầu gai khắc hình khỉ tắm,

Ba năm hao phí tinh thần.)

(Cổ phong 35)

Sự gọt giũa trau chuốt chẳng qua là một thứ tài vặt (điêu trùng) sẽ giết chết

sự chân chất thiên thành của nghệ thuật Loại thơ theo đuổi “điêu trùng”, theo Lý Bạch cũng giống như ngày xưa người nước Vệ nói với Yên Vương rằng anh ta có thể khắc được hình con khỉ trên đầu mũi gai nhọn, do vậy được Yên Vương ban thưởng hậu hĩnh Sáng tác thơ ca cũng thế, nếu chỉ dụng công để được cái hoa lệ ở hình thức mà thiếu sự ký thác chân tình thực cảm thì có khác nào việc người nước

Vệ tốn bao nhiêu công sức và tinh lực để khắc hình khỉ trên đầu mũi gai, có thành công cũng chẳng hữu ích gì mà chỉ hưởng hư vinh tạm thời :

Trang 27

sắc của Tây Thi, người con gái xấu xí không thể học cách nhăn mày của Tây Thi Người đất Hàm Đan có dáng đi đẹp, ấy là bản sắc, là thiên tính của người Hàm Đan, người đất Thọ Lăng không thể học dáng đi của họ [99, tr.878, 1724], vì như

thế là đánh mất “thiên chân”, trái với tự nhiên Thơ là tiếng nói của cái chí (ngôn chí), cái tình (duyên tình) - tức cái riêng ở mỗi người, do vậy không cần phải mượn

lời ở ngoài ta, không mượn người khác nói hộ lòng mình :

“Xú nữ lai hiệu tần, Hoàn gia kinh tứ lân

Thọ Lăng thất bản bộ, Tiếu sát Hàm Đan nhân.”

(Người con gái xấu xí đến học cách nhăn mày, Trở về làm chung quanh kinh sợ

Người Thọ Lăng mất dáng đi vốn có, Cười chết người Hàm Đan)

(Cổ phong 35) Dùng hai điển cố “Xú nữ hiệu tần” và “Thọ Lăng thất bộ” trong sách Nam hoa

kinh, Lý Bạch chế giễu sâu cay những kẻ tự đánh mất thiên chân, nhắm mắt đeo đuổi

người khác trong sáng tác Đây cũng là biểu hiện của thứ thi phong chuyên chú vào

việc tầm chương trích cú, dùng điển cố cầu kỳ sáo rỗng mà thiếu sự ký thác chân tình,

chân tâm, chân thú của thi nhân đương thời Lưu Hiệp đã từng nói : “Cố vị tình giả,

yếu ước nhi tả chân; vị văn giả, dâm lệ nhi phiền lạm” ((Thơ ca) vì tình mà sáng tác

cốt gọn gàng và chân thực; vì văn mà viết thì hoa lệ quá đáng, rắc rối thừa thải - Văn

tâm điêu long- “Tình thái”) [119, tr.385] Có thể xem loại thơ văn chuyên chú vào

hình thức mà Lý Bạch muốn phê phán này chính là loại “vị văn nhi tạo tình” (Vì văn (hình thức) mà tạo ra tình), tất nhiên cái tình ở đây sẽ sống sượng và không chân thực

Trên thực tế, chủ trương chống bắt chước của Lý Bạch không hề mâu thuẫn với sự kế thừa và phát huy tinh hoa của nền văn học truyền thống Chủ trương khôi

Trang 28

phục đạo xưa của Lý Bạch thực chất là sự kế thừa truyền thống văn học vốn có từ

Kinh Thi, qua Sở từ đến văn học thời kỳ Kiến An, Ngụy Tấn - Nam Bắc Triều Kế

thừa nhưng sáng tạo - đấy chính là nét đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác của Lý Bạch

Thanh, chân là hai tiêu chuẩn cụ thể về cái đẹp tự nhiên trong quan niệm của

Lý Bạch nhưng chúng không hề đối lập với tiêu chuẩn mỹ Nhận định của Chu Hy

đã nêu được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chân và mỹ của phong cách thơ Lý

Bạch : “Lý Bạch thi, phi vô pháp độ, nãi thung dung vu pháp độ chi trung” (Thơ

Lý Bạch không phải là không có pháp độ, mà ung dung giữa lòng pháp độ vậy -

Chu tử ngữ loại) Trung Quốc thi học thông luận giải thích, “pháp độ” chính là

cách cấu tứ, chương pháp, luyện từ, luyện câu, luyện ý [138, tr.333] Có thể nói, cái đẹp tự nhiên mà thơ Lý Bạch vươn đến và thực tế đã đạt được là kết tinh của một tài năng nghệ thuật ở mức thượng thặng, những biện pháp nghệ thuật đã trở

thành máu thịt, thấm nhuần trong ngòi bút Lý Bạch, là kết quả của một sự đẽo gọt

không còn dấu vết của sự đẽo gọt Ông không hề phản đối “lệ từ”, không hề coi

thường thanh luật, chỉ phản đối những sáng tác lấy hình thức làm cứu cánh Đỗ Phủ cũng rất tâm đắc điểm này, và ở đây Thi Tiên đã gặp Thi Thánh :

“Bất bạc kim nhân ái cổ nhân, Thanh từ lệ cú tất vi lân.”

