Với đề tài “Cảm hứng về con người thị dân trong thơ Tú Xương”, người viết muốn đi sâu, tìm hiểu những yếu tố hình thành nên chất thị dân của nhà NhoTrần Tế Xương.. Sự chiếm lĩnh ấy nao g
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5.Cấu trúc đề tài 5
B PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Trần Tế Xương 7
1.1.1 Cuộc đời 7
1.1.2 Sự nghiệp thơ văn 9
1.2 Giới thuyết khái niệm 10
1.2.1 Cảm hứng thơ 10
1.2.2 Con người thị dân 12
1.3 Cảm hứng về con người trong thơ ca trung đại 12
Chương 2: CẢM HỨNG VỀ CON NGƯỜI THỊ DÂN TRONG THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 17
2.1 Những kiểu hình con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương 17
2.1.1 Kiểu hình nhà nho thị dân 18
2.1.2 Kiểu hình người phụ nữ thị dân 22
2.1.3 Kiểu hình con người phố phường 28
2.2 Cái “tôi” thị dân và ngôn chí thị dân trong thơ Trần Tế Xương 32
2.2.1 Cái “tôi” thị dân 32
2.2.2 Ngôn chí thị dân 38
Trang 2Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI THỊ DÂN TRONG
THƠ TRẦN TẾ XƯƠNG 44
3.1 Bút pháp 44
3.2 Ngôn ngữ 47
3.3 Sử dụng chi tiết, hình ảnh 54
TỔNG KẾT: 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Tú Xương có thể xem là một hiện tượng độc đáo bởi sức sống của nó trong lòng người đọc Thơ Tú Xương thu hút bởi lẽ thơ ông như một quyển sách lịch sử chắp ghép lại, ghi nhận lại đời sống xãhội của một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở Việt Nam
Tú Xương là một nhà nho nhưng cuôc sống chốn thị thành đã tạo nên trong ông một cảm nhận về con người và thế giới mang đậm chất thị dân Đây là yếu tố quyết định tạo nên những khác biệt cơ bản trong thơ Tú Xương so với thơ của các nhà Nho cùng cùng thười và những nhà Nho truyền thống
Trước nay, khi tìm hiểu về thơ Tú Xương các nhà nghiên cứu thường đển tâm đến mảng thơ trào phúng vô cùng đặc sắc của Tú Xương mà vô tình bỏ đi những yếu tố khác trong chỉ thể tác phẩm
Với đề tài “Cảm hứng về con người thị dân trong thơ Tú Xương”, người viết muốn đi sâu, tìm hiểu những yếu tố hình thành nên chất thị dân của nhà NhoTrần Tế Xương Đồng thời, người viết cũng muốn thông qua hình ảnh về con người thị dân giai đoạn đó giúp cho người đọc phần nào hình dung được những biến động lịch sử trong những năm cuối thế XIX – đầu thế kỉ XX
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ Tú Xương khá là được lòng các nhà nghiên cứu và phê bình văn học thế nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và tiếp nhận thơ Tú Xương Nhưngchủ yếu các nhà nghiên cứu trước nay thường tập trung vào các đề tài về thi pháptrào phúng và trữ tình của Tú Xương mà ít khi đề cập đến hình tượng con người
Trang 4mới mẻ mà Tú Xương sáng tạo nên ( hình tượng con người thị dân ) trong thơ của mình
Trong luận án Tiến sĩ ngữ văn “Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam” của Đoàn Hồng Nguyên 2003 đa có đề cập đến hình
tượng con người thị dân trong thơ Tú Xương Trong luận án này, Đoàn Hồng Nguyên đã chỉ ra được những đặc trưng tiêu biểu của con người thị dân ở thành Nam, được Tú Xương phản ánh lại trong thơ của mình Đặc biệt, luận án tập trung chỉ rõ những điểm khác biệt trong việc khắc họa con người vào thơ của Tú Xương và các Nho gia truyền thống
Cũng với một đề tài tương tự, luận văn thạc sĩ văn học “Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thế kỉ XIX qua ba tác giả Nguyễn Đình Chiểu,
Nguyễn Khuyến và Tú Xương” của Ngô Thị Kiều Oanh năm 2012 cũng có đề
cập đến hệ thống hình tượng con người diễn trò trong thơ Tú Xương Luận văn này đã khẳng định sự xuất hiện của con người trong thơ Tú Xương không hề mơ
hồ mà rất cụ thể, thậm chí có nét khác biệt
Tiếp nối những kết quả đã đạt được của những công trinh nghiên cứu nêu trên, người viết cũng muốn tiếp tục đi sâu, tìm hiểu về hệ thống hình tượng con người thị dân trong thơ của Tú Xương
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết sử dụng ngữ liệu trong cuốn “Tú Xương toàn tập” của tác giả Đoàn Hồng Nguyên, được nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản vào năm 2009 Ngoài ra, người viết còn sử dụng thêm một số tư liệu từ các luận văn, báo, tạp chí và sách có nội dung liên quan đến đề tài
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết có sử dụng một số phươngpháp ngiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích, đánh giá
5.Cấu trúc đề tài
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Trần Tế Xương
1.1.1 Cuộc đời 1.1.2 Sự nghiệp thơ văn1.2 Giới thuyết khái niệm
1.2.1 Cảm hứng thơ
1.2.2 Con người thị dân
1.3 Cảm hứng về con người trong thơ ca trung đại
Chương 2: Cảm hứng về con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương
2.1 Những kiểu hình con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương
2.1.1 Kiểu hình nhà Nho thị dân2.1.2 Kiểu hình người phụ nữ thị dân2.1.3 Kiểu hình con người phố phường2.2 Cái “tôi” thị dân và “ngôn chí” thị dân
Trang 62.2.1 Cái “tôi” thị dân2.2.2 Ngôn chí thị dân.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương
3.1 Bút pháp
3.2 Ngôn ngữ
3.3 Hình ảnh
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG
Đại diện được cho là tiêu biểu nhất cho dòng văn học tố cáo hiện thựctrong giai đoạn nữa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX chính là Trần Tế Xương màxưa nay ta vẫn quen gọi là Tú Xương
Tú Xương đến với thi đàn văn học cuối thế XIX với một giọng điệu mỉamai, châm biếm sắc sảo Ông dùng ngòi bút của mình để vạch trần bản chất giảdối, biến chất của xã hội thực dân phong kiến vừa mới được thành lập ở nước ta
Nhưng thật đáng tiếc, Tú Xương chưa kịp đi hết con đường “sự nghiệp” của
mình đã qua đời một cách đột ngột khi chỉ mới 37 tuổi
