Đồng thời, quá trình khảo sát về lớp từ biểu thị không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương cũng giúp chúng tôi khẳng định một cách tiếp cận khoa học với tác phẩm nghệ thuật - tiếp cậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HƯỜNG
LỚP TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGHỆ AN, 8 - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
******
TRẦN THỊ HƯỜNG
LỚP TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học
TS Lê Thị Sao Chi
NGHỆ AN, 8 - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, kính trọng và chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Viện Sư phạm xã hội, ngành Sư phạm Ngữ văn, bộ môn Ngôn ngữ Trường Đại học Vinh; phòng liên kết đào tạo sau đại học Trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
TS Lê Thị Sao Chi - giảng viên hướng dẫn khoa học, đã tận tâm, nhiệt tình, chỉ dẫn giúp đỡ, khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này
Sau cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp đã tạo điều kiện về mặt thời gian, công việc trong quá trình tôi học tập và thực hiện luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Hường
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I MỤC LỤC II DANH MỤC CÁC BẢNG III
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4 Đóng góp của luận văn 4
5 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI5 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 5
1.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu không gian, thời gian trong tác phẩm văn học 5
1.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu thơ Trần Tế Xương 11
1.2 THƠ VÀ NGÔN NGỮ THƠ 16
1.2.1 Thơ là gì? 16
1.2.2 Ngôn ngữ thơ 21
1.3 KHÁI NIỆM VỀ TỪ TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ 27
1.3.1 Khái niệm 27
1.3.2 Vai trò của từ trong tiếng Việt 28
1.3.3 Phân loại từ trong hệ thống tiếng Việt 29
1.4 KHÁI NIỆM VỀ KHÔNG GIAN VÀ KHÔNG GIAN TRONG NGHỆ THUẬT 32
1.4.1 Khái niệm về không gian 32
1.4.2 Khái niệm về không gian trong nghệ thuật 33
1.5 KHÁI NIỆM VỀ THỜI GIAN VÀ THỜI GIAN TRONG NGHỆ THUẬT 35
1.5.1 Khái niệm thời gian 35
Trang 51.5.2 Thời gian trong nghệ thuật 37
1.6 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: LỚP TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 41
2.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ SỐ LƯỢNG TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 41
2.2 ĐẶC ĐIỂM TỪ LOẠI CỦA CÁC TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 41
2.2.1 Danh từ biểu thị không gian 42
2.2.2 Tính từ biểu thị không gian 46
2.3 ĐẶC ĐIỂM KẾT HỢP CỦA CÁC TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 48
2.3.1 Kiểu kết hợp danh từ + danh từ 48
2.3.2 Kiểu kết hợp danh từ + tính từ 49
2.3.3 Kiểu kết hợp danh từ + đại từ 50
2.3.4 Kiểu kết hợp danh từ + số từ 50
2.4 CÁC LOẠI KHÔNG GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 51
2.4.1 Không gian thiên nhiên, vũ trụ 52
2.4.2 Không gian thị thành, phố phường 55
2.4.3 Không gian làng quê Việt Nam trong thơ Trần Tế Xương 58
2.4.4 Nhóm từ biểu thị không gian trường thi 62
2.4.5 Không gian sinh hoạt gia đình 64
2.4.6 Nhóm từ biểu thị không gian chiêm bao, tưởng tượng 66
2.4.7 Nhóm từ biểu thị không gian văn hóa tín ngưỡng 68
2.5 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: LỚP TỪ BIỂU THỊ THỜI GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 70
3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ SỐ LƯỢNG TỪ BIỂU THỊ THỜI GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 70
Trang 63.2 ĐẶC ĐIỂM TỪ LOẠI CỦA LỚP TỪ BIỂU THỊ THỜI GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ
XƯƠNG 70
3.2.1 Danh từ biểu thị thời gian 71
3.2.2 Tính từ biểu thị thời gian 72
3.2.3 Đại từ biểu thị thời gian 73
3.3 ĐẶC ĐIỂM KẾT HỢP CỦA CÁC TỪ BIỂU THỊ THỜI GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 73
3.3.1 Kiểu kết hợp danh từ + danh từ 74
3.3.2 Kiểu kết hợp danh từ + tính từ 75
3.3.3 Kiểu kết hợp danh từ + đại từ 76
3.3.4 Kiểu kết hợp danh từ + số từ 77
3.4 CÁC LOẠI THỜI GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 77
3.4.1 Từ ngữ biểu thị thời gian quá khứ trong thơ Trần Tế Xương 78
3.4.2 Từ ngữ biểu thị thời gian hiện tại trong thơ Trần Tế Xương 80
3.4.3 Từ biểu thị thời gian tương lai trong thơ Trần Tế Xương 86
3.5 MỐI QUAN HỆ GIỮA LỚP TỪ BIỂU THỊ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 89
3.6 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng từ biểu thị không gian trong thơ Trần Tế Xương… Trang 40 Bảng 2.2 Từ loại biểu thị không gian trong thơ Tú Xươn……… Trang 41 Bảng 2.3 Các kết hợp từ biểu thị không gian trong thơ Trần Tế Xương Trang 46-47 Bảng 2.4 Các loại không gian trong thơ Trần Tế Xương……… Trang 49-50 Bảng 3.1 Số lượng từ biểu thị thời gian trong thơ Trần Tế Xương…… Trang 68 Bảng 3.2 Từ loại biểu thị thời gian trong thơ Trần Tế Xương …………Trang 68-69 Bảng 3.3 Các kết hợp từ biểu thị thời gian trong thơ Trần Tế Xương… Trang 72 Bảng 3.4 Các loại thời gian trong thơ Trần Tế Xương……… Trang 75-76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngay khi thơ Trần Tế Xương (Tú Xương) xuất hiện trên văn đàn những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhiều người đã thừa nhận tài năng của ông, trong đó phải kể đến con mắt tinh tường của bậc đại nho khả kính Nguyễn Khuyến Khi Tú Xương mất, cụ Nguyễn Khuyến đã viết thơ viếng Tú Xương, khẳng định giá trị nghệ thuật và tài năng của ông Cho đến nay, mặc dù, Trần Tế Xương đã rời xa chúng ta đúng 110 năm nhưng những tác phẩm của nhà thơ bến Vị non Côi thì vẫn còn lực hấp dẫn rất lớn đối với giới nghiên cứu văn học Ông là hiện tượng độc đáo cuối cùng của văn học trung đại nhưng lại là sự mở đầu ngoạn mục cho nền văn học Việt Nam cận - hiện đại, là người cắm dấu mốc quan trọng mở đầu cho dòng thơ trào phúng Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu về ông cho đến nay chủ yếu "thiên vị" về góc độ lý luận -phê bình văn học và lịch sử văn học Những công trình nghiên cứu từ phương diện ngôn ngữ học còn rất khiêm tốn Chúng tôi thiết nghĩ, tất cả những tác phẩm của Tú Xương để lại cho đến hôm nay là nhờ vào sức sống của nghệ thuật ngôn từ để qua đó ta thấy những dấu mốc lịch sử, thời cuộc, xã hội và tư tưởng thẩm mĩ của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống
1.2 Trong hệ thống từ loại, lớp từ biểu thị không gian và thời gian đóng vai trò quan trọng Ý thức về không gian, thời gian và tìm cách lý giải sự tồn tại, vận động, biến chuyển của chúng là một trong những mục đích nhận thức đầu tiên của con người Chức năng định danh của lớp từ biểu thị không gian, thời gian, vì thế, không chỉ đơn giản dừng lại ở việc gọi tên một hiện tượng vật chất thuần túy mà còn gắn với quan niệm, cách nhìn nhận cuộc sống của chủ thể Đặc biệt, khi được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật - môi trường giao tiếp gắn với sự sáng tạo cá nhân - thì việc lựa chọn, sắp xếp, tổ chức lớp từ biểu thị không gian, thời gian càng thể hiện rõ rệt đặc điểm nhận thức, tư duy nghệ thuật của tác giả trước hiện thực khách quan Thế nhưng, phương diện này trong thơ Tú Xương chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu một cách thấu đáo, bài bản
Trang 91.3 Hơn nữa, Trần Tế Xương là một trong những tác giả quan trọng được đưa vào giảng dạy ở các bậc học phổ thông khá ổn định từ xưa đến nay, với những tác phẩm
như: Năm mới chúc nhau, Sông Lấp, Thương vợ, Vịnh khoa thi Hương, Mồng hai tết
về cách sử dụng ngôn ngữ của Tú Xương để đánh giá đúng hơn, đầy đủ hơn về những đóng góp của ông Đồng thời, quá trình khảo sát về lớp từ biểu thị không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương cũng giúp chúng tôi khẳng định một cách tiếp cận khoa học với tác phẩm nghệ thuật - tiếp cận từ ngôn ngữ, từ chính phương tiện, chất liệu tạo nên
nó
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Lớp từ biểu thị thời gian và không gian trong thơ Trần Tế Xương để nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Do khuôn khổ luận văn có hạn, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát Lớptừ biểu thị thời gian,
luận văn được tiến hành thu thập từ 158 bài thơ trong tập "Thơ chọn lọc"(Nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội, 2014)
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm nổi bật các vấn đề dưới đây:
- Trình bày một cách hệ thống cơ sở lí luận những vấn đề về thời gian, không gian trong nghệ thuật nói chung trong thơ ca nói riêng, từ đó, làm căn cứ khoa học cho quá trình nghiên cứu lớp từ biểu thị không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương
- Dựa trên số liệu khảo sát, thống kê, phân loại các từ chỉ không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương, chúng tôi tiến hành phân tích một số dẫn chứng để thấy được cách vận dụng từ sinh động, đa nghĩa và cách phối kết hợp các từ biểu thị không gian và thời gian trong thơ Trầ Tế Xương
- Luận văn cũng hướng đến nhiệm vụ chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa lớp từ biểu thị không gian và thời gian; so sánh cách sử dụng lớp từ này trong thơ Trần Tế Xương và thơ Nguyễn Khuyến Qua đó, luận văn không chỉ làm hiện lên bức tranh lịch sử xã hội
Trang 10Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX mà còn làm nổi bật giá trị thơ ca độc đáo của Trần Tế Xương trong dòng chảy văn học dân tộc
3.1 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu khảo sát chúng tôi dựa vào tuyển tập Thơ chọn lọc của Trần Tế Xương, Nxb Văn
học, Hà Nội, 2014
Ngoài ra, để có cơ sở so sánh, đối chiếu, chúng tôi còn sử dụng các tác phẩm của
Nguyễn Khuyến trong “Thơ văn Nguyễn Khuyến”, (Mã Giang Lân tuyển chọn và giới
thiệu, Nxb Giáo dục, 1993)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
3.2.1 Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