(Yêu thích người xưa, không coi thường người nay, Thân cận với từ ngữ trong sáng, câu thơ đẹp.)

(Hí vi lục tuyệt cú, bài 5)

“Thanh từ” và “lệ cú” không mâu thuẫn, không loại trừ nhau, ngược lại còn

bổ sung cho nhau, cùng tôn vinh nhau để đạt đến chỗ “lời không làm kinh người chết không yên lòng” mà Đỗ Phủ đã tự hào thừa nhận Trong quan điểm văn học

Trang 29

sử, Đỗ Phủ không chỉ đề cao Kinh Thi mà đối với một số nhà thơ thời Lục Triều,

ông còn có thái độ tán thưởng, chẳng hạn nét thanh tân tự nhiên trong thơ Dữu Tín, phong thái tuấn dật trong thơ Bão Chiếu Đỗ Phủ cho rằng, thơ Lý Bạch đã gồm

thâu được nét tinh hoa của các nhà thơ ấy Bài Xuân nhật ức Lý Bạch của Đỗ Phủ có

lẽ là lời đánh giá sớm nhất trong lịch sử phê bình văn học Trung Quốc về phong cách thơ Lý Bạch :

“Thơ Lý Bạch ai mà dám sánh,

Tứ siêu quần hùng mạnh phiêu diêu

Thảnh thơi Bão Chiếu cao siêu, Dữu Tín mới mẻ lại nhiều vẻ tươi.”

(Bản dịch của Phan Ngọc)

1.1.2 Khôi phục đạo xưa

Mạnh Khải trong Bản sự thi có một đoạn ghi chép lời của Lý Bạch : “Kỳ

luận thi vân : Lương Trần dĩ lai, diễm bạc tư cực Thẩm Hưu Văn hựu thượng dĩ thanh luật Tương phục cổ đạo, phi ngã nhi thuỳ ?” ((Lý Bạch) luận về thơ rằng :

Từ thời Lương Trần trở lại đây, đẹp đẽ mà nhạt nhẽo Thẩm Ước lại quá chú trọng thanh luật Khôi phục đạo xưa, ngoài ta thì là ai?) [131, tr.242] Bổ sung cho đoạn

ghi chép này, Lý Bạch có bài Cổ phong 1, sáng tác vào thời kỳ thanh niên trình bày

quan điểm phục cổ của ông Ngay câu thơ mở đầu, Lý Bạch đã than phiền rằng lâu

nay sáng tác của văn nhân đã xa rời truyền thống “Phong Nhã” của Kinh Thi :

“Đại Nhã cửu bất tác, Ngô suy cánh thuỳ trần ?”

(Lâu rồi không làm thơ Đại Nhã,

Ta yếu lấy ai mà trình bày.)

Trang 30

Với điển cố lấy từ Lễ Ký - Vương chế : “Mệnh thái sư trần thi dĩ quan dân

phong” (Lệnh cho Thái sư trình bày thơ để quan sát cuộc sống nhân dân) [99, tr.1103], Lý Bạch chủ trương thơ ca phải quan tâm miêu tả hiện thực cuộc sống,

quan tâm chính trị Nhã vốn là một trong “Lục nghĩa” của Kinh Thi mà Mao thi tự

đã tổng kết : “Thơ có sáu nghĩa, một là phong, hai là phú, ba là tỷ, bốn là hứng,

năm là nhã, sáu là tụng” Giải thích thêm chữ Nhã, Mao thi tự còn viết : “Nhã giả,

chính giả Ngôn vương chính sở do phế hưng dã” (Nhã là ngay thẳng vậy Nói những thịnh suy hưng phế của nền chính trị vương đạo vậy) Trong quan niệm của

những người viết Mao thi tự, về cơ bản Nhã nhất trí với Phong : “Phong, phong dã,

giáo dã Thượng dĩ phong hoá hạ, hạ dĩ phong thích thượng Ngôn thiên hạ chi sự, hình tứ phương chi phong, vị chi nhã” (Phong, là phong tục, là giáo hoá vậy Bề

trên dùng Phong để giáo hoá kẻ dưới Kẻ dưới dùng Phong để phúng thích bề trên

Nói chuyện thiên hạ, gây dựng phong tục bốn phương, gọi là Nhã) [138, tr 64 - 65] Như vậy, theo quan niệm văn học của nhà Nho, “Thi giáo” - tức Phong Nhã là

nhằm cường điệu mục đích giáo hoá và ý nghĩa phúng thích của Kinh Thi (cũng là

của thơ nói chung) Lý Bạch than phiền lâu nay văn nhân không làm thơ Đại Nhã,

về thực chất có lấy “Thi giáo thuyết” làm nền tảng để phê phán loại thơ chuộng hình thức, uỷ mỵ, diễm tình và đặc biệt là thứ thơ phụng hoạ, thù tạc trên thi đàn

