1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tiểu Luận- Lê Thị Như Lựu.pdf

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ý nghĩa phương pháp luận.
Tác giả Lê Thị Như Lựu
Người hướng dẫn TS. Lương Thanh Tân
Trường học Trường Đại Học Đồng Tháp
Chuyên ngành Quản lí giáo dục
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 457,31 KB
File đính kèm BÀI TIỂU LUẬN- TRIẾT HỌC.rar (415 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP LÊ THỊ NHƯ LỰU NỘI DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN Ngành đào tạo Quản l[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

LÊ THỊ NHƯ LỰU

NỘI DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Ngành đào tạo: Quản lí giáo dục Trình độ đào tạo: Thạc sĩ

TIỂU LUẬN KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Giảng viên hướng dẫn:

TS LƯƠNG THANH TÂN

ĐỒNG THÁP, NĂM 2023

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu, được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô Trường Đại học Đồng Tháp, chúng tôi có điều kiện thực hiện và hoàn thành các bài thảo luận, giữa kì và đặc biệt là bài tiểu luận

Với tình cảm chân thành, chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến

TS Lương Thanh Tân – người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và

định hướng cho chúng tôi trong suốt quá trình học môn Triết học này

Trong quá trình thực hiện, với thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, chắc chắn tiểu luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô để tiểu luận hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả tiểu luận

Lê Thị Như Lựu

Trang 3

4 Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu của đề tài 6

PHẦN 2 NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài

2 1 Đặc điểm tình hình trước khi Nguyễn Ái Quốc ra đi

tìm đường cứu nước

10

Chương 3 Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

3.1 Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và

phát triển của xã hội

13

3.2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản

xuất

13

Trang 4

3.2.1 Sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất

14

3.2.2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối

với quan hệ sản xuất

14

3.2.3 Vai trò tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối

với lực lượng sản xuất

15

3.2.4 Sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất

Trang 5

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài nghiên cứu

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là “hòn đá tảng” của chủ nghĩa duy vât lịch sử - một trong hai phát kiến vĩ đại của Mác Đó là sự vận dụng những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại, nhằm làm sảng tỏ cơ

sở vật chất của đời sống xã hội, cơ cấu tổng thể của xã hội và những quy luật căn bản của sự vận động, phát triển của xã hội loài người Với những nội dung khoa học và cách mạng đó, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội nói riêng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nói chung đã trở thành cơ sở lí luận triết học đặc biệt quan trọng trong việc xác định và giải quyết những vấn đề cơ bản nhất của tiến trình cách mạng Việt Nam trước đây và trong thời kì đổi mới hiện nay

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội còn cung cấp những phương pháp luận căn bản cho việc nghiên cứu của các ngành khoa học - xã hội, nhân văn Phương pháp tiếp cận theo cách nhìn duy vật biện chứng về xã hội và lịch sử trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là phương pháp luận khoa học, nhờ

đó có thể khắc phục được những sai lầm và hạn chế của các quan điểm duy tâm, tôn giáo và duy vật siêu hình, duy vật tẩm thường trong nghiên cứu về xã hội và lịch sử nhân loại Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất trong quá trình phát triển của xã hội Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng

Trang 6

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Từ việc nghiên cứu nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất rút ra ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn hiện nay từ đó rút ra được kết luận trong quá trình phát triển xã hội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài

- Thực trạng của vấn đề

- Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

- Liên hệ thực tế với Việt Nam hiện nay

4 Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu của đề tài

Thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài từ ngày 10/06/2023 đến ngày 03/07/2023

PHẦN 2: NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Lực lượng sản xuất

Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ thuật nhất định Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người trinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình suức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực

Trang 7

tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo

sự phát triển của con người

Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và kỹ năng lao động và tư liệu sản xuất Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao Còn trong tư liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất Bởi vậy khi công cụ lao động

đã đạt đến trình độ tin học hoá được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực lượng sản xuất Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của

nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người Tuy nhiên LêNin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động” có thể cói yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng sản xuất.Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại

Trang 8

Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện để sản xuất vật chất,

là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất ở những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người

Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi

xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi

1.1.3 Quan hệ sản xuất

Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối quan hệ với nhau Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất.Nói cách khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất

Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội

Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào

ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất

Trang 9

của đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội

Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:

Thứ nhất, quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất.Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu.trong

hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác

Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử

đã được chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình

mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau Ngược lại trong các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng

Thứ hai, quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong

hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội

Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản

Trang 10

lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội

Nêu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất

sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh

tế xã hội mới

1 2 Cơ sở lí luận của vấn đề:

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất

và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh

tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế

Trang 11

xâm lược của đế quốc Pháp, chế độ phong kiến mà đại biểu là triều đình nhà Nguyễn đã chọn con đường quỳ gối đầu hàng, dâng nước ta cho Pháp Chế độ phong kiến Việt Nam trước đây đại biểu cho dân tộc, đến nay bộc lộ rõ sự thối nát, bất lực và phản động

Một số phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta với truyền thống kiên cường bất khuất Tuy nhiên, các cuộc kháng chiến anh dũng đó đều không thành công, đều bị dập tắt trong máu lửa Tuy các sĩ phu giàu lòng yêu nước, nhưng không có khả năng vạch ra được giải pháp mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và xu thế phát triển của thời đại Đến cuối thế kỷ thứ XIX, các phong trào yêu nước chống Pháp đều bị thất bại Bởi kẻ thù mới này có tiềm lực kinh

tế, có đội quân xâm lược nhà nghề với ưu thế về vũ khí, kỹ thuật và phương tiện chiến tranh

Sang đầu thế kỷ XX, đế quốc Pháp tiến hành kế hoạch “khai thác thuộc địa”, nhằm bóc lột, vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam Dưới chế độ khai thác, bóc lột và thống trị của đế quốc Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng:

+ Về kinh tế, để thu được lợi nhuận tối đa, đế quốc Pháp thi hành chính sách kinh tế thực dân rất bảo thủ và phản động, đó là duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thức thực dân được du nhập vào Việt Nam Thực hiện chính sách trên, đế quốc Pháp thực hành thủ đoạn độc quyền kinh tế

và thủ đoạn bóc lột phi kinh tế, đó là chế độ thuế khóa vô cùng nặng nề và hết sức vô lý Chính sách kinh tế trên của Pháp đã tước hết khả năng phát triển độc lập của nền kinh tế Việt Nam, làm cho nó ở trong tình trang lạc hậu, phải hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế Pháp Nhân dân Việt Nam bị bần cùng hóa, nông dân, thợ thủ công phá sản, ngày càng nghèo đói

Trang 12

+ Về chính trị, đế quốc Pháp thực hành chính sách chính trị chuyên chế Chúng dùng lối cai trị trực tiếp bằng bộ máy công chức chuyên nghiệp người Pháp, thâu tóm mọi quyền hành Đứng đầu bộ máy cai trị ở Đông Dương là một tên toàn quyền người Pháp Mỗi kỳ có một Thống đốc, hoặc Thống sứ, Khâm sứ Mỗi tỉnh có một Công sứ Triều đình nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn Với bộ máy nhà nước thuộc địa như vậy, chúng thẳng tay đàn áp, không cho dân ta một chút tự do, dân chủ nào Cùng với chính sách đàn áp dã man phong trào cách mạng, chúng còn dùng chính sách chia để trị Chúng chia nước

ta thành ba kỳ với ba hình thức cai trị khác nhau nhằm chia rẽ và gây hằn thù dân tộc Chúng còn chia rẽ nhân dân ba nước Đông Dương Nhận định về chính sách “chia để trị”, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó Chính vì thế, mà nước

An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã

bị chia năm xẻ bảy” Chúng còn bóp nghẹt quyền tự do, dân chủ, đàn áp dã man mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta

+ Về văn hóa, xã hội, đế quốc Pháp thi hành chính sách ngu dân, truyền

bá văn hóa nô dịch, phản động, khuyến khích đồi phong, bại tục, gây tâm lý tự

ti, vong bản Chúng tước hết mọi quyền sống của con người, lập nhà tù nhiều hơn trường học Chúng tìm mọi cách để ngăn chặn ảnh hưởng của các trào lưu văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam Đúng như đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”

Trang 13

vắt cạn kiệt Kinh tế duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thức thực dân được du nhập vào Việt Nam

Chương 3 Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất

3.1 Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội

Sản xuất vật chất tạo ra tư liệu sinh hoạt cho con người;

Sản xuất vật chất tạo ra các mặt, các quan hệ xã hội;

Sản xuất vật chất cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân con người;

Sản xuất vật chất quyết định sự phát triển của xã hội từ thấp đến cao Chính nhờ sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó Lịch sử của xã hội,

do vậy trước hết cũng là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất

3.2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa nội dung và vật chất và hình thức kinh tế của quá trình sản xuất đó cũng là mối quan hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, trên

cơ sở quyết định của lực lượng sản xuất, tạo thành nguồn gốc và động lực cơ bản của quá trình vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử

Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lượng sản xuất

3.2.1 Sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai phương diện cơ bản, tất yếu tố của mỗi phương thức sản xuất - mỗi quá trình sản xuất nhất định, do đó

Ngày đăng: 18/09/2023, 21:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w