Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đãkết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai tròquyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2 CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 3 1.1 Quan điểm của các nhà triết học phương Đông về bản chất con người 3 1.2 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 4 2.1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 4 1.2.2 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI KỲ TRUNG CỔ VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 4 1.2.3 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI (HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA TƯ BẢN) VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 4 1.2.4 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI HIỆN ĐẠI VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 6 CHƯƠNG II QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
7
2.1 CON NGƯỜI LÀ MỘT THỰC THỂ THỐNG NHẤT GIỮA MẶT SINH VẬT VỚI MẶT XÃ HỘI 7 2.2 TRONG TÍNH HIỆN THỰC CỦA NÓ, BẢN CHẤT CON NGƯỜI LÀ TỔNG HÒA NHỮNG QUAN HỆ XÃ HỘI 8 2.3 CON NGƯỜI LÀ CHỦ THỂ VÀ LÀ SẢN PHẨM CỦA LỊCH SỬ 9 2.4 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TRONG CUỘC CÁCH MẠNG TRI THỨC 10 CHƯƠNG III ỨNG DỤNG LÝ LUẬN BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀO TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 13 3.1 VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 13
Trang 23.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 14 3.2.1 ƯU ĐIỂM CỦA NỀN GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 15 3.2.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ CÒN TỒN TẠI 16 3.2.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16 3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI Ở VIỆT NAM 17 3.3.1 ĐÀO TẠO TRƯỚC ĐÒI HỎI CỦA KINH TẾ TRI THỨC 17 3.3.2 CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐỂ ĐẨY NHANH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 18 KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xungquanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người Trước Các Mác, vấn đề bản chấtcon người chưa được giải đáp một cách khoa học Khi hình thành quan niệm duy vật
về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làmnên lịch sử của con người
Bằng sự phát triển sự phát triển toàn diện thì con người vừa là mục tiêu vừa là độnglực phát triển lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năngchiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo rangày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy conngười tự hoàn thiện chính bản thân họ Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đãkết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai tròquyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quátrình lịch sử, của tiến bộ xã hội Đặc biệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độnền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra trithức mới, chứa đựng những tri thức mới
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề con người, đây được coi là vấn đề thiếtthực nhất đòi hỏi sự phát triển toàn diện nhất trên nhiều lĩnh vực Dưới sự hướng dẫn
của thầy Lê Ngọc Thông, em đã hoàn thành đề tài tiểu luận: “Lý luận về bản chất
con người và sự ứng dụng” Bài tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về bản chất con người
Chương 2: Quan điểm của Mác-Lênin về bản chất con người
Chương 3: Ứng dụng lý luận bản chất con người vào trong quá trình phát triển nền
kinh tế ở Việt Nam
Em rất cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Lê Ngọc Thông và sự giúp đỡ nhiệttình của các bạn cùng lớp, đã đóng góp những kiến thức quý báu giúp em hoàn thiện
đề tài tiểu luận này
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2020
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC
VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
1.1 Quan điểm của các nhà triết học phương Đông về bản chất con người
Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo, triết họcphương Đông giải thích nguồn gốc con người hoặc từ một đấng thần linh tối cao, hoặc