đương thời Lý Bạch cực lực đề cao Kinh Thi, gọi nó là “Chính thanh” (thanh âm chân chính - tức những sáng tác chân chính) Theo Lý Bạch, sau Kinh Thi, sáng tác

của văn nhân dần dần đã xa rời “Chính thanh” : “Cái thanh âm chân chính sao suy

vi mơ hồ” (Chính thanh hà vi mang) và do vậy “hiến chương cũng trầm luân”

(Hiến chương diệc dĩ luân - Cổ phong 1) Ông bày tỏ sự bất mãn với việc sáng tác của Khuất Nguyên quá lâm ly ai oán (Ai oán khởi Tao nhân - Cổ phong 1); thơ phú

của Dương Hùng, Tư Mã Tương Như thì quá hoa lệ và sáo rỗng (Dương Mã kích

đồi ba - Dương Hùng, Tư Mã Tương Như khơi làn sóng đồi phế - Cổ phong 1)

Trang 31

Đặc biệt là thơ từ sau thời kỳ Kiến An thì Lý Bạch có thái độ phủ nhận khá dứt khoát :

là thanh chân như nửa sau bài Cổ phong 1, ông tán dương cái phong khí chuộng

thanh chân của thời đại “vua thánh” :

“Thánh đại phục nguyên cổ, Thuỳ y qúy thanh chân.”

(Thời đại vua thánh khôi phục đạo xưa,

Rủ áo cai trị, trọng trong sáng và chân thực)

Các nhà nghiên cứu đương đại tỏ ra nghi ngờ cái mà Lý Bạch gọi là “thời đại thánh vương”, cũng nghi ngờ nốt cái “nhân tài được phát triển bình yên và tươi sáng” (Quần tài thuộc hưu minh) và “văn chất soi sáng cho nhau” (Văn chất tương bĩnh hoán) [137, tr.201] Có người còn cho rằng, đây chẳng qua là “tác phẩm „đại ngôn‟ của một Lý Bạch thời thanh niên, không nên quá tin vào sự chân thực của nó” [120, tr.402] Nhưng bất luận những ý kiến của Lý Bạch phù hợp hay không phù hợp thực tế, người ta vẫn thừa nhận rằng, đó là một khuynh hướng thẩm mỹ mang tính lý tưởng mà Lý Bạch muốn tuyên dương, thể hiện một sự quan tâm đối với cuộc đời ở một con người vốn được xem là điển hình của ý thức cá nhân luôn luôn muốn vẫy vùng để thoát khỏi những gông cùm phong kiến

Có liên quan đến chủ trương khôi phục đạo xưa của Lý Bạch, Bản sự thi còn

ghi : “Lý Bạch thường vị, hứng ký thâm vi, ngũ ngôn bất như tứ ngôn, thất ngôn hựu kỳ mị dã” (Lý Bạch từng nói, tỷ hứng ký thác thâm sâu, ngũ ngôn không như

Trang 32

tứ ngôn, thất ngôn lại quá hoa lệ) Vấn đề thứ nhất của đoạn ghi chép này (hứng ký thâm vi) không gây ra nhiều tranh cãi, vì nó phù hợp với chủ trương khôi phục truyền thống Phong Nhã của Lý Bạch Vấn đề nảy sinh là ở “ngũ ngôn bất như tứ ngôn, thất ngôn hựu kỳ mị” Các nhà nghiên cứu đương đại cảm thấy vô cùng khó khăn khi lý giải mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn sáng tác của Lý Bạch Chẳng hạn, La Tông Cường băn khoăn : “Ông (Lý Bạch) cho rằng, tứ ngôn là hình thức thơ tốt nhất, thế tại sao trong sáng tác của mình, ông lại ít dùng thể thơ này?” Quảng Kiện Hành thì khẳng định, không phải Lý Bạch tự mâu thuẫn giữa lý luận

và thực tiễn sáng tác mà vì Mạnh Khải ghi chép không chính xác [120, tr.342] Viên Hành Bái lại cho là ghi chép của Mạnh Khải về cơ bản phù hợp với chủ trương thơ ca của Lý Bạch [138, tr.335] Thực tế trong toàn bộ sáng tác của Lý

Bạch, thơ tứ ngôn vừa ít về số lượng (chỉ có 5/961 bài theo Lý Bạch toàn tập

[117]), chất lượng nội dung và nghệ thuật lại không phải là những sáng tác tiêu biểu Do vậy, nói Mạnh Khải ghi chép không chính xác hay Lý Bạch tự mâu thuẫn rất khó thuyết phục; nói nó phù hợp với chủ trương sáng tác của Lý Bạch cũng hơi khiên cưỡng Có lẽ, Lý Bạch nói “ngũ ngôn bất như tứ ngôn, thất ngôn hựu kỳ mị” không nhằm nêu sự hơn kém về hình thức thể loại mà tứ ngôn là nhằm chỉ cho

