1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận môn thị trường lao động thực trạng và giải pháp về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại thành phố hồ chí minh

52 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tiểu Luận Môn Thị Trường Lao Động Thực Trạng Và Giải Pháp Về Quản Lý Lao Động Nước Ngoài Làm Việc Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Thị Trường Lao Động
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 531,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy số lượng chưa thật sự nhiều nhưng lao động nước ngoài đến Việt Nam cũng đã gây nên những ảnh hưởng lớn đến việc làm của lao động trong nước cũng như làmphát sinh các vấn đề về xã hội

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Nguồn số liệu 4

6 Kết cấu 4

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.1.1 Lao động 5

1.1.2 Nguồn lao động 5

1.1.3 Thị trường lao động 6

1.1.4 Thị trường lao động quốc tế 7

1.1.5 Xuất nhập khẩu lao động 7

1.1.6 Khái niệm người lao động nước ngoài 8

1.2 Nguyên nhân xuất nhập khẩu lao động 8

1.3 Tình hình người lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam 10

1.4 Tác động của lao động nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 11

1.4.1 Thúc đẩy phát triển kinh tế 11

1.4.2 Tác động tiêu cực 12

1.5 Quy định pháp luật Nhà nước về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 13

Chương 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 14

Chuyên đề thực tập

Trang 2

2.1 Vài nét về vị trí, kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 14

2.1.1 Về kinh tế 14

2.1.2 Về xã hội 15

2.2 Thực trạng thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh 16

2.2.1 Đặc điểm về cung lao động (nguồn lao động) 17

2.2.2 Đặc điểm về cầu lao động 19

2.2.3 Tình hình cung – cầu lao động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 20

2.3 Nhận định về tình hình sử dụng lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay 25

2.4 Thực trạng lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2009 26

2.4.1 Khái quát chung 26

2.4.2 Tình hình Cấp giấy phép lao động đối với lao động nước ngoài 27

2.4.3 Tình hình người lao động nước ngoài đến Thành phố Hồ Chí Minh làm việc theo quốc tịch 30

2.4.4 Số lượng lao động nước ngoài tính theo trình độ chuyên môn 31

2.4.5 Số lượng lao động nước ngoài theo ngành nghề 33

2.4.6 Tiền lương của người nước ngoài 34

2.4.7 Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh 35

3.1 Phương hướng, mục tiêu, thách thức và giải pháp cho công tác quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 41

3.1.1 Phương hướng 41

3.1.2 Mục tiêu 43

3.1.3 Thách thức 44

3.1.4 Giải pháp 45

3.2 Nhận xét và một số kiến nghị 46

3.2.1 Nhận xét 46

3.2.2 Một số kiến nghị 47

PHẦN KẾT LUẬN 52

Chuyên đề thực tập

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại toàn cầu hóa, lao động di chuyển từ nước này sang nước khác đã trởthành một hiện tượng khá phổ biến Đặc biệt, khi là thành viên chính chức của Tổ chứcThương mại thế giới WTO thì bên cạnh “dòng chảy” về vốn, công nghệ thì “dòng chảy”lao động nước ngoài vào Việt Nam là điều không tránh khỏi Mặc dù trong những cam kếtgiữa Việt Nam với WTO, chưa có cam kết nào yêu cầu chúng ta phải mở cửa thị trườnglao động Tuy nhiên, thông qua các gói dịch vụ mà doanh nghiệp nước ngoài cung cấpbên lãnh thổ Việt Nam, chúng ta phải chấp nhận một thực tế là sẽ có một lượng lớn laođộng nước ngoài vào nước ta, kể cả lao động chất lượng cao lẫn lao động phổ thông

Thực tế thấy rằng, lao động nước ngoài khi đến Việt Nam làm việc vừa có tácđộng thúc đẩy phát triển nhưng cũng vừa có tác động tiêu cực đến nhiều mặt của kinh tế -

xã hội Tuy số lượng chưa thật sự nhiều nhưng lao động nước ngoài đến Việt Nam cũng

đã gây nên những ảnh hưởng lớn đến việc làm của lao động trong nước cũng như làmphát sinh các vấn đề về xã hội, nhất là ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh.Theo số liệu từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, tính đếncuối năm 2009, số lao động nước ngoài đang làm việc tại Thành phố là 18.065 người.Đây là con số thống kê được dựa trên việc đăng ký, khai trình của các doanh nghiệp Tuynhiên, vẫn còn một bộ phần lớn lao động nước ngoài chưa có giấy phép lao động Chínhđiều này đã tạo ra nhiều khó khăn trong việc quản lý của cơ quan chức năng cũng như

phát sinh các vấn đề về an ninh xã hội liên quan Vì vậy, bài tiểu luận “Thực trạng và giải

pháp về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực

hiện nhằm phản ánh hiện trạng hiện nay về tình hình lao động nước ngoài tại Thành phố,tìm hiểu về thực trạng cũng như những khó khăn trong việc quản lý nhà nước đối với laođộng nước ngoài, từ đó đề ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm quản lý có hiệu quả hơn

bộ phận lao động này

Chuyên đề thực tập

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài này được thực hiện nhằm:

Tìm hiểu về thực trạng lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minhgiai đoạn 2006 – 2009 theo số lượng, quốc tịch, ngành nghề, trình độ chuyên môn;Tìm hiểu và đánh giá về công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài;

Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý lao động nướcngoài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng quản lý lao động nước ngoài làmviệc tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu là ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2009

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên việc phân tích số liệu thu thập được từ cácBáo cáo thường niên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, từcác nguồn khác như sách, tạp chí, báo chí

5 Nguồn số liệu

Số liệu sử dụng được lấy chủ yếu từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thànhphố Hồ Chí Minh thông qua các báo cáo về lao động – việc làm, về lao động nước ngoài;Ngoài ra còn sử dụng các số liệu lấy được từ Tổng cục Thống kê và trên các bài báo, tạpchí, website có thông tin liên quan

Trang 5

Có nhiều khái niệm khác nhau về lao động:

Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra

và là một dịch vụ hay hàng hóa Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất.Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụkhác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động Giá cả của laođộng là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động Mức tiền công chính

là mức giá của lao động

Theo Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩ Việt Nam thì lao động

là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thầncủa xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sựphát triển của đất nước

