Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể: kinh tế có nhiều bước khởi sắc, thu nhập người dân được cải thiện, cho nên đời sống của người dân
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1/Lý do chọn đề tài.
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể: kinh tế có nhiều bước khởi sắc, thu nhập người dân được cải thiện, cho nên đời sống của người dân cũng được nâng cao,… Đồng thời công cuộc đổi mới kinh tế đất nước cũng đã tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Tuy nhiên, một trong những vấn đề nổi cộm nhất hiện nhay là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm còn chiếm
tỉ trọng cao Mặc dù vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm giảm tỉ
lệ thất nghiệp, thực tế đã chứng minh rằng trong những năm gần đây tỉ lệ thất nghiệp nước ta đang có xu hướng giảm dần Tìm hiểu về thất nghiệp chúng ta sẽ thấy rõ hơn về nó, nguyên nhân nội tại vì sao dẫn đến thất nghiệp đặc biệt là những biện pháp hiệu quả của Nhà nước nhằm giảm tỉ lệ thất nghiệp,chính vì thế
mà tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Thất nghiệp ở việt nam: Các hình thức thất nghiệp và xu hướng ở TP Hồ Chí Minh”.
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng các hình thức thất nghiệp và xu hướng ở thành phố Hồ Chí Minh Từ đó phân tích những tác động của thất nghiệp đối với sự phát triển của thị trường lao động cũng như nền kinh tế
và các tệ nạn ở Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, tìm ra những hạn chế khó khăn cần phải khắc phục Qua đó nêu ra một số đóng góp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp hiện nay và góp phần vào mục tiêu phát triển chung.
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4/ Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu dựa vào tài liệu tìm được từ báo chí, internet, những báo cáo về tình hình thất nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh.
Những hiểu biết của bản thân qua việc cập nhật thông tin hàng ngày.
Trang 2Tham khảo ý kiến Giáo viên hướng dẫn.
5/ Nguồn số liệu.
Số liệu được thu thập dựa trên báo cáo thường niên về tình hình thất nghiệp ở việt nam và xu hướng ở thành phố Hồ Chí Minh, trên các tạp chí, website…
PHẦN NỘI DUNG
HÌNH THỨC THẤT NGHIỆP VÀ XU HƯỚNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Thất nghiệp là gì?
Để tìm hiểu khái niệm thất nghiệp thì trước tiên chúng ta cần tìm hiểu một số
khái niệm liên quan:
“Việc làm”: Theo Bộ luật lao động nước ta thì việc làm được xá định là “ mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm” ( Điều 13 – Bộ luật lao động).
Trong việc làm chúng ta cần tìm hiểu 2 khái niệm:
“Việc làm đầy đủ”: là hiện tượng người lao dộng có việc làm và được làm việc liên tục.
“Việc làm hợp lý”: là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ.
“ Người lao động”: là người nằm trong lực lượng lao động có đủ trí lực
và thể lực để tham gia vào quá trình kinh tế.
“Lực lượng lao động”: là toàn bộ số người lao động tham gia vào quá trình kinh tế của một quốc gia.
“ Người thất nghiệp”: là người nằm trong lực lượng lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm và muốn tìm kiếm việc làm.
Vậy “Thất nghiệp” là gì? Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội trong đó một bộ phận lao động muốn tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được việc làm.
1.1.2 Các hình thức thất nghiệp
Trang 3Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp chính vì vậy để biết rõ hơn về
nó chúng ta cần phân loại nhằm dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tìm hiểu.
1.1.2.1 Phân loại theo hiện tượng
Khi phân loại theo hiện tượng gồm có 3 loại:
Thất nghiệp cơ học: do sự dịch chuyển lao động giữa các vùng, các ngành với nhau.
Thất nghiệp cơ cấu: là sự mất việc kéo dài trong các ngành hoặc vùng có sự giảm sút kéo dài về nhu cầu lao động do thay đổi cơ cấu nền kinh tế.
