Trang CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHẬT BẢN 1.2 Thực trạng phát triển du lịch Nhật Bản trước năm 2012 10 CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NHẬT BẢN 2.2 Các chiến
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA – VŨNG TÀU VIỆN NGÔN NGỮ - VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
ĐỀ TÀI
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3Trang
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHẬT BẢN
1.2 Thực trạng phát triển du lịch Nhật Bản trước năm 2012 10
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NHẬT BẢN
2.2 Các chiến lược và chính sách phụ trợ cho phát triển du lịch của Nhật 34
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GỢI Ý CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT
3.1 Tổng quan về ngành du lịch và các chính sách phát triển du lịch Việt Nam
49
Trang 4KẾT LUẬN 60
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nhiều nét đặc thù và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC), năm 2016, du lịch và lữ hành toàn cầu đóng góp trực tiếp vào GDP hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương 3,1%), trực tiếp tạo ra gần 109 triệu việc làm (chiếm 3,6% tổng việc làm trên toàn thế giới)
Dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) cũng cho thấy du lịch sẽ tăng trưởng trên phạm vi toàn cầu, lượng khách du lịch quốc tế đạt khoảng 1,8 tỷ lượt người vào năm 2030, trong đó khi vực Đông Nam Á sẽ trở thành một trong những khu vực thu hút lớn lượng khách du lịch quốc tế
Tại Việt Nam, từ những năm 1960 ngành du lịch đã ra đời và ngày càng
có những bước phát triển đáng kể Đặc biệt, năm 2016, du lịch Việt Nam đã ghi dấu ấn khi lần đầu tiên đón hơn 10 triệu lượt khách quốc tế (tăng 26%) Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (Ban hành theo Quyết định 2473/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) cũng xác định mục tiêu tổng quát của ngành du lịch Việt Nam là đến năm 2020 du lịch
cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển với tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020
Nhận thức được tầm quan trọng, tính thời sự của vấn đề này cũng như những hiệu quả của việc học hỏi kinh nghiệm phát triển du lịch của Nhật Bản – quốc gia được xác định là một trong những điểm đến hàng đầu ở khu vực Châu Á, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Chính sách phát triển
du lịch của Nhật Bản và một số gợi ý cho phát triển du lịch Việt Nam hiện nay”
Trang 61 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước và trong những năm đầu của thế kỉ XXI, du lịch chưa bao giờ được đánh giá là một ngành kinh tế phát triển, có ảnh hưởng to lớn đến cán cân thương mại và kinh tế của Nhật Bản Tuy nhiên, từ sau năm 2012 đến nay thì du lịch lại được xem là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng thần kì khi lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản ngày càng gia tăng, Nhật Bản trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất ở khu vực Châu Á Điều gì đã tạo nên sự phát triển mạnh cho ngành du lịch Nhật Bản? Chúng ta có thể vận dụng những kinh nghiệm nào của Nhật Bản để phát triển du lịch Việt Nam? Các câu hỏi trên đã thôi thúc chúng tôi đến với đề tài này Trong quá trình xây dựng các giả thiết cho đề tài, chúng tôi thấy du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp và mang nhiều nét đặc thù Đây là đề tài luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả, cơ quan và ban ngành liên quan
Tại Việt Nam, trong nhiều năm qua Viện Nghiên cứu phát triển du lịch
đã liên tục công bố nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như
“Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam”, "Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du lịch thể thao – mạo hiểm vùng núi phía Bắc", "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn cho khách
du lịch tại Việt Nam", "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du lịch", "Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du lịch quốc tế trọng điểm", "Cơ sở khoa học xây dựng hệ thống tiêu chí môi trường cho hoạt động