Chung quy lại chúng ta thấy rằng, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thứccủa con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình, nhằmsáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, củanhóm người hay của cả xã hội Lao động là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệusản xuất

1.1.2 Nguồn lao động

Đối với Xã hội ngày nay nguồn lao động hay còn gọi là nguồn nhân lực, là mộtnguồn lực không thể thiếu của bất cứ quốc gia nào Khái niệm nguồn lao động trong Kinh

Chuyên đề thực tập

Trang 6

tế học là dân số có khả năng lao động cả bằng thể lực và trí lực của mình Nói cách khác,

đó là những dân cư đang làm việc và không làm việc nhưng vẫn có khả năng lao động.Đặc điểm của nguồn lao động là không thể tích luỹ, tiết kiệm, không thể sử dụng như lànhững yếu tố nguyên liệu sản xuất Nếu như nguồn lao động được tiết kiệm ,không được

1.1.3 Thị trường lao động

Cùng với các thị trường khác (thị trường tài chính, thị trường hàng hóa, thị trườngbất động sản, thị trường khoa học công nghệ…) thì thị thường lao động là một phần cấuthành phức tạp và không thể tách rời của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động củacác quy luật trên nền kinh tế thị trường

Hiện nay, chưa có sự thống nhất nào trong việc xác định bản chất của thị trườnglao động Khái niệm về thị trường lao động được nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức đưa

ra theo nhiều cách khác nhau

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì Thị trường lao động là thị trường trong

đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình thỏa thuận để xác địnhmức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công

Còn đối với các nhà khoa học Mỹ, cụ thể là Ronald Erenberg và Robert Smith thì “Thị trường, mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vựcviệc làm, thì được gọi là thị trường lao động” hoặc “Thị trường lao động – đó là một cơchế mà với sự trợ giúp của nó hệ số giữa người lao động và số lượng chỗ làm việc đượcđiều tiết”

Chuyên đề thực tập

Trang 7

Nhà khoa học người Nga, V.I Plakxia đã đưa định nghĩa: “ Thị trường lao động –

đó là một dạng đặc biệt của thị trường hàng hóa, mà nội dung của nó là thực hiện vấn đềmua và bán loại hàng hóa có ý nghĩa đặc biệt – sức lao động, hay là khả năng lao độngcủa con người”

Như vậy, từ những cách định nghĩa trên, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm kháiquát và đầy đủ như sau:

Thị trường lao động là một bộ phận của hệ thống trị trường, là nơi diễn ra quá trìnhtrao đổi, mua bán dịch vụ lao động giữa người có nhu cầu tìm viêc làm và người có nhucầu sử dụng lao động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) vàcác điều kiện thỏa thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội…)trên cở sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua cácdạng hợp đồng hay thỏa thuận khác

1.1.4 Thị trường lao động quốc tế

Thị trường lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thếgiới, bao gồm tất cả các thị trường lao động của các nước trên thế giới Trong thị trườnglao động quốc tế thì lao động từ nước này có thể di chuyển sang nước khác thông qua cácHiệp định, Thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau Di chuyển lao động trên trịtrường lao động quốc tế được thể hiện chủ yếu qua hai hình thức: di cư lao động quốc tế

và xuất nhập khẩu lao động từ nước này sang nước khác

1.1.5 Xuất nhập khẩu lao động

Xuất nhập khẩu lao động là hình thức di chuyển lao động từ thị trường lao độngnước này (hoặc vùng lãnh thổ này) sang một thị trường lao động nước khác (hoặc vùnglãnh thổ khác) để cung cấp dịch vụ lao động cho nước nhập khẩu và giải quyết công ănviệc làm cho lao động của nước xuất khẩu Nước có lao động gửi ra nước ngoài gọi lànước xuất khẩu lao động; nước có người nước ngoài đến lao động gọi là nước nhập khẩulao động

Chuyên đề thực tập

Trang 8

1.1.6 Khái niệm người lao động nước ngoài

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25 tháng 3năm 2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việctại Việt Nam thì người lao động nước ngoài là “người không có quốc tịch Việt Nam theoLuật quốc tịch Việt Nam” được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008

1.2 Nguyên nhân xuất nhập khẩu lao động

Xuất nhập khẩu lao động giữa các nước, sở dĩ có hiện tượng này là vì:

Một là, sự phân bố tài nguyên, đất đai, dân cư không đồng đều giữa các nước Nhiều nước

có tài nguyên nhiều nhưng dân số lại ít như các nước dầu mỏ ở Trung Cận Đông, vì vậy ởnhững nước này nhu cầu sử dụng lao động trong các ngành xây dưng, dịch vụ, nhất làdịch vụ tại gia cao Nhưng do dân cư ít, lực lượng lao động trong nước không đáp ứng đủ

số lượng dẫn tới phải nhập khẩu lao động Trong khi đó, những nước đông dân như:Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Việt Nam… đất đai canh tác tính trên đầu người thấp,kinh tế phát triển chưa cao dẫn tới tình trạng là thừa tương đối một số lượng lao động cónhu cầu xuất khẩu lao động Chính vì vậy mà có hiện tượng xuất, nhập khẩu lao độnggiữa các nước thừa lao động với các nước thiếu lao động

Hai là, trình độ khoa học, kỹ thuật giữa các nước không đồng đều nhau Điều này

dễ dàng nhận thấy được Đối với những nước có kinh tế phát triển, có trình độ khoa họccông nghệ phát triển cao như: Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu… thì có đội ngũ nhiều chuyên gia,lao động cao cấp có trình độ cao, có kỹ năng Còn đối với những nước đang phát triển haykém phát triển như: Trung Quốc, Việt Nam, Malaxia, Thái Lan… thì trình độ chuyên môncủa người lao động còn yếu, thiếu nhiều kỹ năng, chưa nắm bắt được công nghệ, từ đóchưa thể đáp ứng được yêu cầu của một số ngành nghề, vị trí đòi hỏi kỹ thuật cao Chính

vì vậy, những nước thiếu lao động chất lượng cao này sẽ phải có nhu cầu nhập khẩu laođộng, chuyên gia, nhà quản lý cao cấp từ những nước phát triển Hơn nữa, đối với nhữngnước đang phát triển thường thì họ thường mua công nghệ, máy móc từ những nước pháttriển Điều này cũng làm nảy sinh việc những chuyên gia, lao động cao cấp từ nhữngnước bán công nghệ, máy móc sang chuyển giao công nghệ cho nước mua Như vậy, hiểnnhiên là sẽ có hiện tượng xuất nhập khẩu lao động

