1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

57 816 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 601,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn đề tài “Thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”, chúng tôi không tham vọng sẽ phân tích và đánh giá được hết giá trị củaviệc sử dụng thành ngữ trong truyện th

Trang 1

DẪN NHẬP _4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề _5

3 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc tiểu luận 8

1.2 Truyện thơ Lục Vân Tiên _12

2 Khái quát về thành ngữ Tiếng Việt 15

2.1 Khái niệm và đặc điểm thành ngữ Tiếng Việt _15 2.2 Nguồn gốc và quá trình hình thành của thành ngữ Tiếng Việt _17 2.3 Cấu tạo và hân loại của thành ngữ Tiếng Việt 19 CHƯƠNG 2: THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN CỦA

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 20

1 Diện mạo của thành ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 20

2 Khảo sát tần số xuất hiện của thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu 22

2.1 Cơ sở khảo sát 22 2.2 Bảng khảo sát 23

Trang 2

3 Đặc điểm thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu _33

3.1 Thành ngữ mang tính bình dân, giàu màu sắc khẩu ngữ _33 3.2 Thành ngữ mang tính địa phương Nam Bộ rõ nét _35 3.3 Thành ngữ chủ yếu tập trung thể hiện nội dung đạo đức, nhân nghĩa. 38

4 Cách thức sử dụng thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu trong truyện thơ Lục Vân Tiên _41

4.1 Thành ngữ nguyên dạng _41 4.2 Sự sáng tạo, linh hoạt của Nguyễn Đình Chiểu trong vận dụng thành ngữ

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong những năm gần đây, việc tiếp cận và nghiên cứu các tác phẩm vănhọc dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp và thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ học hiệnđại, cụ thể là theo hướng tiếp cận văn bản học, hệ thống cấu trúc, nghệ thuật ngôn từ đang

là một hướng mới và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Thành ngữ làđơn vị ngôn ngữ mang nhiều đặc trưng văn hóa của người Việt Cùng với tục ngữ và cadao, thành ngữ đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của ngườiViệt Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ quen thuộc và không thể thiếu trong lời ăn tiếngnói hàng ngày của người dân Việt Nam Không chỉ dừng lại ở lời ăn tiếng nói hàng ngàycủa người dân mà thành ngữ còn thường xuyên được các nhà văn, nhà thơ sử dụng nhưmột biện pháp nghệ thuật quen thuộc Khi được sử dụng làm chất liệu nghệ thuật cho thi

ca, thành ngữ ít nhiều có sự biến hóa linh hoạt, tạo nên nét riêng cho tác giả và tác phẩm.1.2 Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là một trong số những nhà văn lớn của

nền văn học Việt Nam Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận định “Nguyễn Đình Chiểu

là ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ của dân tộc” Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

đều là những bài học về nhân nghĩa, đạo đức, đều bộc lộ tấm lòng yêu nước thương dân

Dù sáng tác trong cảnh mù lòa, nhưng ông lại có một cái tâm sáng hơn người Trong sốnhững tác phẩm tiêu biểu nhất phải kể đến truyện thơ Lục Vân Tiên là một trong nhữngsáng tác có sức sống lâu bền nhất của Nguyễn Đình Chiểu Nhắc đến Lục Vân Tiên,người ta nhớ đến ngay một câu chuyện nhân nghĩa được kể lại bằng một giọng văn chânthật, gần gũi với nhân dân Nam Bộ Không chỉ sử dụng từ ngữ bình dân, đời thường màNguyễn Đình Chiểu còn sử dụng nhiều chất liệu văn hóa, văn học dân gian để làm tăngsức diễn đạt cho tác phẩm của mình Trong đó, việc vận dụng một số lượng lớn các thànhngữ vào Lục Vân Tiên với tần suất cao đã tạo nên nét đặc sắc trong cách diễn đạt củaNguyễn Đình Chiểu

Trang 4

1.3 Chọn đề tài “Thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”, chúng tôi không tham vọng sẽ phân tích và đánh giá được hết giá trị của

việc sử dụng thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên, cũng như vai trò của thành ngữtrong việc tạo nên sức sống lâu bền trong nhân dân của tác phẩm này Trong phạm vi khảnăng của mình, với đề tài này chúng tôi sẽ khảo sát số lượng và tần suất xuất hiện của cácthành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ phân loại cácthành ngữ dựa trên cơ sỏ các thức sử dụng của Nguyễn Đình Chiểu trong tác phẩm LụcVân Tiên Với đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần vào kho tài liệu nghiên cứu

và tìm hiểu về Lục Vân Tiên nói riêng cũng như về Nguyễn Đình Chiểu nối riêng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay, việc nghiên cứu về việc sử dụng các chất liệu văn học dân giannói chung và thành ngữ nói riêng trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

1 Hồng Dân – Nguyễn Đình Chiểu, cái mốc lớn trên tiến trình văn học Việt Văn học.Trong bài viết này, Hồng Dân bàn về vấn đè ngôn từ trong các sáng

tác của Nguyễn Đình Chiểu Về thành ngữ, ông không nói riêng nhưng có nhắc

đến: “trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu ta có thể bắt gặp những từ ngữ cửa miệng, những từ ngữ phương ngôn, những thành ngữ, tục ngữ, những cách nói quen thuộc trong lối nói năng hàng ngày của đại chúng nói chung, của nhân dân Nam Bộ nói riêng.”

2 Ngô Thúy Nga, Trần Thị Minh Phương, Phan Minh Thúy – Tính bình dị của ngôn ngữ Nguyễn Đình Chiểu trong tác phẩm “Lục Vân Tiên” Trong

bài viết này, các tác giả không đi sâu nhận định, phân tích mà chỉ tiến hànhkhảo sát ngôn ngữ trong Lục Vân Tiên Theo như khảo sát của các tác giả này,trong Lục Vân Tiên Nguyễn Đình Chiểu đã sử dụng 76 lần thành ngữ, 8 lầnquán ngữ, 7 lần lối nói so sánh ví von rút từ ca dao Theo quan niệm của nhóm

Trang 5

tác giả này thì một số lối nói có tính chất so sánh, ví von như “ong bướm qua lại”, “màn trời chiếu đất”… được quy vào thành ngữ; còn những cụm từ như:

“đau như dần”, “đỏ như son”, … thì quy vào quán ngữ.

3 Nguyễn Thạch Giang – Mấy nhận xét tổng quát về ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Trong bài viết này, Nguyễn Thạch Giang đã đưa ra một

số nhận định về thành ngữ trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Trong đó cónhắc đến việc Nguyễn Đình Chiểu sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của mình.Theo ông, Nguyễn Đình Chiểu đã vận dụng rất nhiều thành ngữ được rút ra từ

lời ăn tiếng nói của nhân dân và ông đã đưa ra một số ví dụ minh họa như: “tứ tung linh tàng”, “bảng lảng bơ lơ”, bá vơ bá vất”, “đong lưng cân thiếu”,

5 Trần Thị Ngọc Lang – Thử tìm hiểu phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Đình Chiểu Trong bài viết này, Trần Thị Ngọc Lang có đề cập đến việc vận

dụng thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu: “Nguyễn Đình Chiểu đưa nhiều thành ngữ, ca dao quen thuộc trong dân gian vào tác phẩm của mình một cách

tự nhiên”.

