1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẢM HỨNG THỊ DÂN TRONG THƠ TRẦN tế XƯƠNG

60 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 281,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự chiếm lĩnh ấy nao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” Theo Bielinxki: cảm hứng là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những sá

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc tiểu luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1 Trần Tế Xương 7

1.1 Cuộc đời 7

1.2 Sự nghiệp thơ văn 8

2 Cảm hứng 9

2.1 Khái niệm cảm hứng 9

2.2 Cảm hứng trong thơ ca giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX .11 3 Cơ sở của cảm hứng thị dân ở Trần Tế Xương 15

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG THỊ DÂN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 16

Trang 2

1 Cảm hứng về con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương 16

1.1 Những kiểu hình con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương 17

1.2 Sự thể hiện con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương 30

2 Cảm hứng về thế giới thành thị 41

2.1 Cảm hứng về không gian 41

2.2 Cảm hứng về thời gian nghệ thuật 52

3 Sự thể hiện cảm hứng thị dân qua kiểu trào phúng tự trào thị dân 55

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Tú Xương có thể xem là một hiện tượng độcđáo bởi sức sống lâu bền của nó trong lòng người đọc Điểm đặc biệt làm sự thu hút củathơ Tú Xương có lẽ chính là tính thời sự của nó Thơ Trần Tế Xương như một quyển sáchlịch sử chắp ghép lại, ghi nhận lại đời sống xã hội của một giai đoạn lịch sử đầy biến độngcủa xã hội Việt Nam

Tú Xương là một nhà Nho nhưng cuộc sống chốn thị thành đã tạo nên trong ôngmột cảm nhận về con người và thế giới mang đậm chất thị dân Đây là yếu tố quyết địnhtạo nên những khác biệt cơ bản trong thơ Tú Xương so với thơ của các nhà Nho cùngcùng thời và những nhà Nho truyền thống

Trước nay, khi tìm hiểu về thơ Tú Xương các nhà nghiên cứu thường đển tâm đếnmảng thơ trào phúng vô cùng đặc sắc của Tú Xương mà vô tình bỏ đi những yếu tố kháctrong chỉnh thể tác phẩm

Với đề tài “Cảm hứng thị dân trong thơ Tú Xương”, người viết muốn đi sâu, tìm

hiểu những yếu tố hình thành nên chất thị dân trong sáng tác của nhà Nho Trần TếXương Đồng thời, người viết cũng muốn thông qua hình ảnh về con người thị dân, đờisống thị dân giai đoạn đó giúp cho người đọc phần nào hình dung được những biến độnglịch sử trong những năm cuối thế XIX – đầu thế kỉ XX

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thơ Tú Xương khá được lòng các nhà nghiên cứu và phê bình văn học chính vìvậy mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và tiếp nhận thơ Tú Xương Nhưng chủ yếucác nhà nghiên cứu trước nay thường tập trung vào các đề tài về thi pháp trào phúng vàtrữ tình của Tú Xương mà ít khi đề cập đến hình tượng con người mới mẻ mà Tú Xươngsáng tạo nên ( hình tượng con người thị dân ) trong thơ của mình

Trang 4

Trong luận án Tiến sĩ ngữ văn “Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam” của Đoàn Hồng Nguyên 2003 đa có đề cập đến hình tượng con người thị

dân trong thơ Tú Xương Trong luận án này, Đoàn Hồng Nguyên đã chỉ ra được nhữngđặc trưng tiêu biểu của con người thị dân ở thành Nam, được Tú Xương phản ánh lạitrong thơ của mình Đặc biệt, luận án tập trung chỉ rõ những điểm khác biệt trong việckhắc họa con người vào thơ của Tú Xương và các Nho gia truyền thống

Cũng với một đề tài tương tự, luận văn thạc sĩ văn học “Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX qua ba tác giả Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến và Tú Xương” của Ngô Thị Kiều Oanh năm 2012 cũng có đề cập đến hệ thống hình tượng con

người diễn trò trong thơ Tú Xương Luận văn này đã khẳng định sự xuất hiện của conngười trong thơ Tú Xương không hề mơ hồ mà rất cụ thể, thậm chí có nét khác biệt

Tiếp nối những kết quả đã đạt được của những công trinh nghiên cứu nêu trên,người viết cũng muốn tiếp tục đi sâu, tìm hiểu về hệ thống hình tượng con người thị dântrong thơ của Tú Xương

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, người viết sử dụng ngữ liệu trong cuốn “Tú Xương toàn tập”

của tác giả Đoàn Hồng Nguyên, được nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản vào năm 2009.Ngoài ra, người viết còn sử dụng thêm một số tư liệu từ các luận văn, báo, tạp chí và sách

có nội dung liên quan đến đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết có sử dụng một số phương phápngiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp:

- Phương pháp lịch sử

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp phân tích, đánh giá

Trang 5

5 Cấu trúc tiểu luận

Cấu trúc của tiểu luận gồm 3 phần: Dẫn nhập, Nội dung và Kết luận.Phần nội dung gồm 2 chương:

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Trần Tế Xương

2 Cảm hứng

3 Cơ sở của cảm hứng thị dân trong thơ Trần Tế Xương

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG THỊ DÂN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

1 Cảm hứng về con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương

1.1 Kiểu hình con người thị dân

1.2 Sự thể hiện con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương

2 Cảm hứng về thế giới thành thị

2.1 Cảm hứng về không gian

2.2 Cảm hứng về thời gian nghệ thuật

3 Sự thể hiện cả hứng thị dân qua kiểu trào phúng tự trào thị dânKẾT LUẬN

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Trần Tế Xương

Trang 6

1.1 Cuộc đời

Trần Tế Xương (1870 – 1907) sinh ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ nhắm ngày5/9/1870 ở xã Vị xuyên , huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là khu 8 thành phố NamĐịnh trong một gia đình đông con, nhà nghèo Lúc nhỏ tên là Trần Duy Uyên, đến khi thihương mới đổi tên là Trần Tế Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích

Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn Bà sinh cho ông được

8 người con, trong đó có 6 trai và 2 gái Bà Tú tần tảo, thương chồng, thương con, nhẫnnại quên mình, đã đi vào thi phẩm của ông chồng như một nhân vật điển hình hấp dẫn

Gia đình ông mấy đời có nền nếp nho học, cụ thân sinh ông là Trần Duy Nhuậnmột người có đi học, đi thi nhưng không đỗ đạt gì, về sau làm tự thừa, giúp việc cho dinhĐốc học Nam Định Theo lời kể thì Tú Xương là một người hoạt bát, thông minh, ăn nói

có duyên và thích trào lộng Lúc nhỏ, Trần Tế Xương thông minh học giỏi, năm mười lămtuổi đã đi thi hương nhưng không đậu Hai khoa thi tiếp theo ông cũng đi thi nhưng đềutrượt cả hai Mãi đến năm hai mươi bốn tuổi, trong khoa thi năm Giáp Ngọ 1894, ôngmới đỗ tú tài, từ đó được gọi là Tú Xương Những khoa thi sau Tú Xương vẫn cứ lềuchỏng đi thi hòng kiếm cái bằng cử nhân để có việc làm, nhưng thi mãi mà không thể đỗcao hơn Sau nhiều lần thi trượt mãi, khoa thi năm Quý Mão 1903, ông đổi tên thành TrầnCao Xương, tuy nhiên đổi tên vẫn không thể giúp ông thi đỗ được

Ở cái thời ấy, cái bằng tú tài nhiều lắm cũng chỉ có thể làm thầy đồ dạy học màthôi, ông muốn đỗ đạt cao hơn để vực dậy kinh tế gia đình đang sa sút nhưng thi mãikhông đỗ cao hơn được Vì thế mà ông Tú chỉ ở nhà, dạy các con học, chơi bời với bạn

bè, ít đi đâu xa chỉ quanh quẩn ở Gia Định Mọi việc trong nhà trông cậy hết vào tay bàTú

Ngày rằm tháng chạp năm Bính Ngọ, nhằm ngày 10 tháng 1 năm 1907, Tú Xương

về ngoại ăn giỗ, đi đường gặp mưa, trời lại rét, ông bị cảm nặng, không chạy chữa kịp,

Trang 7

ông mất ngay dêm hôm đó ở nhà họ ngoại , thuộc làng Đại Tứ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh NamĐịnh Năm đó ông Tú chỉ mới có ba mươi bảy tuổi.