Chuyên đề thực tập

Trang 9

Ba là, ở những nước phát triển kể cả những nước công nghiệp mới như Hàn Quốc,Đài Loan, Singapore… thì vẫn có nhu cầu sử dụng lao động giản đơn Đối với nhữngnước đã phát triển, trong cơ cấu kinh tế thì ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn Chính vìvậy, lao động ở những nước này chủ yếu tập trung trong những ngành nghề dịch vụ, cóchất xám cao Còn đối với những ngành nghề trong nông nghiệp, những ngành nghề xâydựng, chăm sóc người cao … thì lại thiếu Còn tại những nước Công nghiệp mới thì cơcấu kinh tế đang chuyển dịch sang những ngành sử dụng công nghệ, tư bản sử dụng chấtxám cao Những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông được họ tập trung chuyển sangđầu tư ở các nước có nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ Tuy nhiên, do quy mô khá lớn nênkhông thể chuyển hết ra nước ngoài Vì vậy mà ở những nước NICs này, vẫn có nhu cầunhập khẩu lao động.

Bốn là, mức thu nhập tiền lương giữa các nước khác nhau Rõ ràng, có sự chênhlệch về mức tiền lương giữa các nước với nhau Giữa những nước đang phát triển so vớicác nước phát triển thì đương nhiên tiền lương và điều kiện làm việc ở những nước pháttriển sẽ cao hơn Trong khi đó người lao động thì luôn muốn được làm việc ở môi trườngtốt, được thăng tiến và quan trọng có thu nhập cao để nâng cao đời sống của mình và giađình Vì vậy đã dẫn tới có nhu cầu chuyển dịch lao động từ những nước có thu nhập thấpđến các nước có mức sống và thu nhập cao, có điều kiện làm việc tốt hơn

Năm là, việc ra đời của các khối liên kết kinh tế quốc tế cao cấp như Liên minhChâu Âu (EU), các cộng đồng kinh tế ở các châu lục: Cộng đồng Caribê (CARICOM),Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA)… khiến hoạt động xuất nhập khẩu laođộng trở nên dễ dàng hơn Ví dụ lao động của Đức có thể sang nước Bỉ, Pháp làm việc vàđược hưởng mọi quyền lợi như lao động của nước sở tại Hoặc như trong các nước thuộcCộng đồng Caribê (CARICOM) thì đã xóa bỏ các yêu cầu về thị thực, tạo điều kiện chonhập cảnh ở các cửa khẩu và xóa bỏ các yêu cầu về giấy phép làm việc cho các công dânthuộc CARICOM

Chuyên đề thực tập

Trang 10

1.3 Tình hình người lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam

Từ khi mở cửa hội nhập với thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước pháttriển vượt bậc Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm luôn ở mức cao, năm 2007 là 8,48%,năm 2008 là 6,23% và năm 2009 là 5,32% Việt Nam là một trong những nước có tốc độtăng trưởng cao nhất thế giới Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam liên tiếpđạt kỷ lục cao, năm 2008 là 64 tỷ USD, năm 2009 là 21,48 tỷ USD Tất cả điều này chothấy, hội nhập với kinh tế thế giới đã giúp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu

Tuy nhiên, hội nhập với quốc tế, bên cạnh việc di chuyển tự do các yếu tố về vốn,công nghệ…thì việc di chuyển lao động vừa mang lại những tích cực cho nền kinh tếnhưng đồng thời cũng gây ra nhiệu mặt tiêu cực Trong xu toàn cầu hóa, việc người laođộng nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là điều tất yếu Lao động nước ngoài vào ViệtNam một mặt đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Việt Nam vẫn còn thiếu những vịtrí lao động, chuyên gia mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; mặt khác, việc cácnhà thầu nước ngoài đem theo nhiều vị trí lao động, chuyên gia sang Việt Nam để phục

vụ mục đích phát triển của họ là điều được cho phép theo quy định của Pháp luật

Theo số liệu từ Cục Việc làm Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đếnngày 30 tháng 5 năm 2009, đã có trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ có lao động làm việctại Việt Nam với số lượng trên 75.000 người Còn theo một số báo cáo khác lên đến gần90.000 người Trước đó, năm 2007 thì đã có khoảng 43.000 người, năm 2008 là 52.633người Đây chỉ là những con số trong diện quản lý được, trên thực tế còn cao hơn nữa

Người nước ngoài đến Việt Nam làm việc ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực như côngnghệ cao, giáo dục, giày da, may mặc, in, xây dựng… Theo thống kê gần đây nhất thì cóđến 49,9% trong tổng số lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam chỉ có trình độ caođẳng trở xuống Trong đó, người nước ngoài làm quản lý chỉ chiểm 31,8%; lao động làmchuyên gia kỹ thuật chiế 41,2% và lao động khác chiếm 27% Điều này cho thấy, chấtlượng trình độ của người lao động nước ngoài đến Việt Nam còn thấp Bên cạnh nhữnglao động nước ngoài có trình độ cao, chuyên gia cao cấp thì số lượng lao động phổ thôngvào Việt Nam chiểm một tỷ lệ không nhỏ Thực tế vừa qua, lao động nước ngoài phổ

Chuyên đề thực tập

Trang 11

thông vào nước ta rất nhiều, bằng những con đường khác nhau: du lịch, thăm thân nhân,thương mại Sau khi vào Việt Nam thì ở lại và tìm việc làm

Về mặt nguyên tắc, Việt Nam chưa mở cửa thị trường lao động phổ thông đối vớilao động nước ngoài, nhưng trên thực tế, lao động phổ thông người nước ngoài làm việctại Việt Nam khá nhiều Thực trạng này không chỉ gây khó khăn trong việc quản lý nhànước mà nó còn có nhiều ảnh hưởng đến việc làm của người lao động trong nước cũngnhư các hậu quả xã hội về sau

1.4 Tác động của lao động nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

1.4.1 Thúc đẩy phát triển kinh tế

Một là, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành sản xuất,công nghệ cao, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội và thúc đẩy nền kinh tế pháttriển nhanh