Phương pháp thống kê ngôn ngữ học được sử dụng trong luận văn để thống kê, phân loại
và xác lập các tư liệu cần thiết, phục vụ cho việc khảo sát, phân tích và đánh giá các từ ngữ biểu thị không gian và thời gian trong thơ Tú Xương
3.2.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp với các thủ pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp
để xác lập và lý giải hệ thống từ ngữ biểu thị thời gian, không gian trong thơ Trần Tế Xương
3.2.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành so sánh - đối chiếu các từ ngữ biểu thị thời gian, không gian trong thơ Trần Tế Xương và thơ Nguyễn Khuyến để thấy những điểm chung, tương đồng và những điểm khác biệt, độc đáo của Tú Xương khi sử dụng các từ ngữ bểu thị không gian, thời gian
3.2.4 Phương pháp liên ngành
Phương pháp liên ngành được chúng tôi sử dụng khi đặt các từ ngữ biểu thị không gian, thời gian trong mối quan hệ với lịch sử - địa lý - văn hóa để đi sâu tìm hiểu thấu đáo giá trị nghệ thuật của thơ Tú Xương trên nhiều phương diện khác nhau
Trang 113.2.5 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp phân tích - tổng hợp giúp chúng tôi xây dựng hệ thống các luận điểm, luận
cứ và khái quát hóa thành những nhận xét, đánh giá chung trong quá trình phân tích, khảo sát tư liệu Từ đó, luận văn sẽ tổng hợp, rút ra những kết luận cần thiết và phù hợp
về các nội dung đã triển khai
- Về lý luận: Việc khảo sát, thống kê, phân loại từ biểu thị không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương góp phần làm sáng tỏ thêm cách tiếp cận tác phẩm thơ ca từ góc độ ngôn ngữ
- Về thực tiễn: Luận văn đóng góp nguồn tư liệu cần thiết giúp phân tích và giảng dạy thơ Trần Tế Xương nói riêng cũng như các tác phẩm thơ ca trong nhà trường phổ thông nói chung Nó góp phần thúc đẩy việc tìm hiểu tác phẩm thơ dựa trên mối quan hệ giữa
hình thức và nội dung Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của luận văn làm rõ thêm những giá trị ngôn từ trong thơ Trần Tế Xương, khẳng định sự tôn vinh của các hậu bối về ông,
trong đó nhà nghiên cứu văn học Trần Thanh Mại gọi Tú Xương là “nhà thơ thiên tài”, còn Nguyễn Công Hoan tôn Tú Xương là “bậc thần thơ thánh chữ”
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai
thành ba chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2 Lớp từ biểu thị không gian trong thơ Trần Tế Xương
Chương 3 Lớp từ biểu thị thời gian trong thơ Trần Tế Xương
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG
Ăng ghen đã khẳng định “mọi sự vật đều tồn tại trong không gian và thời gian,
tồn tại bên ngoài thời gian cũng vô lý như tồn tại ngoài không gian” Ngay từ thời xa
xưa con người đã hiểu điều đó, trong tác phẩm “Các phạm trù văn hóa trung cổ” - A Ja
Gurevich đã chỉ ra cách lí giải của người trung cổ rằng: “không gian, thời gian là những
con người” Như vậy, có nghĩa là “không gian, thời gian là những phạm trù quan trọng của mọi sự tồn tại” trong đời sống chúng ta Trong nghệ thuật cũng không ngoại lệ, mọi
sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không gian, thời gian của nó, mỗi nghệ sĩ đều có cách cảm nhận và sáng tạo riêng về không gian, thời gian sao cho phù hợp với thế giới
thực sự được chú trọng khi “Thi pháp học” xuất hiện Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về
không gian thời gian nghệ thuật thực sự được chú trọng từ thập niên 80 của thế kỉ trước Nhiều công trình của các nhà nghiên cứu và một số luận văn thạc sỹ, tiến sĩ đã để lại những kết quả khoa học đáng ghi nhận về không gian và thời gian trong tác phẩm văn học Dưới đây, chúng tôi xin được điểm lại tình hình nghiên cứu về thời gian không gian theo hai hướng: hướng nghiên cứu văn học, thi pháp học và hướng nghiên cứu ngôn ngữ học
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu văn học và thi pháp học
Trần Đình Sử trong bài viết "Thời gian nghệ thuật trong "Truyện Kiều" và cảm
quan hiện thực của Nguyễn Du" (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 05, 1982) Bài viết tổng cộng có năm chương, trong đó chương IV với nhan đề "Truyện Kiều" - thế giới
Trang 13nghệ thuật của Nguyễn Du, đã phác họa nên năm nét khái quát lớn gồm: tư tưởng nhân
vật và cách kể chuyện của Nguyễn Du; cái nhìn nghệ thuật về con người; không gian
nghệ thuật của "Truyện Kiều"; thời gian nghệ thuật của "Truyện Kiều"; hình tượng tác giả "Truyện Kiều", tạo nên nghệ thuật của toàn thiên truyện Riêng ở hai mục thời gian
và không gian của nghệ thuật "Truyện Kiều", nhà nghiên cứu đã nhìn nhận từ phía khát vọng, hành động của nhân vật, tính chất phũ phàng của các thế lực trong xã hội Qua đó,
tác giả chứng minh cho ta thấy, tài năng của Nguyễn Du khi đã sáng tạo ra hình thượng
không gian "lưu lạc", không gian "giam hãm" và hình tượng thời gian "định mệnh" đặt con người vào trạng thái "vội vàng" đầy những lo âu, phấp phỏng [81,120]
Nhà thơ Xuân Diệu, khi bàn về thơ Huy Cận qua bài viết “Những cảm xúc vũ trụ”, (Văn nghệ 5/1/1985) Trong bài viết, ông đã khẳng định "sự vật được chi phối bởi không
gian với thời gian" [13, 114] Nhận định của Xuân Diệu thật tinh tế làm toát lên đặc
điểm hồn thơ Huy Cận - một con người luôn khát khao với không gian, tinh nhạy trước bầu trời, đắm chìm với thời gian lịch sử đất nước thời đại mình, để xây nên những vần
thơ thơ gắn với nỗi "buồn vũ trụ", nỗi "sầu nhân thế" rất đặc sắc trong phong trào Thơ
mới (1932 - 1945)
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, trong Thi pháp thơ Tố Hữu, (Nxb Tác phẩm mới,
1987) đã dành hẳn hai chương viết về không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật, trình bày một cách lôgic từ lí luận đi đến thực tiễn sáng tác của các nhà văn lớn trên thế giới nói chung trong nước nói riêng, trong đó chú trọng đến thơ Tố Hữu Tác giả nhận
định không gian con đường cách mạng xuyên suốt cả chiều dài đất nước Còn bàn về thời gian, trong bài viết "Những chặng đường tiếp nhận thơ Tố Hữu của tôi" để tưởng niệm 12 năm ngày mất của Tố Hữu, Trần Đình Sử một lần nữa nhấn mạnh: “Tố Hữu bao
hướng đến ngày mai chiến thắng Thơ ông hầu như chỉ viết về ngày mai, về viễn cảnh tương lai Nếu có bài thơ viết về một ít hiện tại hay quá khứ cũng là để hướng tới ngày mai” (http://phebinhvanhoc.com.vn, đăng ngày 20/3/2012)
Giáo sư Phùng Văn Tửu, trong công trình Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi
mới, (Nxb KHXH và Mũi Cà Mau, 1990) đã đề cập đến vấn đề Người kể chuyện và các điểm nhìn Ở mục “Di chuyển điểm nhìn trên trục thời gian”, tác giả phân tích sự xáo
Trang 14trộn không gian và thời gian theo kiểu “ghép dán không gian, hỗn độn thời gian” trên
cùng một sự kiện mà có nhiều điểm nhìn, cách kể lại có những thời điểm khác nhau, tạo nên đặc trưng riêng của tiểu thuyết Pháp hiện đại
Tác giả Trần Đăng Suyền trong tiểu luận “Thời gian và không gian trong thế giới
quan về thời gian và không gian gắn liền với cảm quan về con người và cuộc đời, với ước mơ và lý tưởng của nhà văn” [86, 249], đồng thời ông cũng chỉ rõ “những nét đặc sắc của thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao là đã tạo ra một kiểu thời gian hiện thực hàng ngày quẩn quanh với những lo âu sinh kế, mòn mỏi về tinh thần” [86,
250] Bên cạnh đó, “còn có thêm một dòng thời gian tâm trạng nặng nề chậm chạp gây
cảm giác lâu hơn, dài hơn so với thời gian khách quan” Còn không gian là “vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn giã, những con đường làng Trong những mỗi liên hệ của thời gian và không gian, làng quê, ngôi nhà, con đường hóa ra là cơ bản và quan trọng nhất” Có thể thấy, “là một nghệ sĩ bậc thầy, Nam Cao đã sử dụng linh hoạt các yếu tố
Nguyễn Xuân Kính, trong “Thi pháp ca dao”, (Nxb KHXH, 1992) Trong công trình tác
giả nghiên cứu về “thời gian và không gian trong ca dao” và cho rằng thời gian trong ca dao là “thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng ” được trình bày bằng động tác, lời lẽ,
âm thanh, nhịp điệu (nói, kể, ví, hò, vè, ca múa, nhạc, họa, ) thể hiện tất cả những tâm trạng vui, buồn trong cuộc sống lao động cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Vì vậy, thời gian trong ca dao ngắn gọn, không gian đời thường bình dị, gắn với môi trường sống thân thuộc của người bình dân
Trong công trình “Các phạm trù văn hóa trung cổ” (Hoàng Ngọc Hiến dịch, Nxb
GD, 1996), tác giả A.Ja Guevich cho rằng “thời gian và không gian là những thông số
[23,30] Quan điểm của ông hoàn toàn thống nhất với quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin, không gian, thời gian cùng với vận động là những hình thức, phương thức tồn tại tất yếu, vốn có của thế giới vật chất, không gian - thời gian trong thế giới nghệ thuật cũng không ngoại lệ
Trang 15Khi nghiên cứu về “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975”
(khảo sát trên những nét lớn), Nguyễn Thị Bình đã nhận thấy, trong văn xuôi sau 1975,
không gian nghệ thuật phổ biến là “không gian sinh hoạt đời thường, không gian mang
đầy đủ đặc điểm cơ bản của văn xuôi sau 1975
Trong công trình “Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng” (Nxb
Văn hóa, 1997), tác giả Bùi Văn Tiếng đã chỉ ra đặc điểm không gian và thời gian trong
tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng So với không gian trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố)hay Chí
nhưng tiềm ẩn sự rã nát trong quan hệ giữa người với người Ngược lại, không gian đô thị hiện lên với tất cả vẻ hào nhoáng, hấp dẫn làm cho con người không tự chủ được, trong không gian ấy các nhân vật diễn đủ trò vừa gàn dở, lố bịch, vừa ty tiện Thời gian
cũng được hiện đại hóa “tạo nên trong tác phẩm của mình một lối trần thuật đa chiều”
[93, 112]
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong công trình “Dẫn luận thi pháp học” đã bàn
luận về không gian và thời gian nghệ thuật khá chi tiết Tác giả nhận định, không gian và