1.2 Sự nghiệp thơ văn

Tú Xương được xem là một đại diện xuất sắc cho dòng thơ trào phúng Việt Namcuối thế kỉ XIX Đó là do cuộc đời nhà thơ tuy ngắn ngủi nhưng lại sống vào đúng cái giaiđoạn sôi nổi nhất của lịch sử dân tộc và xã hội Việt Nam: Pháp lần lược chiếm Nam Kỳ,Bắc Kỳ rồi trực tiếp đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam; xã hội phong kiến mụcruỗng nhưng chưa chết hẳn thì lại manh nha xuất hiện một mô hình xã hội mới nhố nhănghơn, … Những sự kiện đó tác động mạnh mẽ đến Tú Xương, mà đặc biệt là sự nhốnhăng, mục nát của xã hội đương thời Và thế là Tú Xương đưa vào thơ mình toàn cảnhcái xã hội nhố nhăng ấy, từ sự tha hóa của con người trước ma lục của đồng tiền đến sĩ

khí “rụt rè gà phải cáo” của lớp nho sĩ cuối mùa vừa muốn giữ vẻ oai nghiêm, chững

chạc vốn có, vừa lom khom chen lấn để có tí chút quyền lực và của cải Tú Xương vạchtrần, đả kích thẳng tay khi cần thì gọi thẳng tên, điểm thẳng mặt những thứ quái gỡ, dị

hợm ấy Không những cười người, ông còn tự cười cả mình Tú Xương tự “vạch áo cho

người xem lưng”, ông phơi bày tất cả những điều xấu của mình, thậm chí còn phóng đại

nó lên để tự trào Đó cũng là cách mà ông dùng để đả kích cái xã hội đương thời thối nátkia

Mặc dù sáng tác của Tú Xương phần lớn là thơ trào phúng, nhưng ông vẫn có một

số ít những bài thơ trữ tình thắm thiết Điều này phản ánh bản chất, cốt cách của nhà thơ,một người giàu lòng yêu thương, luôn thao thức với đời và cũng hết sức chân thật khi tự

trách mình Có người đã tôn Tú Xương là “nhà thơ thiên tài” Còn Xuân Diệu cho sự tồn

tại của Tú Xương trong văn chương dân tộc là vĩnh hằng

Trần Tế Xương sáng tác thơ văn khá nhiều nhưng phần nhiều không được ghi chép

mà chỉ truyền miệng nên có nhiều sai sót và nhầm lẫn trong quá trình biên tập, sưu tầm

Trang 8

Tú Xương sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm, hiện trong cuốn “Thơ văn Trần Tế Xương”

của nhà xuất bản văn học xuất bản năm 1970 sưu tầm được 151 bài thơ Ngoài ra, TúXương còn có dịch một số bài thơ Đường

2 Cảm hứng

2.1 Khái niệm cảm hứng

Cảm hứng của một tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, luôn gắnliền với đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Nó là một phần trong chỉnh thể của một tácphẩm văn học Nghĩa là trong mỗi loại hình nghệ thuật, mỗi tác phẩm nghệ thuật luôn tồntại một thứ cảm xúc mãnh liệt gọi là cảm hứng

Về mặt ngữ nghĩa, Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Cảm hứng

(danh từ) là trạng thái tâm lí có cảm xúc và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả.” 1

Các triết gia cổ Hy Lạp và sau này là Hegel và Biêlinxki đều dùng từ “cảm hứng”

để chỉ “trạng thái phấn khích cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của

cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy nao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” Theo Bielinxki: cảm hứng là điều kiện

không thể thiếu của việc tạo ra những sáng tác đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh

thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khác vọng nhiệt thành.”

Về mặt lí luận văn học, cảm hứng hay cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm văn

học được định nghĩa là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm

nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm.” 2

2 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên ), 2007, Từ điển thuật ngữ văn học, tr.44.

Trang 9

Còn trong cuốn“Lí luận văn học” do Trần Đình Sử chủ biên khẳng định “cảm

hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động” 3 Và tài liệu này cũng khẳng định “Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học”.

Như vậy, có thể nói gọn thuật ngữ cảm hứng trong mấy ý sau : cảm hứng là trạngthái cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ, chi phối toàn bộ tư tưởng tình cảm của tácphẩm và gây tác động phần nào đến cảm xúc của người đọc

Ban đầu thuật ngữ cảm hứng chủ đạo được dùng để chỉ yếu tố nhiệt tình khi diễn

thuyết, sau này nó được dùng để chỉ trạng thái mê đắm của nhà thơ khi xuất hiện các tứthơ Về sau, lí luận văn học lại dùng thuật ngữ này để chỉ một yếu tố nội tại trong nộidung của một tác phẩm nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ được thể hiệnqua tác phẩm đó Cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm nghệ thuật quy định tất cả các yếu

tố trong chỉnh thể của tác phẩm Đây là sự căng thẳng cảm xúc đạt đến một mức độ nào

đó mà ở đó người nghệ sĩ khẳng định thế giới quan của mình trong tác phẩm

Ở đây, xét riêng trong mảng thơ, tư tưởng của một tác phẩm thơ hoặc một chuỗicác tác phẩm của cùng một tác giả có thể được hiểu là thứ cảm xúc mãnh liệt của thi nhânkhi nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận nhận thấy, sờ thấy, … một điều gì đó Một bài thơ làsản phẩm cuối cùng được tạo nên bởi những cảm xúc mãnh liệt, và trong nó chứa đựngnhững tư tưởng, tình cảm của tác giả Điều đặc biệt là thứ cảm xúc mãnh liệt này khôngphải là thứ tình cảm một chiều hay là thứ tình cảm được biểu hiện ra ngoài một cách cụthể hay hiển hiện lên trên bề mặt câu chữ của bài thơ Cảm xúc trong thơ là thứ tình cảmđược cảm nhận qua những hình ảnh, những thủ pháp nghệ thuật mà nhà thơ vô tình hay

cố ý sử dụng Đồng thời, nhà thơ không hề độc chiếm thứ cảm xúc ấy mà hoàn toàn đểcho người đọc tự cảm nhận lấy, do vậy cảm hứng của tác phẩm thơ có thể thay đổi tùythuộc vào những yếu tố khách quan và chủ quan từ người đọc

3 Trần Đình Sử ( chủ biên ) , Lí luận văn học, tr.268.

Trang 10

2.2 Cảm hứng trong thơ ca giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Đối tượng phản ánh chủ yếu của văn chương nghệ thuật là con người và cuộc sốngcủa con người Cần nói rõ con người ở đây là con người cụ thể, tồn tại trong không gian,thời gian cụ thể Đặt con người là trung tâm, văn chương nghệ thuật bao giờ cũng nhìnnhận hiện thực qua cái nhìn của con người – tức là qua cái nhìn của chủ thể phản ánh.Qua cái nhìn đó, văn chương nghệ thuật phát hiện ra bản chất của hiện thực và mặt kháctrở lại nhận thức sâu sắc hơn về con người

Xã hội trung đại Việt Nam là một xã hội tồn tại dưới chế độ phong kiến, chính thế

mà mọi hoạt động nhận thức của con người đều bị chi phối mạnh mẽ bởi ý thức hệ phongkiến Mọi suy nghĩ, hành động của con người đều được đặt trong lề lối của những quyphạm của lễ giáo phong kiến Do vậy, cảm thức thẫm mỹ của những nhà nghệ sĩ sốngtrong giai đoạn này đa phần đều bị đóng khung và rất ít khi có những sáng tạo vượt bậc

Con người trung đại quan niệm “vạn vật là nhất thể”, con người là một bộ phận của thiên

nhiên, sống hòa nhập với thiên nhiên chìm lẫn vào giữa vũ trụ bao la và con người được

thể hiện trong thơ ca là “con người vũ trụ” Trong thơ ca trung đại, ta luôn có thể bắt gặp hình ảnh những “lữ khách” đang “đăng cao”, “dã vọng”, “vãn thứ”, sừng sững những tráng sĩ “hoành sóc giang san”, lại thấp thoáng con người “bầu bạn” với “một bầu

phong nguyệt”, “Quyến trúc mai, kết bạn tri âm” ( Nguyễn Trãi ), “lẩn thẩn” giữa “cội cây”, nhàn dật đắm chìm trong cảnh vật:

“Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt”

Mai động hoa xoay, bóng cách song Gió lật, đưa qua trúc ổ,

Mây tuôn, phủ rợp thư phòng….”