Kinh Thi, ngũ và thất ngôn là nhằm chỉ cho thơ ca từ sau thời Kiến An đến Nam

Bắc Triều, Sơ Đường với đặc trưng là “ỷ lệ” Hơn nữa, mệnh đề trước “Hứng ký thâm vi” đã nêu rõ cách đặt vấn đề của Lý Bạch Ông muốn nêu lên một thực trạng : Truyền thống tỷ hứng ký thác trong thơ từ thời Kiến An trở lại đây không thể so

được với Kinh Thi Điều này đã được Lưu Hiệp làm sáng tỏ trong Văn tâm điêu

long trước đó : “Nhược phù tứ ngôn chính thể, tắc nhã nhuận vi bản, ngũ ngôn lưu

điệu, tắc thanh lệ cư tông” (Nói chung, thơ tứ ngôn là chính thể, lấy thanh nhã êm dịu làm gốc Thơ ngũ ngôn lưu hành và cách điệu, lấy thanh tân hoa lệ làm tông chỉ

- “Minh thi”) [119, tr.65]

Trang 33

Trước Lý Bạch, Trần Tử Ngang là người giương cao ngọn cờ hứng ký, phong nhã trên thi đàn Sơ - Thịnh Đường khi ông phê phán thi phong hình thức chủ nghĩa: “Văn chương đạo tệ, ngũ bách niên hĩ Hán Ngụy phong cốt, Tấn Tống mạc truyền Bộc thường hạ quan Tề Lương gian thi, thái lệ cánh phồn nhi hứng

ký đô tuyệt Thường khủng uy dĩ đồi mị, phong nhã bất tác” (Cái tệ của văn chương đã năm trăm năm rồi Phong cốt thời Hán Ngụy đến đời Tấn Tống thì mất( ) Ta từng nhân lúc rỗi xem thơ thời Tề Lương, phần nhiều hoa lệ đẹp đẽ mà

tỷ hứng ký thác tận tuyệt, thường e rằng quá quanh co uốn lượn, bạc nhược mà

không sáng tác phong nhã - Tu trúc thiên tự) [105, tr.220] Hứng, tức hưng phấn, phấn phát; ký, tức ký thác tâm tình Với chủ trương này, Trần Tử Ngang muốn phê

phán sự quá hoa lệ, quá đẹp đẽ của thơ ca nhưng thiếu tâm tình, thiếu ý thức xã hội của thi nhân từ thời Tấn - Tống đến Sơ Đường

Cũng như Phong Nhã, Tỷ Hứng là hai phạm trù trong Lục nghĩa của Kinh

Thi, vốn là những thủ pháp nghệ thuật cơ bản được các các tác giả dân gian vận

dụng để trình bày tình cảm Sách Chu lễ ghi : “Tỷ giả, tỷ phương vu vật” (Tỷ là ví

với vật); “Hứng giả, thác sự vu vật” (Hứng là ký thác sự việc (định nói) vào vật), tựu trung là những biện pháp ngôn từ nhằm tăng tính ẩn nghĩa, hàm súc Sau này, khi “Thi giáo thuyết” thịnh hành thì tỷ và hứng mới gắn chặt sinh mệnh của nó vào quan điểm “mỹ thích”, cho nên trong kho tàng lý luận văn học của Nho gia có khái niệm “mỹ thích tỷ hứng” [94, tr.11] Phong kiến đời Hán vô cùng đề cao chức năng giáo hoá của thơ ca : “Kinh phu phụ, thành hiếu kính, hậu nhân luân, mỹ giáo hoá,

di phong tục” (Chỉnh đốn phu phụ, lập điều hiếu kính, đầy đặn nhân luân, đẹp đẽ

giáo hoá, thay đổi phong tục - Mao thi tự) Thơ ca phải phúng thích, châm biếm

(thích) nền chính trị, sự tu dưỡng đạo đức của người quân tử để làm cho nó trở

nên đẹp (mỹ) Sách Chu lễ chú của Trịnh Huyền đời Hán càng nói rõ hơn về tỷ và

hứng : “Tỉ, xem điều chưa được, không dám nói lời chê trách, dùng tỉ để nói Hứng, thấy điều tốt đẹp, ngại nói những điều tán dương đẹp đẽ, giữ lấy điều tốt

Trang 34

dùng ví von để khích lệ” [120, tr.402] Rõ ràng, các nhà chú giải đã cố tình biến một thủ pháp nghệ thuật ngôn từ thành một phương thức, một hành vi gắn liền với

(Hiệu cổ - bài 2)

Cát Hiểu Âm cho rằng, từ thời Nam Bắc triều đến Đường, Đại Nhã trong quan niệm của các thi nhân là “tụng mỹ” [103, tr.48] Điều này đúng với Lý Bạch

khi trong bài Cổ phong 35 ông viết : “Đại Nhã tư Văn Vương, Tụng thanh cửu

băng luân” (Ngâm thơ Đại Nhã nhớ Văn Vương, Lời ca tụng đã suy đồi chìm đắm lâu rồi) Tuy không nhiều nhưng trong thơ Lý Bạch ta vẫn bắt gặp một số dòng thơ

mang tính “tụng mỹ” Chẳng hạn bài nhạc phủ Quân tử hữu sở tư hành :

“Triều dã thịnh văn vật,

Y quan hà hấp hấp.”