thời gian nghệ thuật đều “là sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ” Qua việc miêu tả không gian, người nghệ sĩ đã “biểu hiện về con người và thể hiện quan niệm nhất định về cuộc
sống” [83, 89] Còn “thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể chiêm nghiệm được, trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều dài thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai” [83, 62]
Đặng Anh Đào, một dịch giả - một chuyên gia lâu năm nghiên cứu về văn học
Pháp, với chuyên luận “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại”, nhấn mạnh “thời gian là vấn đề lưu ý đặc biệt trong nghệ thuật kể chuyện Riêng đối với lý
luận phương Tây, sự quan tâm đặc biệt lại nghiêng hẳn về trục thời gian hơn không gian”
[19, 85] Có thể nói, yếu tố thời gian đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại, nó góp phần tạo dựng một thế giới nội tâm con người phức tạp, đa chiều, không liền mảnh
Đào Duy Hiệp, trong công trình “Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại” (Nxb
GD, 2008), đã vận dụng một số lí thuyết phê bình hiện đại như “Thi pháp học”, “Chủ
Trang 16nghĩa cấu trúc” với các vấn đề cốt lõi như: điểm nhìn, cốt truyện, thời gian, không gian,
nhịp điệu Đặc biệt, vấn đề thời gian được tác giả khảo sát, nghiên cứu và phân tích một
cách tỉ mỉ ở các cấp độ, tập trung vào những cách tân quan trọng về: thời sai, thời lưu,
sáng tác của Cervanter, Maupassant, Proust
Trong luận án tiến sĩ “Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện
thực 1930 – 1945”, Phạm Hồng Lan đã nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật
trong tiểu thuyết hiện thực một cách hệ thống, đồng thời chỉ ra đặc điểm, cách thức tổ chức không gian và thời gian khi phân tích và phê phán xã hội cũng như thể hiện quan niệm của các nhà văn hiện thực
Tác giả Trần Văn Toàn khi nghiên cứu về Tả thực và hoạt động hiện đại hóa văn
xuôi hư cấu (fiction) giao thời (khảo sát trên chất liệu văn học công khai), đã khẳng định:
“những đặc trưng của cấu trúc không - thời gian trong văn xuôi hư cấu giao thời khiến
hiện thực đời sống trong tác phẩm bắt đầu mang tí nh cụ thể lịch sử ( )Đặc biệt, các sự kiện và hoạt động của nhân vật luôn được cụ thể hóa một cách chi tiết trong không gian
Với đề tài “Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”,
(Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội, 2010), Đoàn Tiến Dũng đã nghiên
cứu hệ thống không gian và thời gian và mối liên hệ giữa chúng "có một sự giao cắt,
tương tác" trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Chính vì thế, "truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khung không - thời gian là những tí n hiệu nghệ thuật hòa quyện làm một chỉnh thể cụ thể cảm tí nh và mang tí nh tổ chức cao" [16, 115]
Kết quả nghiên cứu của các công trình theo hướng lý luận văn học và thi pháp học cho thấy, không gian và thời gian là những yếu tố quan trọng của tác phẩm nghệ thuật Sự hiện diện của chúng là những tín hiệu hình thức phản ánh nhiều vấn đề về nội dung, giúp người đọc nhận thức được tư tưởng, tình cảm cũng như khả năng sáng tạo của tác giả
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu ngôn ngữ học
So với hướng nghiên cứu lí luận văn học và thi pháp học, số lượng công trình nghiên cứu về không gian và thời gian trong tác phẩm nghệ thuật từ góc độ ngôn ngữ học ít hơn nhiều
Trang 17Trong “Những vấn đề thi pháp của truyện”, Nguyễn Thái Hòa đã “miêu tả những
học với những khám phá của ngữ dụng học làm góc nhìn để khảo sát thể loại” [29, 3 - 4]
Tác giả dành trọn chương V để phân tích “Thời gian như một nhân tố cấu trúc nghệ
thuật của truyện” Ông cho rằng, "thời gian của truyện là thời gian được đóng khung trong những sự kiện, những nhân vật được kể vận động theo trật tự niên biểu thống nhất trong cảm thức chung của người kể hàm ẩn và người đọc hàm ẩn và là cơ sở để đối chiếu và phân tí ch một truyện"[29, 110]
Đỗ Thị Tuyết Lan trong luận văn thạc sĩ với đề tài “Không gian nghệ thuật trong
ca dao hiện đại” đã vận dụng kiến thức lý thuyết để đi vào thống kê, phân loại, so sánh,
đối chiếu, từ đó rút ra những đặc điểm của không gian nghệ thật trong ca dao hiện đại Việt Nam
Khi “Khảo sát từ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu”, (Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ
học, Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2013), Nguyễn Thị Thơm đã nghiên cứu một cách kĩ lưỡng hệ thống từ được Tố Hữu vận dụng để diễn tả không gian và nhận thấy không gian trong thơ ông vô cùng phong phú Đó là không gian thiên nhiên vũ trụ; không gian làng quê; không gian thành thị; không gian lao tù; không gian liên tưởng - tưởng tượng và đặc biệt là không gian chiến tranh Những không gian này đã góp phần diễn tả được không khí của một thời đại cách mạng vĩ đại
Nguyễn Thị Hạnh lại tập trung nghiên cứu về “Từ chỉ thời gian trong ca dao về
tình yêu đôi lứa” (Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2015)
Tác phẩm đã hệ thống hóa các quan điểm về từ chỉ thời gian trong ca dao để có cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các thao tác nghiên cứu về từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa Đồng thời, tác giả cũng xác định và phân tích các đặc điểm về cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa Trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân loại các từ ngữ chỉ thời gian, luận văn đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong cách tổ chức ngôn từ của tác giả dân gian khi biểu hiện thời gian nghệ thuật
Ngoài ra, khá nhiều luận văn thạc sĩ khác cũng tiến hành khảo sát về không gian
và thời gian trong sáng tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ cụ thể như Nguyễn Duy,
Trang 18Nguyễn Bính, Tô Hoài, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Huy Thiệp, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Nhật Ánh…
Từ những công trình nghiên cứu nói trên, chúng tôi thấy rằng, các tác giả đều khảo sát tác phẩm văn học từ phương diện ngôn ngữ để đưa ra các luận điểm quan trọng
về đặc điểm sử dụng lớp từ biểu thị không gian, thời gian và đi đến những kết luận quan trọng về quan niệm, tư tưởng nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ tác giả Thậm chí, các nhà nghiên cứu còn hướng đến khái quát các mô hình không gian - thời gian đối với từng giai đoạn văn học Những kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi
mạnh dạn đi sâu khảo sát một cách hệ thống và toàn diện về Lớp từ chỉ không gian, thời
gian trong thơ Trần Tế Xương
1.1.2 Sơ lược tì nh hì nh nghiên cứu thơ Trần Tế Xương
Trần Tế Xương (Tú Xương), tên lúc nhỏ là Trần Duy Uyên (1870 - 1907), ở làng
Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Tỉnh Nam Định, xuất thân trong gia đình dòng dõi nho gia
Tú Xương đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng thông minh, giỏi thơ phú Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của Tú Xương đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước Từ năm 1904, một số phong trào đấu tranh do những sĩ phu yêu nước lãnh đạo nổi dậy như Hội Duy Tân, Phong trào Đông Du, nhưng cũng chưa tạo tiếng vang gì đáng
kể Nước mất, kẻ thù đè đầu cưỡi cổ, xã hội đổi thay Chế độ thực dân - nửa phong kiến
ra đời đã làm thay đổi hạ tầng cơ sở, cơ cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam Quan hệ sản xuất phong kiến vẫn được duy trì chủ yếu là ở nông thôn Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thành thị ra đời nhưng mang nặng tính chất thuộc địa Trong cuộc đổi thay cơ sở kinh tế này của xã hội, các đô thị nhanh chóng phát triển, có mặt khác rất nhiều so với thời phong kiến Trên mặt văn hóa, đạo Thiên Chúa giáo bắt đầu lấn át, đè bẹp nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, cắt đứt mỗi quan hệ giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Quốc, văn hóa Đông Nam Á, để nhanh chóng đưa Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Chữ quốc ngữ ra đời, việc thi cử chữ Hán, từng có lịch sử lâu đời trên đất nước ta, đến đây rơi vào cảnh chợ chiều Lối sống "tư sản hóa", lối sống "Âu hóa" dần hình thành, xâm nhập và tấn công vào lối sống cổ truyền, lối sống phong kiến Một cuộc thay đổi toàn diện hình thái xã hội trên đất nước Việt Nam đến cái tỉnh Nam, đến cái thành Nam, đến cái làng Vị Xuyên nhỏ bé của Tú Xương, đến mọi tầng lớp xã
Trang 19hội, đến mọi gia đình, đến mỗi cá nhân Tú Xương vừa là chứng nhân vừa là nạn nhân
của cuộc đổi thay này, và bất đắc dĩ trở thành một "nhà thơ thư kí" để ghi chép, phản ánh
nhiều mặt của cuộc đổi thay xã hội đó bằng tài thơ xuất sắc của mình (theo Nguyễn Đình Chú)
Kể từ sau 1954, nhất là từ sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 1975, giới nghiên cứu đã thực sự chú ý về hiện tượng độc đáo Trần Tế Xương Những nghiên cứu về thơ phú của ông thực sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng qua hàng loạt cây bút tên tuổi như: Nguyễn Lộc, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Văn Hoàn, Đỗ Đức Hiểu, Trần Thanh Mại - Trần Tuấn Lộ, nhà văn Nguyễn Tuân, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Tú Mỡ… Trong quá trình tìm hiểu hệ thống tư liệu để phục vụ
cho nghiên cứu đề tài Lớp từ biểu thị không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương,
chúng tôi đã tiếp nhận nhiều nguồn tư liệu khác nhau (từ những tác phẩm được các nhà xuất bản in ấn cho đến các tài liệu được đăng tải trên mạng Internet) Những tài liệu ấy
đã cho thấy trong hơn một thế kỉ qua đã có gần 100 bài viết, công trình nghiên cứu lớn nhỏ về thơ phú Trần Tế Xương Dưới đây, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu
1.1.2.1 Các công trì nh nghiên cứu theo hướng lí luận văn học
Trong bài viết "Tú Xương, nhà thơ lớn của dân tộc", Nguyễn Đình Chú nhận thấy
thơ Tú Xương đã tái hiện một bức tranh hiện thực về thời đại đen tối và đau thương của