6 Trịnh Sâm – Góp phần tìm hiểu ngôn ngữ truyện thơ Lục Vân Tiên Trịnh

Sâm nhận định, trong Lục Vân Tiên có 106 thành ngữ, tục ngữ được vận dụng.Đặc biệt, có nhiều thành ngữ được Nguyễn Đình Chiểu sử dụng dưới dạng hàmẩn

7 Nguyễn Anh Thư - Luận văn tốt nghiệp đại học ngành ngữ văn “Dấu ấn văn hóa Nam Bộ” Trong luận văn này, Nguyễn Anh Thư có nhắc đến việc Nguyễn

Trang 6

Đình Chiểu sử dụng các thành ngữ mang đậm ấn dấn Nam Bộ trong sáng táccủa mình như một chất liệu văn hóa.

8 Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành văn học

trung đại “Chất liệu dân gian trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu” Trong luận văn này, Nguyễn Thị Ánh Tuyết cũng có đề cập đến

việc Nguyễn Đình Chiểu có vận dụng thành ngữ vào truyện thơ Lục Vân Tiên.Ngoài ra, tác giả này cũng có thống kê và phân loại cách sử dụng thành ngữ củaNguyễn Đình Chiểu trong truyện thơ này

9 Cao Tự Thanh - “Hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu trong văn hóa Việt Nam” Trong bài viết này, Cao Tự Thanh có bàn về vấn đề thành ngữ trong

sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Tác giả này cho rằng, việc Nguyễn ĐìnhChiểu vận dụng thành ngữ vào sáng tác của mình chính là một biểu hiện củatính nhân dân trong ngôn ngữ Nhất là việc cụ Đồ Chiểu đã trực dịch nhữngthành ngữ chữ Hán sang chữ Nôm

Trên đây là một số công trình nghiên cứu và bài viết tiêu biểu về Nguyễn ĐìnhChiểu và truyện thơ Lục Vân Tiên Nhìn chung, các bài viết và công trình nghiên cứu nàychỉ đề cập đến vấn đề Nguyễn Đình Chiểu có vận dụng thành ngữ trong sáng tác của mìnhmột cách chung chung, chưa đi sâu vào từng tác phẩm cũng như chưa đi sâu tìm hiểu

những đặc điểm của thành ngữ trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Với đề tài “Thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”, chúng tôi hi vọng có thể

góp phần cung cấp một cái nhìn đầy đủ về thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên củaNguyễn Đình Chiểu

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài “Thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”, đối tượng của đề tài là các thành ngữ được Nguyễn Đình Chiểu sử dụng trong

truyện thơ Lục Vân Tiên Cứ liệu mà chúng tôi sử dụng trong tiểu luận này là văn bản

Lục Vân Tiên trong cuốn “Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 1”, nxb Văn Học, 1997.

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

 Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng kếthợp các lý thuyết, quan điểm nghiên cứu về văn hoá học, ngôn ngữ học lịchsử,và các kiến thức liên ngành có liên quan đến việc nghiên cứu thành ngữ

trong “Lục Vân Tiên”.

 Các phương pháp nghiên cứu:

a) Phương pháp tổng hợp: Với phương pháp tổng hợp tôi tiến hành sưu tầm vàtổng hợp các bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng như những nhận định đánh giá để tôinhìn nhận vấn đề một cách khoa học để bài làm logic hơn

b) Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này giúp cho việc thống kêlại những chi tiết chính và phân loại thành ngữ trong tác phẩm một cách chính xác nhằmtăng sức thuyết phục cho luận điểm

c) Phương pháp so sánh đối chiếu: Bất cứ một đối tượng nghiên cứu nào trongquá trình phân tích, nếu ta sử dụng có hiệu quả phương pháp so sánh sẽ giúp cho việcnhận thức đối tượng thêm phần sâu sắc

d) Phương pháp tham khảo tài liệu: Mục đích nghiên cứu tài liệu tham khảo làtìm hiểu lịch sử nghiên cứu, nắm bắt những nội dung những người đi trước đã làm,không mất thời gian lặp lại những công việc người đi trước đã thực hiện Tôi sử dụngphương pháp này để có cái nhìn tổng quan về tất cả các vấn đề của tác phẩm Bên cạnh đóphương pháp này còn giúp cho chúng tôi có thêm nhiều tư liệu, nhiều hiểu biết mới đểviết và hoàn thành đề tài Việc tham khảo nhiều tài liệu khác nhau từ các nguồn khác nhau

về nhiều vấn đề trong tác phảm còn giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan hơn về tácphẩm, góp phần làm cho bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

5 Cấu trúc tiểu luận

Cấu trúc của tiểu luận gồm 3 phần: Dẫn nhập, Nội dung và Kết luận

Phần nội dung gồm 2 chương:

Chương 1: Những vẫn đề chung

1 Nguyễn Đình Chiểu và truyện thơ Lục Vân Tiên

2 Khái quát về thành ngữ Tiếng Việt

Trang 8

Chương 2: Thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên

1 Diện mạo thành ngữ Tiếng Việt trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

2 Khảo sát tần số xuất hiện của thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên

3 Đặc điểm thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên

4 Cách thức sử dụng thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu trong truyện thơLục Vân Tiên

Nguyễn Ðình Chiểu sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương phủTân Bình, Gia Ðịnh và mất ngày 3-7-1888 tại Ba Tri, Bến Tre Tên tự là Mạnh Trạch,hiệu Trọng Phủ Sau khi bị mù, ông còn lấy thêm hiệu là Hối Trai

Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh ThừaThiên (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế) Nguyễn Đình Huy theo

tả quân Lê Văn Duyệt làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc dinh Tổng trấn Gia Định thành MẹNguyễn Đình Chiểu là Trương Thị Thiệt, người Gia Định

Sau khi Lê Văn Duyệt chết, vào thời điểm nổ ra cuộc bạo động chống lại triều đình

do Lê Văn Khôi (vị con nuôi của quan Tổng trấn) cầm đầu vào năm 1833, Nguyễn ĐìnhHuy sợ bị liên lụy phải bỏ cả gia đình chạy về kinh Một thời gian sau đó, ông trở về Namtìm cách đưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế và gửi nhờ gia đình một người quen

Trang 9

Sau một thời gian khá dài nương náu ở Huế, năm 1840, Nguyễn Đình Chiểu quay vềGia Định sống với mẹ (bà Trương Thị Thiệt, vợ lẽ của Nguyễn Đình Huy) và dùi màikinh sử chờ ngày thi Khoa Kỷ Mão (1843), Nguyễn Đình Chiểu đậu Tú tài ở trường thiGia Định Năm đó ông mới ngoài hai mươi tuổi Ba năm sau, ông ra Huế chờ dự kì thi KỷDậu (1849), nhưng chưa kịp dự thi thì nhận được tin mẹ mất, phải trở về Nam để cư tang.Trên đường hồi Nam, ông ốm nặng, sau đó bị mù.