Trang 11

Là một bộ phận của thiên nhiên, con người thường kí thác tâm tình của mình quavạn vật Con người luôn muốn hòa nhập vào thiên nhiên, là một phần của thiên nhiên Dùthế, con người không hề muốn hòa tan vào trong vũ trụ, tâm tình con người tương thôngcùng với vũ trụ, vẻ đẹp của con người được miêu tả thông qua vẻ đẹp của thiên nhiên tạovật Trong thơ văn trung đại, vẻ đẹp của giai nhân tài tử bao giờ cũng được đem ra so

sánh với mây, gió, tuyết, sương,… Cho nên ta mới có một Thúy Vân “Mây thua nước

tóc tuyết nhường màu da” hay một cô Kiều “Làn thu thủy, nét xuân sơn” hay là một Kim

Trọng “Đề huề lưng túi gió trăng” và khí tráng “Râu hùm, hàm én, mày ngài” của người

anh hùng Từ Hải

Nhưng con Người không chỉ sống giữa thiên nhiên mà còn sống với cộng đồng xãhội, khi ấy, con người tồn tại như một chủ thể của lịch sử Nếu xét con người ở bình diệnnày, văn chương thời trung đại còn tồn tại hình tượng con người xã hội Nước ta bị TrungQuốc đô hộ hơn nghìn năm, nên văn hóa văn học nước ta bị chi phối tương đối nhiều bởi

tư tưởng của Nho giáo Trung Quốc, điển hình ở đây chính là tư tưởng sùng cổ Khổng Tử

khẳng định “bất học thi vô dĩ ngôn” và chính Khổng Tử cũng cho rằng Kinh Thi của ông

chính là khuôn mẫu cho mọi tài năng thơ, được đề ra cho mọi thời đại K.Marx khẳng

định “tư tưởng thống trị trong mọi thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống

trị” Sự thống trị của Nho giáo trong suốt nhiều thế kỉ cùng với một trong những hạt nhân

tư tưởng của giai cấp thống trị này là tư tưởng sùng cổ đã chi phối rất lớn đến hệ tư tưởngchung của toàn xã hội trung đại không chỉ ở Trung Quốc àm còn vưới tất cả những nướctheo chế độ phong kiến, trong đó có Việt Nam Bởi thế, ta có thể dễ dàng nhận thấy conngười trong thơ ca trung đại Việt Nam không được thể hiện như là một con người xã hộitồn tại cùng với lịch sử, mà con người được thể hiện như một chiếc bình chứa tư tưởng vànhững giáo điều của người xưa Mọi hành động tu thân, gắng chí của con người nhất nhấtrập theo những cái khuôn mẫu vốn đã được đúc kết từ những quan niệm lí tưởng củangười đời xưa

Trang 12

Cho nên một “Tấc lòng ưu ái cũ” với chuyện “Nhân gian nhược hữu Sào, Do đồ” của Nguyễn Trãi, hay là nỗi “khắc khoải sầu đưa” với “hồn Thục Đế” của Nguyễn Khuyến hoặc sự hăm hở “Một mình để vì dân vì nước” như Nguyễn Công Trứ vốn là

“tấc lòng” của những chủ thể trữ tình mang tính cá thể hóa rõ rệt nhưng do rập khuôn

theo thánh hiền nên “tấc lòng” ấy đã trở thành “tấc lòng” thế sự mang đậm tính cộng

đồng Con người đời ấy không bao giờ được quyền xuất hiện trong thơ ca với tư cách củamột con người cá nhân mà luôn luôn là những con người của cuộc đời, con người mangtâm sự của cả xã hội, cộng đồng

Đặt trong không gian và thời gian, con người là con người vũ trụ Đặt trong hoàncảnh lịch sử cụ thể, con người là những con người cộng đồng phi cá thể hóa Những mẫuhình con người phi ngã ấy được biểu hiện rõ nhất trong hình tượng của những kiểu nhànho phong kiến điển hình Cùng với những biến động của lịch sử và sự phát triển của Nhogiáo, nhà Nho phong kiến được phân hóa ra thành các kiểu hình như: nhà Nho hành đạo,nhà Nho ẩn dật, nhà Nho tài tử,…

Cho đến đến đầu thế kỉ XIX, con người trong ý thức hệ của Nho gia và biểu hiện

cụ thể ra bên ngoài bằng thơ văn vẫn là những con người vô ngã Đến giữa thế kỉ XIX,khi mà văn hóa phương Tây bắt đầu có sự xâm nhập vào văn hóa nước ta thì quan niệm

về con người cũng có ít nhiều sự thay đổi Bắt đầu của sự thay đổi này được đánh dấubằng sự xuất hiện của những con người của cuộc sống hằng ngày xuất hiện trong thơNguyễn Khuyến Có thể nói Nguyễn Khuyến là người đầu tiên phá vỡ cái quy phạm cảmhứng về con người trong thơ ca trung đại và là người khơi nguồn cảm hứng để những conngười bình thường hơn xuất hiện, những con người cá nhân bắt đầu manh nha trên văn

đàn Nói như Trần Đình Sử trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ “Nguyễn Khuyến

trước sau chỉ biết có mỗi thế giới cổ điển gắn bó với lối sống làng quê Nhưng ông là nhà thơ cổ điển đầu tiên thấy cái rỗng không của con người lí tưởng truyền thống, là nhà thơ

mở đầu sự đổi thay các ý nghĩa tượng trưng của hệ thống thi pháp cổ xưa.”

Trang 13

Nguyễn Khuyến đã là người tiên phong mở cánh cửa chào đón những con ngườihữu ngã bước vào thơ văn thì đến Tú Xương, ông lại càng dọn con đường ấy rộng mở hơn

để chào đón họ Đến với thơ Tú Xương, con người vũ trụ gần như biến mất hoàn toàn mànhường chỗ tất cho những con người bình thường: con người thị dân

Thời đại mà Nguyễn Khuyến và Tú Xương sống là cái thời đại của những anhhùng thất thế, thời đại của buổi giao thời Đông – Tây Xã hội Việt Nam khi ấy đang đứngtrên cái vực của sự tha hóa, biến chất Con người trở nên lố lăng, bỉ ổi, những lí tưởng củaNho giáo gần như sụp đổ hoàn toàn trước sự tấn công mạnh mẽ của văn hóa phương tây.Tính đến thời điểm đó, con người xuất hiện trong thơ văn của Nguyễn Khuyến tuy đã xuấthiện những con người phi ngã nhưng vẫn là những con người của thời đại trước – conngười anhh hùng của thời đại chiến thắng Còn con người trong thơ Tú Xương là conngười của xã hội thực tại, không hề lí tưởng, không hề là anh hùng Họ đơn giản chỉ lànhững con người phố thị bình thường