từ một lực lượng thần bí như thái cực, đạo, khí sinh ra con người và vũ trụ Triết họcNho gia quan niệm con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời, phảihiểu và sống theo mệnh trời Đạo làm người của Nho gia thể hiện qua thuyết chínhdanh, sống phải theo yêu cầu cơ bản nhất của danh đó là: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; trong
đó nhân là gốc và lễ là phương tiện để thực hiện và thể hiện nhân Người quân tử làmẫu mực sống chính danh, đó là những người luôn luôn tu thân, tề gia, trị quốc, bìnhthiên hạ Chẳng hạn, theo Khổng Tử, con người ngay từ khi lọt lòng đã có sẵn tínhthiện, đó là “thiên tính” Theo ông, “tính thì gần nhau, nhưng do tập nhiễm mà xanhau” (Luận ngữ - Dương hoá) Theo Mạnh Tử, con người sinh ra vốn là tốt, nhưng
do không biết tu dưỡng, chịu ảnh hưởng của tập quán xấu mà xa dần cái tốt Thôngqua tu dưỡng mà con người có thể hiểu được lẽ phải và giữ được cái tốt của conngười, nghĩa là con người phải được dẫn dắt bằng đạo đức TuânTử lại quan niệmkhác với Mạnh Tử, theo Tuân Tử con người sinh ra vốn ác, nhưng có thể cải biếnđược; phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được, phải lấy pháp luật mà ngănchặn cái ác Một tư tưởng khá phổ biến trong triết học phương Đông là thuyết Thiênnhân hợp nhất (trời và người cùng hoà hợp với nhau), trời và người cùng tác động lẫnnhau theo cùng một tính chất Tuy nhiên, cũng có quan niệm trái ngược với quan niệmtrên, chẳng hạn Tuân Tử cho rằng thiên nhân bất tương quan Đây là một tư tuởng triếthọc có mầm mống duy vật có tác dụng khắc phục thái độ bị động của con người,khích lệ con người tự mình phấn đấu vươn lên, vượt qua số phận Tuân Tử quan niệm
về phương diện sinh dưỡng thì người mang ơn trời, nhưng về phương diện trị loạn,thịnh suy thì đạo trời không hềquan hệ gì đến đạo người, trời không thể làm hại đượcngười, mà trời cũng không thể giúp được người Triết học Phật giáo không thừa nhậncái tôi vĩnh hằng Thế giới tự tại, tự nhiều yếu tố trong đó có danh và sắc Danh, sắchội tụ tạo nên con người, sự hội tụ danh sắc cũng chỉ diễn ra trong một thời gian nhấtđịnh, vì bản chất của thế giới là vô thường Phật giáo thừa nhận bản tính con ngườivốn tự có cái ác và cái thiện Cuộc đời con người là do chính bản thân con ngườiquyết định qua quá trình tạo nghiệp Người nào cũng có trần tục tính (tham, sân, si, vôminh, ái dục) và phật tính (giác ngộ về cõi niết bàn, về cõi chân như) Đạo làm người
là phải tu luyện, tùy theo mức độ tu luyện trong qúa trình tạo nghiệp mà có thể đượcsuy tôn là La Hán, Bồ Tát hay Phật
Như vậy, quan điểm triết học về bản chất con người trong các học thuyết triết họcrất phong phú, đề cập nhiều những vấn đề về xã hội loài người, về nguồn gốc, bản tínhcon người, đạo làm người và mẫu hình con người lý tưởng Đặc trưng của triết họcphương Đông là "hướng nội", mang nặng tính duy tâm
Trang 51.2 Quan điểm của các nhà triết học phương Tây về bản chất con người
2.1.1 Quan điểm của các nhà triết học phương Tây cổ đại về bản chất con người
Các nhà triết học duy vật xuất phát từ quan niệm thế giới do một hay mộtsố chấttạo nên, từ đó cho rằng con người cũng bắt nguồn từ những chất đó Chẳng hạn: Talét,chất đó là nước; Anaximen: không khí; Hêraclít: lửa; Xênôphan: đất và nước;Empêđôclơ: lửa, không khí, đất và nước; Lơxíp và Đêmôcrít: nguyên tử, linh hồncũng do nguyên tử cấu tạo nên Các nhà triết học duy tâm xuất phát từ quan niệm vậtthể cảm tính là cái bóng của ý niệm, là sự hỗn hợp giữa tồn tại và hư vô, tự nhiên làthế giới cảm tính Platôn cho rằng con người ra đời đã mang bản chất khác nhau và họđược chia thành ba loại phù hợp với những chức năng khác nhau: chỉ huy, thừa hành,phục tùng Pitago quan niệm, linh hồn là bất tử tạm trú vào cơ thể hữu tử, sau khi sinhvật chết thì linh hồn chuyển nhập vào cơ thể khác và thực hiện cuộc sống trường sinh.Sôcrát phê phán các nhà triết học là vô đạo Ông cho rằng triết học không phải xemxét tự nhiên mà là xem xét cái tôi, thế giới tinh thần là tính thứ nhất, tự nhiên là tínhthứ hai, con người có đạo đức chân chính chỉ có ở giai cấp quý tộc chủ nô