Nguyên nhân chính của sự thay đổi đó là do:
+ do sự dư thừa lao động của một ngành nào đó.
+ do sự suy giảm sản xuất của một ngành nào đó.
Thất nghiệp thời vụ: Đây là hiện tượng thường gặp ở các khu vực kinh
tế nông nghiệp khi mà tỉ lệ thời gian sử dụng lao động chưa được sử dụng hết.
1.1.2.2 Phân loại theo thái độ người lao động bao gồm có 2 loại:
Thất nghiệp tự nguyện: do người lao động tự nguyện thất nghiệp khi không muốn làm việc ở mức lương hiện hành.Có thể nói thất nghiệp tự nguyện là bao gồm số người thất nghiệp tạm thời và số người thất nghiệp cơ cấu Vì đó là những người chưa sẵn sàng làm việc ở mức lương tương ứng đồng thời họ muốn tìm kiểm những việc làm và cơ hội tôt hơn.
Thất nghiệp không tự nguyện: là khi người lao động muốn tìm kiếm việc làm ở mức lương hiện tại mà không tìm được.
1.1.3 Cơ sở lý luận nghiên cứu của thất nghiệp ở việt nam: Các hình thức thất nghiệp và xu hướng ở thành phố Hồ Chí Minh.
Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (từ Hán-Việt thất: mất mát, nghiệp: việc làm) Tỷ
lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội.
Số người không có việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x
Tổng số lao động xã hội
Trang 4Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ
tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải chọn công việc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v ) Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh hưởng của công đoàn, công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và sau cùng
là chủ nghĩa bảo hộ việc làm Chủ nghĩa này đặt ra những rào cản với người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác
Cái giá khác của thất nghiệp còn là khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi
xã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp là cần thiết.
Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân, tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được
sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc
Trang 5làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn Tình trạng thất nghiệp gia tăng tương quan với áp lực giảm lạm phát Điều này được minh họa bằng đường cong Phillips trong kinh tế học
Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cả người lao động và chủ sử dụng lao động Người lao động có thể tìm những cơ hội việc khác phù hợp với khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú Về phía giới chủ, tình trạng thất nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng sự trung thành của người lao động Do đó,
ở một chừng mực nào đó, thất nghiệp đưa đến tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận.
Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và
sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ) Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu) Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu, thuế, các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường) Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp.
Riêng ở Việt nam, thất nghiệp cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội do
“nhàn cư vi bất thiện”, trở thành vấn đề nhức nhối Và trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta bị suy thoái do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thì thất nghiệp lại càng cần được quan tâm hơn nữa.
Tại TP Hồ Chí Minh từ đầu năm 2011 có hơn 37.000 người thất nghiệp xin hương trợ cấp, bình quân mỗi tháng có hơn 9.000 người thất nghiệp, riêng tháng 4-
2011 đã có 13.923 người thất nghiệp Thất nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất là khi khủng hoảng kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng hộ gia đình.