Có thể nói, mặc dù sống cùng thời, cùng là những nhà Nho cuối mùa nhưng tưtưởng của Nguyễn Khuyến và Tú Xương hoàn toàn khác nhau Nếu Nguyễn Khuyến vẫngiữ được cái mạch cảm bay bổng của những con người vũ trụ, con người phi ngã thì TúXương nhạt dần cái phong vị Nho gia Người ta chỉ chỉ tìm thấy đôi lần hình ảnh của

những con người vũ trụ xuất hiện trong thơ ông trong một số bài như : Sông lấp, Hỏi ông trăng, Đêm buồn, Đêm dài, Chợt giấc Nhưng số ít những hình tượng này không thể làm

nên một hệ thống xuyên suốt trở thành một đề tài lớn trong nguồn cảm hứng sáng tác của

Tú Xương Hoàn cảnh lịch sử và không khí thời đại đã tạo nên một cảm hứng dồi dào vàxuyên suốt những tác phẩm của nhà thơ một kiểu hình tượng con người thị dân phố thịcủa một xã hội vừa mới xuất hiện nhưng đã rệu rã

3 Cơ sở của cảm hứng thị dân ở Trần Tế Xương

Tú Xương sống ở giai đoạn cuối thế kỉ XIX, đây được xem như là giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam, một giai đoạn Đây tổng kết cho văn

Trang 14

chương truyền thống và xây dựng những tiền đề cho văn chương hiện đại Chính vì thế mà với một nhà thơ sáng tác trong giai đoạn này thì tác phẩm của Tú Xương bên cạnh mang đầy đủ những đặc điểm của văn học trung đại, đã bước đầu mang

có những điểm của văn chương đổi mới Cảm hứng thị dân là một điểm bức phá mới mẻ của thơ Tú Xương, chính điều này làm cho thơ ông dù được xếp vào dòng văn học trung đại nhưng lại mang trong nó một sức sống mới: lạ và thu hút Nói về

cơ sở hình thành của cảm hứng thị dân, người viết cho rằng nguyên nhân lớn nhất chính là bối cảnh của thời đại và nơi ông sinh sống đã tác động mạnh đến tư tưởng cảm hứng của nhà thơ.

Chúng ta đều biết cảm hứng nghệ thuật là thái độ tư tưởng - xúc cảm của nhà văn trước thực tại nên nó chịu sự chi phối của thời đại và những mối quan hệ xã hội của nhà văn và cảm hứng thị dân của Trần Tế Xương trong thơ ông cũng vậy Cuộc đời ngắn ngủi của Tú Xương nằm gọn trong giai đoạn nước mất, nhà tan Ông đã chứng kiến một cách trọn vẹn cái cảnh đất nước dần dần rơi vào tay giặc Pháp cũng như quá trình bọn thực dân đặt nền móng cai trị đất nước làm cho kinh tế xã hội có nhiều biến động, nhất là quá trình đô thị hóa ở thành thị Bên cạnh đó, Tú Xương lại được sinh ra, lớn lên và sinh sống ở vùng đất kinh kì, nơi chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ nhất khi mà chế độ thực dân nữa phong kiến thành lập Lúc bấy giờ, Pháp mang nền kinh tế tư bản xa lạ của phương Tây áp vào nền kinh tế thuần nông của Việt Nam khiến cho xã hội bị đảo lộn, cuộc sống và tinh thần của người dân cũng theo

đó mà đảo lộn Tú Xương cũng không nằm ngoài những người dân ấy Tuy là một nhà Nho, cũng đèn sách, khoa cử, nhưng ở Tú Xương lại tồn tại một bản thể khác

lạ, một con người chốn thị thành Cái ông nhìn thấy, nghe thấy cũng làm ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng và cảm nghĩ của nhà thơ, từ đó ông mang chúng vào trong sáng tác của mình một cách rất thật và rất tự nhiên Chính vì vậy mà Tú Xương đã ghi

Trang 15

lại rất sinh động, trung thành bức tranh xã hội buổi giao thời ấy và thể hiện tâm trạng của mình.

CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG THỊ DÂN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG

1 Cảm hứng về con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương

Như đã nói ở trên, cảm hứng nghệ thuật là thái độ, tư tưởng, xúc cảm của nhà văntrước thực tại và bị chi phối mạnh mẽ bởi thời đại và những mối quan hệ xung quanh củanhà văn Tuy vậy, cảm hứng nghệ thuật không hề mang tính khách quan, tồn tại độc lập,bên ngoài nhà văn mà nó nảy sinh từ trong ý thức xã hội của nhà văn, nó tồn tại bên trongnhà văn và mang đậm ý thức chủ quan của cá thể nhà văn Chính vậy mà phải nghiên

Tú Xương khác với những nhà Nho cùng thời và khác với những nhà Nho khác ởchổ ông sinh ra và lớn lên ở thành thị Đây chính là điều tạo nên tất cả các điểm khác biệtcòn lại giữa Tú Xương và tất cả các nhà Nho khác Từ việc sinh ra và lớn lên ở thành thị,

Tú Xương sớm bị ảnh hưởng bởi nét văn hóa thành thị và con người thành thị Những ảnhhưởng này không chỉ tác động vào đời sống mà còn tác động vào suy nghĩ, tư tưởng nhàthơ và đặc biệt nó đi vào thơ văn của ông một cách rất tự nhiên Ta hoàn toàn có thể dễdàng tìm thấy trong thơ ông hình bóng của một con người phố thị, một lối sống phố thị,một thú ăn chơi phố thị,… Cảm hứng thị dân đã quy định nên kiểu hình tượng con ngườithị dân trong thơ Tú Xương, một kiểu hình tượng con người vô cùng độc đáo, phá vỡ mọiquy phạm về con người trong thơ văn trước kia Đồng thời, cảm hứng thị dân này cũngchi phối phương thức trữ tình ở thơ ông: ngôn chí, tự trào, kiểu bộc lộ cái tôi cũng nhưcách thể hiện về con người thị dân

1.1 Những kiểu hình con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương

Ta đã biết, trong thơ văn Trung đại, con người ít khi thành hình mà thường lẩnkhuất sau thiên nhiên Con người khi ấy là con người phi ngã, con người không tồn tại

Trang 16

như một cá thể độc lập mà tồn tại dưới hình thức là một thành viên của cộng đồng Đếnvới Tú Xương, con người hoàn toàn được thể hiện như một cá thể tồn tại độc lập trongkhông gian, thời gian và trong lịch sử cụ thể Thêm một điểm đặc biệt là con người trongthơ Tú Xương không phải là những vĩ nhân, những vị anh hùng, những nhà Nho có họcvấn uyên thâm, … mà tất cả họ đều là những con người bình thường, thậm chí có đôi khiđược coi là thấp hèn trong xã hội trung đại Những con người trong sáng tác của TúXương là những con người thị dân trong xã hội mới hình thành

1.1.1 Kiểu hình nhà Nho thị dân

Trước khi bàn về kiểu hình nhà nho thị dân, ra nên điểm sơ qua về Nho giáo, cáinôi của các nhà nho Nho giáo, còn gọi là đạo nho hay đạo Khổng, là một hệ thống đạođức, triết học xã hội, triết lí giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và đượccác môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị Những ngườithực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho

Ở Việt Nam, Nho giáo được xem là một hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đếnviệc tổ chức bộ máy nhà nước, duy trì trật tự xã hội và tư tưởng văn học trong suốt nhiềuthế kỉ Đến với Việt Nam, Nho giáo đã được bản địa hóa và là nền tảng cho sự hình thành

và phát triển các giá trị về tư tưởng, đạo đức và nếp sống tốt đẹp Nho giáo ở Việt Nam cónhững giai đoạn phát triển vô cùng rực rỡ và đạt nhiều thành tựu đáng kể Nhiều ý kiếncòn cho rằng Nho giáo là nền tảng của nền văn minh Việt Nam và có thể coi Việt Namthuộc nền văn minh Khổng giáo

Nhưng đến thời nhà Nguyễn thì Nho giáo bắt đầu rơi vào giai đoạn khủng hoảng,đến giữa thế kỉ XIX, Nho giáo mất dần ảnh hưởng và có thể nói là rơi vào lãng quên.Dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, chế độ khoa cử thay đổi, Nho giáo không còn là trọngtâm của khoa cử Tuy nhiên, Nho giáo với hệ thống lí luận đã tồn tại hàng nghìn nămkhông dễ gì phai nhạt Hơn thế, Việt Nam vào giai đoạn này vẫn là một nước phong kiến,

Trang 17

trong xã hội vẫn có một lực lượng đông đảo những nam tử xuất thân trong gia đình cótruyền thống Nho học Cho nên, mặc dù Nho giáo có lạc hậu so với thời đại thì nó vẫnchiếm một vị trí quan trọng trong ý thức hệ của người Việt Nam.