1.2.2 Quan điểm của các nhà triết học phương Tây thời kỳ trung cổ về bản chất con người
Theo quan niệm của đạo Cơ đốc, ngay từ lúc mới sinh, mỗi người đã mang trongmình điều ác là tội tổ tông, chỉ khi được Chúa cứu vớt mới trở nên thiện Tômát-Đacanh cho rằng giới tự nhiên do Chúa trời sinh ra, con người là hình ảnh của Chúa.Linh hồn sinh ra cùng với thể xác, linh hồn là bất tử Thế giới được sắp xếp theo trậttự: đầu tiên là Chúa, sau đó đến thần thánh, đến con người, tiếp theo là các sự vậtkhông có linh hồn Con người phải hành động theo trật tự đó, nếu muốn vượt khỏi trật
tự đó là có tội với chúa Quan điểm này trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho lợi íchcủa giai cấp thống trị, được các triều đại phong kiến phương Tây tận dụng khai tháctriệt để nhằm mục đích củng cố quyền lực thống trị của mình, ru ngủ quần chúng laođộng bị áp bức, chỉ biết phục tùng Thế giới quan tôn giáo hạ thấp vai trò của conngười, con người chỉ biết thờ phụng Chúa và cầu mong được Chúa rửa tội Thời kỳnày thế quyền và thần quyền quan hệ chặt chẽ với nhau, thế quyền cần đến thần quyền
để biện minh cho những tư tưởng của mình, thần quyền cần đến thế quyền để củng cốthêm sức mạnh, niềm tin của các tín đồ vào Chúa
1.2.3 Quan điểm của các nhà triết học thời kỳ phục hưng và cận đại (hình thành chủ nghĩa tư bản) về bản chất con người.
Thời kỳ phục hưng bắt đầu từ thế kỷ XV, ở Tây âu là thời kỳ quá độ từ xã hộiphong kiến lên tư bản chủ nghĩa, là nền tảng thực tiễn xã hội của triết học Tây Âu thờiphục hưng và cận đại Giai cấp tư sản cần đến khoa học tự nhiên làm cơ sở để pháttriển kinh tế nhưng đồng thời cũng dùng khoa học tự nhiên để chống chủ nghĩa duytâm tôn giáo, phê phán thần học Thay thế cho nền sản xuất thủ công kém phát triển lànền sản xuất công trường thủ công đem lại năng suất lao động cao hơn Nhiều công cụlao động được cải tiến, phát minh ra máy in, máy tự kéo sợi, đồng hồ cơ học, nhữngphát kiến địa lý như việc tìm ra châu Mỹ và các đường biển đến những miền đất mớilàm cho việc giao du Đông-Tây được tăng cường Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là
đề cao con người gắn liền với con người và giải phóng con ngừơi Nhờ những khám
Trang 6phá mới trong lĩnh vực tâm sinh lý học, các triết gia ngày càng nhận thấy vai trò củathể xác con người đối với sự phát triển của trí tuệ và nhân cách Các tư tưởng đề caocon người như: “con người là thước đo tất thảy mọi vật” của Prôtagor, khẩu hiệu “conngười hãy thờ phụng chính bản thân mình, chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình”.Triết học thời kỳ này chứng minh sức mạnh của con người, đấu tranh cho sự giảiphóng con người Những người mở đầu cho sự phát triển của triết học thời kỳ phụchưng là Nicôlai Kuzan (1401-1464) và Nicôlai Côpécníc (1473- 1543) Nicôlai Kuzanxây dựng một hệ thống thần học mới thay thế thần học cũ của các triết gia trung cổmang nặng tính thần luận Ông cho rằng Thượng đế không phải như một vật hay cánhân cụ thể nào, mà là bản chất vô hạn của thế giới “Thượng đế là trong tất cả mọicái, nhưng đồng thời cũng không là gì cả (hư vô) trong mọi cái”, “con người chính làthế giới con người bao quát dưới dạng tiềm tàng toàn bộ thượng đế và thế giới , nộitâm triển vọng của con người đó là tất cả” Côpécníc đưa ra thuyết nhật tâm coi mặttrời là trung tâm của vũ trụ, mọi hành tinh khác đều xoay quanh mặt trời Nhận xét vềvai trò của phát minh khoa học này Ăngghen cho rằng: “từ đó trở đi khoa học tự nhiênmớibắt đầu được giải phóng khỏi thần học” Vào thế kỷ XV-XVI, Italia được thừahưởng cả một nền văn minh La Mã cổ đại, lại là nước thoát khỏi chế độ phong kiếnchâu Âu rất sớm, nên Italia trở thành trung tâm văn hoá châu Âu, ở đây xuất hiệnnhiều nhà tư tưởng lớn Lêôna Đờ Vanhxi (1452- 1519) đã phê phán các quan điểmcủa thần học và giáo hội, Lêôna Đờ Vanhxi khẳng định con người là vũ khí vĩ đại nhấtcủa tạo hoá Ông phát triển các tư tưởng nhân đạo và đề cao vai trò của kinh nghiệmtrong nhận thức “sự thông thái là con gái của kinh nghiệm”.Brunô (1548- 1600) đặcbiệt đề cao khả năng nhận thức trí tuệ của con người Khoa học không chấp nhận một