(Văn vật ở triều đình thôn dã đều thịnh,

Áo mũ sao mà thuận hoà rực rỡ.) Lời ca tụng cảnh thái bình thịnh trị thời Khai Nguyên, nào là văn vật thịnh vượng, nào là quan lại thuận hoà nghe ra có phần lạc lõng trong toàn bộ sáng tác của Lý Bạch Nó ít nhiều phù hợp với quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị vốn là hạt nhân của quan điểm văn nghệ Nho giáo Văn phong ai oán, đồi phế, ỷ lệ hoặc hào hùng, mạnh mẽ đều là sự phản ánh những được mất, hưng vong của nền chính trị Công bằng mà nói, đây cũng là một nhận thức có tính phổ biến dưới thời Thịnh Đường, đặc biệt ở các “đại gia” Đỗ Phủ cũng đề cao phong nhã theo ý nghĩa

Trang 35

trên và đối lập với nó là “ngụy thể” - tức thơ ca hình thức chủ nghĩa, thiếu ký thác, thiếu “mỹ thích” : “Biệt tiệt ngụy thể thân phong nhã” (Cắt đứt thể cách hư ngụy

sáo rỗng, tiếp cận phong nhã - Hí vi lục tuyệt cú, bài 6)

Thực tế sáng tác của Lý Bạch cho thấy, việc ông dùng tỷ hứng với chức năng “khuyến dụ” chiếm vị trí cực kỳ khiêm tốn mà chủ yếu với tư cách là một thủ

pháp nghệ thuật, đặc biệt ở những bài thơ cổ thể như Cổ phong ngũ thập cửu thủ,

Nghỉ cổ thập nhị thủ, Cảm hứng bát thủ, một số bài nhạc phủ như Thục đạo nan, Viễn biệt ly, Hành lộ nan, Lương phủ ngâm Xét về nội dung biểu đạt, những bài

thơ này ít nhiều có liên quan đến việc châm biếm thời sự nhưng cảm hứng chủ đạo vẫn là trình bày tâm trạng và hoài bão cá nhân Cho nên Bạch Cư Dị mới đánh giá thơ Lý Bạch : “Sáng tác của Lý Bạch thật tài, thật kỳ, người khác khó đạt đến Nhưng tìm phong nhã tỷ hứng, mười bài không có một” [95, tr.1057] Tô Triệt đời Tống cũng đồng tình với Bạch Cư Dị : “Thơ Lý Bạch hoa lệ mà không chân thực, hiếu sự, thích danh, không hiểu được cái nghĩa lý ở trong thơ” [95, tr.1058] Những đánh giá này khá cực đoan song phần nào nêu được thực chất của việc sử dụng tỷ hứng trong phong cách thơ Lý Bạch Dường như Lý Bạch dùng tỷ hứng gần với cách giải thích thứ nhất của Trịnh Huyền (Tỉ là ví với vật, hứng là ký thác ở vật) hơn là cách giải thích thứ hai cũng của chính Trịnh Huyền : Tỷ để chê trách điều chưa được, hứng là để khích lệ điều tốt đẹp (đã dẫn ở trước) Cách giải thích này lại đặc biệt phù hợp với quan niệm thơ ca và thực tiễn sáng tác của Bạch Cư Dị :

“Duy ca dân sinh bệnh, Nguyện đắc thiên tử tri.”

(Chỉ ca những tệ bệnh của dân sinh, Nguyện để thiên tử biết.)

(Ký Đường Sinh)

Đứng trên lập trường văn nghệ này, việc Bạch Cư Dị phê thơ Lý Bạch

không có chút phong nhã tỷ hứng tất nhiên không thể không phiến diện

Trang 36

Trong sáng tác của Lý Bạch, khái niệm hứng xuất hiện khá nhiều nhưng

tuyệt đại đa số trường hợp nó mang ý nghĩa hứng thú, là sự khởi hứng trong tình cảm con người được thiên nhiên ngoại vật kích động, như :

“Tam sơn động dật hứng”

(Vùng Tam Sơn kích động hứng thơ phiêu dật)

(Dữ tùng điệt Hàng Châu thích sử Lương du Thiên Lan tự)

“Câu hoài dật hứng tráng tứ phi”

(Lòng mang theo hứng thơ phóng dật, tứ thơ hùng mạnh tung bay)

(Tuyên Châu Tạ Diểu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân)

“Hứng hàm lạc bút dao Ngũ Nhạc”