đất nước trong buổi giao thời."Bức tranh thời đại về xã hội thực dân - nửa phong kiến
buổi đầu vào những năm cuối của thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX Bức tranh này chưa có cái không gian rộng lớn, mà chủ yếu mới đóng khung ở thành Nam, tỉnh Nam của Tú Xương nhưng vẫn có ý nghĩa điển hình chung cho cả nước" [33, 22]
Nguyễn Tuân, trong tác phẩm "Thời và thơ Tú Xương" thì đánh giá "Thơ và phú
Tú Xương là tập kí sự chi tiết về đời sống thành Nam" [71, 57] Cùng quan điểm với
Nguyễn Tuân, Xuân Diệu trong bài viết "Thơ Tú Xương" cũng cho rằng "í t có nhà thơ nào lại gắn chặt với địa phương mình như Tú Xương gắn chặt với Nam Định" [71, 77]
Từ đó, Xuân Diệu nhận xét về đặc trưng của Nam Định so với các tỉnh lân cận: "Tỉnh
Nam Định không phồn hoa như Hà Nội, không ồn ào như Hải Phòng mà êm đềm dịu dàng như nửa thành thị nửa nông thôn" [71, 83]
Trang 20Đỗ Đức Hiểu, với bài viết "Thơ văn Tú Xương", đã nhận ra một không gian nhỏ
hơn song cũng rất thú vị trong thơ Tú Xương Đó là không gian Tết, không gian trường
thi "Nam Định lúc bấy giờ là hì nh ảnh thu nhỏ lại của xã hội Việt Nam Trường thi, cảnh tết, phố xá Nam Định là những nơi bộc lộ rõ rệt những cái trái tai gai mắt" [71, 170]
Hai cha con Trần Thanh Mại - Trần Tuấn Lộ, trong công trình "Nghệ thuật Tú Xương" lại khẳng định thơ Tú Xương ra đời vào“khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ( )
không gian hay địa điểm cũng rất cụ thể, đó là thành phố Nam Định, đó là non Côi, sông
Vị, chợ Bến, chợ Rồng, là phố Hàng Song, phố Hàng Nâu với cái gác 280 mà nhà thơ dặn người đến chơi đêm phải "Đốt đuốc lên xem kẻo lẫn nhà" [71, 211]
Bên cạnh việc xác định không gian địa lý và thời gian tự nhiên trong thơ Tú Xương, một số nhà nghiên cứu cũng đã nhận thấy Tú Xương còn hướng đến việc khắc họa không gian và thời gian tâm trạng Theo Giáo sư Trần Đình Sử trong công trình Dẫn
luận thi pháp học, (Nxb GD, 1998), đã nhận định, không gian và thời gian nghệ thuật
đều "là sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ", qua việc miêu tả không gian người nghệ sĩ đã
"biểu hiện về con người và thể hiện quan niệm nhất định về cuộc sống" [83, 89], có
nghĩa là khi nhắc tới thời gian và không gian cũng có nghĩa nhắc tới hình thức tồn tại của thế giới và cuộc sống của con người Bởi vì, trên đời có vật gì mà không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian, kể cả thế giới nghệ thuật Thời gian và không gian từ xưa đến nay đã thành nỗi ám ảnh của bao đời thi sĩ, giội vào thẳm sâu tâm hồn nhà thơ mà
hình thành nên thi tứ với nhiều cung bậc cảm xúc, Tú Xương cũng không ngoại lệ
Cũng theo Giáo sư Trần Đình Sử, đã có nhận định chung về tâm sự của các nhà thơ
chứng kiến cảnh nước mất nhà tan cuối thế kỉ XIX "trong thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn
Khuyến, Tú Xương chỉ nổi lên một thời gian viễn cảnh kéo dài, không có viễn cảnh tương lai Bài "Đêm dài" của Tú Xương báo hiệu sự sốt ruột, đợi chờ, thay đổi" [84, 212
- 213]
Hồ Gia Long trong Thi pháp thơ Tú Xương, (Nxb Văn học, Hà Nội, 2006) đã đề cập đến không gian đêm tối như một hình thức không gian đời tư, đồng thời như một ẩn
dụ trong thơ Tú Xương "hì nh ảnh bóng đêm trong thơ ông làm ta liên tưởng đến xã hội
bế tắc không lối thoát lúc bẫy giờ" [48, 86] Dựa trên nhận định của Hồ Gia Long, hai
tác giả Trương Hoàng Vinh - Tôn Thất Dụng, trong bài viết "Cảm quan thời gian trong
Trang 21thơ Tú Xương", (Tạp chí KH và GD, ĐH Huế, số 2, 2011), đã có bổ sung như sau "hình tượng bóng "đêm" trong thơ Tú Xương không chỉ gắn với ý niệm không gian mà còn gắn với những giá trị "ý nghĩa thời gian thẩm mĩ", vì vậy một cách hợp lý có thể gọi đêm trong thơ Tú Xương là biểu tượng không - thời gian"
Tác giả Nguyễn Đình Chú, trong bài tiểu luận "Tú Xương, nhà thơ lớn của dân
tộc", có đoạn viết: "Tú Xương với đêm tối, đêm tối với Tú Xương Chao ôi! Mới đáng sợ với cái buồn ( ) Cái buồn ban đêm của Tú Xương là cái buồn đến nẫu người ra như thế
Mà đâu chỉ một đêm "Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn" [71, 40]
Nhà thơ Xuân Diệu, trong bài viết "Thơ văn Trần Tế Xương" đã thể hiện tấm lòng đồng cảm sâu sắc với bậc tiền bối: “chúng ta hãy xét Tú Xương trong cái khung chật hẹp
của cái "xã hội Pháp" mà ông ở Con người thật của Tú Xương chính là con người ưu thời mẫn thế, mang tâm trạng u uất của kẻ mất nước, và hoa sen trong tâm hồn luôn luôn bị vẫy bùn lên Trằn trọc, trăn trở linh hồn cũng như thân thể: "Kìa cái đêm nay mới gọi đêm / Mắt gương không nghỉ, bụng không thèm" Bụng không thèm, không thèm
suốt năm canh / Nghĩ chuyện xa xôi giật cả mì nh!" [33, 99 - 100]
Cùng quan điểm với Xuân Diệu, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, trong bài viết
"Thơ văn Tú Xương" (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập III, Xây dựng và xuất bản, 1957) bày tỏ nỗi thấu cảm với Tú Xương: “Đêm khuya, Tú Xương ngao ngán vì nỗi cảnh
nước nhà tan nát, mà kẻ thì theo thực dân, kẻ thì còn "đương ngủ", kẻ thì còn ham danh lợi nhỏ nhen, đua nhau theo tục rởm, không thấy cái chán nản, vô vị của cuộc đời, ông trằn trọc một mì nh với "ngọn đèn xanh" [71, 178]
Trần Thị Thanh Nga, trong luận văn thạc sĩ "Thế giới nghệ thuật thơ Trần Tế
Xương", (Đại học Vinh, 2002), nhận thấy: “Tú Xương đã làm rất nhiều bài thơ về đêm ( ) Đêm tối trở thành một hiện tượng vừa là của không gian, vừa là của thời gian bao trùm lấy nhân vật trữ tình Tú Xương Cái buồn ban đêm của Tú Xương là cái buồn nhiều khi đến não lòng, mà không chỉ có một đêm "Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn" Để đến nỗi Tú Xương sợ hãi, giật mì nh khi "Chợt giấc" là một ngày mới bắt đầu, ông ngán ngẩm thốt lên: "Thiên hạ dễ chừng đang ngủ cả/ Việc gì mà thức một mì nh ta” [63, 71]
Trang 22Có thể nói, không gian, thời gian tâm trạng trong thơ Trần Tế Xương thể hiện rất rõ về đêm
Như vậy, khi nghiên cứu về thơ Tú Xương, các tác giả đã phát hiện thấy nhà thơ
có một sự quan tâm khá rõ nét về không gian và thời gian Từ các kết quả nghiên cứu nói trên, người ta có thể thấy không gian và thời gian là những “ghi chú” nghệ thuật quan trọng, giúp người đọc giải mã được những giá trị nghệ thuật nổi bật trong thơ ông
1.1.2.2 Các công trì nh nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học
Trước cách mạng tháng Tám, hai tác giả Trần Thanh Mại - Trần Tuấn Lộ trong công trình Nghệ thuật Tú Xương đã khẳng định "Tú Xương là nhà thơ hiện thực trào
phúng" [71, 206], mặc dù chưa chỉ ra hệ thống từ biểu thị không gian, thời gian nhưng
tác giả cũng nhận thấy thơ Tú Xương từ nhân vật, sự việc cho đến ngôn từ, hình tượng
Tú Xương đều lấy ngay trong bản thân cuộc sống xã hội thời ông [71, 210] để phản
ánh hiện thực khách quan cái xã hội lố lăng rác rưởi ấy
Ngay từ những năm sáu mươi thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân đã đưa ra lời
khẳng định về tài năng sử dụng ngôn ngữ của Tú Xương: "Tú Xương, một người thơ,
một nhà thơ vốn có nhiều công đức trong trường kỳ xây dựng lâu đài ngôn ngữ Việt Nam", (“Thời và thơ Tú Xương”, Tạp chí Văn nghệ, tháng 5/1961)
Phạm Tuấn Vũ - Nguyễn Thị Hương Lài, với bài viết Từ Hán Việt trong thơ
Trần Tế Xương, trong chuyên mục Văn học - Ngôn ngữ học - nghiên cứu văn hóa - nghệ thuật, (đăng trên Tạp chí khoa học xã hội, số 12 /2015) đã chỉ ra, từ Hán Việt
trong thơ Trần Tế Xương “không phải là bộ phận từ ngữ chủ đạo, nhưng dưới bàn tay
sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, tài hoa của Tú Xương, lớp từ ngữ này vẫn mang lại nhiều giá trị thẩm mỹ độc đáo, bất ngờ cho thơ ông, trong đó, tiêu biểu là các giá trị hiện thực, giá trị trữ tì nh và giá trị trào phúng” (http://www.vjol.info.vn)
Bùi Minh Dạ Thảo trong bài viết Nét cách tân trong thơ Tú Xương đã cho rằng ngôn từ thơ Tú Xương "đưa vào trong thơ ca không chút gọt giũa, nhà thơ đã để nó
sần sùi khô ráp bước vào thơ văn ( )“khẩu ngữ hóa” văn chương, những câu những chữ được sử dụng rất ngông nghênh ( ) Không còn là những “lời vàng ý ngọc” trau truốt, sao cho văn như những bản nhạc du dương mà là những vần thơ bốp chát"
(http://thpt-chuyennguyenquangdieu.dongthap.edu.vn, đăng ngày 3/10/2015)
Trang 23Khi nhận xét về ngôn ngữ thơ Tú Xương, tác giả Chu Văn đã nhận thấy sự nó
hoàn toàn khác với ngôn ngữ thơ trung đại “Văn chương của Tú Xương nôm na, trong
sáng, không cầu kì , í t sử dụng điển tích, điển cố, ít mượn tiếng nước ngoài, duyên dáng và hóm hỉnh Đọc thơ ông thấy bốc lên một vị mộc mạc mà trau chuốt, cả một nền học vấn uyên thâm pha trộn với vốn dân gian cổ truyền thơ ông không phải là loại tùy hứng du dương, ngân nga trong lúc trà dư tửu hậu, mà đọc lên thấy hiện rõ mồn một những cảnh vật, con người rất sinh động, rất quen thuộc,…nhiều câu, nhiều bài có giá trị như ca dao, ngạn ngữ về nội dung đã trở thành nếp suy nghĩ, thành phương châm để nhận xét đời và người, là thành ngữ kết luận vấn đề trong cuộc sống”
(dẫn theo bài viết Nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương, đăng trên
https://xemtailieu.com, 23/6/2014)
Từ những khái quát sơ bộ trên về nghiên cứu thơ Trần Tế Xương, chúng ta thấy sáng tác của Tú Xương để lại dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống nghiên cứu, phê bình trong hơn một thế kỉ qua Thơ văn của ông trở thành chất liệu để nhiều nhà nghiên cứu khai thác từ nhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở tiếp thu kết quả của những nguồn tư liệu có tính gợi mở quý báu nói trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về Lớp từ biểu
thị không gian, thời gian trong thơ Trần Tế Xương Hy vọng công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp thêm một tiếng nói giúp tìm hiểu sâu hơn những đóng góp của Tú Xương từ góc độ ngôn ngữ học Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng giúp nhìn nhận
rõ hơn cách thức tổ chức ngôn từ của nhà thơ và nhìn thấy "bức tranh truyền thần"