Về đến Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ, mãi đến 1851 ôngmới mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn Năm 1854, một ngườihọc trò của ông tên là Lê Tăng Quýnh vì cảm phục tài năng, ý chí, nhân cách sáng ngờicũng như cảm thương hoàn cảnh của Nguyễn Đình Chiểu nên đã xin gia đình gả cô emgái thứ năm của mình là Lê Thị Điền, người Cần Giuộc (Long An) cho thầy

Trong khoảng thời gian từ 1853 - 1854, ông sống tại Gia Định cùng với vợ (bà LêThị Điền) Năm 1858, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định Nguyễn Đình Chiểu cùng giađình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc Kể từ 1862 trở đi, khi triềuNguyễn ký Hiệp ước cắt 3 tỉnh miền Đông

Nguyễn Đình Chiểu thể hiện nhiều vai trò, vị trí trong xã hội Với tư cách là một nhà

sư phạm, ông coi việc dạy người cao hơn dạy chữ Có thể nói trong xã hội lúc bấy giờ, đóchính là một tư tưởng cấp tiến Với vai trò là người thầy thuốc, Nguyễn Đình Chiểu lấyviệc chăm sóc sức khỏe nhân dân làm y đức Ông là nhà thơ nhân văn, coi trọng chứcnăng giáo huấn, tính chiến đấu của văn chương Ngoài ra, ông còn là một chiến sĩ, là sĩphu yêu nước bất cộng tác với giặc

Ngày 3 tháng 7 năm 1888, Nguyễn Đình Chiểu trút hơi thở cuối cùng tại Ba Tri,Bến Tre Bến Tre không phải nơi Nguyễn Đình Chiểu sinh ra, nhưng vinh dự là nơi ôngchọn gắn bó 26 năm cuộc đời Suốt những năm tháng gắn bó tại mảnh đất này, NguyễnĐình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc, vừa chữa thân bệnh vừa chữa tâm bệnh Ôngsống gần gũi với nhân, trái tim ông đập cùng một nhịp với dân chúng, đau cùng một nỗiđau mất nước Nhờ vậy mà ông thấu hiểu nhân dân hơn bất cứ ai, phát hiện ra nhữngphẩm chất cao đẹp ẩn mình sau cái vỏ bọc lam lũ của họ Tất cả những thứ đó tạo nên tầm

Trang 10

cao trong tư tưởng, tình cảm và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Tấm lòng đódường như được đền đáp một cách xứng đáng khi ngày đưa ông trở về với đất mẹ, cánhđồng Ba Tri rợp trắng khăn tang của hàng ngàn người mến mộ ông, cảm phục một tinhthần, một nhân cách lớn.

1.1.2 Sự nghiệp thơ văn

Trong sự nghiệp văn học của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại một gia tài vănhọc đồ sộ với một số lượng tác phẩm lớn, phong phú về mặt thể loại, có giá trị về mặt nộidung, tư tưởng và được lan truyền sâu rộng trong dân gian

Nguyễn Đình Chiểu bắt đầu viết văn sau khi bị mù, hầu hết các tác phẩm của ôngđều viết bằng chữ Nôm Căn cứ vào nội dung có thể thấy các sáng tác của ông chia làmhai giai đoạn:

Trước khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì: Truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên là tácphẩm đầu tay, có tính chất tự truyện và có thể nói đây là tác phẩm nổi tiếng nhất củaNguyễn Đình Chiểu được sáng tác từ sau khi ông bị mù đến trước khi thực dân Pháp xâmlược nước ta (1858) Với Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã phác họa một xã hội suy

vi, khi cái ác lên ngôi tìm cách hãm hại người lương thiện Qua tác phẩm, Nguyễn Đình

Chiểu thể hiện rõ lẽ ghét thương của mình và thể hiện chân lí ngàn đời của ông cha: “Ở hiền gặp lành” và “Gieo gió gặt bão”.

Sau khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì: Ông sáng tác truyện Nôm Dương Từ- HàMậu (cũng có ý kiến cho rằng tác phẩm được viết trước khi thực dân Pháp xâm lược).Trong truyện Nôm này, Nguyễn Đình Chiểu kể câu chuyện xa xưa của Trung Quốc màthực chất là để nói đến xã hội phức tạp lúc bấy giờ Ông nhận ra thực dân Pháp lợi dụnglòng kính Chúa của giáo dân để thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng, ông phản đối gaygắt đạo Gia- tô Đồng thời ông phê phán sự hèn nhát, bạc nhược của những kẻ nương nhờcửa Phật để trốn tránh thế sự Nguyễn Đình Chiểu kêu gọi mọi người thức tỉnh, biết sống

có trách nhiệm đối với gia đình và xã hội Ngoài ra, ông còn sáng tác 41 bài thơ, 1 bài

hịch, 3 bài văn tế trong đó có nhiều bài nổi tiếng như: Chạy giặc (1859), Từ biệt cố nhân (1859), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861), Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định

Trang 11

(1864), Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Hịch đánh chuột, Ngóng gió đông, Tác phẩm Ngư

tiều y thuật vấn đáp chủ yếu nói về các phương thuốc và nghề làm thuốc nhưng tràn trềtinh thần yêu nước

Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với nhân dân, vận mệnh đất nước và thờiđại Với những đóng góp của mình, Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng được tôn vinh là ngọn

cờ đầu của văn học yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX

1.2 Truyện thơ Lục Vân Tiên

Lục Vân Tiên được coi là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Đình Chiểu ở thể

loại truyện thơ Nôm Đây là một trong những đỉnh cao của văn chương cổ điển Việt Nam

và chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng

Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, người đọc dễ dàng nhận ra nhiều tình tiết có nét

tương đồng với cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu Bởi thế, có thể suy đoán truyện thơ nàyđược sáng tác vào lúc nhà thơ đã bị mù Qua một thời gian khá dài lưu hành trong dânchúng, năm 1864, một võ quan người Pháp (Gabriel Aubaret) đã sưu tập những bản chéptay rời rạc rồi sắp xếp lại và dịch ra tiếng Pháp, cho in lần đầu trên Kỷ yếu châu Á

Lục Vân Tiên là câu chuyện về cuộc đời của chàng trai họ Lục, một bậc anh hùng

nghĩa hiệp Tác giả đã trình bày một cách đầy đủ, chi tiết quá trình học hành tu dưỡng,những bất hạnh phải nếm trải, mối quan hệ với mọi người của chàng Vân Tiên Qua tácphẩm này, Nguyễn Đình Chiểu muốn nêu một bài học về đạo lý làm người, cách ứng xửtrước những vấn đề cụ thể trong cuộc sống thường ngày Có thể dễ dàng nhận ra ý đồnghệ thuật của tác giả ngay từ những câu mở đầu thiên truyện:

“Trước đèn xem truyện Tây Minh

Gẫm cười hai chữ nhơn tình éo le

Hỡi ai lẳng lặng mà nghe

Dữ răn việc trước lành đè thân sau

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.”