du lịch biển ở Việt Nam", "Hiện trạng và một số giải pháp bảo vệ môi trường
du lịch Việt Nam", "Cơ sở khoa học tổ chức các loại hình vui chơi giải trí trong khu du lịch khu vực Hà Nội và phụ cận" Đây là những đề tài nghiên
Trang 7cứu khoa học cấp Bộ và hầu hết đề cập đến các giải pháp xây dựng khu du lịch, phát triển sản phẩm du lịch, đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch Bên cạnh đó còn có nhiều luận án, công trình nghiên cứu cá nhân phân tích về du lịch quốc tế và du lịch Việt Nam trên nhiều bình diện khác nhau
như: “Các giải pháp tài chính nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2010” của Chu Văn Yêm – Học viện Tài Chính (2004) đã phân tích khách
quan về du lịch Việt Nam và tập trung vào việc đề xuất các giải pháp về tài chính nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch Việt Nam
đến năm 2010 hoặc “Một số vấn đề về tổ chức và quản lý các hoạt động kinh
doanh du lịch quốc tế ở Việt Nam” của Trịnh Xuân Dũng – Đại học Kinh tế
Quốc Dân (1989) trình bày một cách có hệ thống các nội dung, đặc điểm, vị trí, vai trò của du lịch quốc tế, các yếu tố khách quan thúc đẩy sự phát triển du lịch trên thế giới và khu vực, qua đó tác giả còn đưa ra những cơ sở khoa học
về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế, hoặc “Hoàn thiện
quản lý Nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam” của Hồ
Đức Phước – Đại học Kinh tế Quốc Dân (2009) đã đánh giá được thực trạng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực cở sở hạ tầng và sự phát triển cơ sở hạ tầng tại các đô thị du lịch Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp
Riêng đề tài nghiên cứu liên quan đến du lịch Nhật Bản thì lại rất ít, có
thể kể ra một vài ví dụ như "Nghiên cứu và đánh giá một số đặc điểm của thị
trường Nhật Bản và Trung Quốc nhằm phát triển nguồn khách của du lịch Việt Nam" (Đề tài NCKH cấp Bộ), “Đẩy mạnh thu hút khách du lịch Nhật Bản đến Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015” (Đề án, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch), “Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở Nhật Bản và một số gợi
ý cho ngành du lịch Việt Nam” (Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu
văn hóa, Số 22, Tháng 12/2017)
Trang 8Tại các quốc gia khác trên thế giới, du lịch Nhật Bản được nghiên cứu
khá có hệ thống, có thể kể đến một số công trình sau: “Substainable tourism
development and Japan policies” (Khaled Alduais, Mejiro University, Tokyo,
Japan, August 2009), “Contemporary problems in Japan’s rural areas and
opportunities for developing rural tourism: a case of Yamashiro district in Yamaguchi prefecture” (Ni Made Sofia Wijaya, Journal of East Asian Studies,
No 11, March 2013), “New tourism strategy to invigorate the Japanese
economy” (Meeting of the Council for a tourism vision to support the future
of Japan, March 2016), “Japanese travel culture: an investigation of the links
between early Japanese pilgrimage and modern Japanese travel behavior”
(Leah Watkins, New Zealand Journal of Asian Studies, No.10, December 2008)
Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, với tư duy khoa học độc lập và tiếp cận vấn đề trên cách nhìn mới
2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Mục tiêu của đề tài
Trong bối cảnh của Cách mạng Công nghiệp 4.0, nhiều quốc gia hướng đến chính sách du lịch để bảo tồn tốt hơn môi trường tự nhiên - văn hoá của mình, và phân phối đồng đều hơn các lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địa phương, trong đó có Nhật Bản Mục tiêu của đề tài này là nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm phát triển du lịch của Nhật Bản qua các chính sách cụ thể, từ đó chọn lọc các chính sách phù hợp và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Về những vấn đề phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương
pháp thu thập và xử lý số liệu kết hợp chặt chẽ với phương pháp so sánh tổng hợp, thể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:
+ Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: đây là phương pháp giúp nhận
rõ những thông tin cần thiết để thành lập ngân hàng dữ liệu cho đề tài Tuy nhiên, vì thông tin về đối tượng nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên chúng tôi phải phân loại, so sánh và chọn lọc những thông tin
có giá trị nhất để sử dụng trong bài viết
+ Phương pháp so sánh tổng hợp: đây là phương pháp giúp định hướng được tính tương quan giữa các yếu tố, từ đó thấy được hiện trạng và sự ảnh hưởng của các yếu tố tới việc phát triển du lịch tại nơi đang nghiên cứu - Nhật Bản Việc so sánh tổng hợp các thông tin và số liệu đã thu thập sẽ giúp chúng tôi hệ thống được một cách khoa học những thông tin số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn Đây là phương pháp giúp chúng tôi thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề xuất các định hướng phát triển cho du lịch Việt Nam
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính như sau:
+ Thực trạng phát triển du lịch Nhật Bản trước năm 2012
+ Chính sách phát triển du lịch của Nhật Bản (2012 – nay)
+ Một số gợi ý cho phát triển du lịch Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
NHẬT BẢN TRƯỚC NĂM 2012
Trang 111.1 Giới thiệu chung về Nhật Bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Địa hình Nhật Bản đa dạng, với diện tích đồi núi chiếm 72% tổng diện tích lãnh thổ, trong đó ngọn núi cao nhất và chiếm vị trí quan trọng nhất trong tâm thức người dân Nhật Bản là núi Phú Sỹ với chiều cao 3776m nằm trên đảo Honshu Núi lửa là một đặc điểm tự nhiên nổi bật ở đất nước này với tổng
số lượng khoảng 200 ngọn Bản thân núi Phú Sỹ cũng là một núi lửa đã tắt mà những nhà nghiên cứu gần đây cho rằng vẫn có khả năng hoạt động trở lại
Do núi non chiếm phần lớn diện tích nên Nhật Bản là một vùng đất không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Đồng bằng ở đây có diện tích hẹp
và bị những mạch núi cắt xẻ thành nhiều mảnh nhỏ Tổng diện tích đất canh tác trên toàn đất nước Nhật Bản chỉ khoảng 25 triệu ha Do vậy người Nhật
Trang 12thường trồng lúa trên những sườn đồi bằng cách tạo ra những thửa ruộng bậc thang Sông ít và ngắn cũng là một bất lợi cho kinh tế nông nghiệp
Do vị trí nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương nên Nhật Bản cũng là nơi thường xuyên xảy ra động đất và sóng thần Mỗi năm ở đất nước này có hàng trăm dư chấn, và thỉnh thoảng lại có những trận động đất lớn gây tổn thất nặng nề
Là một đất nước hải đảo nên Nhật Bản có đến gần 37000km bờ biển Biển được xem là sự nối dài cánh tay cho người Nhật về nhiều mặt hướng ra thế giới Lịch sử phát triển của đất nước này đã chứng minh khuynh hướng tận dụng ưu thế biển của người Nhật
Khí hậu
Vì là một quần đảo có dạng vòng cung hẹp và dài nên Nhật Bản cũng đa dạng về khí hậu Do địa thế và lãnh thổ trải dài 25 vĩ độ, Nhật Bản cũng có sự khác nhau về đặc điểm khí hậu giữa các vùng miền trong nước Tại miền bắc của đảo Hokkaido, mùa hè ngắn nhất, mùa đông dài với tuyết rơi nhiều; trong khi đó, đảo Okinawa có khí hậu bán nhiệt đới; và do ở gần lục địa châu Á, Nhật Bản cũng chịu các ảnh hưởng thời tiết của lục địa này Vào mùa đông từ tháng 12 tới tháng 2, gió lạnh và khô của miền Siberia thổi về hướng Nhật Bản, đã gặp không khí ẩm và nóng của Thái Bình Dương, tạo ra các trận tuyết lớn trên các phần đất phía tây Miền đông của Nhật Bản ít bị tuyết hơn nhưng cũng rất lạnh Sự đa dạng của các đới khí hậu trên đất nước Nhật Bản đã tạo nên những sắc màu thiên nhiên phong phú và gợi cảm: màu trắng của tuyết, màu đỏ và xanh của lá cây, màu hồng của hoa anh đào và rất nhiều màu hoa khác
Mùa mưa ở Nhật Bản thường bắt đầu vào tháng 6 và lượng mưa lớn nhất tập trung trong vòng 6 tuần Ở đảo Okinawa, do sự tách biệt về vị trí địa lý
Trang 13nên mùa mưa đến sớm hơn, vào khoảng tháng 5.Do khí hậu nhiệt đới và diện tích đồi núi chiếm phần lớn đất đai nên ở Nhật Bản phát triển nhiều hệ sinh thái rừng như rừng mưa nhiệt đới, rừng hỗn hợp, rừng ôn đới lá rụng và rừng