Trước khi trở thành một nhà nho Tú Xương đã là một thị dân, vì vậy màkhông có gì là khó hiểu khi trong thơ văn Tú Xương tồn tại một cảm hứng gọi làcảm hứng thị dân Trong thơ Tú Xương, phố phường, cảnh vật, con người, sựviệc ở đô thị thành Nam lúc bấy giờ được tái hiện khá là đầy đủ và rõ nét Cảmhứng thị dân đã chi phối Tú Xương trong lối sáng tác cũng như cách ông phảnánh khách thể vào trong thơ của mình Đây là cảm hứng xuyên suốt và chi phốitoàn bộ các tác phẩm của Tú Xương
Trang 8Trần Duy Uyên, đến khi thi hương mới đổi tên là Trần Tế Xương, tự là MặcTrai, hiệu là Mộng Tích
Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn Bà sinh choông được 8 người con, trong đó có 6 trai và 2 gái Bà Tú tần tảo, thương chồng,thương con, nhẫn nại quên mình, đã đi vào thi phẩm của ông chồng như mộtnhân vật điển hình hấp dẫn
Gia đình ông mấy đời có nền nếp nho học, cụ thân sinh ông là Trần DuyNhuận một người có đi học, đi thi nhưng không đỗ đạt gì, về sau làm tự thừa,giúp việc cho dinh Đốc học Nam Định Theo lời kể thì Tú Xương là một ngườihoạt bát, thông minh, ăn nói có duyên và thích trào lộng Lúc nhỏ, Trần TếXương thông minh học giỏi, năm mười lăm tuổi đã đi thi hương nhưng khôngđậu Hai khoa thi tiếp theo ông cũng đi thi nhưng đều trượt cả hai Mãi đến nămhai mươi bốn tuổi, trong khoa thi năm Giáp Ngọ 1894, ông mới đỗ tú tài, từ đóđược gọi là Tú Xương Những khoa thi sau Tú Xương vẫn cứ lều chỏng đi thihòng kiếm cái bằng cử nhân để có việc làm, nhưng thi mãi mà không thể đỗ caohơn Sau nhiều lần thi trượt mãi, khoa thi năm Quý Mão 1903, ông đổi tên thànhTrần Cao Xương, tuy nhiên đổi tên vẫn không thể giúp ông thi đỗ được
Ở cái thời ấy, cái bằng tú tài nhiều lắm cũng chỉ có thể làm thầy đồ dạyhọc mà thôi, ông muốn đỗ đạt cao hơn để vực dậy kinh tế gia đình đang sa sútnhưng thi mãi không đỗ cao hơn được Vì thế mà ông Tú chỉ ở nhà, dạy các conhọc, chơi bời với bạn bè, ít đi đâu xa chỉ quanh quẩn ở Gia Định Mọi việc trongnhà trông cậy hết vào tay bà Tú
Ngày rằm tháng chạp năm Bính Ngọ, nhằm ngày 10 tháng 1 năm 1907, TúXương về ngoại ăn giỗ, đi đường gặp mưa, trời lại rét, ông bị cảm nặng, không
Trang 9chạy chữa kịp, ông mất ngay dím hôm đó ở nhă họ ngoại , thuộc lăng Đại Tứ,huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Năm đó ông Tú chỉ mới có ba mươi bảy tuổi.
1.1.2 Sự nghiệp thơ văn
Tú Xương được xem lă một đại diện xuất sắc cho dòng thơ trăo phúngViệt Nam cuối thế kỉ XIX Đó lă do cuộc đời nhă thơ tuy ngắn ngủi nhưng lạisống văo đúng câi giai đoạn sôi nổi nhất của lịch sử dđn tộc vă xê hội Việt Nam:Phâp lần lược chiếm Nam Kỳ, Bắc Kỳ rồi trực tiếp đặt âch thống trị trín toăn cõiViệt Nam; xê hội phong kiến mục ruỗng nhưng chưa chết hẳn thì lại manh nhaxuất hiện một mô hình xê hội mới nhố nhăng hơn, … Những sự kiện đó tâcđộng mạnh mẽ đến Tú Xương, mă đặc biệt lă sự nhố nhăng, mục nât của xê hộiđương thời Vă thế lă Tú Xương đưa văo thơ mình toăn cảnh câi xê hội nhố
nhăng ấy, từ sự tha hóa của con người trước ma lục của đồng tiền đến sĩ khí “rụt
rỉ gă phải câo” của lớp nho sĩ cuối mùa vừa muốn giữ vẻ oai nghiím, chững
chạc vốn có, vừa lom khom chen lấn để có tí chút quyền lực vă của cải TúXương vạch trần, đả kích thẳng tay khi cần thì gọi thẳng tín, điểm thẳng mặtnhững thứ quâi gỡ, dị hợm ấy Không những cười người, ông còn tự cười cả
mình Tú Xương tự “vạch âo cho người xem lưng”, ông phơi băy tất cả những
điều xấu của mình, thậm chí còn phóng đại nó lín để tự trăo Đó cũng lă câch mẵng dùng để đả kích câi xê hội đương thời thối nât kia
Mặc dù sâng tâc của Tú Xương phần lớn lă thơ trăo phúng, nhưng ông vẫn
có một số ít những băi thơ trữ tình thắm thiết Điều năy phản ânh bản chất, cốtcâch của nhă thơ, một người giău lòng yíu thương, luôn thao thức với đời vă
cũng hết sức chđn thật khi tự trâch mình Có người đê tôn Tú Xương lă “nhă thơ thiín tăi” Còn Xuđn Diệu cho sự tồn tại của Tú Xương trong văn chương dđn tộc
lă vĩnh hằng
Trang 10Trần Tế Xương sáng tác thơ văn khá nhiều nhưng phần nhiều không đượcghi chép mà chỉ truyền miệng nên có nhiều sai sót và nhầm lẫn trong quá trìnhbiên tập, sưu tầm Tú Xương sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm, hiện trong cuốn
“Thơ văn Trần Tế Xương” của nhà xuất bản văn học xuất bản năm 1970 sưu tầm
được 151 bài thơ Ngoài ra, Tú Xương còn có dịch một số bài thơ Đường
1.2 Giới thuyết khái niệm
1.2.1 Cảm hứng thơ
Cảm hứng của một tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng,luôn gắn liền với đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Nó là một phần trongchỉnh thể của một tác phẩm văn học Nghĩa là trong mỗi loại hình nghệ thuật,mỗi tác phẩm nghệ thuật luôn tồn tại một thứ cảm xúc mãnh liệt gọi là cảmhứng
Về mặt ngữ nghĩa, Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Cảm hứng (danh từ) là trạng thái tâm lí có cảm xúc và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả.” 1
Các triết gia cổ Hy Lạp và sau này là Hegel và Biêlinxki đều dùng từ
“cảm hứng” để chỉ “trạng thái phấn khích cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy nao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại”
Theo Bielinxki: cảm hứng là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những
sáng tác đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khác vọng nhiệt thành.”
1 Hoàng Phê, 2011, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 145.
Trang 11Về mặt lí luận văn học, cảm hứng hay cảm hứng chủ đạo của một tác
phẩm văn học được định nghĩa là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm.” 2
Còn trong cuốn“Lí luận văn học” do Trần Đình Sử chủ biên khẳng định
“cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động” 3 Và tài liệu này cũng khẳng định “Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học”.