Trang 12

Tác giả nói rõ: đây là chuyện "nhơn tình", chuyện đạo lý Tuy nhiên cái đạo lý mà

Nguyễn Đình Chiểu muốn truyền bá trong tác phẩm có một ý nghĩa phong phú hơn, biểuhiện của nó cũng sinh động hơn so với những khái niệm quen thuộc của Nho giáo Chẳnghạn, tác giả có đề cập đến chữ trung, nhưng thực chất đó là trung hiếu, trung nghĩa, trung

trinh chứ không phải là "trung quân" theo nghĩa cương thường Ngay cả việc tác giả để

chàng Vân Tiên đi dẹp giặc Ô Qua theo mệnh vua thì mục đích chủ yếu vẫn là tạo điềukiện cho nhân vật chứng tỏ tài văn võ song toàn, thậm chí, chỉ là cái cớ để Vân Tiên -Nguyệt Nga sum họp là chính Xét về bản chất, đây là hành động cứu khốn phò nguy,chống lại cái ác (giặc giã) - vốn là trách nhiệm của bậc anh hùng, trang hảo hán Nói cách

khác, Lục Vân Tiên là truyện thơ nhằm biểu dương cái thiện, là bài học về đạo lý làm

người

Bao trùm toàn bộ thiên truyện là tình cảm rạch ròi của nhà văn: yêu chính ghét tà,ngưỡng mộ những con người nghĩa hiệp và căm ghét cái xấu, cái ác Thế giới trong truyện

Lục Vân Tiên là đấu trường một mất một còn giữa đạo nghĩa và bất nghĩa, vô đạo đức.

Trong đó, mọi hành vi của nhân vật đều nhắm đến mục tiêu thể hiện cái nghĩa khí, cáinhân nghĩa trong mỗi con người Chính vì thế, ở đây không có sự phân chia thứ bậc, đẳngcấp khi làm việc nghĩa Kẻ sĩ làm việc nghĩa theo bổn phận (đã đành), mà đến cả những

kẻ hèn khó nhất cũng có những hành vi, nghĩa cử rất đáng trân trọng Dường như NguyễnĐình Chiểu có một sự dụng tâm nào đó ngay từ việc đặt tên các nhân vật trong truyện

Đối với những người dân bình thường nơi thôn dã, ông đặt tên họ theo lối "vô danh hóa"

(ông Tiều, ông Ngư, Tiểu đồng ) để ngầm chỉ rằng họ là tầng lớp làm việc nghĩa đôngđảo nhất, vô tư nhất; đến mức không thể nhớ hết, kể đếm hết Nhân vật đạo đức trong LụcVân Tiên đáng quý đáng yêu ở tấm lòng trong sáng, nhiệt thành hiếm thấy Họ thường ratay cứu khốn phò nguy như một lẽ tự nhiên, một việc tất yếu phải làm Cái động cơ chi

phối cách hành xử của họ là vì nghĩa: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” Điều này trở thành nguyên tắc hoạt động cho mọi nhân vật trong truyện,

cả nhân vật chính lẫn nhân vật phụ Nhân vật Ông Quán chẳng hạn, đúng là một mẫungười khác thường bởi có quá nhiều dị biệt so với đồng nghiệp Làm chủ quán nhưng

Trang 13

không màng lợi lộc, tính tình hào phóng, khí khái, sẵn sàng giúp đỡ kẻ hoạn nạn mà chảtính gì đến việc có được đền đáp hay không Đấy chính là một trang nghĩa hiệp cải dạngthì đúng hơn Hoặc nhân vật Tiểu đồng cũng thế Xét về vị thế xã hội, con người nàythuộc hàng thấp kém nhất (bởi đây là gia nhân, hạng tôi tớ, phận con đòi), thế nhưng nhânvật này lại có những biểu hiện vì nghĩa rất độc đáo Tình cảm của Tiểu đồng đối với VânTiên đã vượt ra ngoài quan hệ chủ - tớ Đấy là cách ứng xử của những con người biếttrọng đạo nghĩa

Trong Lục Vân Tiên các nhân vật phản diện được xây dựng như một phép tương

phản để tô đậm thêm vẻ đẹp đạo đức của các nhân vật chính Các nhân vật phản diện,dưới những biểu hiện khác nhau (Trịnh Hâm: nhỏ nhen, thù vặt; Bùi Kiệm: dâm dục, tầmthường, đê tiện; nhà Thể Loan: lọc lừa, phản trắc; Thái sư: nham hiểm ) được thể hiệndưới một cái vỏ chung: bất nghĩa, bất nhân, là người xấu Thái độ của Nguyễn ĐìnhChiểu đối với hạng người này là rất rõ ràng, quyết liệt Ông dành những câu chữ nặng nề,gay gắt nhất để lên án, phê phán, không có bất cứ một chút khoan nhượng nào

Nói như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, truyện thơ Lục Vân Tiên là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa.” 1

Truyện thơ Lục Vân Tiên dài 2082 câu, có thể chia thành 4 phần như sau:

 Phần 1: Từ câu 1 đến câu 286, Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga

 Phần 2: Từ câu 287 đến câu 1264, Lục Vân Tiên gặp nạn và được cứu giúp

 Phần 3: Từ câu 1265 đến câu 1664, Kiều Nguyệt Nga bị cống Hồ - chungthủy với Lục Vân Tiên

 Phần 4: từ câu 1665 đến câu 2082, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga nênnghĩa vợ chồng

2 Khái quát về thành ngữ Tiếng Việt

2.1 Khái niệm và đặc điểm thành ngữ Tiếng Việt

1 Phạm Văn Đồng – Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc.

Trang 14

Trong Tiếng Việt, thành ngữ được xem là một trong những đơn vị ngôn ngữ đặcbiệt bởi đặc trưng đặc biệt về kết cấu, ý nghĩa cũng như cách sử dụng Có nhiều cách địnhnghĩa khác nhau về thành ngữ Dưới đây xin liệt kê một số định nghĩa thành ngữ phổbiến:

“Theo cách hiểu thông thường thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi

trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” (Hoàng Văn Hàng, “Thành ngữ

học Tiếng Việt”)

“Thành ngữ là cụm từ cố định, có sẵn, được lưu truyền trong dân gian từ đơì này sang đời khác Về chức năng, thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, dùng để gọi tên sự vật hiện tượng hay biểu thị khái niệm Về ý nghĩa, thành ngữ thường mang tính hình

tượng, tính bóng bầy, gợi tả.” (Đỗ Thị Thu Hương, “Nguồn gốc hình thành và đặc điểm

cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ thuần Việt”)

“Thành ngữ là tập hợp từ cố định, đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”( Hoàng Phê, “Từ điển Tiếng Việt”)

“Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.” (Nguyễn Như Ý, “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”)

“Thành ngữ - đó là cụm từ cố định, trong đó các từ phần lớn đã mất đi tính độc lập ngữ nghĩa của chúng, và sau khi kết hợp với nhau, chúng tạo thành một thể thống nhất bền chặt Nghĩa của kết hợp đó không được tạo nên bởi nghĩa của những thành tố (hình vị) nằm trong thành phần của nó.”(Nguyễn Văn Tu – “Từ và vốn từ Tiếng Việt hiện đại”)

“Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng để miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng, tính cách hoặc quan hệ.”(Hồ Lê, “Vấn đề của cấu tạo từ của Tiếng Việt”)

Trang 15

“[…] thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tình gợi cảm” (Nguyễn Thiện Giáp, “Từ vựng học Tiếng Việt”)

“Thành ngữ là một loại cụm từ đặc biệt có cấu trúc rất bền chặt (cố định), có vần điệu và thành phần ngữ âm đặc biệt; nghĩa của thành ngữ không thể suy ra từ tổng số nghĩa của các yếu tố cấu thành nó: thành ngữ có nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh – khái quát, thường có kèm theo giá trị biểu cảm; thành ngữ dùng để định danh những hiện tượng của hiện thực và thường hoạt động trong câu với tư cách là một bộ phận cấu thành của nó.”(Nguyễn Văn Hằng, “Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại”)

Như vậy, từ các định nghĩa trên ta có thể thấy thành ngữ có 2 đặc trưng cơ bản sauđây: một là thành ngữ có tính chất cố định về cấu trúc; hai là thành ngữ có tính hoànchỉnh về nghĩa và mang sắc thái biểu cảm cao

Đặc trưng thứ nhất thể hiện ở chỗ thành phần từ vựng của thành ngữ nói chung là

ổn định và trật tự của các thành phần này là cố định, hầu như không có sự thay đổi khi sửdụng Nguyên nhân tạo thành đặc trưng này của thành ngữ là do thói quen sử dụng củangười bản ngữ Ban đầu, những thành ngữ mà ngày nay mà chúng ta sử dụng củng chỉ lànhững cụm từ tự do, nhưng do được sử dụng thường xuyên cùng với sư chuyển di ngữnghĩa nhất định, nó được người bản ngữ chấp nhận và ưa dùng Nói đến tính chất cố định

về mặt cấu trúc của thành ngữ là nói đến cái chuẩn, nhưng cấu trúc của thành ngữ không

phải là “bất di bất dịch” mà tùy thuộc vào người sử dụng và mục đích sử dụng mà có sự

thay đổi cho phù hợp Đặc biệt, ta thường xuyên bắt gặp trường hợp này trong các tácphẩm văn học như là một cách thể hiện tài năng và phong cách riêng của các nhà văn

Đặc trưng thứ hai của thành ngữ là tính hoàn chỉnh về nghĩa và mang sắc thái biểucảm cao Thành ngữ được xem như một đơn vị định danh của ngôn ngữ vì tính chất nàycủa nó Tuy nhiên, thành ngữ chỉ là đơn vị đinh danh bậc hai, vì mặc dù nghĩa của thànhngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sựvật nhưng nội dung nghĩa này lại không phải là nội dung nghĩa đen của các từ tạo nênthành ngữ Nghĩa của thành ngữ là nghĩa bóng, hay nghĩa biểu trưng thường được hình

Trang 16

thành nhờ quá trình biểu trưng hóa Chính nhờ đặc trưng này mà thành ngữ có sức biểucảm cao.

2.2 Nguồn gốc và quá trình hình thành của thành ngữ Tiếng Việt

Cũng giống như từ trong ngôn ngữ, thành ngữ là những đơn vị có sẵn xuất hiệndần từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau và được sử dụng rộng rãi, tự nhiêntrong xã hội Nhiều nhà nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tố tạo nên thành ngữ banđầu vốn là những từ độc lập, tức là những đơn vị định danh có nghĩa từ vựng và chứcnăng cú pháp ổn định Nhưng trải qua quá trình sử dụng thường xuyên và di dịch nghĩatrong một thời gian dài thì trở thành thói quen trong cách sử dụng ngôn ngữ của ngườibản địa

Thành ngữ Tiếng Việt xuất phát từ hai nguồn gốc chính sau đây:

Một là sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau

Hai là tạo lập thành ngữ tiếng nước ngoài bằng các chất liệu dân tộc

Đầu tiên, với trường hợp sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới nhiều hình thứckhác nhau, ta dễ nhận thấy phổ biến nhất là trường hợp mượn các thành ngữ tiếng Hán.Hầu hết những thành ngữ gốc Hán này đều được mượn từ tiếng Hán Bạch Thoại, ngoài ra

ta còn có thể bắt gặp một số ít thành ngữ được đọc theo âm Quảng Đông, Quảng Tây.Những thành ngữ tiếng Hán này khi đi vào Tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp, hoặc

là sẽ được giữ nguyên hoặc là sẽ được Việt hóa cho phù hợp với cách sử dụng của ngườiViệt Với trường hợp thứ nhất, ta dễ nhận thấy một điều là những thành ngữ dạng giữnguyên thể như thế này mang tính chất ách vở rõ rệt và rất ít khi xuất hiện trong dân gian

mà hầu như chỉ xuất hiện trong các tác phảm văn học cổ, trong văn phong chính luận

Còn với trường hợp thành ngữ gốc Hán được Việt hóa thì, nó được Việt hóa cả về

từ vựng, ngữ nghĩa lẫn cấu trúc cho phù hợp với cách sử dụng của người Việt Có nhữngcách thức Việt hóa thường gặp như:

- Dịch một bộ phận thành ngữ gốc Hán ra Tiếng Việt, giữ nguyên cấu trúc và bộphận còn lại của thành ngữ gốc

Ví dụ: cửu tử nhất sinh -> thập tử nhất sinh

Trang 17

- Dịch toàn bộ các yếu tố của thành ngữ gốc Hán ra Tiếng Việt, giữ nguyên cấutrúc của thành ngữ gốc.

Ví dụ: bình thủy tương phùng -> bèo nước gặp nhau

- Dịch nghĩa chung của thành ngữ gốc Hán ra Tiếng Việt

Ví dụ: tọa thực băng sơn -> miệng ăn núi lở

- Thay đổi trật tự các yếu tố của thành ngữ gốc Hán

Ví dụ: cùng cốc thâm sơn -> thâm sơn cùng cốc

- Dùng từ gốc Hán để tạo ra thành ngữ mới

Ví dụ: phú quý sinh lễ nghĩa

Thứ hai, trường hợp thành ngữ được tạo lập bằng các chất liệu dân tộc Đây là bộphận chiếm chủ yếu trong hệ thống thành ngữ Tiếng Việt Những thành ngữ dạng nàyđược tạo ra chủ yếu bằng ba hình thức sau: định danh hóa các tổ hợp từ tự do, tạo thànhngữ mới theo cấu trúc của thành ngữ đã có trước và liên kết các thành ngữ có nguồn gốckhác nhau tạo thành một thành ngữ mới Trong ba phương thức trên, phương thức đầu

tiên là phương thức cần trải qua một quá trình diễn biến lâu dài và “chậm chạp” trong đời

sống nôn ngữ của người Việt Trong khi đó, hai phương thức còn lại cho phép ta tạo racác thành ngữ mới một cách dễ dàng, nhanh chóng, hàng loạt các đơn vị ngôn ngữ có tínhthành ngữ cao trong một thời gian ngắn

2.3 Cấu tạo và hân loại của thành ngữ Tiếng Việt

Về vấn đề phân loại thành ngữ Tiếng Việt hiện vẫn chưa có ý kiến thống nhất nào.Dưới đây, xin dẫn ra một số cách phân loại phổ biến

Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng có thể căn cứ cứ

vào cơ chế cấu tạo để chia thành ngữ ra thành hai loại lớn đó là thành ngữ hợp kết vàthành ngữ hòa kết Trong đó, thành ngữ hợp kết được hình thành do sự kết hợp của mộtthành tố biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các thành tố biểu thị thuộc tính riêng

của đối tượng (ví dụ: bạc như vôi); hoặc được hình thành nhờ sự kết hợp hai thành tố biểu thị những mặt riêng của một đối tượng chung hơn cần diễn đạt (ví dụ: ăn no ngủ kĩ) Còn

Trang 18

thành ngữ hòa kết được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ toàn bộ (ví dụ: chó ngáp phải ruồi).