ôn đới lá kim phân bố trên cả nước
Tài nguyên khoáng sản
Nhật Bản lại là đất nước nghèo tài nguyên khoáng sản, nhiều nhất là than nhưng chất lượng thấp, có trữ lượng khoảng 21 triệu tấn và tập trung nhiều ở Hokkaido Bên cạnh đó là một trữ lượng dầu mỏ nhỏ, nằm trên bờ biển tây bắc đảo Honshu, Hokkaido và một số mỏ quặng sắt, phi kim loại nhưng trữ lượng không đáng kể
1.1.2 Đặc điểm dân cư và kinh tế
Từ thời kỳ đồ đá (khoảng 10 vạn năm đến 1 vạn năm cách ngày nay) đã
có con người xuất hiện trên quần đảo Nhật Bản Trải qua quá trình hỗn huyết lâu dài giữa người Ainu tiền trú và các sắc dân di cư đến quần đảo này từ nhiều hướng khác nhau (Đông Á, Nam Đảo, Triều Tiên, …) đã hình thành nên “người Nhật Bản” và ổn định cho đến ngày hôm nay
Theo số liệu thống kê công bố ngày 12/8/2018, dân số của Nhật Bản có khoảng 127,1 triệu người, đứng vị trí 11 trên thế giới Hiện nay, Nhật Bản là đất nước có tỷ lệ dân số già hóa cao trên thế giới Tốc độ tăng trưởng dân số cũng ngày càng chậm lại, chính phủ Nhật Bản đang có những chính sách khuyến khích nhằm gia tăng dân số để cải thiện cơ cấu dân số trong tương lai
Về kinh tế, Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển, đứng thứ
ba trên thế giới (sau Mỹ và Trung Quốc), trong đó khu vực dịch vụ đóng góp hơn 70% GDP của cả nước gồm dịch vụ bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bất động sản và các hoạt động chuyên môn, khoa học và kỹ thuật Với tầm quan trọng ngày càng giảm của các ngành nông nghiệp và khai khoáng (đóng góp ít hơn
Trang 141% vào GDP), thì ngành sản xuất và xây dựng chiếm phần còn lại của GDP Thiết bị vận tải, thực phẩm và đồ uống là những ngành sản xuất chính của Nhật Bản Đặc biệt, du lịch được xem là một trong những điểm sáng của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm gần đây, có vai trò thúc đẩy nhiều hoạt động kinh tế khác
1 2 Thực trạng phát triển du lịch Nhật Bản trước năm 2012
1.2.1Du lịch Nhật Bản trước thời Tokugawa
Từ những ngày đầu lập quốc cho đến trước thời Tokugawa, du lịch ở Nhật Bản được ghi nhận theo ba xu hướng chính: lưu trú, ăn uống và giao thông
Bên cạnh thể loại du lịch phát triển nhất là du lịch công vụ (dành cho các tầng lớp quý tộc, quan lại) thì còn có một thể loại du lịch nữa được phát triển rộng hơn cho các tầng lớp dân thường là du lịch tôn giáo Đa số các chuyến đi của người dân Nhật Bản trước thời Tokugawa đều liên quan đến “nghĩa vụ tôn giáo” và các hoạt động tôn giáo
Sau quá trình va chạm với tôn giáo bản địa (Thần đạo1) trong thời kì đầu
du nhập ở thế kỉ VI, Phật giáo được chấp nhận ở Nhật Bản trong mối quan hệ tương hỗ như sau: Nhà nước phong kiến Nhật Bản cần đến một triết lý có hệ thống làm điểm tựa cho quá trình thống nhất quốc gia và phát triển đất nước; ngược lại Phật giáo cũng tiếp thu yếu tố bản địa, chẳng hạn như Đức Phật ở Nhật Bản được thờ cúng như các vị thần linh vốn là đối tượng sùng bái của Thần đạo Do vậy, trong các thế kỉ VII và VIII, Phật giáo đã được lan truyền tại Nhật Bản Về phương diện liên quan đến phát triển du lịch, Phật giáo thời
1
Thần đạo là niềm tin truyền thống của người Nhật vào thế giới thần linh có tác động đến đời sống con người
và niềm tin vào nguồn gốc thần thánh của dân tộc Họ thể hiện niềm tin đó qua việc sùng bái Thiên hoàng là người đại diện của Hoàng gia và đứng đầu nhà nước Nhật Bản thời cổ đại
Trang 15bấy giờ được xem là “mục tiêu” và “phương tiện” cho những chuyến đi Vào thế kỉ X, các chùa chiền Phật giáo và đền thờ Thần đạo đều tổ chức những chuyến “hành hương” cho các tín đồ của họ trong đó có 2 địa danh nổi bật suốt thời kì Heian (794 – 1185) là Koyasan2 và Kumano3 Theo ước tính, mỗi chuyến đi khứ hồi từ thủ đô Kyoto đến Kumano mất khoảng một tháng với hơn 600 km và người ta thường tổ chức đoàn hành hương lên đến 1000 người cho mỗi chuyến đi