sống động về thời đại Tú Xương
1.2 THƠ VÀ NGÔN NGỮ THƠ
1.2.1 Thơ là gì?
Thơ là một hình thái nghệ thuật xuất hiện sớm nhất trong đời sống tinh thần của loài người Ở nhiều dân tộc, trong một thời gian tương đối dài các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ Vì thế, trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc từ thế kỉ XVII về trước, nói đến thơ ca tức là nói đến văn học Thơ cũng là một thuật ngữ được dùng trong nghiên cứu nghệ thuật Tuy nhiên, để định nghĩa thơ là gì thì không hề đơn giản Sau đây chúng tôi xin được điểm qua một số định nghĩa về thơ để chúng ta có được cái nhìn cơ bản về loại hình nghệ thuật này
Trang 24Ngay từ thời cổ đại, các nhà khoa học vĩ đại trên thế giới như: Arixtote, Điđơro,
Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên đã bàn đến những vấn đề về thơ ca Trong công trình "Nghệ thuật thơ ca", Arixtote cho rằng: tất cả các loại hình thơ ca (sử thi, bi kịch,
hài kịch) là các nghệ thuật mô phỏng hay sự mô phỏng Ở Việt Nam, các tác giả như : Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trãi, Lê Qúy Đôn, Hoàng Đức Lương cũng có những ý kiến
bàn về thơ được tập hợp trong các hợp tuyển thơ như "Việt âm thi tập", Trí ch diễm thi tập", "Toàn Việt thi lục" Trong đó, có học giả thiên về tình có người thiên về ý, có
người đề cập đến cả tình lẫn ý trong thơ
Trong "Văn tâm điêu long" cách đây khoảng 1500 năm, Lưu Hiệp đã đề cập đến
ba phương diện cấu tạo nên một bài thơ là: tình cảm, ý nghĩa (tình văn) ngôn từ (hình văn) và âm thanh (thanh văn) Đến đời Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị kế thừa và phát triển
quan niệm của Lưu Hiệp, đưa ra một quan niệm rõ hơn: "cái gọi là thơ thì cảm hóa, cảm
hóa nhân tâm chẳng gì trọng yếu bằng tì nh cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tì nh cảm, mầm là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa"(Tạp chí Văn nghệ, số 5, ngày
10/12/1994) Có thể nói, quan niệm này đã thể hiện mối gắn bó khăng khít giữa các yếu tố: tình cảm, ngôn ngữ, âm thanh, ý nghĩa để tạo thành một tác phẩm thơ và cũng là quan niệm sâu sắc nhất, toàn diện nhất của lý luận cổ đại Trung Hoa về thơ
Đến thời kỳ hiện đại, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, quan niệm về thơ xuất hiện rất nhiều và khá đa dạng
1.2.1.1 Quan niệm của các nhà thơ về thơ
Chúng tôi tạm chia ra quan niệm của các nhà thơ về thơ thành sáu xu hướng sau:
Xu hướng thứ nhất coi thơ là tiếng nói riêng tư Hàn Mặc Tử, cho rằng "tôi làm thơ
nghĩa là tôi đã phản bội những gì mà máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật" (trích lời
tựa tập thơ “Điêu tàn”,1937) Lamartin phát biểu: "Thơ là hiện thân cho những gì thầm
tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên” (dẫn theo Phước Tâm, Dòng sông không tên, đăng trên http://vinhminh.net, ngày 30/5/2012) Bởi vậy, Hoàng Ngọc
Hiến đã nêu nhận xét "đọc thơ chính là nghe trộm nhà thơ đang nói với chí nh mì nh"
Trang 25Xu hướng thứ hai coi thơ là sự chưng cất tinh chất của cuộc sống Tiêu biểu cho xu
hướng này là quan niệm của Lưu Trọng Lư: “thơ là sự tập trung cao độ, là cốt lõi cuộc
sống”; quan niệm của Thanh Tịnh: “thơ là tinh hoa, là thế chất cô đọng của trí tuệ và
tinh chất của cuộc sống, là cái nhụy của cuộc sống, thơ là chuyện đồng điệu” Nhà thơ
Sóng Hồng trong lời tựa tập thơ của mình đã viết: “thơ là biểu hiện cuộc sống một cách
cao đẹp” [43,17 - 18] Từ những phát biểu này, chúng ta thấy các nhà thơ có một điểm
chung đó là xem thơ gắn liền với cuộc đời, là những gì tinh túy nhất của đời sống
Xu hướng thứ ba xem thơ là sự sáng tạo Bielinxki khẳng định: “Thơ là sáng tạo
của sáng tạo” Apolyne cho rằng: “Thơ ca và sáng tạo là một” Necraxop nhấn mạnh
hơn: “Thơ ca là vinh dự của sáng tạo có thể có được của con người” Nhà văn Nguyễn Tuân cũng coi trọng tính sáng tạo của thơ ca: “thơ là mở ra một cái gì mà trước đó hãy
Ông thể hiện một cái nhìn độc đáo về tính sáng tạo trong thơ Trong bài “Sổ tay thơ”
(1973), ông đã nêu lên những quan niệm rất triết lý nhưng cũng hết sức thiết thực về thơ, thể hiện qua những câu thơ sau:
Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể
Là cái cân nhỏ xí u lại cân đời
Hiểu giá trị này của thơ, ông luôn ý thức rằng, thơ phải có ích cho tư tưởng và phải mới
lạ cho xúc cảm:
Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm
Như cây xanh quá thẳng chim không về
Nhà thơ Lê Đạt cũngquan niệm: “Thơ, chính là một trong những lĩnh vực lao
động tạo ra các giá trị phi vật thể của một dân tộc Một cái cảnh nên thơ, không phải tự
nó nên thơ, mà nó là do cái văn hóa mà các nhà thơ đã hình thành ra Người nghệ sĩ làm cho cuộc đời đẹp hơn, sâu hơn Người làm thơ, quan trọng nhất là tạo ra những cái nên thơ, những giá trị phi vật thể”.[27, 45]
Như vậy, theo xu hướng này chúng ta có thể hiểu rằng, thơ gắn liền với sáng tạo
và đó chính là một giá trị lớn nhất của thơ
Trang 26Xu hướng thứ tư đề cao vai trò xã hội của thơ Quan niệm này thể hiện ở những cây bút chính trị như Trường Chinh: "Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn
phá cường quyền" (Là thi sĩ, 1942) Hay Hồ Chí Minh: "Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong" (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi) Đề từ tập thơViệt Bắc, Tố Hữu viết: “Nhân dân là bể/ Văn nghệ là thuyền/ Thuyền xô sóng dậy/ Sóng đẩy thuyền lên/ Thuyền ra khơi xa/ Gió căng buồm lộng/ Buồm là Lao động/ Gió là Đảng ta”
Như vậy, thơ phải gắn bó với nhân dân, có tác dụng động viên nhân dân làm Cách mạng
và cùng đi lên với nhân dân trong sự nghiệp Cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Xu hướng thứ năm xem bản chất thơ tương đồng với tổ chức ngôn ngữ Trần
Ngọc Hiến, trong tác phẩm “Tì m hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt đương đại", đã viết: " họ định nghĩa làm thơ tức là làm chữ hay cụ thể hơn làm thơ tức
là làm tiếng Việt” (Trần Dần) Đồng quan điểm đó Lê Đạt cũng cho rằng nhà thơ chính
là kẻ phu chữ Quan niệm đó đối lập với Thơ cổ lại đặt ở tứ lạ, lời hay, hì nh ảnh đẹp, âm điệu ru hồn Tôi giản dị đồng nhất thơ và chữ" (Trần Dần)
Xu hướng thứ sáu coi thơ là tiếng nói của cảm xúc rung lên bất chợt, tiêu biểu phải kể đến nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm Trong một lần trả lời phóng viên Thu Hà (báo
Vietnamnet), ông khẳng định: “Thơ ca cũng như tình yêu, không ép buộc được đâu, khi
gọi nó không đến nhưng khi đuổi thì nó không chịu đi Bằng kinh nghiệm làm thơ của
Từ những quan niệm trên của các nhà thơ về thơ, tuy chưa phải là tất cả nhưng chúng tôi nhận thấy đa số họ đều xem thơ được hình thành từ chất liệu cuộc sống để rồi hình thành nên những vần thơ Bắt nguồn từ trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ qua lớp ngôn từ,
thơ đem đến những rung cảm cho người đọc Inrasana trong bài viết "Khoảng tối của thơ
ca" cho rằng: “Thơ ca không phải là cái đẹp thêm vào cuộc sống, trang điểm cho tí nh thể con người, càng không phải là trò nhàn đàm của và cho những tâm hồn mệt mỏi Ở đâu
và ở bất cứ thời đại nào cũng có những tâm hồn mệt mỏi Ở đâu và ở bất cứ thời đại nào cũng có những tâm hồn đau khổ và tuyệt vọng Chính những nơi đó thơ ca có mặt Nhưng thơ có mặt không với tư cách chiếc bè cho sinh thể kia bấu víu mà như chất xúc
Trang 27cả đám đông, nỗi ưu tư của một nhóm hay chỉ là cái uẩn khúc trong tâm thức của một cá thể biệt lập ( ) Đừng đòi hỏi sự sáng sủa và mạch lạc ở thi ca Tệ hại không kém là tự khuấy đục làm ra vẻ sâu thẳm của những dòng nước cạn Sức hấp dẫn của thơ không chỉ
ở bề nổi nơi tất cả được bày ra giữa ban ngày mà chính là ở đường biên ẩn khuất của đêm sáng huyền nhiệm, nơi cuộc chiến trong tâm hồn con người còn nóng hổi hơi thở"
(dẫn theo Nguyễn Thị Phương Thùy, Nghiên cứu sự tự do hoá ngôn ngữ thơ tiếng Việt
hiện đại thế kỉ XX, Luận án tiến sĩ, 2008)
1.2.1.2 Quan niệm của các nhà lý luận, phê bì nh về thơ
Thơ và định nghĩa về thơ luôn được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm
Ở nước ngoài, các nhà khoa học chủ nghĩa hình thức Nga như: Todoror,
Tomasehki, Jakobson, Lotman đã đặt ra các câu hỏi: "Tính thơ là gì ?", "Nó được thể
hiện như thế nào?" để xác định được bản chất của thơ ca Trong đó, Jakobson là người
đã trình bày một cách rõ ràng về thơ trong tiểu luận “Thơ là gì?”, ông cho rằng “Chức
năng thi ca là đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”
[dẫn theo Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, 1996, tr 67] Theo cách hiểu của ông, trong