Trong “Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt”, các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức

Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến đã đưa ra hai cơ sở để phân loại thành ngữ Tiếng Việt Cơ

sở thứ nhất là dựa vào cơ chế cấu tạo cả nội dung và hình thức, với cơ sở này, thành ngữTiếng Việt có hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ Cơ sở thứ hai làdựa vào số tiếng của thành ngữ để phân loại Theo tác giả này, các thành ngữ Tiếng Việt

có số tiếng chẵn chiếm số lượng lớn trong thành ngữ Tiếng Việt (xấp xỉ 85%)

Trong “Khảo luận về tục ngữ người Việt”, tác giả Triều Nguyên đã phân loại

thành ngữ bằng các mô hình ngữ pháp Với tiêu chí này, Triều Nguyên đã chia thành ngữTiếng Việt ra thành 3 nhóm với 24 mô hình ngữ pháp: nhóm mô hình so sánh, nhóm môhình đối xứng, nhóm các mô hình không thuộc 2 trường hợp trên

Trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” và “Thành ngữ học Tiếng Việt” Hoàng

Văn Hành có dùng sơ đồ dưới đây để phân loại thành ngữ

Như vậy, chúng ta có thể thấy dù rằng chưa đưa ra được một cách phân loại thốngnhất cho thành ngữ, nhưng hầu như các nhà nghiên cứu đều dựa trên các tiêu chí về cấutrúc, ngữ nghĩa, nguồn gốc, … của thành ngữ để phân loại thành ngữ

Trang 19

CHƯƠNG 2: THÀNH NGỮ TRONG TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

1 Diện mạo của thành ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

Nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu, người ta nhớ đến ngay một nhà thơ của nhân dânNam Bộ, một giọng văn đầy chất Nam Bộ, một tấm lòng yêu nước, thương nòi, đề caonhân nghĩa đạo đức của dân tộc Bên cạnh đó, người ta cũng không thể không nhắc đếnbiệt tài sử dụng những chất liệu ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc vào thơ ca của mình, trong

đó phải kể đến thành ngữ

Nói về diện mạo chung của thành ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu,

cụ Đồ đã sử dụng nhiều thành ngữ mang đậm dấu ấn Nam Bộ, như là một yếu tố tạo

thành phong cách trong thơ văn của mình Những thành ngữ như “sấm chớp mưa rào”,

“ếch nằm đáy giếng” (Ếch nằm đáy giếng thấy bao lăm trời), “đàn gãy tai trâu” (Uổng thay đàn gảy tai trâu), “nước xao đầu vịt” (Nước xáo đầu vịt gẫm âu nực cười), “mặt dáng xách giày” (Về cho tẩu tẩu để khi xách giày), … sử Nguyễn Đình Chiểu vận dụng

khá thường xuyên trong các tác phẩm của mình

Ta có thể bắt gặp rất nhiều những thành ngữ dân gian mà Nguyễn Đình Chiểu đãdùng để để miêu tả những người dân lao động trong các sáng tác của mình Họ là những

“dân ấp, dân lân” mà phải chịu cảnh “dưa chia khăn xé” (Vì ai khiến dưa chia khăn xé) trước nạn mất nước li loạn của thời cuộc Chính vì “tấc đất ngọn rau”, “bát cơm manh áo” mà họ cùng nhau quyết tâm đứng lên chống giặc, mặc kệ mọi “tiếng thị tiếng phi”,

cùng nhau chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, những người nông dân chân chất không

thể chấp nhận thái độ ngông nghênh “om sòm như nhái” của lũ giăc cướp nước và lũ người “treo dê bán chó” (Hai vầng nhật nguyệt chói lòa đâu dung lũ treo dê bán chó), nên họ đứng lên đấu tranh thà “da ngựa bọc thây” (Một giấc sa trường rằng chữ hạnh,

nào hay da ngựa bọc thây) chứ không chấp nhận kiếp sống nô lệ lầm than

Ông cũng sử dụng nhiều thành ngữ bốn chữ: Hươu Tần rắn Hán, nay Di mai Hạ, triêu Tần mộ Sở, sớm Hạ tối Liêu, nửa Tống nửa Liêu, nay Kim mai Tống, anh Tấn em

Trang 20

Tần, ngựa Hồ chim Việt, ngó Bắc trông Nam, cha Hồ mẹ hán, gió Tấn trời U,… để phản

ánh tâm trạng đau buồn xót xa, trước thực trạng đất nước bị phân cắt, chia năm xẻ bảy

Việc sử dụng nhiều tục ngữ, thành ngữ cũng đã góp phần tạo nên thành công củaNguyễn Đình Chiểu trong việc truyền tải nội dung, thể hiện giọng điệu của mình Khi cangợi những người nghèo mà có lòng tốt, những gia đình nghèo túng mà vẫn sẵn sàng

nhường cơm sẻ áo, đã dùng câu tục ngữ “chùa rách phật vàng” Ca ngợi tinh thần “trọng nghĩa khinh tài” của những người chuộng điều nghĩa, cũng như họ sẵn sàng hy sinh vì đất nước, một lòng son sắc “sống sao thác vậy” Và hàng loạt thành ngữ như “tứ tung linh tàng”, “tre còn măng mất”, “đong lưng cân thiếu”, được cụ Đồ sử dụng rất thường

xuyên

Việc vận dụng thành ngữ vào trong các sáng tác của mình có thể được xem nhưng

là một nét đặc sắc rất riêng của Nguyễn Đình Chiểu Nét đặc sắc này không chỉ vì sốlượng thành ngữ được sử dụng lớn và tần xuất xuất hiện một cách thường xuyên mà cònbởi cách sử dụng thành ngữ cũng như lựa chọn thành ngữ của Nguyễn Đình Chiểu rất đặcbiệt Nguyễn Đình Chiểu thường sử dụng thành ngữ thuần Việt, mà trong đó, số lượngthành ngữ địa phương Nam Bộ chiếm đa số Chính điều này giúp cho Nguyễn Đình Chiểu

dễ dàng khắc họa hình ảnh con người, cảnh vật Nam Bộ một cách tự nhiên mà gần gũi,chân chất Ngoài ra, việc giữ nguyên dạng thành ngữ hay biến đổi cho phù hợp với thểthơ, nhấn mạnh hay giảm ý cũng được Nguyễn Đình Chiểu vận dụng hết sức điêu luyện