Bên cạnh các loại hình du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, nhà nghiên cứu Shuzo Ishimori cho rằng loại hình du lịch nghỉ ngơi giải trí và du lịch chữa bệnh đã ra đời từ nửa sau thế kỉ thứ VII Cũng giống như các dân tộc khác ở Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Do Thái, ), người Nhật Bản từ cổ xưa đã biết
sử dụng nước khoáng để chữa bệnh Trong thời kì trị vì của mình, Thiên hoàng Jito4 tổ chức hơn 30 chuyến đi đến biệt thự nghỉ dưỡng của Hoàng gia tại Yoshino và những chuyến đi khác đến các khu suối nước nóng như Arina (Kobe)5 [7, 179 - 194]
2
Koyasan là khu vực nằm ở phía Nam tỉnh Wakayama, bao gồm thành phố Kusumoto và Ito-gun Khu vực này có các địa điểm tham quan nổi bật như: Chùa Sohonzan Kongobu-ji là ngôi chùa đứng đầu của đạo Shingonshu vùng Koyasan, Chùa Danjo Garan là thánh địa của Mật tông Phật giáo Shingon Ngoài ra, còn
có Chùa KoyasanOkuno-in - tương truyền là nơi nhập quan tu hành của nhà sư Kuhai - người đã giảng đạo Shingonshu ở Nhật Bản và lập ra tín ngưỡng thờ núi Koyasan
3 Kumano là địa danh chỉ vùng đất phía nam bán đảo Kii thuộc tỉnh Wakayama và tỉnh Mie hiện tại Trong
đó, cổ đạo Kumano Kodo được xem là con đường hành hương nổi tiếng nhất Nhật Bản Kumano Kodo được hình thành từ năm 907 và trở thành con đường “hành hương” của người dân đến Đền Kumano-Hongu-taisha, Đền Kumano-Nachi-taisha, và đền Kumano-Hayatama-taisha (3 đền thờ lớn nhất Kumano)
4
Thiên hoàng Jito (持統天皇 645 - 702) là Thiên hoàng đời thứ 41 của Nhật Bản trị vì từ năm 690 đến năm
697 Ngoài việc trị quốc, Thiên hoàng Jito còn nổi tiếng là một nữ thi sĩ Một trong những bài thơ do bà viết
đã được nhà thơ, nhà phê bình Fujiwara No Teika (1162-1241) chọn để đưa vào tuyển tập rất phổ biến
“Hyakunin Isshu” (百人一首) của Nhật Bản Đây là dạng tuyển tập “Thơ trăm nhà” (Một trăm bài thơ của một trăm thi sĩ)
5
Suối nước nóng Arima là một trong những khu suối nước nóng cổ nhất Nhật Bản, nằm ở Kita, thành phố Kobe, tỉnh Hyogo Nó có lịch sử lâu đời, được ghi chép trong Nhật Bản Thư Kỷ, một tài liệu lịch sử được hình thành từ thời Nara Theo tài liệu này, vào năm 631, Thiên Hoàng Jomei đã ngự tại Suối nước nóng Arima trong vòng 3 tháng Ngoài ra, trong tác phẩm Chẩm Thảo Tử "Makura No Soshi" của Seishō Nagon cũng có đề cập đến khu nước nóng nổi tiếng này Toyotomi Hideyoshi cũng đã từng đến thăm nơi đây, và ủng hộ rất nhiều tiền khi khu suối nước nóng Arima bị phá hủy bởi trận động đất lớn Keicho Fushimi xảy ra
1596
Trang 16Tóm lại, trước khi chế độ Mạc phủ Tokugawa ra đời, ở Nhật đã tồn tại nhiều loại hình du lịch khác nhau để phục vụ cho các nhu cầu chính như nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, chữa bệnh và tôn giáo
1.2.2 Du lịch Nhật Bản thời kì Tokugawa (1600 – 1867)
Thời kì Tokugawa là thời kì có những diễn trình lịch sử hết sức đa dạng
và phức tạp Thể chế chính trị mà dòng họ Tokugawa xây dựng dựa trên nền tảng là mối quan hệ giữa Bakufu (Mạc phủ) ở trung ương và khoảng hơn 250 lãnh chúa (daimyo) ở các phiên (các “han” - lãnh địa của daimyo) nên được gọi là Bakuhan Taisei (幕藩体制) hay là Mạc phiên thể chế Nó bao gồm hai guồng máy chính là: chính quyền ở trung ương dưới sự điều hành trực triếp của Tướng quân (shogun) và chính quyền tự trị của các lãnh chúa ở các phiên, tuy nhiên Mạc phủ có quyền thủ tiêu, sáp nhập và chuyển đổi các phiên Có thể nói, đây là thời kỳ mà chính quyền trung ương đạt được sự quản chế tương đối thống nhất bao trùm toàn bộ lãnh thổ, nhưng cũng là thời kỳ trỗi dậy của các phiên (han) tập trung ở vùng tây nam; cơ sở kinh tế của thời kì này chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng chứa đựng nhiều nhân tố phát triển của kinh tế hàng hoá với sự giao lưu giữa các trung tâm thương mại trong nước và quốc tế; là thời kỳ mà chính quyền trung ương cố gắng duy trì trật tự xã hội bằng hệ thống giáo lý Nho giáo, đề cao Shinto giáo,
và cũng là thời kỳ xuất hiện khuynh hướng tư tưởng và trường phái học thuật mới như: Quốc học, Hà Lan học…