Như vậy, có thể nói gọn thuật ngữ cảm hứng trong mấy ý sau : cảm hứng
là trạng thái cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ, chi phối toàn bộ tư tưởng tìnhcảm của tác phẩm và gây tác động phần nào đến cảm xúc của người đọc
Ban đầu thuật ngữ cảm hứng chủ đạo được dùng để chỉ yếu tố nhiệt tình
khi diễn thuyết, sau này nó được dùng để chỉ trạng thái mê đắm của nhà thơ khixuất hiện các tứ thơ Về sau, lí luận văn học lại dùng thuật ngữ này để chỉ mộtyếu tố nội tại trong nội dung của một tác phẩm nghệ thuật, của thái độ tư tưởngxúc cảm ở nghệ sĩ được thể hiện qua tác phẩm đó Cảm hứng chủ đạo của mộttác phẩm nghệ thuật quy định tất cả các yếu tố trong chỉnh thể của tác phẩm Đây
là sự căng thẳng cảm xúc đạt đến một mức độ nào đó mà ở đó người nghệ sĩkhẳng định thế giới quan của mình trong tác phẩm
Ở đây, xét riêng trong mảng thơ, tư tưởng của một tác phẩm thơ hoặc mộtchuỗi các tác phẩm của cùng một tác giả có thể được hiểu là thứ cảm xúc mãnhliệt của thi nhân khi nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận nhận thấy, sờ thấy, … mộtđiều gì đó Một bài thơ là sản phẩm cuối cùng được tạo nên bởi những cảm xúcmãnh liệt, và trong nó chứa đựng những tư tưởng, tình cảm của tác giả Điều đặc
2 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( đồng chủ biên ), 2007, Từ điển thuật ngữ văn học, tr.44.
3 Trần Đình Sử ( chủ biên ) , Lí luận văn học, tr.268.
Trang 12biệt là thứ cảm xúc mãnh liệt này không phải là thứ tình cảm một chiều hay làthứ tình cảm được biểu hiện ra ngoài một cách cụ thể hay hiển hiện lên trên bềmặt câu chữ của bài thơ Cảm xúc trong thơ là thứ tình cảm được cảm nhận quanhững hình ảnh, những thủ pháp nghệ thuật mà nhà thơ vô tình hay cố ý sửdụng Đồng thời, nhà thơ không hề độc chiếm thứ cảm xúc ấy mà hoàn toàn đểcho người đọc tự cảm nhận lấy, do vậy cảm hứng của tác phẩm thơ có thể thayđổi tùy thuộc vào những yếu tố khách quan và chủ quan từ người đọc.
1.2.2 Con người thị dân
Trước khi bàn về thị dân, ta cần biết đô thị là gì ? Đô thị là một khônggian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khuvực kinh tế phi nông nghiệp Như vậy, thị dân có thể được hiểu nôm na là nhữngcon người sống ở thành thị, là những người lao động phi nông nghiệp
Ở Việt Nam, tầng lớp thị dân bắt đầu xuất hiện vào nửa sau thế kỉ XIX,khi thực dân pháp xâm lược Việt Nam bắt đầu vơ vét của cải nước ta với nhữngchính sách khai thác thuộc địa và song song với đó là hình thành các đô thị lớn
Xã hội Việt Nam khi ấy là một xã hội của chế độ gọi là “thực dân nửa phong kiến” Sự pha tạp giữa văn minh phương tây và văn hóa phương Đông đã làm
nên một xã hội Việt Nam vô cùng nhố nhăng, kệch cỡm Thành phần chịu ảnhhưởng mạnh mẽ nhất của những biến động này chính là bộ phận dân cư sống ởcác đô thị lúc bấy giờ
Tú Xương cũng là một người sống ở Đô thị từ nhỏ, thêm nữa ông lại sinh
ra và lớn lên ở đây đúng vào cái giai đoạn có nhiều biến động nhất trong lịch sửthế nên suy nghĩ và ý thức hệ của ông bị chi phối nhiều bởi ý thức của thị dân
Trang 131.3 Cảm hứng về con người trong thơ ca trung đại
Đối tượng phản ánh chủ yếu của văn chương nghệ thuật là con người vàcuộc sống của con người Cần nói rõ con người ở đây là con người cụ thể, tồn tạitrong không gian, thời gian cụ thể Đặt con người là trung tâm, văn chương nghệthuật bao giờ cũng nhìn nhận hiện thực qua cái nhìn của con người – tức là quacái nhìn của chủ thể phản ánh Qua cái nhìn đó, văn chương nghệ thuật phát hiện
ra bản chất của hiện thực và mặt khác trở lại nhận thức sâu sắc hơn về con người
Xã hội trung đại Việt Nam là một xã hội tồn tại dưới chế độ phong kiến,chính thế mà mọi hoạt động nhận thức của con người đều bị chi phối mạnh mẽbởi ý thức hệ phong kiến Mọi suy nghĩ, hành động của con người đều được đặttrong lề lối của những quy phạm của lễ giáo phong kiến Do vậy, cảm thức thẫm
mỹ của những nhà nghệ sĩ sống trong giai đoạn này đa phần đều bị đóng khung
và rất ít khi có những sáng tạo vượt bậc Con người trung đại quan niệm “vạn vật là nhất thể”, con người là một bộ phận của thiên nhiên, sống hòa nhập với
thiên nhiên chìm lẫn vào giữa vũ trụ bao la và con người được thể hiện trong thơ
ca là “con người vũ trụ” Trong thơ ca trung đại, ta luôn có thể bắt gặp hình ảnh những “lữ khách” đang “đăng cao”, “dã vọng”, “vãn thứ”, sừng sững những tráng sĩ “hoành sóc giang san”, lại thấp thoáng con người “bầu bạn” với “một bầu phong nguyệt”, “Quyến trúc mai, kết bạn tri âm” ( Nguyễn Trãi ), “lẩn thẩn” giữa “cội cây”, nhàn dật đắm chìm trong cảnh vật:
“Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt”
Mai động hoa xoay, bóng cách song Gió lật, đưa qua trúc ổ,
Mây tuôn, phủ rợp thư phòng….”