Là nước đang phát triển, Việt Nam đứng trước thực tế là thiếu nhân lực có trình độcao trong một số ngành kinh tế quốc dân Đặc biệt là nhóm kỹ thuật viên trong một sốngành kinh tế kỹ thuật, nhóm chuyên gia trong các ngành công nghệ cao và quản trị viêncao cấp ở cấp độ doanh nghiệp cũng như cấp ngành thiếu hụt nghiêm trọng

Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO tạo điều kiện cho người laođộng nước ngoài đến Việt Nam làm việc đã góp phần bù đắp lượng lao động nói trên.Mặc khác, với chất lượng trình độ cao, tác phong làm việc công nghiệp thì người lao độngnước ngoài cũng góp phần trong việc làm tăng năng suất lao động xã hội và do đó thúcđẩy tăng trưởng kinh tế với mức độ cao

Hai là, tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam

Các nhà đầu tư nước ngoài, ngoài việc đưa vốn và công nghệ vào Việt Nam, họ cónhu cầu sử dụng lao động với trình độ tương ứng Là thành viên WTO, nguồn nhân lựccao từ nước ngoài được tự do đến làm việc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nướcngoài trong việc tuyển dụng lao động có trình độ cao Hơn nữa, đây cũng chính là điều

Chuyên đề thực tập

Trang 12

kiện thuận lợi cho việc tạo ra môi trường hấp dẫn để thu hút đầu tư nước ngoài vào làm ăntại Việt Nam nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.

Ba là, tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động trong nước và lao động nước ngoài.Trong điều kiện thị trường lao động Việt Nam mới hình thành và phát triển, laođộng nước ngoài vào Việt Nam làm việc sẽ tạo ra nguồn cung lao động cho thị trường.Chính điều này đã thúc đẩy lao động cạnh tranh trên thị trường, góp phần nâng cao chấtlượng lao động Thông qua cạnh tranh, người lao động trong nước phải tự mình nâng caotrình độ, kỹ năng nghề nghiệp và ngoại ngữ để có thể ngang bằng với lao động nướcngoài Kết quả làm cho chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên

Bốn là, góp phần đào tạo nhân lực tại chổ theo tương tác thẩm thấu

Khi người lao động Việt Nam làm việc cùng với lao động nước ngoài, thông quatiếp xúc, trao đổi hàng ngày, người lao động Việt Nam có thể học tập trực tiếp về ngoạingữ, phong cách, kỹ thuật, kỹ năng nhằm tự hoàn thiện và nâng cao trình độ của mình

1.4.2 Tác động tiêu cực

Một là, làm giảm thu nhập yếu tố thuần (NX) trong tổng thu nhập quốc gia (GNI).Người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc thì họ có thu nhập và đượcchuyển về nước phần thu nhập còn lại Chính điều này đã làm giảm thu nhập yếu tố thuầntrong tổng thu nhập quốc gia; kết quả là làm giảm tổng thu nhập quốc gia

Hai là, ảnh hưởng đến việc làm của người lao động trong nước

Lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đếnviệc làm của người lao động trong nước Trong khi hằng năm Chính phủ luôn có nhiềuchính sách nhằm tạo ra nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp thì số lượng ngườinước ngoài đến làm việc có thể sẽ lấy đi cơ hội làm việc cho lao động Việt Nam Đối vớicác việc làm cần trình độ chuyên môn cao, người lao động nước ta không đáp ứng đượcthì việc cần đến các chuyên gia, lao động nước ngoài là điều không tránh khỏi Thếnhưng, điều đáng quan tâm ở đây là việc bộ phận không nhỏ lao động phổ thông nhậpcảnh vào Việt Nam Bộ phận lao động này sẽ có ảnh hưởng đến cơ hội việc làm của laođộng phổ thông trong nước

Chuyên đề thực tập

Trang 13

Ba là, làm du nhập lối sống và văn hóa ngoại lai không phù hợp với thuần phong,

mỹ tục của người Việt, làm sai lệch các chuẩn mực đạo đức, văn hóa truyền thống

Người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc, họ mang theo văn hóa của dântộc và đất nước họ Cùng với những yếu tố văn minh, hiện đại thì đồng thời họ cũng mangtheo lối sống, văn hóa độc hại, không phù hợp với truyền thống và bản sắc văn hóa dântộc Việt

Bốn là, gây ra nhiều hậu quả về an ninh trật tự xã hội về sau

Với số lượng người lao động đến Việt Nam tương đối không nhỏ như vậy sẽ làmphát sinh ra nhiều vấn đề về nơi sống, sinh hoạt, làm việc cũng như về an ninh trật tự tạiđịa bàn mà họ cư trú Đặc biệt là những người lao động phổ thông, sang Việt Nam bằngcon đường du lịch

1.5 Quy định pháp luật Nhà nước về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có bộ luật chính thức nào quy định vềviệc tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Nếu như người laođộng đi ra nước ngoài làm việc được điều chỉnh và quy định bởi “Luật người lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” thì người lao động nước ngoài vàoViệt Nam làm việc lại chưa có luật mà chỉ có Nghị định số 34/2008/NĐ-CP của Chính phủquy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Chính điềunày đã dẫn tới một thực tế là công tác quản lý lao động trên cả nước cũng như tại các địaphương như thành phố Hồ Chí Minh gặp không ít khó khăn, vướng mắc

Chuyên đề thực tập

Trang 14

Chương 2:

THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Vài nét về vị trí, kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong năm Thành phố trực thuộc Trungương của Việt Nam Với vị trí và vai trò của mình, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâmkinh tế, thương mại, giáo dục, công nghê, văn hóa, xã hội của cả nước

2.1.1 Về kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam Thành phốchiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sảnphẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài Nếu như năm 2001tốc độ tăng GDP của thành phố là 7,4 % thì đến năm năm 2007 tăng lên 12,6% và năm

2009 là 8,5%

Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Năm 2008, thunhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.534 USD/năm, cao hơn nhiều so với trungbình cả nước, 1024 USD/năm Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mứcđóng góp GDP lớn cho cả nước Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cảnước

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ,thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấukinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%,phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷtrọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp,lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%

Chuyên đề thực tập

Trang 15

Hai mươi năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã có 3.141 dự án được cấp giấychứng nhận đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư hơn 25,68 tỉ USD Năm 2007, thànhphố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD Năm 2008, thành phố đã có đến 8,65 tỉ USDvốn đầu tư nước ngoài, cao hơn tổng số vốn đầu tư trong các năm từ 2002-2007 Các dự