Dưới thời Mạc phủ Tokugawa, chính sách “luân phiên trình diện” (sankin-kōtai (参勤交代) ) được xem là phương tiện để Mạc phủ Tokugawa thâu tóm quyền lực về chính trị, kiểm soát hoạt động của các lãnh chúa đồng thời qua đó khẳng định lòng trung thành của các daimyo với tướng quân Mạc phủ Tokugawa đã xác lập được sự “cân bằng” tương đối về quyền lực chính
Trang 17trị giữa chính quyền trung ương với các lãnh chúa địa phương để rồi từ đó xây dựng nên mối quan hệ “tôn chủ – bồi thần” rất điển hình ở Nhật Bản Theo quy định của chính sách này, mỗi lãnh chúa phải sống ở cả các phiên của mình lẫn hiện diện ở Edo theo niên lệ cứ cách một năm phải lưu lại kinh đô Edo một năm và khi họ không có mặt ở Edo thì họ phải để lại gia đình mình làm con tin cho đến khi trở về
Về phương diện phát triển du lịch, chính sách “luân phiên trình diện” đã tạo ra một dòng di chuyển lớn cho loại hình du lịch công vụ khi cứ mỗi năm
có khoảng 300 lãnh chúa và các đoàn tùy tùng luân phiên đi – về giữa Edo và các phiên
Để đáp ứng cho nhu cầu đi lại với số lượng lớn như trên, hệ thống đường
xá dưới thời Edo được đầu tư xây dựng khá quy mô với 5 tuyến đường lớn (gokaido -五街道) đều xuất phát từ Nihonbashi và đi đến các phiên, bao gồm: Tokaido, Nakasendo, Nikko kaido, Oshu kaido và Koshu kaido Trong đó, Tokaido được xem là tuyến đường quan trọng nhất và có mật độ lưu thông cao nhất Nhật Bản và Nihonbashi được coi là đầu mối giao thông, trung tâm thương nghiệp của Edo nói riêng và Nhật Bản nói chung
Trang 18Hình 1.1: Gokaido ở thời kì Tokugawa [15]
Bên cạnh đó, để tiện việc đón tiếp khi các lãnh chúa về Edo, chính quyền Tokugawa đã cho xây dựng các “quán sứ” trên các trục đường lớn dẫn đến Edo như: Shinagawa trên đường Tokaido, Itabashi trên đường Nakasendo và Senju trên đường Oshu dochu
Ngoài các “quán sứ” thì chính quyền Tokugawa còn cho xây dựng trên
cả 5 tuyến đường 248 trạm nghỉ (shuku eki hay shukuba machi) cho các đoàn sankin và công chúng (tính đến năm 1635) Mục tiêu của việc lập thêm những trạm mới này là để giảm bớt khoảng cách giữa các trạm cũ (ví dụ như trên tuyến Tokaido việc lập trạm Totsuka - năm 1604 là để giảm bớt khoảng cách 16km giữa Hodogaya và Fujisawa, trạm Kawasaki - năm 1623 để giảm 20km giữa Shinagawa và Kanagawa) Khoảng cách giữa các trạm thường từ 4 đến
Trang 1912km Các trạm nghỉ này đều có chung chức năng là phục vụ nhu cầu của người qua lại như nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ đi lại, thông tin, trạm ngựa, và buôn bán những vật phẩm thiết yếu cùng với các đặc sản địa phương Cấu trúc chung của các trạm nghỉ này thường có một nhà nghỉ chính (honjin) để đón tiếp các lãnh chúa và võ sĩ cao cấp, một số nhà nghỉ khác (waki-honjin) để đón tuỳ tùng, và lữ quán (hatagoya) chuyên phục vụ khách vãng lai Theo Constantine N Vaporis thì 4 loại trạm nghỉ được xây dựng vào thời kì này [4, 64]:
+ Trạm núi: chủ yếu là nơi dừng chân trên đỉnh đèo;
+ Trạm nông thôn: ở vùng đồng bằng nhưng tương đối xa vắng;
gia (ban hành năm 1635) thì: “Đường, ngựa trạm, cầu phà phải được quan
tâm và bảo đảm hoạt động thường xuyên Luật nghiêm cấm bất cứ một hành
vi thiếu trách nhiệm hay cản trở nào” [5, 208] Tuy nhiên, chính quyền Mạc
phủ và chính quyền các địa phương chỉ bảo đảm cho sự thông suốt của hệ thống giao thông, tạo điều kiện cung cấp dịch vụ còn việc sử dụng và chi phí cho các dịch vụ đó là trách nhiệm của các đoàn sankin cùng lữ khách
Trang 20Vì lí do an ninh và kinh tế, đối với các lãnh chúa sống tại những khu vực tương đối tách biệt với Honshu, Mạc phủ cho phép các lãnh chúa đó có thể đi theo những tuyến đường biển ngắn nhưng sau đó phải nhập vào hệ thống đường bộ và tuân thủ nguyên tắc của hệ thống này Mặt khác, tất cả các đoàn sankin hay khách lữ hành đơn lẻ đều phải xuất trình giấy phép đi lại do chính quyền Mạc phủ hoặc cơ sở quản lý cấp Loại giấy phép này có tên là “sekisho tegata”, được sử dụng khi đi qua các trạm kiểm soát lớn, trên mỗi giấy phép đều ghi rõ tên người được phép đi lại (trong một số trường hợp là số người đi theo) và thời hạn sử dụng Ngoài ra, chính quyền các lãnh địa, chính quyền cấp làng, đại diện trạm lưu trú, chủ nhà nghỉ và một số cơ sở tôn giáo cũng có thẩm quyền cấp giấy phép có tên là “orai tegata”, nhưng loại giấy phép này chỉ có thể sử dụng trong một phạm vi nhất định