2 Khảo sát tần số xuất hiện của thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của

Nguyễn Đình Chiểu

2.1 Cơ sở khảo sát

Với đề tài “Thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu”,

với mong muốn phần nào đánh giá được giá trị của thành ngữ được Nguyễn Đình Chiểu

sử dụng trong tác phẩm, cũngnhư tìm hiểu cách thức mà Nguyễn Đình Chiểu sử dụngtrong tác phẩm, chúng tôi sẽ khảo sát thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên với tiêuchí: cách thức sử dụng thành ngữ trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

Trang 21

Nguyễn Đình Chiểu vận dụng thành ngữ vào Lục Vân Tiên với hai cách thức chủ

yếu là: sử dụng nguyên dạng và sử dụng sáng tạo, linh hoạt

Cách thức sử dụng nguyên dạng là cách mà Nguyễn Đình Chiểu sử dụng nguyên

văn kể cả về hình thức và về nội dung diễn đạt của thành ngữ vào trong thơ

Cách thức sử dụng thành ngữ sáng tạo, sinh hoạt là cách mà Nguyễn Đình Chiểu

biến tấu những câu thành ngữ hoặc là trên bình diện nội dung hoặc là trên bình diện ngữ

nghĩa khi đưa chúng vào truyện thơ của mình

2.2 Bảng khảo sát

Theo như thống kê, trong truyện thơ“Lục Vân Tiên” có 124 thành ngữ với 131

lượt dùng Trong đó có 49 thành ngữ được sử dụng dưới dạng biến thể với 56 lượt

dùng, chiểm khoảng 39.5%, sử dụng nguyên vẹn 20 thành ngữ Hán – Việt, chiếm

26%

STT Câu Thành ngữ nguyên dạng Câu thơ sử dụng thành ngữ

1 2 Nhân tình thế thái Gẫm cười hai chữ nhơn tình éo le

4 12 Cửa Khổng sân Trình Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao

5 13 Khởi phụng đằng giao Văn đà khởi phụng đằng giao

8 34 Trèo đèo lội suối Xuống sông cũng vững, lên đèo cũng an

9 40 Đức bạc tài sơ Hay là đức bạc hay là tài sơ ?

10 73 Bĩ cực thới lai Trong cơ bĩ cực thới lai

12 109 Vóc ngọc mình vàng Con ai vóc ngọc mình vàng

13 110 Má đào mày liễu Má đào mày liễu dung nhan lạnh lùng

14 115 Nổi trận lôi đình Vân Tiên nổi trận lôi đình

15 121 Họa hổ bất thành E khi họa hổ bất thành

16 131 Tả đột hữu xung Vân Tiên tả đột hữu xung

17 167 Liễu yếu đào thơ Chút tôi liễu yếu đào thơ

Trang 22

18 173 Báo đức thù công Gẫm câu báo đức thù công

21 244 Phận gái chữ tùng Trăm năm cho trọn chữ tùng mới an

22 249 Đàng chim dấu thỏ Trải qua dấu thỏ đường dê

23 250 Chim kêu vượn hú Chim kêu vượn hú tứ bề nước non

24 264 Vóc ngọc mình vàng Dạy rằng: Con hãy nghỉ an mình vàng

26 275 Lưu thủy cao sơn Than rằng: "Lưu thủy cao sơn"

27 279 Đất rộng trời cao Vơi vơi đất rộng trời dài

28 279 Đất rộng trời cao Vơi vơi đất rộng trời dài

29 293 Bình thủy tương phùng Nhớ câu bình thủy tương phùng

30 301 Bằng hữu chi giao Chữ rằng: "Bằng hữu chi giao"

31 303 Một cây làm chẳng nên non Nên rừng há dễ một cây

32 314 Tang bồng hồ thỉ Con đà nên chữ tang bồng cùng chăng ?

33 346 Duyên cầm sắt Mừng duyên cầm sắt mối tơ đặng liền

34 349 Mày tằm mắt phụng Mày tằm mắt phụng môi son

35 350 Mười phân vẹn mười Mười phân cốt cách vương tròn mười phân

36 351 Kẻ Tấn người Tần Những e kẻ Tấn người Tần

37 378 Bảng vàng bia đá Bảng vàng thẻ bạc đã đành danh trêu

38 402 Phận gái chữ tùng Xin thương bồ liễu chữ tùng ngây thơ

39 409 Cung quế xuyên dương Chàng dầu cung quế xuyên dương

41 412 Chơi trăng quên đèn Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn

42 415 May duyên rủi nợ May duyên rủi nợ dễ phô

44 427 Công danh phú quý Công danh ai chẳng ước mơ

45 430 Tài mệnh tương đố Chữ tài chữ mạng xưa hòa ghét nhau

46 454 Khô lân chả phụng Khô lân chả phụng bộn bề thiếu đâu

47 480 Ghét cay ghét đắng Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm

48 482 Sa hầm sảy hang Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang

49 505 Chùa rách Phật vàng Trực rằng: "Chùa rách Phật vàng"

50 525 Gối rơm theo phận gối rơm Gối rơm theo phận gối rơm

51 528 Ếch ngồi đáy giếng Ếch ngồi đáy giếng thấy bao năm trời

Trang 23

52 531 Đờn gảy tai trâu Uổng thay đờn gảy tai trâu

53 537 Công danh phú quý Công danh phú quý màng chi

54 564 Thở ngắn than dài Tiểu đồng thở ngắn than dài

55 580 Sao dời vật đổi Sao dời vật đồi còn gì mà trông

58 615 Non xanh nước biếc Non xanh nước bích

60 629 Nước chảy hoa trôi Nào hay nước chảy hoa trôi

61 632 Chiếc nhạn lạc bầy Khác nào chiếc nhạn lạc bầy kêu sương

62 716 Bá vơ bá vất Bá vơ bá vất nói nhây không nhằm

63 762 Trừ ma ếm quỷ Trừ ma ếm quỷ phép thần rất hay

65 794 Đau Nam chữa Bắc Đau Nam chữa Bắc mà thuyên mới tài

66 828 Ruột tằm héo don (hon) Mình ve khô xép ruột tằm héo don

67 828 Gầy như xác ve Mình ve khô xép ruột tằm héo don

68 829 Tiền mất tật mang Hay đâu tiền mất tật còn

69 837 Ăn gió nằm sương Xiết bao ăn tuyết nằm sương

70 901 Nửa mừng nửa sợ Nửa mừng nửa lại sợ thay

72 967 Rày doi mai vịnh Rày doi mai vịnh vui vầy

73 971 Nay chích mai đầm Nghêu ngao nay chích mai dầm

74 990 Chỉ luồn trôn kim Cũng như sợ chỉ mà luồn trôn kim

75 994 Đò xưa bến cũ Chớ tin sông cũ bến xưa mà lầm

76 1027 Đỏ như son Loan rằng: "Gót đỏ như son"