Tú Xương sinh ra vào đúng cái giai đoạn nhiễu nhương nhất của xã hội Việt Nam.Ông hấp thụ được cái gốc Nho học từ ông cha mình, nhưng đồng thời Tú Xương cũng hấpthụ luôn cái văn minh phương Tây mà thức dân Pháp mang vào Việt Nam ta ngày đó Vàchính điều này tạo cho nhà nho Tú Xương một nét rất riêng, một nhà nho chốn thành thị

Gọi các nhà Nho trong thơ Tú Xương và cả Tú Xương là những nhà Nho thị dân là

để đặt họ trong thế đối lập với các kiểu nhà Nho truyền thống khác như nhà Nho tài tử,nhà Nho ẩn dật, nhà Nho hành đạo, nhà Nho chốn làng quê, … Các nhà Nho trong thơ

Tú Xương khác hẳn các nhà Nho truyền thống ở thời trước bởi trước khi là một nhà Nho,

họ đã là những con người thị dân

Trong thơ Tú Xương ta không hề thấy những bậc quân tử hăm hở “phù địa trục”

“chí những mong sẽ núi lấp sông” (Nguyễn Công Trứ), cũng không có những nhà Nho

say với đạo, tỏ lòng với thơ Trong thơ Tú Xương chỉ có những nhà Nho cuối mùa, thấtthế, chỉ biết nhìn đời mà cười nhạo, mà thương xót chứ không hề có ý định muốn nhúngtay vào nó, muốn thay đổi nó Những nhà Nho được khắc họa trong thơ Tú Xương không

hề có chút tráng khí của kẻ sĩ, chẳng hề có chút tài tình của bậc Nho gia, mà chỉ có cái bộ

dạng “lôi thôi”, “ậm ọe” của những kẻ thư sinh ôm mộng quan trường, chỉ có những nhà Nho cuối mùa với cái sĩ khí như “gà phải cáo”, cái văn tài “liều lĩnh đấm ăn xôi” và chỉ hay một nỗi “cờ bạc rong chơi” Họ chẳng hề có chút boăn khoăn với nỗi niềm ưu ái đến“Việc xa gần phải trái kệ thây ai”, chẳng hề bận tâm với lẽ cương thường, với chữ trung hiếu, cũng chẳng ôm ấp hoài bão “trí quân trạch dân”, chẳng tu chí, lập thân cũng không phải là điều mà những kẻ sĩ ấy quan tâm, họ chỉ “lăm le” một nỗi “Bia đá bảng

vàng cho vang mặt vợ”, đeo đuổi khoa cử chỉ mong sao “Đỗ đành sao hỏi tiếng cha cu”.

Tất cả họ, qua cái nhìn nhiều khi có đôi chút chủ quan của Tú Xương hiện lên với tất cả

Trang 18

những “bản chất” thành thị Các nhân vật nhà Nho thời bấy giờ chỉ rặt là một phường

“vừa dốt lị vừa ngu”; tất cả đều trống rỗng, không hề có chút tinh thần Nho đạo nào.

Ta đều biết có cái gọi là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, sống giữa những

nhiễu nhương của xã hội thì việc bị ảnh hưởng là điều khó tránh khỏi Những nhà Nhotrong thơ Tú Xương hay chính cả Tú Xương cũng vậy, tuy nhiên mặc dù học là những kẻtài hèn sức mọn (và họ nhận biết được điều đó) nhưng không phải là những bản sao vô

hồn, mà trái lại họ còn là những cá thể đầy bản ngã và có những ham muốn rất “người”:

“Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu.

Biết thuốc lá, biết chè tàu, Cao lâu biết vị, thanh lâu biết mùi.”

( Hỏi ông trời )

“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ, Rượu chè trai gái đủ tam khoanh”

những “con người thiệp thế”, những “khách phong lưu” ngoài vòng cương tỏa trong thơ

Tú Xương chẳng “thảnh thơi túi rượu bầu” như khách tài tử của Nguyễn Công Trứ, cũng chẳng có cái “gàn bát sách”, cái “thẹn với ông Đào” như nhà Nho ẩn dật Nguyễn Khuyến mà chỉ có cái ngật ngưởng “chẳng buồn nghe” sự đời và cá ngông ngạo trong bộ

điệu uống nước đá, khi thuốc lá, khi đủng đỉnh ngồi xe ngay giữa phố Hàng Nâu, phố

Hàng “quắc mắt khinh đời” như nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm hay về lại “Vườn Bùi

Trang 19

chốn cũ” như nhà Nho Nguyễn Khuyến mà “an thân mệnh thế”, trái lại cứ việc “Khi cao lâu , khi cà phê, khi Thao, phố Giấy”,… ngay giữa chốn đô hội nhộn nhịp, giữa cảnh

“sông lấp”, ở nhà cô Đầu Là sản phẩm của xã hội thị dân, những nhà Nho là những kẻ

không lí tưởng, nên tuy sống giữa “buổi loạn li”, những nhà Nho thị dân của Tú Xương không hề có chút động thái nào mà“chỉ ấm ớ giả câm giả điếc, cứ vui tràn khi viết khi

ngâm” trước những thay đổi của cuộc đời

Các nhà Nho thị dân sống trong lòng một đô thị đang Âu hóa mạnh mẽ từ lối sốngcho đến văn tự rồi đến văn hóa Đó không phải là sự suy tàn của một nền văn hóa mà là

sự chuyển đổi từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác Đây là cái giai đoạn mà hệ giátrị văn hóa cũ suy tàn nhưng chưa chết hẳn, còn các giá trị mới, tuy đã xuất hiện nhưngchưa định hình Những nhà nho thị dân như Tú Xương rơi vào tâm điểm của sự lai căng,lắp ghép Nhưng họ chẳng làm gì hay đúng hơn là chẳng thể làm gì khác đi được, nên đểmặc cho những điều mâu thuẫn trái ngược nhau kéo tuột mình đi

Vì thế mà, mặc dù Tú Xương cũng đã vạch trần cái bản chất vô dụng, kém cỏi của

những “ông nghè, ông cống” qua cá dáng “nằm co”, qua cái dáng “ngổng đầu rồng”…

và cũng chính nhờ thái độ phủ nhận thực tại mà Tú Xương đã “phát hiện” ra được sự tàn

tạ của chữ Nho, phát hiện ra sự suy mạt của đạo Nho:

“Cô hàng bán sách lim dim ngủ,

Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi”

( Than đạo học )

Nhưng Tú Xương vẫn không thể thoát ra khỏi nó một cách dứt khoát được Ông

Tú ta đây rõ ràng là chán ghét khoa cử bởi cái sự nhiễu nhương của trường thi, ông coithường những kẻ dùng tiền để đỗ đạt, vậy mà vì cái nợ tang bồng của nhà Nho, khoa thi

nào ông cũng “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” vác lều chỏng mà đi thi Ông thương vợ, bản

thân ông hiểu những sự hy sinh của vợ, ông coi vợ như một biểu tượng của các giá trị

Trang 20

truyền thống nhưng nhiều khi ông vẫn ông thoát được cái tư tưởng của nhà Nho mà giẫmđạp lên nhưng giá trị ấy Rồi ông cũng ngưỡng mộ lắm cụ Phan Bội Châu đã dùng cái tâmcủa mình mà xuất dương tìm đường cứu nước, nhưng lại chẳng hề có ý định xuất dươngtheo cụ Xét ra, Tú Xương cũng được xem là một người ưu thời mẫn thế, nhưng lại chẳnglàm gì để thay đổi thời cuộc dù cho thấy được những bất ổn của nó Ông chọn làm một kẻ

vô tích sự “Bác này mới thực là vô tích, Sáng vác ô đi tối vác về”