(Hứng lên trong lúc say hạ bút làm rung động cả Ngũ Nhạc)

(Giang thượng ngâm)

Hiểu tỷ hứng như là một thủ pháp nghệ thuật thuần thuý nhằm biểu hiện thế giới tâm hồn con người hơn là một phương thức khuyến dụ nghĩa lý, Ngô Kiều đời Thanh chê Tô Triệt “không biết thơ”, “không hiểu tỷ hứng” vì ông này cho rằng Lý Bạch “bất tri nghĩa lý” (đã trích dẫn) Thậm chí Ngô Kiều còn cho rằng, tất cả những vần thơ du tiên, du hiệp, ẩm tửu của Lý Bạch đều là hứng, ký [95, tr.1067] Thực ra, trong một số bài thơ cổ thể đặc sắc, Lý Bạch đã đề cập đến nhiều nội dung xã hội, nhưng để đạt đến chỗ chỉnh đốn các quan hệ xã hội như quan điểm văn học Nho giáo yêu cầu thì quả thật là vô cùng hiếm hoi Về đại thể, thơ Lý Bạch khác với Tạ Linh Vận, Bão Chiếu (Nam Bắc triều), Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên (Đường) ở chỗ mang nội dung xã hội, qua nội dung xã hội để trình bày tâm trạng cá nhân Thơ Lý Bạch cũng khác thơ Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị sau này ở chỗ không lấy việc phê phán và cải tạo cuộc sống làm mục đích cao nhất cho sáng tác

Trong tiến trình phát triển của lịch sử lý luận phê bình văn học Trung Quốc,

từ “Thi ngôn chí” (Thượng thư), “Phát phẫn thuyết” của Tư Mã Thiên, “Thi duyên

Trang 37

tình” của Lục Cơ, đến “Bất bình tắc minh” của Hàn Dũ cho dù cách giải thích bản chất của thơ ca không hoàn toàn thống nhất nhưng hầu như các tác giả đều thừa nhận một điểm cơ bản : Thơ ca phải biểu hiện thế giới tâm hồn chủ quan của người nghệ sĩ Sáng tác của Lý Bạch là sự minh chứng đến độ trọn vẹn quan điểm sáng tác truyền thống này Và cũng không ít lần, Lý Bạch tuyên dương thơ ca là một phương tiện giải buồn, phát tiết những uất ức của con người :

“Bình Đài vi khách ưu tư đa, Đối tửu toại tác Lương Viên ca.”

(Làm khách Bình Đài nhiều ưu tư, Trước rượu viết bài ca Lương viên.)

(Lương Viên ngâm)

Từ cảm giác lưu lạc, nổi nênh khi làm khách ở chốn quê người tất sẽ gợi hứng cho việc cảm nhận nhân thế vật đổi sao dời và thi nhân múa bút ghi nỗi buồn để lại cho hậu thế Cuộc đời như mộng, vinh hoa phú quý như mây nổi, tất cả đều tạm bợ, chóng tàn, duy chỉ có tiếng lòng của con người gởi gắm vào thơ ca là có thể trường tồn :

“Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt,

Sở vương đài tạ không sơn khâu.”

(Từ phú Khuất Nguyên treo mãi cùng mặt trời mặt trăng, Lâu đài vua Sở đã thành đống gò trơ trụi.)

(Giang thượng ngâm)

Đôi khi Lý Bạch còn thừa nhận rằng thơ ca là sự ca tụng cuộc sống siêu thoát ngoài vòng thế tục, là phương tiện để luận bàn về những lý lẽ huyền diệu của

vũ trụ :

“Hào mặc thời sái lạc, Thám huyền hữu kỳ tác.”

Trang 38

(Thoải mái vung bút mực, Lời kỳ lạ luận bàn huyền lý.)

(Tặng Sầm Liêu Tử)

Đây là sự bình giá của Lý Bạch đã đối với thơ ca của Sầm Liêu Tử, kỳ thực trong thơ Lý hầu như vắng bóng chuyện bàn suông về huyền học Thuần tuý là một lời bình phẩm, nó không mâu thuẫn với thực tiễn sáng tác vì có thể nó không hợp với cá tính sáng tạo của Lý Bạch Trong muôn vàn con đường để tiếp cận với nghệ thuật chân chính, Lý Bạch biết chọn cho mình một con đường sáng tạo của riêng ông Lý Bạch không thích sáng tác của Khuất Nguyên vì nó quá lâm ly ai oán nhưng vẫn khẳng định vị trí, vai trò của Khuất Nguyên và không che giấu rằng mình đã học tập được nhiều ở nhà thơ tiền bối này Ông phê phán thơ ca Nam Bắc triều “không lấy gì làm qúi” nhưng ông vẫn tiếp thu nhiều ở thơ ca Tạ Linh Vận (385 - 433) - một nhà thơ thời Lưu - Tống và đặc biệt yêu thích danh cú “Trì đường

sinh xuân thảo” (Cỏ xuân mọc ở bờ ao - Đăng trì thượng lâu) của Tạ vì nó phù hợp

với tiêu chuẩn cái đẹp tự nhiên mà ông theo đuổi Không dưới hai lần ông đã đưa danh cú này vào thơ của mình :