án đầu tư tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp, trong đó dịch vụchiếm 48,5%; công nghiệp chiếm 36,3%, còn lại là các ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản.Những năm gần đây, xu hướng đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố tập trung vàocác lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, công nghệ cao… ngày càng lớn

Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêuthị, chợ đa dạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa củathành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng Những thập niên gần đây, nhiều trungtâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza Mức tiêuthụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam

và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội

Hoạt động du lịch của thành phố phát triển mạnh, năm 2009, tổng lượng kháchquốc tế đến TP Hồ Chí Minh đạt 2,6 triệu lượt Tổng doanh thu du lịch của thành phốnăm 2009 đạt 35.000 tỷ đồng Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy cácphương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên các báolớn, truyền hình, tăng cường và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyênnghiệp khu vực và các thị trường trọng điểm

Thành phố Hồ Chí Minh còn là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam,thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính - tíndụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thutoàn quốc Về thị trường chứng khoán, đã có 30 công ty cổ phần, 01 công ty quản lý quỹniêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh; tổng vốn cổ phầnniêm yết trên 1.600 tỷ đồng

2.1.2 Về xã hội

Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 Thành phố Hồ Chí Minh có dân số7.123.340 người, gồm 1.812.086 hộ dân, bình quân 3,93 người/hộ Phân theo giới tính:

Chuyên đề thực tập

Trang 16

Nam có 3.425.925 người chiếm 48,1%, nữ có 3.697.415 người chiếm 51,9% Dân sốthành phố tăng nhanh, trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2,086.185người, bính quân tăng gần 209.000 người/năm, tốc độ tăng 3,53%/năm, chiếm 22% sốdân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm Quận Bình Tân có dân số lớn nhất với572.796 người; huyện Cần Giờ có dân số thấp nhất với 68.213 người Không chỉ là thànhphố đông dân nhất Việt Nam, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh còn hơn phầnlớn các thủ đô ở châu Âu ngoại trừ Moscow và London.

Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ cao trong nội thành, cộng thêmmột lượng lớn dân vãng lai, đã phát sinh nhu cầu lớn về y tế và chăm sóc sức khỏe Các tệnạn xã hội, như mại dâm, ma túy, tình trạng ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn tớisức khỏe dân cư thành phố Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là 71,19, con số

ở nữ giới là 75,00

Có thể nói thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung động đảo các thành phần dân

cư với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo nên nền văn hoá nơi đây cũng rất đa dạng và phongphú Cơ cấu dân tộc, người Kinh chiếm 92,91% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoavới 6,69%, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer Những người Hoa ở thành phố Hồ ChíMinh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11

và có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố

Những chuyển biến tích cực của nền kinh tế đã tạo thuận lợi cho việc thực hiệnchương trình việc làm cho người dân Thành phố Bình quân mỗi năm Thành phố giảiquyết việc làm cho khoảng 230.000 lao động Riêng năm 2009 giải quyết việc làm cho289.627 lao động Chương trình việc làm cho người lao động gắn liền với thực hiện cácmục tiêu kinh tế xã hội của thành phố Kinh tế phát triển tạo điều kiện nâng cao thu nhậpcủa người dân cũng như góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội của Thành phố

2.2 Thực trạng thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh

Theo số liệu thống kê toàn thành phố có 43.114 doanh nghiệp, trên 300.000 cơ sởsản xuất kinh doanh cá thể đang hoạt động, 15 khu chế xuất - khu công nghiệp đang hìnhthành và phát triển Với hoạt động đầu tư tăng nhanh nên thị trường lao động thành phốbước đầu hình thành thành và tác động mạnh đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động thành

Chuyên đề thực tập

Trang 17

phố cũng như có sự chuyển dịch lớn lực lượng lao động từ các tỉnh thành phố khác đếnlàm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.

2.2.1 Đặc điểm về cung lao động (nguồn lao động)

Thị trường lao động thành phố là một thị trường mở do Thành phố Hồ Chí Minh làmột trung tâm kinh tế của cả nước, là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực với mạng lưới tậptrung các Trường Đại học, Cao đẳng, các Trường nghề cho cả khu vực

Dân số thành phố từ năm 2006 đến năm 2009, bình quân mỗi năm tăng 195.000người, tốc độ tăng dân số tại khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn, bình quân mỗinăm khu vực thành thị tăng 156.000 người, trong khi khu vực nông thôn tăng bình quân39.000 người/năm Dân số trong độ tuổi lao động bình quân mỗi năm tăng 100.000 người

Cụ thể số liệu như sau:

Bảng 2.1: Nguồn lao động Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến 2010

2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

DB 2010

1 Dân số 1000 người 6.424 6.650 6.810 7.123 7.436+ Thành thị “ 5.463 5.640 5.789 5.929 6.050+ Nông thôn “ 961 1.010 1.020 1.193 1.386

2 Dân số trong độ tuổi lao động “ 4.251 4.380 4.401 4.798 4.991

Tỉ lệ so với tổng dân số % 66,17 65,86 64,63 67,36 67,12Trong đó Nữ 1000 người 2.221 2.301 2.330 2.466 2.625

Tỉ lệ nữ so với tổng dân số % 34,57 34,60 34,21 34,62 35,30

3 Lực lượng lao động hoạt động

trong các thành phần kinh tế 1000 người 2.864 2.913 3.187 3.586 3.850Trong đó Nữ “ 1.546 1.668 1.705 1.881 1.995

(nguồn: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh)

Chuyên đề thực tập

Trang 18

Để đánh giá nguồn cung lao động cần xem xét thị trường lao động trong mối quan

hệ giữa sự phát triển nguồn lao động, hoạt động đào tạo cung ứng nguồn nhân lực choviệc phát triển kinh tế Thành phố

a Nguồn lao động xã hội

Nguồn lao động xã hội tập trung ở số dân cư trú trên địa bàn thành phố và số người

từ các địa phương trong cả nước đến thành phố Hồ Chí Minh học tập, làm việc Theo sốliệu thống kê năm 2009, nguồn lao động thành phố là 4,798 triệu người, chiếm tỷ trọng67,36% dân số, trong đó lao động từ các tỉnh thành phố khác đến thành phố làm việcchiếm tỷ trọng trên 30% số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân Thànhphố Điều này cho thấy thị trường lao động Thành phố là một thị trường mở, thu hút đốivới người lao động chưa có việc làm trong Thành phố, trong khu vực và trong cả nước