Các trạm dừng nghỉ trên đã tạo ra một khối lượng lớn việc làm cho người dân như trên tuyến Tokaido, đặc biệt là các trạm lớn (Fuchu, Kuwana, Okazaki, Hamamatsu, Odawara, Numazu, Yoshida, Kakegawa và Kameyama…) - nơi dừng chân chủ yếu của các lãnh chúa thì mỗi trạm thường có đội ngũ phục vụ và cung cấp dịch vụ khoảng 3.000-4.000 người Ngoài chính sách “luân phiên trình diện” của chính quyền Tokugawa thì các cuộc hành hương tôn giáo thời kì này cũng góp phần đáng kể đến phát triển du lịch:
+ Thần đạo: hành trình đi viếng Thần Cung Ise6 (Okage Mairi -お蔭参り) được xem là lớn nhất và nổi tiếng nhất ở thời Tokugawa Theo thống kê, trong suốt thời kì Tokugawa, người ta đã tổ chức 3 cuộc hành hương viếng
6
Thần cung Ise (Ise-jingū 伊勢神宮) là một quần thể đền thờ được xây dựng giữa khu rừng bao phủ gần 1/3 diện tích Ise, gần sông Isuzu và Shimaji (Tỉnh Mie) Thần cung Ise gồm hai khu đền chính: Naikū (内宮) và Gekū (外宮) Theo phong tục, Naikū và Gekū được xây dựng lại mỗi 20 năm một lần vào một dịp lễ gọi là Shikinen Sengu Mỗi lần xây kéo dài 8 năm với rất nhiều lễ nghi đi kèm Theo đó, kiến trúc ngôi đền tuy được giữ nguyên vẹn như ban đầu, nhưng những ngôi đền sau khi dựng lại không được coi là những bản sao
mà là những ngôi đền được tái tạo lại Nó thể hiện quan điểm của Thần đạo về sự sống và cái chết, sự tái sinh
Trang 21Thần cung Ise, cứ cách khoảng 60 năm một lần (1705, 1771 and 1830) và thu hút hơn 2,5 triệu người cho mỗi cuộc hành trình Đặc biệt, ở cuộc hành hương đầu tiên được tổ chức vào năm 1705, người ta đã thống kê có hơn 33.000 khách lữ hành đi từ Edo qua trạm Hakone mỗi ngày [4, 64.], còn tổng số lượng người tham gia cuộc hành hương lên đến con số 3,62 triệu người [6] + Phật giáo: có 3 loại hình hành hương chính là Honzon Junrei (Hành hương về một ngôi chùa nhất định), Soshi junrei (Hành hương qua 88 ngôi chùa linh thiêng ở vùng đất thánh Shikoku hoặc 33 ngôi chùa linh thiêng ở khu vực Kinki)7 và Meiseki junrei (Hành hương về một địa danh nổi tiếng như 7 ngôi chùa lớn ở Nara, 21 ngôi chùa của tông phái Nichiren) Trong đó, loại hình Meiseki junrei thu hút đông đảo người tham gia vì gắn liền với các yếu tố thế tục và mang tính chất du lịch nhiều hơn
Để phục vụ cho các đoàn hành hương trên, nhiều khu phố “Monzen machi” đã ra đời và tập trung ở khu vực xung quanh các đền thờ (Thần đạo) hoặc các chùa (Phật giáo) Những khu phố này chuyên cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống, quà tặng và dịch vụ geisha8
Học giả Campbell và Noble đã từng đánh giá vai trò của các “Monzenmachi” như là “phôi thai” cho nền công nghiệp du lịch Nhật Bản sau này [3, 1003]
Bên cạnh những chuyến đi vì mục đích phục vụ cho chính sách “luân phiên trình diện” và hành hương tôn giáo như đã đề cập bên trên, đông đảo người dân Nhật Bản đã tổ chức nhiều chuyến đi với mục tiêu giải trí từ cuối thời kì Tokugawa Trong một số tác phẩm viết về cuộc sống của người Nhật
và du lịch Nhật Bản thời kì này, các học giả phương Tây cho rằng có rất nhiều người, kể cả những người thuộc tầng lớp bình dân đã “phớt lờ” những quy
7 Ngày nay, loại hình hành hương này được gọi là “Shikoku Ohenro” (Xem phần phụ lục)
8 Geisha(芸者)là khái niệm dùng để chỉ những nghệ sĩ vừa có tài ca múa nhạc lại vừa có khả năng trò chuyện Geisha sử dụng kỹ năng của mình để biểu diễn một số loại hình nghệ thuật truyền thống Nhật Bản, trong đó có âm nhạc, múa và kể chuyện, thậm chí là trà đạo và hoa đạo
Trang 22định của chính quyền và tổ chức các chuyến đi chỉ với mục đích là “giải trí/tiêu khiển” như: đắm mình bên những dòng suối nước nóng, lưu trú tại những quán trọ nho nhỏ dọc theo tuyến đường Tokaido9