ngôn ngữ có hai trục: trục ngang và trục dọc Trục ngang là chuỗi âm thanh chúng ta phát ra dựa trên một cấu trúc ngữ pháp, trục còn lại được tạo nên những từ tiềm năng có thể dùng để thay thế gọi là trục dọc (hay trục tương đương) Theo đó, sự kết hợp giữa trục kết hợp và trục lựa chọn sẽ tạo nên những câu thơ và toàn bài thơ
Ở trong nước, số lượng các định nghĩa, quan niệm về thơ khá lớn Mỗi quan niệm được thể hiện đều do nhu cầu của người sáng tác, mỗi quan niệm đều có lý lẽ riêng của
nó Trong xu hướng mở như hiện nay, chúng ta chấp nhận tất cả các quan điểm Có lẽ nhờ vậy mà thơ ca chúng ta hiện nay được xem như một khu vườn hoa đủ màu sắc, hương thơm phong phú
Xu hướng thứ nhất đề cao yếu tố ý trong thơ và xem đó là bản chất của thơ đã
xuất hiện từ thế kỷ 19, với quan niệm của Lê Hữu Trác “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới
hay Không phải bất cứ điều gì cũng nói ra bằng thơ Như thế mới là thơ có giá trị” [22,
107] Cùng quan điểm này, nhà nghiên cứu Phạm Quang Trung, trong bài viết “Thơ
trong con mắt người xưa”, cũng xác định: “Thơ là tình nhưng tình không tách rời ý Nếu
Trang 28chỉ là tì nh, dẫu là tì nh tột bậc, cũng không thể làm nên những vần thơ tuyệt bút” Mã
Giang Lân, trong công trình Thơ hình thành và tiếp nhận, cũng nêu định nghĩa: “Thơ là
Xu hướng thứ hai xem thơ là một hình thức nghệ thuật đặc biệt Tiêu biểu là phát biểu
của Sóng Hồng: “Thơ là một hì nh thức nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải
kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tì nh cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệu khác thường” (dẫn theo Trần Đình Khiêm, Tiếp nhận Truyện Kiều dưới góc nhìn thi trung hữu nhạc”, https://binhtrung.org, đăng ngày 24/8/2012) Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn
thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hì nh ảnh và nhất là có nhịp điệu" [26, 309]
Xu hướng thứ ba xem bản chất của thơ tương đồng với tổ chức ngôn ngữ của nó Phát biểu của nhà nghiên cứu Phan Ngọc được xem là quan niệm tiêu biểu cho xu hướng này
Trong tiểu luận "Thơ là gì?", khi bàn về nội dung "Cách giải thích văn học bằng ngôn
ngữ học”, ông cho rằng “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ một cách quái đản để bắt người đọc phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ” [65, 29] Phan Ngọc đã kế thừa những khám
phá quan trọng về thơ của các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua, đồng thời, gợi ra một hướng nghiên cứu rộng rãi về thơ Thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ thuần túy mà còn là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật
Như vậy, trải qua một thời gian dài với nhiều quan niệm khác nhau nhưng ta có thể thấy có một số điểm chung của các tác giả khi định nghĩa về thơ Đó là, thơ xuất phát
từ tình cảm dâng trào của thi sĩ và biểu hiện qua lớp ngôn từ được lựa chọn, mang tính hàm súc về ý nghĩa và kết hợp với âm thanh, nhịp điệu trở thành nghệ thuật… Những nhận diện về thơ trên đây là cơ sở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu về đặc trưng của ngôn ngữ thơ
1.2.2 Ngôn ngữ thơ
Trang 29Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, trong sự sáng tạo của nhà văn thì ngôn từ đóng vai trò quan trọng Cũng giống như thơ, khi bàn về ngôn ngữ thơ, các nhà nghiên cứu cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau
Theo Gorki, ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói "nguyên liệu", còn ngôn ngữ văn học
là tiếng nói đã được những người thợ tinh xảo nhào luyện Khi so sánh ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ sinh hoạt, nhà nghiên cứu Phan Ngọc nhận ra chúng khác nhau hoàn toàn: ngôn ngữ thơ có âm điệu du dương, vần vè, tổ chức bài thơ phải quy định theo số câu đối lập với ngôn ngữ đời thường một cách khó chịu Và cuối cùng ông đi đến kết luận:
“Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải
cảm xúc, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” [65, 29]
Ngô Tự Lập lại có ý kiến khác với Phan Ngọc khi cho rằng: có những ngôn ngữ quái đản hơn nhiều nhưng không phải là thơ (câu đối), ngược lại có những ngôn ngữ
không hề quái đản mà lại là thơ (thơ tự do) Ông cho rằng "ngôn ngữ thơ là hiệu ứng đưa
nôi"
Tác giả Đặng Tiến lại so sánh thơ và văn xuôi ở phương diện nhịp điệu và đi đến
kết luận khá thú vị: “Nếu ngôn ngữ văn xuôi là đi thì ngôn ngữ thơ là nhảy múa” Cũng
dùng cách so sánh như Đặng Tiến, nhưng Phan Cảnh lại nhìn nhận ở một khía cạnh khác
đó là cách tổ chức phân bố từ ngữ trong câu thơ, bài thơ và ông nhận thấy, “ngôn ngữ
văn xuôi do yêu cầu của tổ chức phát ngôn sự kiện nên gần đời sống còn ngôn ngữ thơ dùng một cách dôi dư, lặp lại nhiều lần về ngữ âm, từ” (dẫn theo Nguyễn Thái Hoà, Thơ
Từ ý kiến của các tác giả về thơ, chúng ta có thể khái quát được ba đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ
1.2.2.1.Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tí nh
Thơ là tiếng nói của những rung động và xúc cảm, phản ánh các cung bậc tình cảm của tâm hồn con người Thế giới nội tâm đó được biểu hiện trong thơ không chỉ bằng ý nghĩa của các phương tiện ngôn ngữ mà còn cả bằng âm thanh, nhịp điệu của ngôn ngữ ấy Trong văn xuôi, các đặc tính thanh lọc của ngôn ngữ như cao độ, trường độ, cường độ… không phải là sự quan tâm lớn của nhà văn nhưng ngược lại, trong thơ, việc
tổ chức các yếu tố thanh lọc này lại là sự chú trọng đặc biệt của các thi nhân Sự phối
Trang 30hợp một cách hài hòa, chặt chẽ các đơn vị ngữ âm, thanh điệu có khả năng tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi liên tưởng và cảm xúc Do đó, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng thiết yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca
Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện trên ba đặc tính: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp Ba đặc tính này có thể tồn tại tương đối độc lập, riêng rẽ nhưng cũng có thể phối hợp hài hòa với nhau để đạt tới một hiệu quả biểu đạt chung
Sự cân đối được hiểu là sự tương xứng, hài hòa giữa các dòng thơ và ngay trong nội bộ từng câu thơ Sự cân đối, hài hòa này có thể là hình ảnh, âm thanh, số lượng từ ngữ… Ví dụ:
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
(Tống biệt hành, Thâm Tâm)
Trong thơ trung đại, sự cân đối là một quy định bắt buộc, tạo thành niêm luật của bài thơ Chẳng hạn, thơ Đường luật thất ngôn bát cú quy định chặt chẽ về số câu, số chữ,
sự đối xứng về vần và thanh điệu:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng nước theo làn hơi gợn tý
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo…
(Thu vịnh, Nguyễn Khuyến)
Thơ hiện đại không yêu cầu khắt khe về sự cân đối, tuy vậy, các nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình, khiến cho bài thơ trở nên có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ thuộc
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu bằng và trắc Việc tổ chức, phối hợp thanh điệu trong mỗi bài thơ, câu thơ để tạo nên nhạc tính thực sự là một phương thức thể hiện sự sáng tạo của thi
Trang 31nhân Xuân Diệu đã dùng các thanh bằng một cách khéo léo để khắc họa cảm xúc lâng lâng, bay bổng theo tiếng đàn du dương, nhẹ êm trong một không gian yên tĩnh:
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
(Nhị hồ - Xuân Diệu)
Bên cạnh đó, nhịp điệu cũng là yếu tố góp phần quan trọng làm nên sự trầm bổng cho ngôn ngữ thơ Tiết tấu nhanh hay chậm, nhịp nhàng hay trúc trắc đều có khả năng tạo ra điểm nhấn nhịp điệu, đem đến cảm giác về sự trầm bổng, lên xuống cho câu thơ, bài thơ
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
(Tây Tiến, Quang Dũng)
Nhịp thơ lẻ, thiếu cân đối (4/3) phối hợp hài hòa với thanh điệu đã phản ánh hành trình vất vả, khó khăn của những người lính và sự thư thái, nhẹ nhàng của họ khi vượt qua đèo dốc Âm thanh, nhịp điệu trong thơ không đơn thuần là hình thức mà còn là yếu
tố biểu hiện những khía cạnh tinh vi trong cảm nhận cuộc sống của con người
Để biểu đạt các cung bậc cảm xúc khác nhau, để nhấn mạnh hình ảnh, nhà thơ thường sử dụng sự trùng điệp Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách dùng vần, điệp từ, điệp ngữ và điệp cú pháp Nhịp điệu thơ, do đó, có thể trở nên dồn dập, luyến láy, tạo sự lan rộng về âm hưởng, có điểm nhấn một cách rõ ràng:
Đi ta đi khai phá rừng hoang Hỏi núi non xa đâu sắt, đâu vàng?