Trang 14Là một bộ phận của thiên nhiên, con người thường kí thác tâm tình củamình qua vạn vật Con người luôn muốn hòa nhập vào thiên nhiên, là một phầncủa thiên nhiên Dù thế, con người không hề muốn hòa tan vào trong vũ trụ, tâmtình con người tương thông cùng với vũ trụ, vẻ đẹp của con người được miêu tảthông qua vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật Trong thơ văn trung đại, vẻ đẹp củagiai nhân tài tử bao giờ cũng được đem ra so sánh với mây, gió, tuyết, sương,…
Cho nên ta mới có một Thúy Vân “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” hay một cô Kiều “Làn thu thủy, nét xuân sơn” hay là một Kim Trọng “Đề huề lưng túi gió trăng” và khí tráng “Râu hùm, hàm én, mày ngài” của người anh
hùng Từ Hải
Nhưng con Người không chỉ sống giữa thiên nhiên mà còn sống với cộngđồng xã hội, khi ấy, con người tồn tại như một chủ thể của lịch sử Nếu xét conngười ở bình diện này, văn chương thời trung đại còn tồn tại hình tượng conngười xã hội Nước ta bị Trung Quốc đô hộ hơn nghìn năm, nên văn hóa văn họcnước ta bị chi phối tương đối nhiều bởi tư tưởng của Nho giáo Trung Quốc, điển
hình ở đây chính là tư tưởng sùng cổ Khổng Tử khẳng định “bất học thi vô dĩ ngôn” và chính Khổng Tử cũng cho rằng Kinh Thi của ông chính là khuôn mẫu cho mọi tài năng thơ, được đề ra cho mọi thời đại K.Marx khẳng định “tư tưởng thống trị trong mọi thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị” Sự
thống trị của Nho giáo trong suốt nhiều thế kỉ cùng với một trong những hạtnhân tư tưởng của giai cấp thống trị này là tư tưởng sùng cổ đã chi phối rất lớnđến hệ tư tưởng chung của toàn xã hội trung đại không chỉ ở Trung Quốc àm cònvưới tất cả những nước theo chế độ phong kiến, trong đó có Việt Nam Bởi thế,
ta có thể dễ dàng nhận thấy con người trong thơ ca trung đại Việt Nam khôngđược thể hiện như là một con người xã hội tồn tại cùng với lịch sử, mà con ngườiđược thể hiện như một chiếc bình chứa tư tưởng và những giáo điều của người
Trang 15xưa Mọi hành động tu thân, gắng chí của con người nhất nhất rập theo nhữngcái khuôn mẫu vốn đã được đúc kết từ những quan niệm lí tưởng của người đờixưa.
Cho nên một “Tấc lòng ưu ái cũ” với chuyện “Nhân gian nhược hữu Sào,
Do đồ” của Nguyễn Trãi, hay là nỗi “khắc khoải sầu đưa” với “hồn Thục Đế” của Nguyễn Khuyến hoặc sự hăm hở “Một mình để vì dân vì nước” như Nguyễn Công Trứ vốn là “tấc lòng” của những chủ thể trữ tình mang tính cá thể hóa rõ rệt nhưng do rập khuôn theo thánh hiền nên “tấc lòng” ấy đã trở thành “tấc lòng” thế sự mang đậm tính cộng đồng Con người đời ấy không bao giờ được
quyền xuất hiện trong thơ ca với tư cách của một con người cá nhân mà luônluôn là những con người của cuộc đời, con người mang tâm sự của cả xã hội,cộng đồng
Đặt trong không gian và thời gian, con người là con người vũ trụ Đặttrong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, con người là những con người cộng đồng phi cáthể hóa Những mẫu hình con người phi ngã ấy được biểu hiện rõ nhất trong hìnhtượng của những kiểu nhà nho phong kiến điển hình Cùng với những biến độngcủa lịch sử và sự phát triển của Nho giáo, nhà Nho phong kiến được phân hóa rathành các kiểu hình như: nhà Nho hành đạo, nhà Nho ẩn dật, nhà Nho tài tử,…
Cho đến đến đầu thế kỉ XIX, con người trong ý thức hệ của Nho gia vàbiểu hiện cụ thể ra bên ngoài bằng thơ văn vẫn là những con người vô ngã Đếngiữa thế kỉ XIX, khi mà văn hóa phương Tây bắt đầu có sự xâm nhập vào vănhóa nước ta thì quan niệm về con người cũng có ít nhiều sự thay đổi Bắt đầu của
sự thay đổi này được đánh dấu bằng sự xuất hiện của những con người của cuộcsống hằng ngày xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến Có thể nói Nguyễn Khuyến
là người đầu tiên phá vỡ cái quy phạm cảm hứng về con người trong thơ ca trungđại và là người khơi nguồn cảm hứng để những con người bình thường hơn xuất
Trang 16hiện, những con người cá nhân bắt đầu manh nha trên văn đàn Nói như Trần
Đình Sử trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ “Nguyễn Khuyến trước sau chỉ biết có mỗi thế giới cổ điển gắn bó với lối sống làng quê Nhưng ông là nhà thơ cổ điển đầu tiên thấy cái rỗng không của con người lí tưởng truyền thống, là nhà thơ mở đầu sự đổi thay các ý nghĩa tượng trưng của hệ thống thi pháp cổ xưa.”
Nguyễn Khuyến đã là người tiên phong mở cánh cửa chào đón những conngười hữu ngã bước vào thơ văn thì đến Tú Xương, ông lại càng dọn con đường
ấy rộng mở hơn để chào đón họ Đến với thơ Tú Xương, con người vũ trụ gầnnhư biến mất hoàn toàn mà nhường chỗ tất cho những con người bình thường:con người thị dân
Thời đại mà Nguyễn Khuyến và Tú Xương sống là cái thời đại của nhữnganh hùng thất thế, thời đại của buổi giao thời Đông – Tây Xã hội Việt Nam khi
ấy đang đứng trên cái vực của sự tha hóa, biến chất Con người trở nên lố lăng,
bỉ ổi, những lí tưởng của Nho giáo gần như sụp đổ hoàn toàn trước sự tấn côngmạnh mẽ của văn hóa phương tây Tính đến thời điểm đó, con người xuất hiệntrong thơ văn của Nguyễn Khuyến tuy đã xuất hiện những con người phi ngãnhưng vẫn là những con người của thời đại trước – con người anhh hùng của thờiđại chiến thắng Còn con người trong thơ Tú Xương là con người của xã hội thựctại, không hề lí tưởng, không hề là anh hùng Họ đơn giản chỉ là những conngười phố thị bình thường
Có thể nói, mặc dù sống cùng thời, cùng là những nhà Nho cuối mùanhưng tư tưởng của Nguyễn Khuyến và Tú Xương hoàn toàn khác nhau NếuNguyễn Khuyến vẫn giữ được cái mạch cảm bay bổng của những con người vũtrụ, con người phi ngã thì Tú Xương nhạt dần cái phong vị Nho gia Người ta chỉchỉ tìm thấy đôi lần hình ảnh của những con người vũ trụ xuất hiện trong thơ ông
Trang 17trong một số bài như : Sông lấp, Hỏi ông trăng, Đêm buồn, Đêm dài, Chợt giấc Nhưng số ít những hình tượng này không thể làm nên một hệ thống xuyên
suốt trở thành một đề tài lớn trong nguồn cảm hứng sáng tác của Tú Xương.Hoàn cảnh lịch sử và không khí thời đại đã tạo nên một cảm hứng dồi dào vàxuyên suốt những tác phẩm của nhà thơ một kiểu hình tượng con người thị dânphố thị của một xã hội vừa mới xuất hiện nhưng đã rệu rã