Tú Xương như là một điển hình tiểu cho một kiểu hình nhà Nho mới, nhà Nho thịdân Tuy cũng là nhà Nho đó, nhưng ở lớp nhà Nho cuối mùa này, phong vị Nho gia đãkhông còn nhiều Hơn thế, lại sống giữa sự nhiễu nhương của thời cuộc, bất mãn đấynhưng không làm gì cả, thương cảm đấy nhưng chỉ biết chấp nhận nó như một quy luậtcủa lịch sử

1.1.2 Kiểu hình người phụ nữ thị dân

Cảm hứng nhân văn về người phụ nữ là cảm hứng nhân loại mang tính phổ quát,nhưng trong dòng chảy của thơ ca trung đại Việt Nam do những đặc tính quy phạm trong

sự cao nhã và phi ngã hóa mà cảm hứng này không có cơ hội để phát triển thành một đề

tài phổ biến mang ý thức cá nhân Dù cho trước đó, hình ảnh của những “khách lầu

hồng” hay “người chinh phụ” vẫn thường xuất hiện nhiều trong thơ văn của các nhà Nho

đời trước, nhưng những nhà Nho này đều nhìn người phụ nữ dưới con mắt của kẻ bề trênthương xót cho thân phận của kẻ thấp hèn Người phụ nữ thời ấy, chưa được xuất hiệnđường đường chính chính là mình Họ xuất hiện chỉ với cái vẻ ngoài của người phụ nữ,nhưng cái nội tâm bên trong là tâm trạng của chủ thể trữ tình kí thác vào họ Và việc cácnhà Nho đưa hình ảnh người phụ nữ vào trong thơ văn ngoài việc kí thác tâm tình củamình thì còn là để khẳng định khí tiết nhà Nho chứ họ chưa hề hướng đến việc để chongười phụ nữ bộc lộ trực tiếp nỗi đau của người phụ nữ Do vậy, dù đã đạt được mức độ

Trang 21

sâu lắng trong cảm hứng nhân văn, nhưng trước sau thì những người phụ này cũng chỉdừng lại ở mức độ là những nhân vật chức năng.

Đến với Tú Xương, những người phụ nữ thị dân lại được trực tiếp bước vào trongthơ Đó là những con người có tên tuổi, có địa chỉ, tính cách cụ thể Theo như Đoàn Hồng

Nguyên trong luận án tiến sĩ “Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt

Nam” thì “Mảng thơ về người đàn bà chiếm một vị trí đặc biệt và đã trở thành một đề tài, chủ đề nổi bật trong sáng tác của Tú Xương Bóng dáng nhi nữ đã hiện diện trong 68/134 tác phẩm chiếm tỉ lệ 50,7% Có 27 bài trong đó người phụ nữ là nhân vật trữ tình

là đối tượng trữ tình chính của bài thơ ( tỉ lệ 39,7 % ) và bóng dáng người phụ nữ thấp thoáng trong 41 bài còn lại ( chiếm tỉ lệ 60,3% )” Như vậy có thể thấy, Tú Xương dành

cho người phụ nữ một vị trí vô cùng quan trọng trong thơ của mình

Những người phụ nữ xuất hiện trong thơ của Tú Xương là ai ? Đó có thể là bà Tú,

là em gái ông Tú, là những bà lái buôn, là cô đầu, cô Cáy Chợ Rồng, cô Kí, là vợ bạn, lànhững cô gái lam đĩ, là cô đào, cô hầu, …… tất cả họ đêù là người phụ nữ sinh sống tạivùng đất Vị Xuyên, Nam Định quê ông Tú Nhưng ở đây, Tú Xương có phần khác vớinhững nhà Nho thời trước, nếu trước đây, bậc quân tử làm thơ để bày tỏ lòng cảm thươngvới những người phụ nữ đức hạnh thì ông Tú có một sự phân biệt rạch ròi giữa nhữngngười phụ nữ có phẩm giá và những người phụ nữ không có phẩm giá Trong thơ ông, haikiểu hình người phụ nữ thành thị này tồn tại song song và ông chia sự quan tâm dành chohai kiểu hình này là như nhau

Những người phụ nữ không có phẩm giá được Tú Xương đưa vào thơ của mìnhgồm đủ các thành phần, tầng lớp trong xã hội Đó là mụ Tuần Quang, là cô Bố Cao, là cô

Kí, là bà lái buôn, là “Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”… Đó là những hạng đàn bà

lăng loàn đĩ thõa, là những người phụ nữ thị dân hợm hĩnh, bỏ mất nét đẹp văn hóa củangười phụ nữ phương Đông, là con đẻ của xã hội thị dân tư sản buổi giao thời

Trang 22

Những người phụ nữ ấy, tuy khác nhau về địa vị, giai cấp nhưng tất cả đều có mộtđiểm chung là tính cách phô trương và chung một nỗi nhục cảm thèm muốn bản năng Ta

có thể bắt gặp hình ảnh của hai bà mệnh phụ phu nhân vợ của quan Tuần, quan Bố “Đôi

đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thõa bà nào cũng nhất” (Kể lai lịch), hay cô vợ hai của

một thầy Kí trong bộ máy chính quyền thực dân, là lũ me Tây, gái điếm, lái buôn, và là

một lô một lốc những người phụ nữ phố phường không tên khác: “Váy lĩnh cô kia quét

sạch hè”, “ Chí cha chí chát khua giầy dép, Đen thủi đen thui cũng lượt là” trong thơ của

Tú Xương Những người phụ nữ thị dân đỏm dáng ấy, tiếp thu cái mới chưa tới nên mới

có chuyện làm ra những điều lố bịch “dị dạng” về nhân cách.

Những người phụ nữ trong thơ Tú Xương được khắc họa một cách độc đáo, đầy ấntượng và sinh động Có khi đó là những người phụ nữ đỏm dáng:

“Chí cha chí chát khua giầy dép, Đen thủi đen thui cũng lượt là….”

( Ngày xuân ngẫu hứng )

Hoặc cố sao cho thật sành điệu thành ra lại là lố bịch :

“Tháng rét quạt lông, Mùa hè bít tất.

Tráp tròn sơn đỏ, bà quyết theo trai…”

Trang 23

( Phòng không )

Nhưng đôi khi cũng nhố nhăng kệch cỡm:

“Váy lĩnh cô kia quét sạch hè”

( Năm mới)

Thậm chí hết sức sỗ sàng:

“Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng, Thà rằng bạn quách với sư xong….

… Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng:

Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng!”

( Sư ông và mấy ả lên đồng)

Tuy nhiên, Tú Xương không phải lúc nào cũng ôm khư khư cái định kiến về nhữngngười phụ nữa này, trong chừng mực nào đó,ông vẫn rất cảm thông cho những người phụ

nữ ấy

Còn khi nói về những kiểu phụ nữ thị dân đức hạnh, thì trước tiên ta phải nhắc tới

bà Tú Mẫn, người vợ hết mực đảm đang của ông Tú Tú Xương dành một số lượng sángtác khá lớn để viết về bà Tú, trong đó có một số bài lấy cảm hứng trực tiếp từ bà như:

Thương vợ, Đang ốm nghe vợ khấn cầu, Văn tế sống vợ Tiếp đó, còn có không ít những

bài mang bóng dáng bà Mẫn như : Tết dán câu đối, Phú thầy đồ dạy học, Phú hỏng thi,

Thi hỏng , Đi thi, Than thân chưa đạt, Tự trào, Quan tại gia, Hỏi mình, Than cùng, Đau mắt Thậm chí bóng dáng bà Tú còn hiện lên thấp thoáng trong cả bài thơ ông Tú viết cho

người tình (Gửi cho cô Đào)

Trong thơ Tú Xương, bà Phạm Thị Mẫn hiện lên một cách cụ thể và vô cùng chân

thật Hình ảnh người vợ hiện lên trong thơ Tú Xương là hình ảnh “thân cò” vất vả lặn lội