“Mộng đắc trì đường sinh xuân thảo”

(Tặng tùng đệ Nam Bình thái thú Chi Dao)

“Ưng đắc trì đường sinh xuân thảo”

(Tặng xá đệ)

Đặc biệt, Lý Bạch rất đề cao sáng tác của Tạ Diểu (464 - 499), một nhà thơ Nam Tề Chung Vinh đã từng nhận xét rằng, thơ Tạ Diểu vừa “thanh” (trong sáng); vừa “lệ” (đẹp đẽ) Lý Bạch tôn sùng thơ Tạ Diểu chủ yếu ở “thanh” chứ không ở

“lệ” như ông đã từng nói : “Thơ đến Tạ Diểu thì đã trong sáng” Đây là thái độ hết sức công bằng khi bình giá và tiếp thu di sản văn học quá khứ của Lý Bạch

1.1.3 Đề cao phong cốt

Trang 39

“Phong cốt” vốn là khái niệm được các danh sĩ thời Ngụy Tấn - Nam Bắc triều dùng để phẩm bình phong độ và cốt cách người đương thời Lưu Hiệp là người đầu tiên đưa khái niệm này thành một tiêu chuẩn thẩm mỹ trong sáng tác văn

học Văn tâm điêu long đã dành hẳn một chương để bàn về nó, Phan Ngọc dịch là

“phong thái và cốt cách” [28, tr.74] Tưởng Phàm trong Trung Quốc cổ đại văn

luận giáo trình đã đưa ra rất nhiều ý kiến khác nhau của giới học thuật Trung Quốc

giải thích “phong cốt”, như ý kiến của Hoàng Khản : “phong tức ý nghĩa của văn chương”, “cốt tức ngôn ngữ của văn chương”, đại khái “phong” thuộc phạm trù nội dung, “cốt” thuộc phạm trù hình thức Lưu Vĩnh Tế lại cho rằng “phong” là tính tình và chí hướng, “cốt” là ý nghĩa của sự việc Sau cùng, Tưởng Phàm xác định :

“Phong là tình cảm và chí hướng”, “cốt là sự việc đủ nghĩa, mạch lạc” Tựu trung, tình cảm và chí hướng đầy đủ, sự việc rõ ràng, mạch lạc tạo nên “phong cốt” của tác phẩm, kết hợp với một hình thức đẹp bên ngoài (thái), tác phẩm văn học sẽ trở nên hoàn thiện [113, tr 132] Lưu Hiệp đã chỉ rõ mối quan hệ này : “Nhược phong cốt phiếm thái, tắc chí tập hàn lâm, thái phiếm phong cốt, tắc trĩ soán văn hựu Duy tảo diệu nhi cao tường, cố văn bút chi minh phượng dã” (Nếu có phong cốt mà thiếu màu sắc thì như con ó trong rừng bút Có màu sắc mà thiếu phong cốt thì như con gà rừng nhảy trong vườn văn Chỉ có vừa đẹp đẽ mà vừa bay cao thì mới là phượng hoàng kêu trên văn đàn vậy - “Phong cốt”) [119, tr.352] Đề cao phong cốt

và bên cạnh đó là “lệ từ”, Lưu Hiệp nhằm phản đối cái tệ bệnh của văn phong thời

Tề Lương, đề cao truyền thống thơ hiện thực, ký thác tâm tình và phong cách đẹp

khoẻ khoắn của thơ ca vốn có từ Kinh Thi và đặc biệt là thơ ca thời Hán Ngụy

Quan điểm này được kế thừa với khái niệm “Kiến An phong lực” của Chung Vinh, đại thể ý nghĩa tương đồng với “Kiến An phong cốt” mà các nhà thơ đời Đường sử dụng sau này

Chung Vinh trong Thi phẩm đề cao thơ văn của các văn nhân thời Kiến An

(196 - 220), bao gồm sáng tác của Tam Tào phụ tử (Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực)

Trang 40

và “Kiến An thất tử”, trong đó đặc biệt đề cao Tào Thực, gọi Thực là “Kiến An chi kiệt” (anh kiệt thời Kiến An) với lời tán dương : “Thơ Tào Thực bắt nguồn từ Quốc phong, cốt khí cao diệu, văn từ đẹp đẽ, rực rỡ” [138, tr.362] Đây chính là tiêu chuẩn để Chung Vinh liệt Tào Thực vào hàng Thượng phẩm

Trên thi đàn Sơ - Thịnh Đường, sau Trần Tử Ngang giương cao ngọn cờ khôi phục phong cốt thời Hán Ngụy, Lý Bạch là người kế thừa tích cực nhất Sáng tác của Lý Bạch nhiều lần nhắc đến các nhà thơ Kiến An, trong đó nhiều nhất vẫn

là Tào Thực Lý Bạch rất hâm mộ phong thái cốt cách và sự nghiệp thơ văn của

Tào Thực Như trong Tương tiến tửu :

“Trần Vương tích thời yến Bình Lạc, Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước.”