Chương 2: CẢM HỨNG VỀ CON NGƯỜI THỊ DÂN TRONG THƠ TRẦN
TẾ XƯƠNG
Như đã nói ở trên, cảm hứng nghệ thuật là thái độ, tư tưởng, xúc cảm củanhà văn trước thực tại và bị chi phối mạnh mẽ bởi thời đại và những mối quan hệxung quanh của nhà văn Tuy vậy, cảm hứng nghệ thuật không hề mang tínhkhách quan, tồn tại độc lập, bên ngoài nhà văn mà nó nảy sinh từ trong ý thức xãhội của nhà văn, nó tồn tại bên trong nhà văn và mang đậm ý thức chủ quan của
cá thể nhà văn Chính vậy mà phải nghiên
Tú Xương khác với những nhà Nho cùng thời và khác với những nhà Nhokhác ở chổ ông sinh ra và lớn lên ở thành thị Đây chính là điều tạo nên tất cả cácđiểm khác biệt còn lại giữa Tú Xương và tất cả các nhà Nho khác Từ việc sinh
ra và lớn lên ở thành thị, Tú Xương sớm bị ảnh hưởng bởi nét văn hóa thành thị
và con người thành thị Những ảnh hưởng này không chỉ tác động vào đời sống
mà còn tác động vào suy nghĩ, tư tưởng nhà thơ và đặc biệt nó đi vào thơ văn củaông một cách rất tự nhiên Ta hoàn toàn có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ ônghình bóng của một con người phố thị, một lối sống phố thị, một thú ăn chơi phốthị,… Cảm hứng thị dân đã quy định nên kiểu hình tượng con người thị dântrong thơ Tú Xương, một kiểu hình tượng con người vô cùng độc đáo, phá vỡmọi quy phạm về con người trong thơ văn trước kia Đồng thời, cảm hứng thị
Trang 18dân này cũng chi phối phương thức trữ tình ở thơ ông: ngôn chí, tự trào, kiểu bộc
lộ cái tôi cũng như cách thể hiện về con người thị dân
2.1 Những kiểu hình con người thị dân trong thơ Trần Tế Xương
Ta đã biết, trong thơ văn Trung đại, con người ít khi thành hình mà thườnglẩn khuất sau thiên nhiên Con người khi ấy là con người phi ngã, con ngườikhông tồn tại như một cá thể độc lập mà tồn tại dưới hình thức là một thành viêncủa cộng đồng Đến với Tú Xương, con người hoàn toàn được thể hiện như một
cá thể tồn tại độc lập trong không gian, thời gian và trong lịch sử cụ thể Thêmmột điểm đặc biệt là con người trong thơ Tú Xương không phải là những vĩnhân, những vị anh hùng, những nhà Nho có học vấn uyên thâm, … mà tất cả
họ đều là những con người bình thường, thậm chí có đôi khi được coi là thấp hèntrong xã hội trung đại Những con người trong sáng tác của Tú Xương là nhữngcon người thị dân trong xã hội mới hình thành
2.1.1 Kiểu hình nhà nho thị dân
Trước khi bàn về kiểu hình nhà nho thị dân, ra nên điểm sơ qua về Nhogiáo, cái nôi của các nhà nho Nho giáo, còn gọi là đạo nho hay đạo Khổng, làmột hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lí giáo dục và triết học chính trị doKhổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xâydựng một xã hội thịnh trị Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáođược gọi là các nhà Nho
Ở Việt Nam, Nho giáo được xem là một hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâurộng đến việc tổ chức bộ máy nhà nước, duy trì trật tự xã hội và tư tưởng vănhọc trong suốt nhiều thế kỉ Đến với Việt Nam, Nho giáo đã được bản địa hóa và
là nền tảng cho sự hình thành và phát triển các giá trị về tư tưởng, đạo đức vànếp sống tốt đẹp.Nho giáo ở Việt Nam có những giai đoạn phát triển vô cùng rực
rỡ và đạt nhiều thành tựu đáng kể Nhiều ý kiến còn cho rằng Nho giáo là nền
Trang 19tảng của nền văn minh Việt Nam và có thể coi Việt Nam thuộc nền văn minhKhổng giáo
Nhưng đến thời nhà Nguyễn thì Nho giáo bắt đầu rơi vào giai đoạn khủnghoảng, đến giữa thế kỉ XIX, Nho giáo mất dần ảnh hưởng và có thể nói là rơi vàolãng quên Dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, chế độ khoa cử thay đổi, Nho giáokhông còn là trọng tâm của khoa cử Tuy nhiên, Nho giáo với hệ thống lí luận đãtồn tại hàng nghìn năm không dễ gì phai nhạt Hơn thế, Việt Nam vào giai đoạnnày vẫn là một nước phong kiến, trong xã hội vẫn có một lực lượng đông đảonhững nam tử xuất thân trong gia đình có truyền thống Nho học Cho nên, mặc
dù Nho giáo có lạc hậu so với thời đại thì nó vẫn chiếm một vị trí quan trọngtrong ý thức hệ của người Việt Nam
Tú Xương sinh ra vào đúng cái giai đoạn nhiễu nhương nhất của xã hộiViệt Nam Ông hấp thụ được cái gốc Nho học từ ông cha mình, nhưng đồng thời
Tú Xương cũng hấp thụ luôn cái văn minh phương Tây mà thức dân Pháp mangvào Việt Nam ta ngày đó Và chính điều này tạo cho nhà nho Tú Xương một nétrất riêng, một nhà nho chốn thành thị
Gọi các nhà Nho trong thơ Tú Xương và cả Tú Xương là những nhà Nhothị dân là để đặt họ trong thế đối lập với các kiểu nhà Nho truyền thống khác nhưnhà Nho tài tử, Nhà nho ẩn dật, nhà Nho hành đạo, nhà Nho chốn làng quê, … Các nhà Nho trong thơ Tú Xương khác hẳn các nhà Nho truyền thống ở thờitrước bởi trước khi là một nhà Nho, họ đã là những con người thị dân
Trong thơ Tú Xương ta không hề thấy những bậc quân tử hăm hở “phù địa trục” “chí những mong sẽ núi lấp sông” ( Nguyễn Công Trứ ) , cũng không
có những nhà Nho say với đạo, tỏ lòng với thơ Trong thơ Tú Xương chỉ cónhững nhà Nho cuối mùa, thất thế, chỉ biết nhìn đời mà cười nhạo, mà thương
Trang 20xót chứ không hề có ý định muốn nhúng tay vào nó, muốn thay đổi nó Nhữngnhà Nho được khắc họa trong thơ Tú Xương không hề có chút tráng khí của kẻ
sĩ, chẳng hề có chút tài tình của bậc Nho gia, mà chỉ có cái bộ dạng “lôi thôi”,
“ậm ọe” của những kẻ thư sinh ôm mộng quan trường, chỉ có những nhà Nho cuối mùa với cái sĩ khí như “gà phải cáo”, cái văn tài “liều lĩnh đấm ăn xôi” và chỉ hay một nỗi “cờ bạc rong chơi” Họ chẳng hề có chút boăn khoăn với nỗi niềm ưu ái đến“Việc xa gần phải trái kệ thây ai”, chẳng hề bận tâm với lẽ cương thường, với chữ trung hiếu, cũng chẳng ôm ấp hoài bão “trí quân trạch dân”,
chẳng tu chí, lập thân cũng không phải là điều mà những kẻ sĩ ấy quan tâm, họ
chỉ “lăm le” một nỗi “Bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ”, đeo đuổi khoa cử chỉ mong sao “Đỗ đành sao hỏi tiếng cha cu” Tất cả họ, qua cái nhìn nhiều khi
có đôi chút chủ quan của Tú Xương hiện lên với tất cả những “bản chất” thành
thị Các nhân vật nhà Nho thời bấy giờ chỉ rặt là một phường “vừa dốt lị vừa ngu”; tất cả đều trống rỗng, không hề có chút tinh thần Nho đạo nào.