Trang 24

“khi quãng vắng” đầy thương cảm mang một ý nghĩa tượng trưng: một người phụ nữ của

công việc; người phụ nữ nhẫn nại, bao dung; người phụ nữa chịu thương chịu khó làmtrọn cái đạo làm mẹ, làm vợ

Tú Xương đã dồn tất cả yêu thương, sự trân trọng của mình giành cho vợ vào hình

ảnh “thân cò” đầy sáng tạo đó Bằng hình ảnh “thân cò” ấy, Tú Xương còn tả lại được

nỗi đau thân phận của một người đàn bà đức hạnh, một người vợ, người mẹ mẫu mực, hếtlong thương yêu chồng con, lo toan cho gia đình Tú Xương thương vợ, thương cái gánhgia đình mà đáng đấng trượng phu như ông phải gánh chứ không phải là người phụ nữ

“chân yếu tay mềm” như bà Tú Ông Tú hiểu vợ, thương vợ nhưng ông chưa thể dứt hẳn

những qui phạm trói buộc của một nhà Nho mà gánh giúp bà Tú, thế nên ông tự trách bảnthân mình kém cỏi để đến nỗi người phụ nữa phải chịu bao cay đắng, truân chuyên

Yêu thương vợ để rồi tự trách mình vô dụng, tự dằn vặt bản thân mình, Tú Xươngchê trách cả một tầng lớp nhà Nho vô dụng, ích kỉ, vô trách nhiệm; đã phá mạnh mẽ vàoquan niệm gia trưởng đã ăn sâu thành hệ thống trong tâm thức con người phong kiến vàvào trật tự xã hội phong kiến lỗi thời, hủ lậu Cảm hứng thương vợ ấy chưa bao giờ xuấthiện trong thơ ca nhà Nho trước, cũng thời và sau Tú Xương

Người vợ - người phụ nữ thị dân mà Tú Xương khắc họa không chỉ biết có lao

động, người phụ nữ ấy còn có cả tâm hồn rất “hạnh”:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

( Thương vợ )

Ở đây, ông Tú “tả thực” nỗi trăn trở dằn vặt của vợ Cuộc sống nhiều vất vả,

chuyện mưu sinh lắm nỗi lo toan, người phụ nữ dù có giỏi giang đến mấy thì cũng cónhững lúc yếu lòng mà hờn trách số phận Bà Tú cũng vậy, những lúc mệt mỏi bà cũngbuông những lời than để khuây khỏa bớt Đó là lời của bà Tú, là tiếng kêu thương đầy ý

Trang 25

thức về nỗi khổ nhọc mà bà, và những người phụ nữ khác phải vác Bà Tú tự ý thức rõnhững trách nhiệm mà bà phải gánh, hiểu được bổn phận của mình với chồng con, cho

nên dù cho có khổ nhọc đến mấy thì bà Tú cũng “đành phận”.

Bà Tú không những là một người phu nữ đảm đang mà còn nhiều khi rất tâm lí Bà

biết chồng bà lăng nhăng, nhưng bà vẫn bỏ qua cho ông khi ông chịu hối lỗi “Dại mà nhờ

vợ làm ngơ” (Gửi cho cô đào) Xét ra dễ thấy bà Tú là một người phụ nữ vô cùng khôn

khéo trong việc giữ lửa cho gia đình

Bà Tú là như vậy, nên một ông chồng vốn cũng biết đến chốn “lầu xanh”, “lầu

vàng” như ông Tú đây cũng phải yêu thương hết mực Tú Xương giành cho người vợ của

mình

Như vậy cùng với sự xuất hiện của những giai tầng mới, những yếu tố mới trong

xã hội thì qua điểm của Nho gia về xã hội cũng thay đổi và nhất là với người phụ nữa.Nếu như thời trước, các nhà Nho tự đặt mình ở vị trí cao mà nhìn xuống cảm thương chonhững người phụ nữ thì đến Tú Xương, ông đã đến đứng bên cạnh những người phụ nữu

ấy để nhìn họ thật rõ nét, để có thể vừa cười những cũng vừa thương những người phụ nữ

vô hạnh; để có thể vừa nể, vừa thương những người phụ nữ đức hạnh

1.1.3 Kiểu hình con người phố phường

Những thị dân Thành Nam trong thơ Tú Xương được cụ thể hóa qua những nhânvật - con người phố phường Nhân vật con người phố phường của ông Tú khá đa dạngvới đủ các hạng người, gồm đủ mọi tầng lớp Hầu như tất cả các cư dân thành Nam từ cácquan to, quan nhỏ, các thầy thông, thầy kí công chức tay sai của Pháp; các nhà Nho -những ông nghè, ông cử, ông tú; những thị dân mới phất, giàu xổi, hợm hĩnh, những thị

dân bần cùng, … Đều đã đưuọc Tú Xương “lôi tuột” vào thơ và đều đã thành những

nhân vật của thi ca với vóc dáng, hình hài, tính cách đầy góc cạnh và đầy ấn tượng Nói

Trang 26

như Xuân Diệu: “Tú Xương có la liệt một cái hành lang treo tranh bày tượng, tranh

tượng những kẻ rởm đời, những người gian xấu, những danh giá hão, những giá trị vờ.”

Chính cái sự lố nhố “la liệt tranh tượng” ấy đã tạo nên dáng vẻ đa dạng cho hình tượng

con người thị dân trong thơ Tú Xương, làm nên một nét riêng so với các kiểu hình tượngcon người phổ biến trong thơ ca trung đại và các nhà Nho

Là con đẻ của xã hội thị dân, là con người phố phường không có lí tưởng nhưngnhững con người thị dân trong thơ Tú Xương luôn vùng vẫy để vượt ra khỏi những khuônkhổ, những ràng buộc và tự khẳng định bản ngã bằng thái độ đả phá, phủ nhận Do vậy

mà những giá trị tinh thần truyền thống, những chuẩn mực, những khuôn phép của lễ giáophong kiến đều trở nên vô nghĩa lí, vô giá trị trong cảm nhận con người phố phường của

Tú Xương

Không chỉ phát hiện ra bản chất “Khác chi thằng hề” của vua chúa và quan lại lúc bấy giờ qua cái “mặt bôi vôi” của “Phường hát tuồng”, con người trong thơ còn phát

hiện ra cái vô gái trị của nhà nước phong kiến qua sự bộc lộ cảm nhận về gái trị của đồng

tiền có “chữ đê Tự Đức vẫn còn nguyên” (Bắt được đồng tiền) Xem nhà vua – bậc thiên

tử con Trời, là vô giá trị, con người ấy còn xem thường luôn cả ông trời, nên “Lúc túng

toan lên bán cả trời” ( Tự trào) Nhiều lần Tú Xương đã tỏ bất bình với tạo hóa khi

“Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ!” ( Đau mắt) Bế tắc trước cuộc đời, con người ấy đã

“bắc thang lên hỏi ông Trời” (Hỏi ông trờ ) Không lấy được người mình yêu, lại cũng

“Bắc thang lên hỏi sổ Thiên Tào” (Gửi cho cố nhân) Bị xem thường nên ông trời cũng

nhiều khi hiềm thù nhỏ nhặt như con người : “Trời làm cho bõ tức lúc chơi ngông” (Mùa

nực mặc áo bông); bị bỡn cợt, bị xem là “thằng bé con” (Hỏi mình) , ông Trời uy nghiêm

là thế mà cũng chỉ cười mà rằng “Trời cười thằng bé nó hay chơi” (Tự trào)

Tú Xương thể hiện những con người phố phường bằng một cảm hứng vừa trân

trọng nâng niu, vừa phê phán phủ nhận Nhà thơ đã tỏ ra khá nâng niu con người “ở phố

Hàng Nâu”, “râu rậm như chổi, đầu to tầy giành” Cách khắc họa con người được nâng

niu này với những con người mà Tú Xương phê phán , là thủ pháp cụ thể hóa Khác lạ với

Trang 27

cách thể hiện con người nhà Nho của văn chương trung đại bằng tư duy phân loại thiên vềkhái quát hóa, con người mang tầm vóc của thiên nhiên vũ trụ Nhân vật con người phốphường của Tú Xương được khắc họa với hình dáng hết sức cụ thể gắn chặt với khônggian cụ thể là thành Nam.