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG
2.1 Phân tích và đánh giá chung thực trạng thất nghiệp
Bỏ qua bất bình đẳng xã hội, tội phạm hay bạo lực, giờ đây, nỗi sợ hãikinh hoàng nhất đang hoành hành trên toàn thế giới lại chính là vấn đề khôngthể kiếm được việc làm và hiện tượng thất nghiệp ngày càng tăng Thất nghiệptrở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt xa mọi vấn đề lo lắng thôngthường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất là khi khủng hoảng kinh tế, tài chính gõcửa đến từng hộ gia đình
Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động, thu hẹp sảnxuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội TPHCM Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và làn sóng thất nghiệp đã lanđến Việt Nam - khi hàng ngàn lao động ở các thành phố đã bị mất việc làmtrong những tháng cuối năm này
Trong thông báo gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM, Công
ty TNHH Sambu Vina Sport cho biết sẽ giảm 224 lao động kể từ ngày
11-1-2009 Trước đó, nhiều doanh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt giảm laođộng như Công ty Sony Việt Nam, Công ty liên doanh RSC, Công ty TNHHCastrol BP Petco, Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam, Công tyTNHH tư vấn thiết kế Liên hiệp Quốc tế với tổng số lao động bị mất việc trên1.000 người Hàng ngàn lao động mất việc cuối năm 2008 Hàng vạn người bị
nợ lương, không có tiền thưởng Nhiều người có cũng như không, vì tiền thưởngcho một năm lao động cật lực không đủ ăn bát phở
Trang 7Thất nghiệp, bản thân người thất nghiệp không có thu nhập, ảnh hưởngđến đời sống bản thân, gia đình họ Doanh nghiệp cũng khổ vì cho nhân viênnghỉ thì thương, vương thì tội Mà cho nghỉ thì cũng phải trả các trợ cấp thôiviệc, mất việc Trong lúc khó khăn thì những khoản này cũng đâu có nhỏ
Ngân sách nhà nước cũng bị ảnh hưởng vì không thu được thuế thu nhập
cá nhân, lại còn phải trả các trợ cấp thất nghiệp, phải đầu tư cho các giải phápnhằm giảm thất nghiệp… Khi nạ̣n thất nghiệp tràn lan thì tệ nạn xã hội: trộmcắp, cướp giật, ma túy, mại dâm, rượu, cờ bạc,… cũng tăng theo
Một bộ phận rất lớn người lao động trong các khu công nghiệp là người từcác tỉnh nông nghiệp Họ đi lên thành thị làm công nhân vì ở quê không có việclàm hoặc làm không đủ sống Nhà máy ngừng sản xuất, phải đóng cửa hoặcgiảm bớt lao động nên họ phải trở về Nợ cũ chưa trả hết lại chồng thêm nợmới Họ đi kiện công ty đưa mình đi xuất khẩu lao động, nhưng xét cho cùngcũng chẳng phải lỗi của ai Người thất nghiệp kéo từ thành phố về nhà, cáinghèo ở quê đã quá đủ, nay gánh nặng thêm vì số lao động thất nghiệp tănglên
Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độtuổi năm 2008 phân theo vùng (Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam:
Vùng Tỷ lệ thất nghiệp (%)
Tỷ lệ thiếu việc làm
(%)Chung Thànhthị Nôngthôn Chung Thànhthị Nôngthôn
Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23Trung du và miền núi phía
Trang 8Số người không có việc làm tại nông thôn và thành thị hiện cao hơn con số này.
Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước tanhững năm gần đây chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những người trong
độ tuổi 15-60 với nam và 15-55 với nữ Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình laođộng, còn một chỉ tiêu khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm Đây là chỉ tiêu quantrọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị, nhưng từtrước đến nay chưa công bố Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thườngcao hơn tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường caohơn thành thị Với cách hiểu như vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện là4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007 Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làmhiện là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007 Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nôngthôn tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3% 5 năm lại đây, tỷ
lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm 0,1-0,2%/năm Nhưng do ảnhhưởng của biến động kinh tế thế giới, từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ này đang tăngdần Việt Nam đang tích cực triển khai các giải pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp,thiếu việc làm về đúng quỹ đạo giảm như các năm trước Theo dự báo củaTCTK, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2009 sẽ tăng lên 5,4% (2008: 5,1% ); trong đó,khu vực nông thôn khoảng 6,4%
Khảo sát cho thấy người lao động nhập cư đang đối mặt với tình trạnggiảm thu nhập, nhiều người lao động nhập cư tại các làng nghề và khu côngnghiệp được khảo sát đang quay lại quê nhà Họ và làng quê họ, nơi đã từnghưởng lợi từ tiền gửi về do làm thuê, đang gánh chịu nhiều nhất những tác độngtrước mắt của khủng hoảng kinh tế Xu thế và hướng đi của lao động di cưtrong nước và mối liên kết nông thôn - thành thị là những chỉ số quan trọng cầnđược sử dụng để tiếp tục theo dõi tác động xã hội của khủng hoảng kinh tếtrong thời gian tới
Người lao động được phỏng vấn cho biết, nếu trong năm 2007 họ có thể
có việc làm 20 ngày/tháng thì đến cuối 2008, họ chỉ có việc làm khoảng 10ngày/tháng, trong đó số ngày làm các công việc xây dựng giảm khoảng 70%,
Trang 9các công việc khác như khuân vác, chuyển đồ, thu dọn vệ sinh… giảm khoảng30% Tiền tiết kiệm hàng tháng trung bình giảm mạnh và hầu như không có
Tăng trưởng GDP Việt Nam giảm từ 8,5% năm 2007 xuống còn 6,23%năm 2008 Theo các chuyên gia kinh tế, về lý thuyết, GDP giảm 2 điểm phầntrăm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng 1%
Theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH, hết năm 2008, cả nước mới có gần30.000 lao động tại khối DN bị mất việc vì nguyên nhân kinh tế suy giảm Bộnày đưa ra ước tính số lao động bị mất việc vì nguyên nhân trên trong năm
2009 sẽ vào khoảng 150.000 người Còn theo cách tính của Tổ chức Lao độngquốc tế (ILO), cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ có thêm 0,33 - 0,34% lao động cóviệc làm Như vậy, với VN, nếu GDP giảm khoảng 2% trong năm 2008 tươngứng sẽ có 0,65% việc làm bị mất 0,65% tương đương với số lượng khoảng 300nghìn người
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương,thuộcViện khoa học lao động và xã hộikhẳng định, năm 2008 tổng việc làm mới được tạo ra chỉ là 800.000 so vớikhoảng 1,3 triệu việc làm mới được tạo ra trong năm 2007 Nhiều ngành sửdụng nhiều lao động có tốc độ tăng việc làm cao bị ảnh hưởng rõ rệt từ cuộckhủng hoảng kinh tế Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi tạo ra khoảng 50%việc làm trong hệ thống doanh nghiệp nói chung, mỗi năm tăng thêm khoảng500.000 lao động Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn,phải cắt giảm nhân sự
Xuất khẩu lao động gặp khó khăn
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2008, cả nước giải quyếtviệc làm cho 1,35 triệu lao động, trong đó thông qua các chương trình kinh tế xãhội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động 85.000 4 thị trường xuất khẩu lao độngtrọng điểm của Việt Nam là: Đài Loan (33.000), Hàn Quốc (16.000), Malaysia(7.800) và Nhật Bản (5.800).Malaysia là thị trường tiếp nhận nhiều lao động ViệtNam nhất Trong các năm 2005-2007, mỗi năm quốc gia này tiếp nhận khoảng30.000 lao động Việt Nam Năm 2008, do lo ngại nhiều rủi ro cũng như khanhiếm nguồn lao động, số người Việt sang Malaysia giảm hẳn, chưa tới 10.000
Trang 10Người lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động rất đông, nhiều ngườivay mượn tiền để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động, không may gặp những
nước bị ảnh hưởng suy thoái kinh tế trầm trọng, cũng đành tay trắng vềnước.