Ta đều biết có cái gọi là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, sống giữanhững nhiễu nhương của xã hội thì việc bị ảnh hưởng là điều khó tránh khỏi.Những nhà Nho trong thơ Tú Xương hay chính cả Tú Xương cũng vậy, tuynhiên mặc dù học là những kẻ tài hèn sức mọn ( và họ nhận biết được điều đó )nhưng không phải là những bản sao vô hồn, mà trái lại họ còn là những cá thểđầy bản ngã và có những hám muốn rất “người”:
“Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu.
Biết thuốc lá, biết chè tàu, Cao lâu biết vị, thanh lâu biết mùi.”
( Hỏi ông trời )
“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,
Trang 21Rượu chè trai gái đủ tam khoanh”
( Tự vịnh )
Tú Xương gần như đã đạp đổ hoàn toàn hệ thống hình tượng nhà Nho đãtồn tại cả nghìn năm với cảm hứng thị dân và thái độ trào phúng trong từng tácphẩm của mình
Nhà Nho thị dân suy cho cùng là sự kết hợp giữa những quy phạm giáođiều của lễ giáo Nho gia và những cái thú rất người, rất tục trong một con
người.Dù là thế, nhưng những “con người thiệp thế”, những “khách phong lưu” ngoài vòng cương tỏa trong thơ Tú Xương chẳng “thảnh thơi túi rượu bầu” như khách tài tử của Nguyễn Công Trứ, cũng chẳng có cái “gàn bát sách”, cái “thẹn với ông Đào” như nhà Nho ẩn dật Nguyễn Khuyến mà chỉ có cái ngật ngưởng
“chẳng buồn nghe” sự đời và cá ngông ngạo trong bộ điệu uống nước đá, khi thuốc lá, khi đủng đỉnh ngồi xe” ngay giữa phố Hàng Nâu, phố Hàng “quắc mắt khinh đời” như nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm hay về lại “Vườn Bùi chốn cũ” như nhà Nho Nguyễn Khuyến mà “an thân mệnh thế”, trái lại cứ việc “Khi cao lâu , khi cà phê, khi Thao, phố Giấy”,… ngay giữa chốn đô hội nhộn nhịp, giữa cảnh “sông lấp”, ở nhà cô Đầu Là sản phẩm của xã hội thị dân, những nhà Nho
là những kẻ không lí tưởng, nên tuy sống giữa “buổi loạn li”, những nhà Nho thị dân của Tú Xương không hề có c hút động thái nào mà“chỉ ấm ớ giả câm giả điếc, cứ vui tràn khi viết khi ngâm” trước những thay đổi của cuộc đời
Các nhà Nho thị dân sống trong lòng một đô thị đang Âu hóa mạnh mẽ từlối sống cho đến văn tự rồi đến văn hóa Đó không phải là sự suy tàn của mộtnền văn hóa mà là sự chuyển đổi từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác Đây
là cái giai đoạn mà hệ giá trị văn hóa cũ suy tàn nhưng chưa chết hẳn, còn cácgiá trị mới, tuy đã xuất hiện nhưng chưa định hình Những nhà nho thị dân như
Trang 22Tú Xương rơi vào tâm điểm của sự lai căng, lắp ghép Nhưng họ chẳng làm gìhay đúng hơn là chẳng thể làm gì khác đi được, nên để mặc cho những điều mâuthuẫn trái ngược nhau kéo tuột mình đi.
Vì thế mà, mặc dù Tú Xương cũng đã vạch trần cái bản chất vô dụng, kém
cỏi của những “ông nghè, ông cống” qua cá dáng “nằm co”, qua cái dáng
“ngổng đầu rồng”… và cũng chính nhờ thái độ phủ nhận thực tại mà Tú Xương
đã “phát hiện” ra được sự tàn tạ của chữ Nho, phát hiện ra sự suy mạt của đạo
Nho:
“Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi”
( Than đạo học )
Nhưng Tú Xương vẫn không thể thoát ra khỏi nó một cách dứt khoátđược Ông Tú ta đây rõ ràng là chán ghét khoa cử bởi cái sự nhiễu nhương củatrường thi, ông coi thường những kẻ dùng tiền để đỗ đạt, vậy mà vì cái nợ tang
bồng của nhà Nho, khoa thi nào ông cũng “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” vác lều
chỏng mà đi thi Ông thương vợ, bản thân ông hiểu những sự hy sinh của vợ, ôngcoi vợ như một biểu tượng của các giá trị truyền thống nhưng nhiều khi ông vẫnông thoát được cái tư tưởng của nhà Nho mà giẫm đạp lên nhưng giá trị ấy Rồiông cũng ngưỡng mộ lắm cụ Phan Bội Châu đã dùng cái tâm của mình mà xuấtdương tìm đường cứu nước, nhưng lại chẳng hề có ý định xuất dương theo cụ.Xét ra, Tú Xương cũng được xem là một người ưu thời mẫn thế, nhưng lại chẳnglàm gì để thay đổi thời cuộc dù cho thấy được những bất ổn của nó Ông chọn
làm một kẻ vô tích sự “Bác này mới thực là vô tích, Sáng vác ô đi tối vác về”
Tú Xương như là một điển hình tiểu cho một kiểu hình nhà Nho mới, nhàNho thị dân Tuy cũng là nhà Nho đó, nhưng ở lớp nhà Nho cuối mùa này,
Trang 23phong vị Nho gia đã không còn nhiều Hơn thế, lại sống giữa sự nhiễu nhươngcủa thời cuộc, bất mãn đấy nhưng không làm gì cả, thương cảm đấy nhưng chỉbiết chấp nhận nó như một quy luật của lịch sử.