Tú Xương chộp ngay lấy đặc điểm của nhân vật, tập trung miêu tả những đặc điểm

ấy bằng thủ pháp vật hóa, cường điệu hóa…, để trào tiếu, để đả kích nhưng không hềnhằm mục đích giáo huấn đạo đức theo quan niệm lễ giáo phong kiến mà theo cảm nhậnthị dân đầy đủ của chủ thể trữ tình: thái độ phê phán phủ định những cái lệch chuẩn so vớinhững chuẩn mực đạo đức và thẫm mỹ nhân dân và trong một chừng mực nào đó là theocảm thức thị dân

Thể hiện con người bằng thủ pháp cụ thể hóa và bằng cảm hứng trào phúng, TúXương không chỉ đã tạo nên một nét riêng khác lạ so với qui phạm về cách thể hiện conngười của văn chương trung đại mà còn góp phần vào tiến rình phát triển của văn chươngViệt Nam với kiểu thể hiện con người thị dân và kiểu cảm hứng trào phúng về con ngườimang đậm tính thị dân

Quan lại ở thành Nam cũng được Tú Xương khắc họa khá rõ nét Quan lại trongmắt Tú Xương là những kẻ đi làm tay sai cho giặc Pháp Chỉ biết đến cái lợi của riêng

mình, còn cái nợ chung của dân dộc thì lại làm lơ đi : “Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét, Giang

sơn nghĩa cả nỡ mần thinh?” Bọn chúng toàn là những kẻ bịp bợm, giả tạo như những

nghệ sĩ hát bội phải vẽ mặt :

“Nào có ra chi luc hát tuồng, Cũng hò cũng hét cũng y uông Dẫu rằng dấu được đàn con trẻ, Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn.”

( Hát bội )

Trang 28

Và quan lại còn là những kẻ tham nhũng và ăn hối lộ Tú Xương đã điểm thẳngmặt, gọi thẳng tên ra mà phê phán cái thói ăn tiền của bọn này:

“Tri phủ Xuân Trường được mấy niên ? Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên.

Chữ “y” chữ “chiểu” không phê đến, Ông chỉ quen phê một chữ “tiền”!”

Và còn một viên tri huyện dốt chữ nghĩa, một viên đốc học chỉ biết ăn chơi cờ bạccùng được Tú Xương nhắc đến để thêm đa dạng cho những kiểu hình con người phốphường trong tác phẩm của ông

Con người phố phường trong thơ của Trần Tế Xương còn có cả bộ phận những

“cậu ấm”, “cô chiêu” con của những vị quan lớn.

Con người phố phường trong thơ Tú Xương còn là nhưng nhà sư chạy theo sự hàonhoáng vật chất như người đời làm mất đi vẻ tôn nghiêm của mình:

cái sự ham muốn nhục cảm cá nhân, hết “Giận thân em mãi chửa chồng” thì lại “Hẩu lố

khách đà ba bảy chú, Méc xì Tây cũng bốn năm ông”

1.2 Sự thể hiện con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương

1.2.1 Ngôn chí thị dân

Trang 29

Trong thời trung đại, quan niệm thơ là để nói chí “thi dĩ ngôn chí” đã trở thành

một trong những quan niệm về chức năng văn học, là quan niệm chức năng của thơ ca của

Nho gia Trong bài tựa Kinh thi có viết “ở lòng thì gọi là chí, nói ra thành lời thì gọi là

thơ”, vua Thuấn cũng từng cho rằng “Thơ là để nói lên cái chí, lời ca là để làm cho lời nói được lâu dài”, như vậy thơ là phương tiện để các nhà Nho xưa bộc lộ cái chí “trung, hiếu, lễ, nghĩa, tu, tề, trị, bình”

Xem văn chương là gốc của Nho gia, là cái nền cho người quân tử lập thân, sửa trịđời, nên các nhà Nho phương Đông thời trung đại thường dùng thơ để nói chí Cho nên,thi dĩ ngôn chí không chỉ là một quan niệm về chức năng của văn học mà còn là mộtđiểm thi pháp mang tính quy phạm của văn chương nhà Nho

Trong cái khuôn khổ của “thi dĩ ngôn chí” mang tính quy phạm của thi ca trung đại cùng với hình thức sáng tác của nhà Nho, nhưng thơ Tú Xương đã “nói chí” trong

cảm thức của một nhà Nho thị dân Bằng cách này Tú Xương đã tạo cho thơ của mình

một giọng điệu, một kiểu “ngôn chí” khá đặc biệt và khá khác biệt so với kiểu “ngôn

chí” trong thơ nhà Nho trung đại.

Trong cách tự bạch về mình, Tú Xương đã tự giới thiệu về lối sống mang đậm tính

thị dân của ông trong cách “Sáng vác ô đi tối vác về” và trong cái biết:

“Biết ngồi Thống Bảo, biết đi cô đầu, Biết thuốc lá, biết chè tàu,

Cao lâu biết vị, thanh lâu biết mùi.”

( Hỏi ông trời )

Lối sống thị thành đã tạo nên ở Tú Xương một kiểu nhà Nho tài tử thị dân, tạo nênkhác biệt trong cảm nhận về cuộc đời so với các nhà Nho tài tử khác

Trang 30

Cao Xuân Dục trong “Thơ là để nói chí, văn là sự nghiệp lớn để trị nước Trong

thơ có sử - trong sử có thơ” đã cho rằng “thơ là để nói chí, mà chí cáo thấp lại phải xem tính linh của người ấy Người có thơ thanh cao là do khí chất hào hiệp nếu chỉ biết rập khuôn, chắp nhặt những cái sáo cũ thì dù có câu đẹp lời hay, vẻ trăng, tả gió, nhưng ý hướng không kí thác vào, thì rốt cục cũng là bắt chước giọng điệu người khác, chẳng có nói lên tính tình thực của mình …” Như Cao Xuân Dục nói thì ta có thể hiểu rằng kiểu

ngôn chí trong thơ của các nhà Nho xưa nay luôn nằm trong một khuôn khổ mang tínhquay phạm chặt chẽ Tính quy phạm ấy xoay quanh các đề tài đạo đức, tu chí, nhàn tản,

… bộc lộ qua thơ ca của nhà Nho Từ đó hình thành nên lối nói chí của các nhà Nho mà tavẫn thường bắt gặp trong thơ văn trung đại

Cái chí mà các nhà Nho xưa nay muốn kí thác vào thơ là cái chí của người quân tửtheo đạo thánh hiền, là cái lẽ sống của “đấng làm trai”, là hoài bão “trí quân trạch dân”của bậc trượng phụ Xét cho cho cùng thì ngôn chí bộc lộ qua thơ chính là sự bộc lộ cáitôi của chủ thể trữu tình Nhưng vì đặt trong cái khuôn của những quy phạm chặt chẽ với

sự giáo hóa và cao nhã nên những cái tôi ấy vẫn còn chưa thể thoát ra được cái tôi phi ngãhóa truyền thống được

Đến với nhà Nho thị dân Tú Xương thì cái chí ấy lại được thể hiện theo một hướngkhác Thơ Tú Xương hoàn toàn thoát ra được cái bóng của kiểu ngôn chí thi ca của cácnhà Nho trung đại Tú Xương không viết thơ để thể hiện cái hoài bão, sự khác khao tu chílập thân theo con đường khao cử truyền thống của các nhà Nho xưa nay Ông Tú nhậnrằng :

“Bài bạc, kiệu cờ, cao nhất xứ, Rượu chè, trai gái, đủ tam khoanh.

Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi

Cứ mãi rong chơi chẳng học hành.”

Ngày đăng: 10/03/2021, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w