Kể cả lao động nước ngoài đáp ứng cho nhu cầu của thị trường lao động cao cấp (cácchuyên gia lao động của các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Phillippine, Mỹ,Úc…)

Một đặc điểm trong nguồn lao động xã hội là lao động đã qua đào tạo chiếm tỷtrọng 49,11% trong tổng số lao động đang làm việc Như vậy, qua con số này cho thấy sốlượng lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ cao Tình trạng này phần nào nói lênđược chất lượng của lao động

Số người có việc làm trong nền kinh tế quốc dân trên 3 triệu người, chiếm tỷ trọng67,75% nguồn lao động Qua số liệu khảo sát của ngành lao động - thương binh và xã hộithì số lao động làm công việc tự do chiếm trên 40% số lao động đang có việc làm trên địabàn thành phố, đa phần là lao động nhập cư

Số người thất nghiệp giảm dần qua các năm, tỷ lệ thất nghiệptừ 5,9% năm 2005 đãkéo giảm xuống 5,3% năm 2009 (qua các năm, tỉ lệ thất nghiệp giảm 0,6%); ước thựchiện đến cuối năm 2010 là dưới 5,1% Sở dĩ có sự kéo giảm này là do quá trình đô thị hóacác khu vực ngoại thành, các hoạt động đầu tư tăng mạnh, hoạt động đầu tư mở rộng vàphát triển các khu công nghiệp của thành phố đã thúc đẩy tăng nhanh chỗ làm việc chongười dân thành phố cũng như trong khu vực

Chuyên đề thực tập

Trang 19

b Nguồn lao động đang đào tạo

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm giáo dục của các nước Tại đây tập trungnhiều cơ sở đào tạo của Trung ương, Thành phố lẫn quận, huyện và của các doanh nghiệp.Chính vì vậy, mạng lưới đào tạo, đào tạo nghề của thành phố rất phong phú và đa dạng

Tổng số trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp trên địa bàn Thànhphố là 104 trường, trong đó trường đại học là 41 trường, cao đẳng là 29 trường và trunghọc chuyên nghiệp là 34 trường Tổng số sinh viên được đào tạo tại các trường là 417.878người, trong đó số sinh viên tuyển mới của năm học là 122.790 người

Còn cơ sở dạy nghề thì toàn thành phố hiện có 351 cơ sở dạy nghề, trong đó có 6trường cao đẳng nghề, 23 trường trung cấp nghề, 83 trung tâm dạy nghề Mạng lưới cơ sởdạy nghề phân bố khắp 24 quận - huyện với năng lực đào tạo hàng năm trên 30.000 họcsinh trung cấp nghề, 10.000 sinh viên cao đẳng nghề và khoảng 330.000 học viên họcnghề ngắn hạn dưới 12 tháng

2.2.2 Đặc điểm về cầu lao động

Thị trường lao động của thành phố tuy mới hình thành sơ khai nhưng đã hoạt độngkhách quan theo nguyên tắc của cơ chế thị trường Thị trường lao động hiện nay bao gồmthị trường lao động trong nước và thị trường lao động ngoài nước

a Thị trường lao động trong nước

Thị trường lao động trong nước gắn liền hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, sựtăng trưởng của nền kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.Theo các nguồn thống kê, trong năm 2007 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 43.144doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 92,40% trong tổng số doanhnghiệp đang hoạt động; các cơ sở kinh doanh cá thể có trên 300.000 cơ sở đang hoạtđộng Hàng năm có bình quân 7.000 đến 8.000 doanh nghiệp đăng ký hoặc đăng ký bổsung chức năng hoạt động Bình quân hàng năm doanh nghiệp tạo ra từ 100.000 đến120.000 chỗ làm việc mới Một số ngành nghề có sự chuyển dịch lao động cao như ngànhmay mặc xuất khẩu, giày da, xây dựng, tạo nên sự biến động lớn về nhu cầu lao động vàothời điểm đầu năm

Chuyên đề thực tập

Trang 20

Lao động nước ngoài trên địa bàn thành phố (số có đăng ký giấy phép lao động) là18.065 người, tập trung vào các ngành nghề: giáo dục đào tạo, tư vấn tài chính - ngânhàng, dệt may - da giày thuộc quốc tịch các nước Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, ĐàiLoan, Malaysia…

b Thị trường lao động ngoài nước

Trong xu thế hội nhập và phát triển, thị trường lao động ngòai nước đang là tiềmnăng để xây dựng chiến lược đưa lao động Việt Nam đi học tập và làm việc tại nướcngoài Trong những năm vừa qua, hàng năm cả nước đưa được gần 80.000 lao động đilàm việc có thời hạn ở nước ngòai Đây là một trong giải pháp căn cơ trong thực hiệnchương trình việc làm cho người lao động nghèo

2.2.3 Tình hình cung – cầu lao động trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trong năm 2008, các khu vực kinh tế trên địa bàn thành phố đã thu hút 277.837người có việc làm Cơ cấu nguồn việc làm thu hút lực lượng nguồn nhân lực như sau:

Số chỗ làm việc của khu vực sản xuất công nghiệp, xây dựng thu hút 110.276người làm việc chiếm 39,69% tổng nhu cầu việc làm các ngành kinh tế tạithành phố;

Số chỗ làm việc của khu vực thương mại, dịch vụ thu hút 161.157 người làmviệc chiếm 58% tổng nhu cầu việc làm các ngành kinh tế tại thành phố;

Số chỗ làm việc của ngành nông nghiệp thu hút 6.404 người làm việc, chiếm2,31% tổng số nhu cầu việc làm các ngành kinh tế tại thành phố

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động đang làm việc, số có trình

độ cao đẳng - đại học trở lên chiếm trên 16%, lao động qua đào tạo chiếm 48% Hiện nay,lực lượng lao động qua đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thành phố, trình

độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động chưa tương xứng với yêu cầu phát triển củacác ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố

Gần đây nhất, trong Quý I năm 2010, theo kết quả khảo sát định kỳ, tổng hợp vàphân tích của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao độngThành phố Hồ Chí Minh, cho thấy:

Chuyên đề thực tập

Trang 21

a Cầu lao động theo cơ cấu ngành nghề

Chỉ số nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong quýI/2010 tăng 17,1% so với quý IV/2009 Nhu cầu chỗ làm việc trong phần lớn các ngànhnghề đều tăng Nguồn cầu vượt nguồn cung ở các ngành cần lao động phổ thông và sơcấp nghề

Các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng nhiều lao động trong quý I/2010 là ngànhnghề Nhựa - Bao bì (25.92%), Dệt may – Giày da (11.67%) Vì các doanh nghiệp thuộcnhóm ngành nghề này cần tuyển nhiều lao động phổ thông tập trung cho hoạt động sảnxuất – kinh doanh Mặt khác sau Tết nhiều người lao động không trở lại làm việc cácdoanh nghiệp thiếu nguồn lao động phổ thông và sơ cấp nghề

Những nhóm ngành nghề có nhu cầu việc làm, kế đến là Điện tử - Viễn thông(9.25%), Dịch vụ - Phục vụ (8.15%), Marketing - Nhân viên Kinh doanh (4.79%), Bánhàng(4,17%)

Biểu đồ 2.1: 6 nhóm ngành nghề có chỉ số cầu cao nhất quý I năm 2010

(Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố

Hồ Chí Minh)

b Cầu lao động theo cơ cấu trình độ nghề

Nhu cầu tuyển dụng trong quý I/2010 cho thấy các doanh nghiệp vẫn tập trung chủyếu vào nguồn lao động phổ thông với chỉ số tuyển dụng là 71.16% chủ yếu cho các

-Dệt may – Giày da

Điện tử Viễn thông

Dịch vụ Phục vụ

Marketing Nhân viên Kinh doanh

-Bán hàng

Chuyên đề thực tập

Trang 22

ngành nghề Bán hàng, Dịch vụ - Phục vụ, Dệt – May – Giày da, công nhân xây dựng, Sảnxuất – chế biến lương thực – thực phẩm Đồng thời các doanh nghiệp vẫn gia tăng tuyểnchọn người lao động có tay nghề và trình độ cao cụ thể Trung cấp – Trung cấp nghề 7.81

%, Đại học 5.65% chủ yếu là lĩnh vực Xây dựng - Kiến trúc, Tài chính - Ngân hàng, Kếtoán - Kiểm toán và Công nghệ thông tin, quản lý, hành chính - nhân sự, thư ký vănphòng, Marketing - Nhân viên Kinh doanh

c Cung lao động theo cơ cấu ngành

Dẫn đầu chỉ số cung vẫn là nhóm nhân lực ngành nghề Kế toán - Kiểm toán32.48 % Kế đó là các nhóm ngành Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng 10,04%,Công nghệ thông tin 7.41%, Marketing - Nhân viên kinh doanh 7.14%, đa số là lao động

có trình độ chuyên môn kỹ thuật và có kinh nghiệm

Biểu đồ 2.2: 6 nhóm ngành nghề có chỉ số cung cao nhất quý I năm 2010

(Nguồn: Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố

-Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng

Công nghệ thông tin

Marketing Nhân viên Kinh doanh

Tài chính Ngân hàng

Xây dựng Kiến trúc

-Chuyên đề thực tập

Trang 23

Chỉ số cung trình độ đại học (30.26%), cao đẳng (20.25%), trung cấp (20.34%),

sơ cấp nghề (4.49%), Công nhân kỹ thuật lành nghề (6.10%) và lao động phổ thông(14.10%)

Tổng thể chung cung – cầu của thị trường lao động diễn ra tình trạng mất cânđối Theo báo cáo nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, một số ngành nghề cónhiều nhu cầu lao động thường xuyên là kỹ thuật cơ khí, hóa chất, kiến trúc, xây dựng,vận hành máy, lắp ráp điện tử, kỹ thuật đồ hoạ, kỹ thuật điện - điện lạnh, kế toán, điềuhành kinh doanh, quản lý sản xuất, nhu cầu tuyển lao động kỹ thuật và quản lý sản xuất.Tuy nhiên hiện nay thì lao động có tay nghề, trình độ cao của Thành phố còn thiếu rấtnhiều Vì vậy, chắc hẳn sẽ có cuộc cạnh tranh gay gắt ở khu vực lao động kỹ thuật cao,các chức danh quản lý và nhân sự bậc cao Nguyên nhân là do giữa nhà tuyển dụng vớicác ứng viên vẫn còn một khoảng cách đáng kể về điều kiện và tiêu chuẩn tuyển dụng,nhưng quan trọng nhất là phần lớn lao động bị hạn chế về khả năng làm việc độc lập vàlàm việc theo nhóm, nặng về lý thuyết mà hạn chế về kỹ năng thực hành Hiểu một cáchđơn giản là người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, yêu cầu về trình độchuyên môn và kinh nghiệm mà các doanh nghiệp đặt ra

Đối với các ngành thâm dụng lao động, đa số là lao động phổ thông, thực tế trênđịa bàn thành phố thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu hụt lượng lao động này Đặc biệt,như thường lệ thì sau dịp Tết nguyên đán tình trạng thiếu lao động phổ thông càng diễn ragay gắt hơn Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố đang “khát” nguồn lao động phổthông Theo thông tin của các doanh nghiệp và hệ thống giới thiệu việc làm thì trong tổngnhu cầu 80.000 chỗ làm việc trống của quý I tại thành phố, ước đoán đã thu hút đượckhoảng 60.00 nhân lực (đạt 70%); tuy nhiên nguồn lao động phổ thông chỉ đáp ứng đượctrên 50%, cá biệt có những doanh nghiệp chỉ thu hút lao động phổ thông đạt ở mức 35%-40%

Thị trường lao động thành phố hiện nay và những năm tới có sự chuyển động cả về

số lượng lẫn chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mới Dự kiến từ năm 2008 đếnnăm 2010, trên địa bàn thành phố sẽ thu hút 750.000 lao động, trong đó các khu chế xuất -khu công nghiệp thu hút khoảng 500.000 lao động Điều này đặt ra để thích ứng với tình

Chuyên đề thực tập

Trang 24

hình mới thì các các cơ quan quản lý cũng như chính doanh nghiệp phải có những biệnpháp nhằm có thể giải quyết được bài toán về cung – cầu lao động.