2.1.2 Kiểu hình người phụ nữ thị dân
Cảm hứng nhân văn về người phụ nữ là cảm hứng nhân loại mang tínhphổ quát, nhưng trong dòng chảy của thơ ca trung đại Việt Nam do những đặctính quy phạm trong sự cao nhã và phi ngã hóa mà cảm hứng này không có cơhội để phát triển thành một đề tài phổ biến mang ý thức cá nhân Dù cho trước
đó, hình ảnh của những “khách lầu hồng” hay “người chinh phụ” vẫn thường
xuất hiện nhiều trong thơ văn của các nhà Nho đời trước, nhưng những nhà Nhonày đều nhìn người phụ nữ dưới con mắt của kẻ bề trên thương xót cho thânphận của kẻ thấp hèn Người phụ nữ thời ấy, chưa được xuất hiện đường đườngchính chính là mình Họ xuất hiện chỉ với cái vẻ ngoài của người phụ nữ, nhưngcái nội tâm bên trong là tâm trạng của chủ thể trữ tình kí thác vào họ Và việccác nhà Nho đưa hình ảnh người phụ nữ vào trong thơ văn ngoài việc kí thác tâmtình của mình thì còn là để khẳng định khí tiết nhà Nho chứ họ chưa hề hướngđến việc để cho người phụ nữ bộc lộ trực tiếp nỗi đau của người phụ nữ Do vậy,
dù đã đạt được mức độ sâu lắng trong cảm hứng nhân văn, nhưng trước sau thìnhững người phụ này cũng chỉ dừng lại ở mức độ là những nhân vật chức năng
Đến với Tú Xương, những người phụ nữ thị dân lại được trực tiếp bướcvào trong thơ Đó là những con người có tên tuổi, có địa chỉ, tính cách cụ thể
Theo như Đoàn Hồng Nguyên trong luận án tiến sĩ “Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam” thì “Mảng thơ về người đàn bà chiếm một
vị trí đặc biệt và đã trở thành một đề tài, chủ đề nổi bật trong sáng tác của Tú Xương Bóng dáng nhi nữ đã hiện diện trong 68/134 tác phẩm chiếm tỉ lệ 50,7%.
Có 27 bài trong đó người phụ nữ là nhân vật trữ tình là đối tượng trữ tình chính
Trang 24của bài thơ ( tỉ lệ 39,7 % ) và bóng dáng người phụ nữ thấp thoáng trong 41 bài còn lại ( chiếm tỉ lệ 60,3% )” Như vậy có thể thấy, Tú Xương dành cho người
phụ nữ một vị trí vô cùng quan trọng trong thơ của mình
Những người phụ nữ xuất hiện trong thơ của Tú Xương là ai ? Đó có thể
là bà Tú, là em gái ông Tú, là những bà lái buôn, là cô đầu, cô Cáy Chợ Rồng, cô
Kí, là vợ bạn, là những cô gái lam đĩ, là cô đào, cô hầu, …… tất cả họ đêù làngười phụ nữ sinh sống tại vùng đất Vị Xuyên, Nam Định quê ông Tú Nhưng ởđây, Tú Xương có phần khác với những nhà Nho thời trước, nếu trước đây, bậcquân tử làm thơ để bày tỏ lòng cảm thương với những người phụ nữ đức hạnh thìông Tú có một sự phân biệt rạch ròi giữa những người phụ nữ có phẩm giá vànhững người phụ nữ không có phẩm giá Trong thơ ông, hai kiểu hình người phụ
nữ thành thị này tồn tại song song và ông chia sự quan tâm dành cho hai kiểuhình này là như nhau
Những người phụ nữ không có phẩm giá được Tú Xương đưa vào thơ củamình gồm đủ các thành phần, tầng lớp trong xã hội Đó là mụ Tuần Quang, là cô
Bố Cao, là cô Kí, là bà lái buôn, là “Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”… Đó là
những hạng đàn bà lăng loàn đĩ thõa, là những người phụ nữ thị dân hợm hĩnh,
bỏ mất nét đẹp văn hóa của người phụ nữ phương Đông, là con đẻ của xã hội thịdân tư sản buổi giao thời
Những người phụ nữ ấy, tuy khác nhau về địa vị, giai cấp nhưng tất cả đều
có một điểm chung là tính cách phô trương và chung một nỗi nhục cảm thèmmuốn bản năng Ta có thể bắt gặp hình ảnh của hai bà mệnh phụ phu nhân vợ
của quan Tuần, quan Bố “Đôi đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thõa bà nào cũng nhất” ( Kể lai lịch ), hay cô vợ hai của một thầy Kí trong bộ máy chính
quyền thực dân, là lũ me Tây, gái điếm, lái buôn, và là một lô một lốc những
người phụ nữ phố phường không tên khác: “Váy lĩnh cô kia quét sạch hè”, “
Trang 25Chí cha chí chát khua giầy dép, Đen thủi đen thui cũng lượt là” trong thơ của Tú
Xương Những người phụ nữ thị dân đỏm dáng ấy, tiếp thu cái mới chưa tới nên
mới có chuyện làm ra những điều lố bịch “dị dạng” về nhân cách.
Những người phụ nữ trong thơ Tú Xương được khắc họa một cách độcđáo, đầy ấn tượng và sinh động Có khi đó là những người phụ nữ đỏm dáng:
“Chí cha chí chát khua giầy dép, Đen thủi đen thui cũng lượt là….”
( Ngày xuân ngẫu hứng )
Hoặc cố sao cho thật sành điệu thành ra lại là lố bịch :
“Tháng rét quạt lông, Mùa hè bít tất.
Tráp tròn sơn đỏ, bà quyết theo trai…”
Nhưng đôi khi cũng nhố nhăng kệch cỡm:
“Váy lĩnh cô kia quét sạch hè”
( Năm mới)
Trang 26Thậm chí hết sức sỗ sàng:
“Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng, Thà rằng bạn quách với sư xong….
… Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng:
Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng!”
( Sư ông và mấy ả lên đồng)
Tuy nhiên, Tú Xương không phải lúc nào cũng ôm khư khư cái định kiến
về những người phụ nữa này, trong chừng mực nào đó,ông vẫn rất cảm thôngcho những người phụ nữ ấy
Còn khi nói về những kiểu phụ nữ thị dân đức hạnh, thì trước tiên ta phảinhắc tới bà Tú Mẫn, người vợ hết mực đảm đang của ông Tú Tú Xương dànhmột số lượng sáng tác khá lớn để viết về bà Tú, trong đó có một số bài lấy cảm
hứng trực tiếp từ bà như: Thương vợ, Đang ốm nghe vợ khấn cầu, Văn tế sống
vợ Tiếp đó, còn có không ít những bài mang bóng dáng bà Mẫn như : Tết dán câu đối, Phú thầy đồ dạy học, Phú hỏng thi, Thi hỏng , Đi thi, Than thân chưa đạt, Tự trào, Quan tại gia, Hỏi mình, Than cùng, Đau mắt Thậm chí
bóng dáng bà Tú còn hiện lên thấp thoáng trong cả bài thơ ông Tú viết cho người
tình ( Gửi cho cô Đào )
Trong thơ Tú Xương, bà Phạm Thị Mẫn hiện lên một cách cụ thể và vôcùng chân thật Hình ảnh người vợ hiện lên trong thơ Tú Xương là hình ảnh
“thân cò” vất vả lặn lội “khi quãng vắng” đầy thương cảm mang một ý nghĩatượng trưng: một người phụ nữ của công việc; người phụ nữ nhẫn nại, bao dung;người phụ nữa chịu thương chịu khó làm trọn cái đạo làm mẹ, làm vợ
Trang 27Tú Xương đã dồn tất cả yêu thương, sự trân trọng của mình giành cho vợvào hình ảnh “thân cò” đầy sáng tạo đó Bằng hình ảnh “thân cò” ấy, Tú Xươngcòn tả lại được nỗi đau thân phận của một người đàn bà đức hạnh, một người vợ,người mẹ mẫu mực, hết long thương yêu chồng con, lo toan cho gia đình TúXương thương vợ, thương cái gánh gia đình mà đáng đấng trượng phu như ôngphải gánh chứ không phải là người phụ nữ “chân yếu tay mềm” như bà Tú Ông
Tú hiểu vợ, thương vợ nhưng ông chưa thể dứt hẳn những qui phạm trói buộccủa một nhà Nho mà gánh giúp bà Tú, thế nên ông tự trách bản thân mình kémcỏi để đến nỗi người phụ nữa phải chịu bao cay đắng, truân chuyên
Yêu thương vợ để rồ tự trách mình vô dụng, tự dằn vặt bản thân mình, TúXương chê trách cả một tầng lớp nhà Nho vô dụng, ích kỉ, vô trách nhiệm; đãphá mạnh mẽ vào quan niệm gia trưởng đã ăn sâu thành hệ thống trong tâm thứccon người phong kiến và vào trật tự xã hội phong kiến lỗi thời, hủ lậu Cảm hứngthương vợ ấy chưa bao giờ xuất hiện trong thơ ca nhà Nho trước, cũng thời vàsau Tú Xương
Người vợ - người phụ nữ thị dân mà Tú Xương khắc họa không chỉ biết cólao động, người phụ nữ ấy còn có cả tâm hồn rất “hạnh”:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa dám quản công.”