sự sùng bái cá nhân hay một tư tưởng giáo điều nào cả Ông cho rằng vũ trụ là một thếgiới vô tận bao gồm vô vàn các hành tinh, trong đó trái đất hay mặt trời chỉ là mộttrong vô vàn các hành tinh ấy Ngoài trái đất, sự sống và con người rất có thể có trongnhiều hành tinh khác của vũ trụ bao la và hùng vĩ, không có Chúa trời nào thống trị vũtrụ đó cả Galilêô Galilê (1564- 1642) thừa nhận “hai chân lý”: Kinh thánh và khoahọc Kinh thánh gần gũi với cuộc sống hàng ngày của con người bởi tính dễ hiểu vàtính dễ đi sâu vào lòng người của nó Nó dạy con người nhiều điều hay lẽ phải trongcuộc sống thông thường của họ Còn khoa học giúp con người khám phá ra những quyluật của giới tự nhiên, nhận thức bản chất đích thực của chúng Galilê khẳng định tôngiáo và khoa học là hai lĩnh vực đời sống tinh thần cần thiết của con người Tuy nhiên,ông đặc biệt đề cao vai trò của khoa học, vào sức mạnh trí tuệ của con người, ông coiquá trình nhận thức giới tự nhiên là vô hạn Vào thế kỷ XVI với sự phát triển của nềnsản xuất tư bản ở nhiều nước TâyÂu Italia dần dần mất đi vai trò bá quyền về kinh tế
và chính trị Đến cuối thế kỷ XVI nước Anh trở thành cường quốc có nền sản xuấtcông trường thủ công tư bản chủ nghĩa phát triển nhất Đây là thời kỳ tích luỹ nguyênthuỷ của tư bản, với phương thức đặc trưng là chiếm đoạt, nhiều bất công và tệ nạn xãhội nẩy sinh Từ đó xuất hiện những nhà nhân đạo như Tômát Morơ, Cămpanenla với ý tưởng xây dựng một xã hội không còn chế độ tư hữu tư nhân cũng như tiền tệ,trong xã hội đó mọi người đều được coi trọng Đây thực chất là quan niệm chủ nghĩacộng sản cơ đốc giáo mang tính nhân đạo sâu sắc đồng thời cũng mang tính khôngtưởng, vì nó không tìm được lực lượng xã hội thực hiện lý tưởng đó Quan điểm củacác nhà triết học duy vật Pháp và Anh thế kỷ XVIII cho rằng bản chất con người phụthuộc vào hoàn cảnh, nhưng họ lại khẳng định những biểu hiện bản tính của con người
Trang 7trong cuộc sống như tính ích kỷ, hành vi chinh phục như là bản tính tự nhiên của conngười Tại Hà Lan, Xpinôda quan niệm, giới tự nhiên là thực thể duy nhất, con người
là sản phẩm của giới tự nhiên Triết học phải giúp con người nhận thức giới tự nhiên,làm theo giới tự nhiên Triết học thời Phục hưng và Cận đại có ưu điểm là đề cao sứcmạnh của con người, vai trò của lý trí, đề cao các giá trị và tư tưởng con người,phủnhận quyền lực của Đấng sáng tạo Phoi-ơ-bắc cũng không thoát khỏi quan điểmduy tâm khi quy bản chất con người vào tính tộc loài và tìm đặc trưng cho tính tộc loài
đó ở tình cảm đạo đức, tôn giáo, tình yêu.C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá cao quanđiểm của Phơbách khi ông phê phán những quan điểm duy tâm thần bí về nguồn gốc
và bản chất của con người, Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của conngười: “Không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính conngười đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người”
Hệ thống triết học trước Mác, mắc những sai lầm chủ yếu của nhận thức triết học
về bản chất con người là:
1 Xem xét bản chất con người theo quan điểm duy tâm: quy bản chất con người vào lĩnh vực ý thức tư tưởng hoặc xem bản chất con người được quy định sẵn từ những lực lượng siêu tự nhiên
2 Các quan điểm trước Mác về bản chất con người mang tính chất siêu hình, họ coi bản chất con người là cái vốn có, trừu tượng, đặc trưng bản chất con người được quy
về bản tính tự nhiên, bất biến Họ không thấy được bản chất con người hình thành và biến đổi cùng với quá trình biến đổi của xã hội loài người Vào thế kỷ XVIII, các nhà duy vật Pháp và Anh đã thấy được sự phụ thuộc của con người vào hoàn cảnh nhưng
họ vẫn khẳng định những bản tính tự nhiên của con người là những biểu hiện của bản chất.
1.2.4 Quan điểm của các nhà triết học thời hiện đại về bản chất con người
Triết học thời hiện đại quan niệm những yếu tố về tinh thần như nhu cầu bản năng,
vô thức, tri thức, tình cảm v.v… là bản chất con người Xem xét con người tách rờicác mối quan hệ xã hội, các mối quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng,
cá nhân với xã hội thường được đề cập với thái độ hoài nghi, bi quan, bế tắc, thể hiện