77 1099 Tuyết trung tống thán Ít người trong tuyết đưa than

78 1130 Rày đây mai đó Rày đây mai đó khôn rồi gian nan

79 1144 Trăng thanh gió mát Trăng thanh gió mát bạn cùng hươu nai

80 1145 Công hầu phú quý Công hầu phú quý mặc ai

81 1168 Mai danh ẩn tích Mai danh ẩn tích bấy chầy náu nương

82 1205 Phận bạc như vôi Thương chàng phận bạc trong đời

83 1220 Duyên cầm sắt Tủi duyên con trẻ sắt cầm dở dang

84 1282 Hoa trôi bèo giạt Duyên con rày đã hoa trôi giạt bèo

85 1295 Phận bạc như vôi Thương con phận bạc lắm thay

Trang 24

86 1298 Gan vàng dạ sắt Lục ông thấy vậy thêm đâu gan vàng

87 1303 Đồng tịch đồng sàng Cũng chưa đồng tịch đồng sàng

89 1306 Mặt hoa da phấn Nghĩ nào mà ủ mặt hoa cho phiền

90 1317 Đất rộng trời cao Ngửa than đất rộng trời cao

91 1318 Tre già măng mọc Tre còn măng mất lẽ nào cho cân

92 1329 Tạc dạ ghi lòng Thề xưa tạc dạ ghi lời

93 1338 Nước chảy hoa trôi Nước trôi sự nghiệp hoa tàn công danh

94 1340 Vùa hương bát nước Vùa hương bát nước ai dành ngày sau

95 1342 Đau như dần Mặt nhìn bức tượng ruột đau như dần

96 1362 Quyền cao chức trọng

Có người sang cả ngôi cao/ Thái sư chức trọng trong trào sắc phong

97 1385 Khuynh quốc khuynh thành Nàng đà có sắc khuynh thành

98 1411 Hồng nhan bạc phận Tới nay phận bạc là ta

99 1446 Ăn chay nằm đất Ăn chay nằm đất cho chàng Vân Tiên

100 1454 Hồng nhan bạc phận Đã đành một nỗi má hồng vô duyên

101 1471 Non nước cao sâu Nàng rằng: "Non nước cao sâu"

102 1489 Lặng lẽ như tờ Trên trời lặng lẽ như tờ

103 1504 Bàn mưu tính kế Thầm toan mưu kế chẳng cho lậu tình

104 1510 Vạch lá tìm sâu Ai mà vạch lá ai mà tìm sâu ?

105 1557 Hồng nhan bạc phận Hai lo phận gái hồng nhan

106 1578 Hoa tàn nhị rữa Hoa tàn nhụy rữa như rừng bỏ hoang

107 1584 Mười hai bến nước Mười hai bến nước biết mình vào đâu

108 1609 Hồng nhan bạc phận Cho nên tiếc phận hồng nhan

109 1619 Xuân bất tái lai Nhớ câu: "Xuân bất tái lai"

110 1620 Sớm nở tối tàn Ngày nay hoa nở e mai hoa tàn

111 1622 Gối phụng màn loan Năm canh gối phụng màn loan lạnh lùng

112 1657 Bán tín bán nghi Nguyệt Nga bán tín bán nghi

113 1658 Một liều ba bảy cũng liều Đành liều nhắm mắt theo đi về nhà

114 1658 Nhắm mắt đưa chân Đành liều nhắm mắt theo đi về nhà

115 1702 Ơn cao nghĩa dày Công cao ngàn trượng ngãi dày chín trăng

116 1703 Nằm giá khóc măng Suy trang nằm giá khóc măng

117 1705 Nước mắt như mưa Vân Tiên nước mắt như mưa

Trang 25

118 1726 Én Bắc nhạn Nam Cũng vì máy tạo én nhàn rẽ nhau

119 1765 Ơn nước nợ nhà Làm trai ơn nước nợ nhà

120 1766 Thảo cha ngay chúa Thảo ngay cha chúa mới là tài danh

121 1813 Đá nát vàng phai Đã đành đá nát vàng phai

122 1859 Thệ hải minh sơn Để lời thệ hải minh sơn

123 1863 Bảng lảng bơ lơ Nguyệt Nga bảng lảng bơ vơ

124 1864 Nửa tin nửa ngờ Nửa tin rằng bản nửa ngờ rằng ai

125 1940 Mưu sâu chước độc Rắp ranh kế độc, lập mưu lừa sâu

126 1964 Chướng tai gai mắt Để chi gai mắt đứng ngồi căm gan

127 1966 Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu giết ruồi Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi

128 1978 Như sề thịt trâu Ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu

129 2038 Tô son điểm phấn Soi gương đánh phấn ra phòng rước duyên

1 2 Nhân tình thế

thái

Gẫm cười hai chữ nhơn tình éo le Lược yếu tố

2 8 Tu nhân tích đức Tu nhân tích đức sớm sanh con

Văn đà khởi phụng đằng giao Nguyên dạng

6 19 Hội long vân Nay đà gặp hội long vân Nguyên dạng

7 21 Bắn nhạn ven Chí lăm bắn nhạn ven mây Nguyên dạng

Trang 26

8 34 Trèo đèo lội suối Xuống sông cũng vững, lên đèo

cũng an

Diễn ý

9 40 Đức bạc tài sơ Hay là đức bạc hay là tài sơ ? Đổi cấu trúc

10 73 Bĩ cực thới lai Trong cơ bĩ cực thới lai Nguyên dạng

11 83 Duyên cá nước Bao giờ cá nước gặp duyên Diễn ý

14 115 Nổi trận lôi đình Vân Tiên nổi trận lôi đình Nguyên dạng

15 121 Họa hổ bất thành E khi họa hổ bất thành Nguyên dạng

16 131 Tả đột hữu xung Vân Tiên tả đột hữu xung Nguyên dạng

17 167 Liễu yếu đào thơ Chút tôi liễu yếu đào thơ Nguyên dạng

18 173 Báo đức thù công Gẫm câu báo đức thù công Nguyên dạng

19 178 Tính thiệt so hơn Nào ai tính thiệt so hơn làm gì Nguyên dạng

20 179 Kiến nghĩa bất vi Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Nguyên dạng

Trải qua dấu thỏ đường dê Lược yếu tố

23 250 Chim kêu vượn

Trang 27

26 275 Lưu thủy cao sơn Than rằng: "Lưu thủy cao sơn" Nguyên dạng

27 279 Đất rộng trời cao Vơi vơi đất rộng trời dài Thay yếu tố

28 279 Đất rộng trời cao Vơi vơi đất rộng trời dài Thay yếu tố

Nên rừng há dễ một cây Diễn ý

32 314 Tang bồng hồ thỉ Con đà nên chữ tang bồng cùng

Chàng dầu cung quế xuyên dương Nguyên dạng

40 411 Tham đó bỏ đăng Xin đừng tham đó bỏ đăng Nguyên dạng

Trang 28

41 412 Chơi trăng quên

May duyên rủi nợ dễ phô Nguyên dạng

43 421 Thủy tú sơn kỳ Trải qua thủy tú sơn kỳ Nguyên dạng

Tiểu đồng thở ngắn than dài Nguyên dạng

55 580 Sao dời vật đổi Sao dời vật đồi còn gì mà trông Nguyên dạng

Ngày đăng: 10/03/2021, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w