( Thương vợ )
Ở đây, ông Tú “tả thực” nỗi trăn trở dằn vặt của vợ Cuộc sống nhiều vất
vả, chuyện mưu sinh lắm nỗi lo toan, người phụ nữ dù có giỏi giang đến mấy thìcũng có những lúc yếu lòng mà hờn trách số phận Bà Tú cũng vậy, những lúcmệt mỏi bà cũng buông những lời than để khuây khỏa bớt Đó là lời của bà Tú,
là tiếng kêu thương đầy ý thức về nỗi khổ nhọc mà bà, và những người phụ nữ
Trang 28khác phải vác Bà Tú tự ý thức rõ những trách nhiệm mà bà phải gánh, hiểu đượcbổn phận của mình với chồng con, cho nên dù cho có khổ nhọc đến mấy thì bà
Tú cũng “đành phận”
Bà Tú không những là một người phu nữ đảm đang mà còn nhiều khi rấttâm lí Bà biết chồng bà lăng nhăng, nhưng bà vẫn bỏ qua cho ông khi ông chịuhối lỗi “Dại mà nhờ vợ làm ngơ” ( Gửi cho cô đào ) Xét ra dễ thấy bà Tú là mộtngười phụ nữ vô cùng khôn khéo trong việc giữ lửa cho gia đình
Bà Tú là như vậy, nên một ông chồng vốn cũng biết đến chốn “lầu xanh”,
“lầu vàng” như ông Tú đây cũng yêu thương hết mực Tú Xương giành chongười vợ của mình
Như vậy cùng với sự xuất hiện của những giai tầng mới, những yếu tố mớitrong xã hội thì qua điểm của Nho gia về xã hội cũng thay đổi và nhất là vớingười phụ nữa Nếu như thời trước, các nhà Nho tự đặt mình ở vị trí cao mà nhìnxuống cảm thương cho những người phụ nữ thì đến Tú Xương, ông đã đến đứngbên cạnh những người phụ nữu ấy để nhìn họ thật rõ nét, để có thể vừa cườinhững cũng vừa thương những người phụ nữ vô hạnh; để có thể vừa nể, vừathương những người phụ nữ đức hạnh
2.1.3 Kiểu hình con người phố phường
Những thị dân Thành Nam trong thơ Tú Xương được cụ thể hóa quanhững nhân vật - con người phố phường Nhân vật con người phố phường củaông Tú khá đa dạng với đủ các hạng người, gồm đủ mọi tầng lớp Hầu như tất cảcác cư dân thành Nam từ các quan to, quan nhỏ, các thầy thông, thầy kí côngchức tay sai của Pháp; các nhà Nho - những ông nghè, ông cử, ông tú; những thịdân mới phất, giàu xổi, hợm hĩnh, những thị dân bần cùng, … Đều đã đưuọc TúXương “lôi tuột” vào thơ và đều đã thành những nhân vật của thi ca với vóc
Trang 29dáng, hình hài, tính cách đầy góc cạnh và đầy ấn tượng Nói như Xuân Diệu:
“Tú Xương có la liệt một cái hành lang treo tranh bày tượng, tranh tượng những
kẻ rởm đời, những người gian xấu, những danh giá hão, những giá trị vờ.” Chính cái sự lố nhố “la liệt tranh tượng” ấy đã tạo nên dáng vẻ đa dạng cho hình
tượng con người thị dân trong thơ Tú Xương, làm nên một nét riêng so với cáckiểu hình tượng con người phổ biến trong thơ ca trung đại và các nhà Nho
Là con đẻ của xã hội thị dân, là con người phố phường không có lí tưởngnhưng những con người thị dân trong thơ Tú Xương luôn vùng vẫy để vượt rakhỏi những khuôn khổ, những ràng buộc và tự khẳng định bản ngã bằn thái độ
đả phá, phủ nhận Do vậy mà những giá trị tinh thần truyền thống, những chuẩnmực, những khuôn phép của lễ giáo phong kiến đều trở nên vô nghĩa lí, vô giá trịtrong cảm nhận con người phố phường của Tú Xương
Không chỉ phát hiện ra bản chất “Khác chi thằng hề” của vua chúa và quan lại lúc bấy giờ qua cái “mặt bôi vôi” của “Phường hát tuồng”, con người
trong thơ còn phát hiện ra cái vô gái trị của nhà nước phong kiến qua sự bộc lộ
cảm nhận về gái trị của đồng tiền có “chữ đê Tự Đức vẫn còn nguyên” ( Bắt được đồng tiền) Xem nhà vua – bậc thiên tử con Trời, là vô giá trị, con người ấy còn xem thường luôn cả ông trời, nên “Lúc túng toan lên bán cả trời” ( Tự trào ) Nhiều lần Tú Xương đã tỏ bất bình với tạo hóa khi “Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ!” ( Đau mắt) Bế tắc trước cuộc đời, con người ấy đã “bắc thang lên hỏi ông Trời” ( Hỏi ông trời ) Không lấy được người mình yêu, lại cũng
“Bắc thang lên hỏi sổ Thiên Tào” ( Gửi cho cố nhân ) Bị xem thường nên ông trời cũng nhiều khi hiềm thù nhỏ nhặt như con người : “Trời làm cho bõ tức lúc chơi ngông” ( Mùa nực mặc áo bông); bị bỡn cợt, bị xem là “thằng bé con”