sự khủng hoảng về giá trị của con người trong xã hội Tuyệt đối hóa về mặt cá nhân,thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội Những tư tưởng đó thể hiện qua các trào lưu củatriết học: Phân tâm học, chủ nghĩa nhân vị, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán, hiện tượng học, chú giải học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấutrúc v.v…
Trang 8CHƯƠNG II QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thờikhẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên.Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, bản tính loài Yếu tốsinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vìvậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” Con người là một bộ phận của tựnhiên
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quátrình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Con người phải tìm mọi điều kiệncần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để
ở Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn Trảiqua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã đượcchứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn Các giai đoạn mang tínhsinh học mà con người đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bảntính sinh học trong đời sống con người Như vậy con người trước hết là một tồn tạisinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của conngười và mối quan hệ của nó với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm sinhhọc, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinhhọc của cá nhân con người
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyếtđịnh bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giớiloài vật là mặt xã hội Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt conngười với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một độngvật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đềuphiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưanêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con ngườimột cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết làvấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Cóthể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứcái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay
từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là mộtbước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinhhoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất củamình” Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biếntoàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì táisản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”
Trang 9Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt độngsản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Thông quahoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sốngcủa mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởivậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thờihình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của conngười luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhấtvới nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môitrường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phươngdiện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vậnđộng trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềmtin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống conngười bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là
cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sốngcon người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhucầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần
Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh họcvới mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người làthống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội làđặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải đượcnhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội khôngthể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòaquyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội
2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ
xã hội.