(Xưa Trần Vương yến nơi Bình Lạc, Rượu tiền muôn đùa cợt tha hồ.”

(Hoàng Tạo và Tương Như dịch)

Cả hai câu gần như vận dụng nguyên ý thơ “Ngã quy yến Bình Lạc, Mỹ tửu

đấu thập thiên” trong Danh đô thiên của Tào Thực Nhưng Lý Bạch bàn về “Kiến

An phong cốt” thì không quá một lần, mà lại gián tiếp :

“Bồng lai văn chương Kiến An cốt, Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát.”

(Văn chương cung Bồng lai, phong cốt đời Kiến An, Trong đó Tiểu Tạ càng thanh tao rất mực.)

Đây là lời Lý Bạch tán dương Tạ Diểu, cho rằng thơ Tạ đã kế thừa được phong thái, cốt cách thời kỳ Kiến An Dường như Lý Bạch cũng chẳng quan tâm giải thích gì thêm về vấn đề này, bởi ông là nhà thơ chứ không hề là nhà lý luận, muốn hiểu đến ngọn ngành thì đã có sáng tác chứng minh

Trong thơ của các nhà thơ thời Đường, chúng ta dễ dàng bắt gặp khuynh hướng tôn sùng thơ ca thời đại Kiến An Tuy cách gọi của mỗi người mỗi khác

Ngày đăng: 12/03/2021, 21:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Nguyễn Sĩ Lâm dịch (1974), Sở từ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở từ
Tác giả: Đào Duy Anh, Nguyễn Sĩ Lâm dịch
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1974
2. Phạm Hải Anh (1996), Thơ tứ tuyệt Lý Bạch - Phong cách và thể loại, Luận án PTS, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tứ tuyệt Lý Bạch - Phong cách và thể loại
Tác giả: Phạm Hải Anh
Năm: 1996
3. Bùi Thanh Ba (1962), “Đỗ Phủ, nhà thơ châm biếm và đả kích”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11/1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Phủ, nhà thơ châm biếm và đả kích”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Bùi Thanh Ba
Năm: 1962
4. Bùi Thanh Ba (1962), “Bạch Cƣ Dị, nhà thơ và nhà lý luận thơ ca”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4/1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạch Cƣ Dị, nhà thơ và nhà lý luận thơ ca”, Tạp chí" Nghiên cứu văn học
Tác giả: Bùi Thanh Ba
Năm: 1962
5. Bùi Thanh Ba (1964), “Lý Bạch, nhà thơ lãng mạn thiên tài”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5/1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Bạch, nhà thơ lãng mạn thiên tài”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Bùi Thanh Ba
Năm: 1964
6. Bakhtin.M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Người dịch : Phạm Vĩnh Cư, Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin.M
Năm: 1992
7. Bakhtin.M. (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Dostoievxki, Người dịch : Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Dostoievxki
Tác giả: Bakhtin.M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
8. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ Thơ Đường , Người dịch : Trần Đình Sử, Lê Tẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ngôn ngữ Thơ Đường
Tác giả: Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
9. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1990), Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
10. Trương Chính chủ biên (1963), Lịch sử văn học Trung Quốc, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Trương Chính chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1963
11. Trương Chính chủ biên (1971), Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Trương Chính chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971
12. Nguyễn Đình Chú (1999), “Vấn đề ngã và phi ngã trong văn học Việt Nam trung cận đại”, Tạp chí V ăn học, số 5/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ngã và phi ngã trong văn học Việt Nam trung cận đại”, Tạp chí V"ăn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1999
13. Dƣ Quán Anh, Tiền Chung Thƣ, Phạm Ninh chủ biên (1995), Lịch sử văn học Trung Quốc, 3 tập, Người dịch : Lê Huy Tiêu, Lê Đức Niệm..., Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Dƣ Quán Anh, Tiền Chung Thƣ, Phạm Ninh chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
14. Tầm Dương (1989), “Hữu vô tương tác trong thi pháp Tản Đà”, Tạp chí Văn học, số 3, tháng 5 + 6/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu vô tương tác trong thi pháp Tản Đà”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Tầm Dương
Năm: 1989
15. Nguyễn Sĩ Đại (1996), Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường
Tác giả: Nguyễn Sĩ Đại
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
16. Đàm Gia Kiện (1993), Lịch sử văn hoá Trung Quốc, Người dịch : Trương Chính, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hoá Trung Quốc
Tác giả: Đàm Gia Kiện
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
17. Quang Đạm (1994), Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1994
18. Lý Phúc Điền (1998), Thơ Đường và Từ Tống, Nxb Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đường và Từ Tống
Tác giả: Lý Phúc Điền
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1998
19. Hà Minh Đức chủ biên (1995), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
20. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w