Hỏi biển khơi xa đâu luồng cá chạy?
Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy Hỏi đâu thác nhảy cho điện quay chiều?
(Bài ca mùa xuân 1961, Tố Hữu)
Như vậy, tính nhạc là một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ, phản ánh rõ ràng sự phân biệt giữa tác phẩm thơ với tác phẩm tự sự
Trang 321.2.2.2 Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc
Tính hàm súc là đặc điểm chung cho ngôn ngữ văn học Khác với văn xuôi, thơ bị giới hạn về số lượng câu chữ, về các quy tắc phối âm, hiệp vần nên trong thơ, tính hàm súc biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu rất cao.Với dung lượng hạn chế, thơ phải lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ một cách đặc biệt, nhà thơ phải phát huy tư duy ngôn ngữ
để có thể biểu đạt một lượng thông tin lớn trong một số lượng ngôn từ nhỏ nhất Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ được hiểu là khả năng ngôn ngữ có thể miêu tả mọi hiện
tượng cuộc sống một cách cô đọng, ít lời nhiều ý, “ý tại ngôn ngoại” Chẳng hạn từ
“khô”trong câu thơ của Tản Đà: “Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày” –(Thề non
nước),không chỉ diễn tả được trạng thái chờ đợi của nhân vật trữ tình mà còn gợi sự liên
tưởng về chiều dài của những tháng năm chờ đợi
Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống trong số lượng hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ
chức đặc biệt mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là "ngôn ngữ quái đản" Dưới áp lực
của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển mà phong phú, sâu sắc, tinh tế hơn Đó là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan hệ và trong quan hệ Khi Xuân Quỳnh viết:
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chẳng có Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Trang 33Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên)
Những cảm nhận, tâm trạng, nhận thức của “con” khi “gặp lại nhân dân” được
cụ thể hóa qua hàng loạt hình ảnh so sánh trùng điệp Do vậy, dù chỉ với bốn câu thơ, tác giả cũng đã gợi được những cảm giác tinh tế, những suy nghĩ khác nhau: sự quen thuộc, gắn bó, sự hồi sinh, yêu thương, sự chăm sóc, che chở khi con được trở về với nhân dân
Tính hàm súc đem lại cho ngôn ngữ thơ khả năng gợi cảm, gợi liên tưởng, suy luận rất đặc biệt Nhờ nó mà ngôn ngữ thơ không chỉ diễn đạt đầy đủ, chính xác nội dung,
tư tưởng mà còn giàu tính truyền cảm, giàu hình tượng, có khả năng tạo nên những rung động thẩm mĩ sâu sắc
1.2.2.3 Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm
Tính truyền cảm cũng là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống, trước vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn con người Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc đó đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ nhất định Là thể loại trữ tình, là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt Nếu ngôn ngữ truyện chú trọng miêu tả đời sống khách quan thì ngôn ngữ thơ tập trung tái hiện và truyền tải các cung bậc cảm xúc, sắc thái tâm trạng
Cây tường vi mọc gần cây sấu
Trước cây cỏ vô tư em chẳng giấu
Nỗi nhớ anh, nỗi nhớ khôn cùng
(Không đề, Xuân Quỳnh)
Xuân Quỳnh đã miêu tả một hiện thực khách quan với hoa sen, ao nước trong, cây tường vi và cây sấu Tuy nhiên, đó chỉ là cái cớ để nhà thơ tỏ bày nỗi nhớ da diết với người yêu Và chính trong bức tranh hiện thực có đôi, có cặp ấy, người đọc còn nhận ra nỗi cô đơn thầm kín, niềm ước mong sum họp lứa đôi của Xuân Quỳnh
Trang 34Là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện tâm trạng cho nên sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi bật Điều này giải thích vì sao ngôn ngữ thơ thường sử dụng dày đặc các phương tiện và biện pháp tu từ trong một ngữ cảnh hẹp
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
(Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên)
Câu hỏi tu từ và biện pháp điệp đã nhấn mạnh và truyền đi xúc cảm tha thiết yêu thương của nhà thơ đối với một miền đất, miền quê Ở đây, mỗi câu thơ đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng của tình cảm, tác động mạnh mẽ đến người đọc, tạo nên sự đồng cảm sâu sắc
Nhạc điệu thơ cũng là một yếu tố góp phần tăng cao khả năng gợi cảm cho ngôn ngữ thơ Sự ngân nga trong tiết tấu, âm điệu dễ dàng làm người đọc rung động:
Anh dắt em vào cõi Bác xưa Đường xoài hoa trắng, nắng đu đưa
Có hồ nước lặng sôi tăm cá
Có bưởi cam thơm, mát bóng dừa
(Thăm cõi Bác xưa, Tố Hữu)
Tóm lại, ngôn ngữ thơ mang đầy đủ những thuộc tính của ngôn ngữ văn học như tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, là thể loại trữ tình, những thuộc tính ấy thể hiện trong thơ với những sắc thái, cung bậc khác nhau
1.3 KHÁI NIỆM VỀ TỪ TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ
1.3.1 Khái niệm
Nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ trong nghệ thuật, không thể không đề cập đến
khái niệm “từ”, bởi "Văn học là nghệ thuật của ngôn từ" Lấy ngôn ngữ làm phương
tiện, người nghệ sĩ xem ngôn ngữ như là một công cụ biểu đạt tư duy nghệ thuật của
mình Trong tiếng Việt từ được xem là đơn vị cơ bản, và cũng là đối tượng nghiên cứu
Trang 35của chuyên ngành ngôn ngữ học Kể từ thập niên 80 của thế kỉ XX cho đến nay ở trong nước đã có khoảng trên 300 công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập đến định nghĩa về từ, mỗi công trình tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà người nghiên cứu nhấn mạnh đến một phương diện nhất định của từ
Mặc dù, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ, nhưng theo chúng tôi có ba định nghĩa đáng quan tâm nhất: đó là định nghĩa của chuyên gia đầu ngành ngôn ngữ
học học Việt Nam Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, trong cuốn “Ngữ Pháp tiếng Việt”, (2003, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội) Tác giả cho rằng “Từ là đơn vị nhỏ nhất và có thể vận
động độc lập được” [8, 360] Đồng quan điểm với Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, trong “Từ điển tiếng Việt”, Giáo sư Hoàng Phê cũng định nghĩa “từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất
có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu” [73, 1359] Quan niệm này
giúp chúng ta phận biệt được với những đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn nó Từ hai quan
điểm trên tác giả Đỗ Hữu Châu trong công trình “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, (1981,
Nxb GD Hà Nội) đã định nghĩa chi tiết hơn, đầy đủ hơn về các phương diện của từ
như sau “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những
đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [10,
14]
1.3.2 Vai trò của từ trong tiếng Việt
Đơn vị để cấu tạo nên từ trong tiếng Việt là “tiếng”, hay còn gọi là (“từ tố” hay
“thành tố” hoặc “yếu tố”…) Từ trong tiếng Việt được cấu tạo từ một tiếng hoặc ghép các tổ hợp có hai tiếng trở lên để tạo ra từ có nghĩa Từ được cấu tạo bởi một tiếng còn
gọi là từ đơn như: nhà, cửa, hát, học,…; ghép các tiếng có quan hệ về nghĩa với nhau
để có các từ ghép như: đất đai, đường sá, sông suối, chim chóc,…; ghép các tiếng trên
cơ sở hòa phối ngữ âm để có các từ láy như: long lanh, lung linh, lấp lánh, bấp bênh,
mênh mông, …Như vậy, vai trò của hệ thống cấu trúc trong tiếng Việt theo một trình
tự lôgic: tiếng dùng để cấu tạo từ, từ dùng để cấu tạo câu, trật tự từ dùng để thay đổi ý nghĩa trong câu, câu để tạo nên văn bản Trong đó, từ đóng vai trò chủ đạo trong quá trình kiến tạo nên văn bản nghệ thuật
Trang 361.3.3 Phân loại từ trong hệ thống tiếng Việt
Nghiên cứu về từ loại, các học giả dựa trên các đặc trưng ngôn ngữ của chúng
Để phân định các từ loại trong tiếng Việt, người ta thường căn cứ vào các tiêu chuẩn: ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ trong câu
Ý nghĩa ngữ pháp khái quát của các lớp từ tiếng Việt bao gồm: ý nghĩa chỉ vật, ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái, ý nghĩa tính chất, ý nghĩa số lượng, ý nghĩa quan hệ, ý nghĩa tính thái Còn chức vụ ngữ pháp trong một câu thường được dùng như một tiêu chuẩn hỗ trợ cho việc phân định từ loại.Căn cứ vào đặc trưng ngữ pháp và nội dung ý nghĩa khái quát vốn từ tiếng Việt có thể xếp vào 10 loại từ: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, phụ từ, kết từ, trợ từ, tình thái từ và than từ
Các từ biểu thị không gian - thời gian thường mang ý nghĩa khái quát chính là chỉ vật, hiện tượng, địa danh là cách gọi tên (định danh) các sự vật thuộc các phạm trù
khác nhau Với đề tài nghiên cứu Lớp từ biểu thị không gian thời gian trong thơ Trần
Tế Xương, chúng tôi chỉ giới thiệu sơ lược cơ sở lý thuyết của danh từ, tính từ, số từ,
đại từ - đây là các đơn vị lý thuyết cơ bản, cần thiết góp phần hỗ trợ cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
1.3.3.1 Danh từ
Danh từ theo cách hiểu thông thường và phổ biến nhất “là những từ biểu thị sự
vật, sự việc, sinh vật, khái niệm, hiện tượng ” danh từ được chia làm hai lớp nhỏ là
danh từ chung và danh từ riêng Danh từ riêng dùng để gọi tên riêng của sự vật (tên người, tên địa phương, tên địa danh, ) chẳng hạn như: Hà Nội, sông Hồng, Nguyễn