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thếgiới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xãhội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy đén cùng,đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bảnchất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liênquan đến con người
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh
đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không phải một cái trừutượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Luận đề trên khẳng định rằng, không có conngười trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luônluôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đạinhất định Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con ngườitạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trítuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời
Trang 10đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc
lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình
Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủđịnh mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phânbiệt giữa con người với thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là
để khắc phục thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản chất xãhội của con người Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tínhquy luật chứ không thể là cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêngphong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi
cá nhân trong cộng đồng xã hội
2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởivậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử – xã hội.C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sảnphẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản
thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Trong tác phẩm Biện chứng của tự
nhiên Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần
của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải dochúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thìđiều đó diễn ra mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý muốn của chúng.Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêuthì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”
Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tácđộng vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triểncủa lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Conngười thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thếgiới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Conngười là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bảnthân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên
cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất vàtinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu
do con người đặt ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quyluật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn pháttriển nhất định của lịch sử xã hội Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ vớiđiều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở,tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xãhội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sángtạo Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thể
Trang 11nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù khôngtrung khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm chohoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môitrường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằmđạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thôngqua đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnhtrên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi conngười, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thứchướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loàingười
2.4 Sự phát triển của xã hội loài người trong cuộc cách mạng tri thức.
Trong thời gian 150 năm, từ năm 1750 đến 1900 (thời kỳ của cách mạng côngnghiệp), chủ nghĩa tư bản và công nghệ đã chinh phục toàn thế giới và tạo ra một nềnvăn minh thế giới mới Nét mới quan trọng của tư bản và các phát triển công nghệtrong thời kỳ này là nhịp độ lan truyền và ảnh hưởng có tính toàn cầu của chúng đốivới nhiều nền văn hóa, giai cấp và khu vực địa lý Nhịp độ và phạm vi đó đã biến tưbản thành “chủ nghĩa tư bản”, và biến những tiến bộ về khoa học công nghệ thànhcuộc “ Cách mạng công nghiệp” Chủ nghĩa tư bản và Cách mạng công nghiệp – donhịp độ và quy mô của chúng – đã tạo ra một nền văn minh thế giới mới
Sự chuyển đổi này đã được thúc đẩy bởi những thay đổi căn bản về ý nghĩa tri thức
ở cả phương Đông và phương Tây trước đây, tri thức được quan niệm là phục vụ chochính nó Nhưng sau một khoảng thời gian ngắn, tri thức đã được áp dụng vào tổ chứclao động, trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và trở thành một loại hàng hóacông cộng
Sự biến đổi ý nghĩa của tri thức trải qua 3 giai đoạn:
Trong giai đoạn đầu (khoảng 100 năm), tri thức được áp dụng cho các công cụ sảnxuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm Điều này tạo ra cuộc Cách mạng côngnghiệp đồng thời cũng tạo ra điều mà Mác gọi là các giai cấp mới, các cuộc đấu tranhgiai cấp và gắn liền với chúng là Chủ nghĩa cộng sản
Trong giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ khoảng cuối thể kỷ 19 và kết thúc vào Chiếntranh thế giới thứ 2, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động Giai đoạn này tạo racuộc Cách mạng năng suất trong 75 năm và chuyển những người vô sản trở thành tầnglớp trung lưu với thu nhập gần với tầng lớp thượng lưu
Giai đoạn cuối cùng thì tri thức đang được áp dụng cho chính bản thân tri thức Đó
là cuộc cách mạng quản lý Tri thức trở thành một nhân tố sản xuất, làm giảm vai tròcủa cả vốn là lao động Có thể là hấp tấp khi nói rằng chung ta hiện nay đang ở trong
“xã hội tri thức”- hiện nay chúng ta mới chỉ có một nền kinh tế tri thức Nhưng rõ ràng
xã hội của chúng ta hiện nay đã là “xã hội hậu tư bản”
Các phát minh trong thời trước cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như kính mắt)cũng đã được lan truyền rất nhanh nhưng chúng ta chỉ gắn với một ngành, nghề thủcông hoặc một ứng dụng cụ thể nào đó Những phát minh trong thời cách mạng công
Trang 12nghiệp (chẳng hạn như động cơ hơi nước) nhanh chóng được ứng dụng trên diện rộng
và tác động đến tất cả các ngành, nghề thủ công Chúng ta hiểu rằng những sự kiệnlịch sử trọng đại bắt nguồn không chỉ từ một nguyên nhân duy nhất và một cách giảithích duy nhất mà thường là kết quả hội tụ của nhiều tiến triển riêng rẽ và độc lập Cóthể lấy ví dụ về việc phát triển máy tính phải dựa vào rất nhiều phát minh khoa họctrước đó Tuy nhiên, có một nhân tố rất quan trọng mà không có nó thì tư bản và tiến
bộ kỹ thuật có lẽ không thể có tác động lan truyền mang tính xã hội và rộng khắp đếnthế trên thế giới Đó là sự thay đổi căn bản ý nghĩa của tri thức vào những năm 1700
và một thời gian ngắn sau đó Vào thời kỳ Plato (những năm 400 trước công nguyên)
có 2 học thuyết ở phương Đông và 2 học thuyết ở phương Tây về ý nghĩa và chứcnăng của tri thức Nhà hiền triết Socrates, người phát ngôn của phái triết học Plato,cho rằng chức năng của tri thức là vì chính tri thức: sự phát triển tri thức, đạo đức vàtinh thần của cá nhân Địch thủ của ông ta, nhà triết học Protagoras lại cho rằng mụcđích của tri thức là làm cho người có tri thức có thể hiểu được những gì cần phải nói
và làm thế nào để nói chúng Theo Protagoras, tri thức có nghĩa là logich, ngữ pháp vàhừng biện (tu từ)
Ở phương Đông cũng có hai học thuyết tương tự về tri thức Đối với Khổng giáo,tri thức là biết được những gì cần nói và làm thế nào để nói chúng là con đường dẫntới tiến bộ và thành công trên trần thế Theo Đạo Lão và phái Thiền (Phật giáo) thì trithức là vi tri thức, và là con đường đi đến sự thông thái và khôn ngoan Khác vớinhững người đương thời của mình của mình ở phương Đông, tức là những người theoKhổng giáo ở Trung Quốc, những người coi thường bất cứ những gì không thuộcnghiên cứu sách vở, cả Socrates lẫn Protagoras đều coi trọng kỹ thuật (techne) mặc dù
cả hai ông này đều cho rằng kỹ thuật không phải là tri thức dù nó có đáng khâm phụcđến đâu Kỹ thuật gắn với một ứng dụng cụ thể và không có tính nguyên tắc để ápdụng cho tất cả các trường hợp
Nền tảng tạo ra 3 giai đoạn của tri thức – Cách mạng công nghiệp, Cách mạng năngsuất, và Cách mạng quản lý – là sự thay đổi về căn bản ý nghĩa của tri thức Chúng ta
đã chuyển từ chỗ tri thức là số ít lên tri thức là số nhiều
Tri thức theo kiểu truyền thống là một thức chung chung Còn tri thức bây giờ lànhững kiến thức cần thiết cực kỳ chuyên sâu Khác với cách hiểu về tri thức trong thời
kỳ Plato như đã nói ở trên, tri thức bây giờ được hiểu là tri thức thông minh cho chính
nó trong hoạt động Cái mà bây giờ chúng ta hiểu về tri thức chính là thông tin thực tếđối với hoạt động, thông tin nhấn mạnh đến kết quả Những kết quả này nằm ngoàimột cá nhân- nằm trong một xã hội và một cộng đồng Để có thể thực hiện được côngviệc, tri thức phải có tính chuyên môn hóa cao Đây chính là lý do giải thích tại saotrước đây người ta lại coi tri thức chuyên sâu có vị trí tầm thường như kỹ thuật và kỹxảo Nó không học được cũng không dạy được; nó cũng không có một nguyên tắcchung nào Nhưng ngày nay, chúng ta không gọi những tri thức chuyên sâu này là “bíquyết”, chúng ta nói đó là “những môn học” Đây chính là một sự thay đổi lớn hơn bất
cứ sự thay đổi nào trong lịch sử tri thức Mỗi môn học sẽ chuyển một “bí quyết” thànhmột phương pháp luận, sẽ chuyển từng kinh nghiệm riêng lẻ thành một hệ thống vàchuyển giai thoại thành thông tin Mỗi môn học sẽ chuyển các kỹ năng thành các thứ
có thể dậy và học được Bước chuyển từ đơn tri thức lên đa tri thức đã làm cho tri thức
có sức mạnh tạo ra một xã hội mới Nhưng xã hội này phải được xây dựng trên những