Theo dự báo đến năm 2010, tỷ trọng các ngành nghề có nhu cầu thu hút lao độngtrong các doanh nghiệp như sau:

Bảng 2.2: Tỷ trọng các ngành nghề có nhu cầu thu hút lao động năm 2010

6 Gỗ - thủ công mỹ nghệ - trang trí nội thất 7,00

9 Dược phẩm - hoá mỹ phẩm - hóa chất 3,00

(Nguồn: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh)

Dựa vào bảng số liệu trên, theo dự báo trong năm 2010 thì những ngành nghề vềdệt may, giày da, xây dựng, kinh doanh, cơ khí, công nghệ thông tin… có nhu cầu laođộng cao nhất Thực tế hiện nay, cầu về lao động của những ngành nghề này vẫn đang rấtcao Như vậy, nhóm những ngành lao động cần nhiều lao động phổ thông như dệt may,xây dựng… cũng như nhóm các ngành đòi hỏi trình độ cao như công nghệ thông tin, điệntử… sẽ cần rất nhiều lao động trong thời gian sắp tới Điều này cũng đồng nghĩa với việc

Chuyên đề thực tập

Trang 25

nếu không có những biện pháp khắc phục thì cũng giống như năm 2009, cung – cầu trênthị trường lao động năm 2010 cũng như trong những năm tiếp theo sẽ mất cân đối nghiêmtrọng.

2.3 Nhận định về tình hình sử dụng lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay

Thị trường lao động thành phố hiện nay và những năm tới có sự chuyển động cả vềchất và lượng, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển mới Việc chuyển dịch này có thể sẽ dẫnđến nhiều người lao động phải chuyển sang công việc khác (như lao động đang làm ngànhdệt, may, da giày và một số ngành gia công chế biến) Quá trình chuyển dịch này sẽ tạo ranhiều doanh nghiệp tại thành phố luôn trong tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng Có thểnhiều doanh nghiệp dù đã có những chiến lược; nhất là các chế độ lương, thưởng nhằmthu hút nguồn lao động cho doanh nghiệp mình; bố trí các bộ phận thường trực tuyển laođộng để mời gọi sinh viên, học viên sau khi tốt nghiệp và người lao động từ các địaphương khác, nhưng kết quả đạt được cũng còn hạn chế

Tình trạng lao động vừa thừa vừa thiếu tại Thành phố vẫn đang tiếp diễn Thừa vàthiếu ở đây không phải là thừa và thiếu về quy mô của nguồn nhân lực Nó thể hiện quaviệc thiếu những ứng viên thích hợp cho những vị trí quan trọng dù nguồn nhân lực cónhu cầu tìm việc lúc nào cũng thừa, còn nhiều người phải thất nghiệp luôn tìm kiếm việclàm Cái khó cho hầu hết các doanh nghiệp hiện nay là, ngoài việc khó tuyển lao động,nhưng khi tuyển được lao động rồi thì “buộc” phải đào tạo lại, trong khi việc đào tạo lạimất khá nhiều thời gian và chi phí Theo các nhà phân tích, sự bế tắc về chiến lược đàotạo, cơ cấu, chất lượng, kỹ năng ngành nghề; sự thiếu minh bạch về lương căn bản và thunhập thực tế, sự mất cân đối về cung – cầu lao động là nguyên nhân dẫn đến nghịch lý làlao động nhàn rỗi lại thừa nhưng lao động cơ cấu lại thiếu (mức dao động này lên tới trên30%)

Hiện nay, lao động có tay nghề, trình độ cao để đáp ứng các vị trí công việc tại cácdoanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn rất thiếu Vì vậy chắc hẳn sẽ cócuộc cạnh tranh gay gắt ở khu vực lao động kỹ thuật cao, các chức danh quản lý và nhân

sự bậc cao Nguyên nhân là do lao động phần lớn lao động trong nước có trình độ chuyên

Chuyên đề thực tập

Trang 26

môn chưa cao, chưa thể đáp ứng được yêu cầu của công việc đồng thời còn bị hạn chế vềkhả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm, nặng về lý thuyết mà hạn chế về kỹnăng thực hành Ngoài ra, lao động trong nước còn bị hạn chế về ngoại ngữ, khả năng hợptác và tác phong công nghiệp Do đó khi làm việc trong môi trường quốc tế, đa văn hóa vàcạnh tranh cao thì lao động Việt Nam bộc lộ nhiều yếu kém và không thể bằng với laođộng nước ngoài Chính những hạn chế này đã cản trở người lao động Việt Nam tìm đượcviệc làm ngay tại thị trường lao động trong nước và càng khó khăn hơn khi tham gia laođộng ở nước ngoài

Lực lượng lao động qua đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Thànhphố, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động chưa tương xứng với yêu cầu pháttriển của các ngành kinh tế mũi nhọn Cơ cấu đào tạo và dạy nghề chưa hợp lý còn nhiềubất cập so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngàycàng mở rộng Dẫn đến có nhiều ngành đào tạo thừa song lại có ngành nghề quá thiếu nhưcác ngành quản lý kinh tế, các chuyên gia kỹ thuật, đặc biệt là đội ngũ công nhân kỹ thuậtlành nghề thiếu hầu hết ở các ngành, khu vực kinh tế Ngược lại một số ngành (ngành có

kỹ thuật cao) thiếu lao động buộc chúng ta thuê lao động nước ngoài Do đó, số lượngngười nước ngoài đến làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng tăng lên qua cácnăm, đặc biệt là sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thươngmại Thế giới Vì vậy, nhu cầu lao động có chất lượng cao (tức lao động có trình độchuyên môn cao, có tác phong lao động công nghiệp, có ý thức, kỷ luật cao) ngày càngtăng

2.4 Thực trạng lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2009

2.4.1 Khái quát chung

Như đã phân tích, thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay,bên cạnh những mặt tích cực cũng đồng thời tồn tại những hạn chế nhất định Có thể nói

sự mất cân đối về cung – cầu lao động là điểm hạn chế thường xuyên xảy ra trên thịtrường lao động Nó đã ảnh hưởng nhiều đến tình hình sản xuất, kinh doanh của các

Chuyên đề thực tập

Ngày đăng: 18/10/2023, 16:24

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w