Theo báo cáo tại Hội nghị việc làm và xuất khẩu lao động (XKLĐ) năm 2008,mục tiêu trong 2 năm 2009-2010 là giải quyết việc làm trong nước cho 3 đến 3,2triệu lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị ở mức dưới 5%,giảm tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp xuống dưới 50% năm
2010 Đến năm 2010, bình quân mỗi năm đưa được 100 nghìn lao động đi làmviệc ở nước ngoài, trong đó 60% lao động qua đào tạo nghề, có 5 đến 10% laođộng ở các huyện có tỷ lệ nghèo cao
v Năm 2009:
Viện Khoa học lao động và xã hội vừa công bố kết quả từ công trìnhnghiên cứu “Khủng hoảng kinh tế và thị trường lao động Việt Nam” Ở đó, tiến sĩNguyễn Thị Lan Hương, viện trưởng đã công bố: nếu tăng trưởng kinh tế trongnăm nay đạt từ 5 – 6%, thì số lao động bị mất việc do khủng hoảng kinh tế là494.000 người Thậm chí số người mất việc sẽ tăng lên khoảng 742.000 ngườivào năm 2010 nếu nền kinh tế vẫn chưa thể phục hồi Điều cần lưu ý, đây là sốviệc làm bị giảm đi so với khả năng tạo việc làm mới của nền kinh tế do tácđộng của khủng hoảng tài chính, nghĩa là chừng đó người rơi vào thất nghiệphoàn toàn
Các thể chế tài chính quốc tế, trong đó có Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, vàNgân hàng thế giới dự đoán tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay dao độngtrong khoảng 4,5% cho đến 5,5 %
Có một thực tế là từ cuối năm 2008 đến nay, nhiều doanh nghiệp trongcác khu công nghiệp đã cắt giảm lao động do suy giảm kinh tế Tuy nhiên,không thể nói rằng tất cả những lao động này bị thất nghiệp vì phần lớn nhữngngười này đã trở về quê và tìm kiếm một công việc mới (có thể là công việckhông phù hợp) nhưng vẫn cho thu nhập, dù có thể là thu nhập thấp Chính vìvậy, cần hết sức thận trọng khi nói về tình trạng thất nghiệp hiện nay
Trang 11Khi suy thoái kinh tế đã kết thúc, thì tiến trình hồi phục thường phải kéodài trong rất nhiều năm Do vậy, ngay trong khủng hoảng, thì việc đánh giáchính xác tình hình để làm cơ sở xây dựng chiến lược nguồn nhân lực với DN,với chính quyền vẫn có giá trị quyết định tới khả năng vượt qua khủng hoảng vàphát triển Với người lao động, việc làm càng dễ mất đi, thì công việc mới càng
dễ sinh ra Nhưng với DN, không ổn định được nguồn nhân lực thì không thể nóitới khả năng bình ổn sản xuất
Không phải bao giờ thất nghiệp cũng có hại! - Nếu không có thấtnghiệp thì nhiều người sẽ không có động lực làm việc, đặc biệt là những laođộng chân tay Nếu không có thất nghiệp doanh nghiệp phải trả các khoảnlương cũng như đáp ứng tất cả các đòi hỏi, đôi khi rất bất hợp lý của người laođộng
Nếu không có thất nghiệp doanh nghiệp không thực hiện được việc tái cơcấu tổ chức Nếu không có thất nghiệp thì không có nhiều người đi ngoàiđường vào giờ làm việc >>> các lái xe taxi hay xe bus cũng sẽ thất nghiệp…
Vấn đề chính là ổn định tỷ lệ thất nghiệp là bao nhiêu % đễ xã hội không
bị biến động và kinh tế tăng trưởng Theo 1 số lý thuyết kinh tế thì tỷ lệ thấtnghiệp tối ưu là từ 4-5%
Thất nghiệp có cả ưu điểm lẫn nhược điểm chứ không phải hoàn toàn là
có hại!
Dung hòa thất nghiệp và lạm phát - Trong ngắn hạn, khi thất ngiệptăng thì lạm phát sẽ giảm và ngược lại Các quốc gia luôn đau đầu để dung hòathất nghiệp và lạm phát Tất nhiên là khi thất nghiệp tăng thì lạm phát giảmdần, giá cả có xu hướng giảm dần Khi mức giá giảm đến một mức nào đó thìnhà nước sẽ có điều tiết, mức giá sẽ tăng nhẹ, và hình thành một mặt bằng giámức (tức là lạm phát), khi đó thì thất nghiệp sẽ có xu hướng giảm dần
Cạnh đó, còn là những người 'bán' thất nghiệp
Trên danh nghĩa họ có việc làm nhưng thu nhập không đủ Thường họsống rất khó khăn, hay phải đi làm thêm nghề khác