Du, Truyện Kiều, trong khi đó danh từ chung biểu thị trên phạm vi rộng bao gồm:
- Danh từ chỉ đơn vị: con, cái, tấm, cân, mét, nắm, vốc,…
- Danh từ chỉ sự vật: công nhân, học sinh, bàn, ghế, mèo, gà,…
- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: tư tưởng, đạo đức, thói quen, cách mạng,…
- Danh từ chỉ chất liệu: nước, rượu, cát, nhựa, thủy tinh,
- Danh từ chỉ hiện tượng: là cái xảy ra trong không gian và thời gian mà con
người có thể nhận thấy, nhận biết được như: cơn mưa, ánh nắng, tia chớp,…và hiện tượng xã hội cuộc chiến tranh, sự đói nghèo,…
- Danh từ chỉ đơn vị thời gian: giây, phút, giờ, tuần, tháng,mùa vụ, buổi,…
Trang 37Như vậy, danh từ chính là kết quả định danh do con người tạo ra cùng với quá trình phát triển của xã hội Quá trình định danh này thể hiện rất rõ nét đặc trưng văn hóa của từng thời đại, của các vùng miền, của các dân tộc khác nhau Mỗi sự vật, hiện tượng khi được một cộng đồng gọi tên đã phần nào phản ánh những quan niệm, cách nhìn, thói quen, …của cộng đồng dân tộc – của chủ thể tạo lập ngôn ngữ
1.3.3.2 Tính từ
Việc phân biệt tính từ trong tiếng Việt hơi phức tạp, vì có nhiều trường hợp tính
từ có dạng như danh từ hoặc động từ Chính vì vậy người ta chia tính từ tiếng Việt ra làm hai loại: tính từ tự thân và tính từ không tự thân
Tính từ tự thân: có chức năng biểu thị phẩm chất, màu sắc, kích thước, hình dáng, âm
thanh, hương vị, mức độ, dung lượng… của sự vật hay hiện tượng
– Tính từ chỉ phẩm chất: tốt, xấu, sạch, bẩn, đúng, sai, hèn nhát
– Tính từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng, xám, đen, trắng, nâu
– Tính từ chỉ kích thước: cao - thấp, rộng - hẹp, dài - ngắn, to - nhỏ/ bé, mỏng – dày, – Tính từ chỉ hình dáng: vuông, tròn, cong, thẳng, quanh co
– Tính từ chỉ âm thanh: ồn, ồn ào, trầm, bổng, vang
– Tính từ chỉ hương vị: thơm, thối, hôi, cay, nồng, ngọt, đắng, chua, tanh
– Tính từ chỉ cách thức, mức độ: xa, gần, đủ, nhanh, chậm, lề mề
– Tính từ chỉ lượng/dung lượng: nặng, nhẹ, đầy, vơi, nông, sâu, vắng, đông
Tuy nhiên việc phân loại tính từ như trên chỉ mang tính tương đối, vì trong tiếng Việt tính từ có thể được sử dụng trong chức năng của trạng từ và khi ấy ý nghĩa của tính từ
có thể thay đổi Ví dụ, so sánh: từ “cao” trong hai trường hợp sau:
Anh ấy cao 1m80
Tôi đánh giá cao khả năng của anh ấy
Tính từ không tự thân: Là những từ vốn không phải là tính từ mà là những từ
thuộc các nhóm từ loại khác (danh từ, động từ, ) nhưng được sử dụng như là tính từ Tính từ loại này chỉ có thể xác định được trên cơ sở quan hệ của chúng với các từ khác trong cụm từ hay trong câu Bình thường, nếu không có quan hệ với các từ khác, chúng không được coi là tính từ Như vậy, đây là loại tính từ lâm thời Tuy nhiên, khi
Trang 38được sử dụng làm tính từ, các danh từ hoặc động từ này sẽ có ý khái quát hơn so với tính từ tự thân Trong tiếng Việt có các loại tính từ không tự thân sau đây:
- Tính từ do danh từ chuyển loại Ví dụ: công nhân (trong: vải xanh công nhân); nhà
quê (trong: cách sống nhà quê); cửa quyền (trong: thái độ cửa quyền); sắt
đá (trong: trái tim sắt đá); côn đồ (trong: hành động côn đồ)
- Tính từ do động từ chuyển loại Ví dụ: chạy làng (trong: thái độ chạy làng); đả
kí ch (trong: tranh đả kích); phản đối (trong: thư phản đối); buông thả (trong: lối sống buông thả)
1.3.3.3 Số từ
Số từ là những từ chỉ số lượng và thứ tự của sự vật Khi biểu thị số lượng sự vật,
số từ thường đứng trước danh từ Khi biểu thị thứ tự, số từ đứng sau danh từ Tuy nhiên, cũng giống như tính từ, hệ thống số từ chỉ số lượng chính xác trong tiếng Việt
có phần phức tạp vì tiếng Việt có sử dụng hai hệ thống số đếm chính xác: số đếm
thuần Việt và số đếm Hán-Việt
– Hệ thống số đếm chính xác thuần Việt được phân ra thành hai hệ thống nhỏ: số đếm
chẵn và số đếm lẻ
– Số đếm Hán - Việt (nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập) chỉ được sử
dụng hạn chế trong những trường hợp cần phải biểu thị sự trang trọng, trong một số
thuật ngữ hay trong một số thành ngữ, quán ngữ, ví dụ: thơ song thất lục bát, ốm thập
tử nhất sinh, nhóm Tam ca, hình tứ giác, hình tam giác, đàn tam thập lục, tam thập nhi lập, xe song mã, mâm ngũ quả, tam sao thất bản, bách bệnh, thiên binh vạn mã, thiên niên kỉ
Số từ chỉ số lượng áng chừng: Đây là loại số từ dùng để chỉ những số lượng không
chính xác, trong tiếng Việt thường được kết hợp với các từ “vài, dăm, mươi ”.Chẳng hạn: dăm ba, dăm chục, vài đồng, vài phần,
Ngoài ra, số từ còn dùng để biểu thị số thứ tựthứ hai, thứ năm, thứ mười bảy ;thứ
nhất; thứ nhì; …
1.3.3.4 Đại từ
Khái niệm: Đại từ dùng để chỉ người, sự vật, hoạt động, tính chất,… được nói đến trong một ngữ cảnh nhất định của lời nói hoặc dùng để hỏi Đại từ có thể đảm
Trang 39nhiệm các vai trò ngữ pháp như chủ ngữ vị ngữ trong câu hay phụ ngữ của danh từ, của động từ, của tính từ,…Đại từ được chia làm hai loại: Đại từ để chỉ dùng để chỉ người, sự vật (gọi là đại từ xưng hô); chỉ số lượng; chỉ hoạt động, tính chất, sự việc Đại từ dùng để hỏi dùng để: hỏi về người, sự vật; hỏi về số lượng; hỏi về hoạt động, tính chất, sự việc…
Trong hai loại đại từ được bàn đến, chúng tôi muốn đề cập đến khái niệm “đại
từ chỉ định”, dùng để chỉ vị trí và chỉ thời gian Đại từ chỉ vị trí là những từ dùng để chỉ quan hệ không gian giữa người nói và đối tượng được đề cập đến trong phát ngôn
Đó là các đại từ: “kia, kìa, này, ấy, đấy, đó, nọ, Còn đại từ chỉ thời gian là những từ dùng để chỉ quan hệ thời gian giữa những sự kiện được nói tới, gồm các đại từ: nay, kia, kìa, ấy, đấy, đó, nọ, bây giờ, bấy giờ ” Tuy nhiên, sự phân chia ấy cũng chỉ tương đối mà thôi (Dẫn theo, Lê Đình Tư, “Đại từ chỉ định”,
https://ngonnguhoc.wordpress.com, đăng ngày 3/3/2011)
1.4 KHÁI NIỆM VỀ KHÔNG GIAN VÀ KHÔNG GIAN TRONG NGHỆ THUẬT
1.4.1 Khái niệm về không gian
Ngay từ thời xa xưa, con người đã hiểu rằng bất kì khách thể vật chất nào cũng chiếm một vị trí nhất định, ở vào một khung cảnh nhất định trong tương quan về mặt kích thước so với khách thể khác Các hình thức tồn tại như vậy gọi là không gian
A.Ja Gurevich trong cuốn "Các phạm trù văn hóa trung cổ” đã chỉ ra cách lý giải của người trung cổ về không gian: "Không gian được quan niệm như một hình thức có
khoảng trải đồng đều hình học, có ba chiều, có thể phân cách thành những khoảng chiếu ứng được với nhau Thời gian và không gian có tính chất khách quan, những phẩm chất của chúng độc lập với chất liệu được chứa chất trong chúng" [23, 30]
Hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant trong "Từ điển biểu tượng văn
hóa thế giới", coi quan hệ của thế giới vật chất với không gian và thời gian như quan hệ
của một đối tượng trong môi trường cùng với quá trình tồn tại, hoạt động của nó, hoặc là
như quan hệ với một điểm trong hệ tọa độ nhiều chiều Họ xác định, "không gian không
tách rời với thời gian, vừa là nơi chứa đựng những gì có thể xẩy ra - theo ý nghĩa nào đó,
nó tượng trưng cho trạng thái hỗn mang của các gốc nguồn - vừa là nơi chứa đựng những gì đã thực hiện - khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã được tổ chức",
Trang 40"không gian giống như một khoảng rộng vô biên, không biết đâu là trung tâm, bành
trướng theo mọi chiều, tượng trưng cho cái vô tận mà trong đó vũ trụ của chúng ta xoay vần ( ) Như vậy không gian bao gồm toàn bộ vũ trụ, trong đó chứa đựng mọi tiềm năng
và mọi cái đã hiện thực hóa", "không gian là biểu tượng chung của môi trường, ở bên ngoài hay ở bên trong, mà bất kì một sinh thể nào, cá thể hay tập thể đều hoạt động trong đó" [36, 486] Đồng thời, hai ông cũng đề cập đến khái niệm “không gian nội tâm, tượng trưng cho toàn bộ các tiềm năng của con người trên con đường hiện thực hóa
"Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm - phê phán" đã khẳng định: “Không gian
và thời gian là những hì nh thức cơ bản của mọi sự tồn tại ( ) vũ trụ chỉ là vật chất đang vận động, mà vật chất đang vận động chỉ có thể vận động trong không gian và thời gian”
(Chuyển dẫn từ Rôđentan M, I-u-din, Từ điển triết học, Nxb Sự thật, 1972, tr.237)
Trong cuốn “Giản yếu Hán - Việt từ điển”, Đào Duy Anh cho rằng, không gian có nghĩa
là "khoảng trống", trong đó "không" là "trống không", "hư không" Không gian là quan
niệm về bốn phương, trên - dưới, ngắn - dài, xa - gần, trái với thời gian chỉ có một chiều
từ quá khứ đến hiện tại rồi tới tương lai [1, 377]
Tác giả Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lý giải về không gian như sau: "Không gian là
khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật, hiện tượng xung quanh đời sống con người"
[73, 633]
Như vậy, không gian chính là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất Do đó, trong cuộc sống, nó là môi trường tồn tại của con người Mỗi sự vật, hiện tượng đều được xác định trong một không gian nhất định Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian Ngược lại, nếu có một không gian nào ở ngoài vật chất thì đó cũng chỉ
là một sự trừu tượng vô nghĩa mà thôi
1.4.2 Khái niệm về không gian trong nghệ thuật