, và thưởng thức những sản vật của địa phương Học giả Vaporis đã sử dụng cụm từ “national obsession”(tạm dịch là “nỗi ám ảnh quốc gia”) khi đề cập đến du lịch Nhật Bản cuối thời kì Tokugawa [4, 259] Và như để minh chứng cho điều này, học giả Ishimori miêu tả về việc khi ông Rutherford Alcock (Đại diện chính thức của nước Anh tại Edo vào những năm cuối của thời kì Tokugawa) đặt vấn đề với chính quyền Nhật Bản là ông dự định sẽ tổ chức một chuyến đi đến núi
Phú Sỹ (Fuji) thì được khuyến cáo rằng “nó không phù hợp với địa vị của một
Daimyo, hoặc thậm chí là với bất kì một quan chức – dù ở đẳng cấp nào để tiến hành một chuyến đi như thế - bởi lẽ sẽ có quá nhiều cuộc tiếp xúc không thể tránh khỏi với đám đông thuộc tầng lớp bình dân bên dưới” (it was not
consistent with the didnity of a Daimyo, or even an officer of any rank, to make the pilgrimage – perhaps because too many of the greasy mob must unavoidably come in close contact with them) [7, 185] Bên cạnh đó, học giả Kitamura Nobuyo đã từng viết về hiện tượng này trên ấn phẩm mang tên Kiyu
Shoran (được xuất bản vào năm 1830) như sau: “Ngày nay, người dân sống
xung quanh Edo thích đi các tour Kyoto, Osaka và Nara, nhưng họ không bao giờ đi đến đền Kashima 10
(một trong những ngôi đền nổi tiếng nhất vùng lân cận) để viếng bái Họ cũng đi đến nhiều đền thờ và chùa chiền, nhưng với mục đích chính là để du ngoạn Dĩ nhiên, họ có viếng Thần cung Ise, như là một điểm đến phổ biến thuộc hành trình tour Kyoto, Osaka và Nara” [8, 168]
Trang 23Hoặc từ việc quan sát các chuyến đi đến núi Tateyama11
, nhà nghiên cứu
Susanne Fromanek cũng đưa ra kết luận rằng: “cuối thời kì Edo, các chuyến
đi với mục đích ngắm cảnh và du ngoạn được xem như là quan trọng không kém gì các chuyến đi vì mục đích tôn giáo” [8, 178]
Tóm lại, trong thời kì Tokugawa các loại hình du lịch tiếp tục được nâng cấp và phát triển ngày càng hoàn thiện để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của tầng lớp lãnh chúa phong kiến, quý tộc và tầng lớp bình dân bên dưới Dù rằng chính quyền của Mạc phủ Tokugawa chưa có ý thức rõ ràng về khái niệm “du lịch” theo đúng nghĩa của một ngành công nghiệp như hiện nay nhưng một số chính sách của họ trong việc xây dựng hệ thống đường xá, cơ
sở lưu trú, nghiệp vụ phục vụ, … đã tạo ra những tiền đề cho ngành công nghiệp mới này
1.2.3 Du lịch Nhật Bản thời hiện đại
1.2.3 1 Sự ra đời của các chính sách và cơ quan quản lí du lịch Nhật Bản
Bước sang thời Minh Trị, Chính phủ Nhật Bản đã tập trung mọi nguồn lực
để tiến hành công cuộc duy tân, phát triển và hiện đại hóa đất nước Tiếp sau
đó, hàng loạt chính sách liên quan đến xây dựng và phát triển du lịch ra đời như: Chính sách bảo tồn di sản văn hóa (năm 1910), Luật Bảo tồn kho báu quốc gia (năm 1929), Luật Bảo vệ di sản văn hóa (ban hành vào năm 1950 và sửa đổi với năm 1975), Luật Du lịch quốc gia (năm 2006), Luật Quy hoạch thị trấn lịch sử (năm 2008)
Tháng 4/1964 Tổ chức Du lịch quốc gia Nhật Bản (Japan National Tourism Organization, JNTO) được thành lập, đặt dưới sự giám sát của Bộ
11
Núi Tateyama là một trong ba ngọn núi linh thiêng ở Nhật (cùng với núi Phú Sĩ và Hakusan), gồm 3 cái tên tiêu biểu là ngọn Oyama (3003m), Onanjiyama (3015m), Fujinooritate (2999m) Ngày xưa, người Nhật tin rằng leo núi Tateyama sẽ cho phép họ đến được thế giới cực lạc sau khi qua đời
Trang 24Giao thông vận tải nhằm thực hiện việc quảng bá du lịch Nhật Bản đến với khách du lịch thế giới và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của họ về lịch sử, văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán và con người Nhật Bản Hướng đến mục tiêu này, JNTO đã đưa ra hàng loạt các chương trình khuyến mãi và xúc tiến du lịch quốc tế, tiếp thị và mở rộng trao đổi, hỗ trợ cho du khách nước ngoài thông qua các trung tâm cung cấp thông tin du lịch
Từ những năm đầu của thế kỉ XXI, Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành một
số cải cách mạnh mẽ về cơ chế quản lí để phát triển du lịch Trước hết phải kể đến sự sáp nhập 2 cơ quan lớn – Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng – thành Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (国土交通
省 Kokudo-kōtsū-shō, Ministry of Land, Infrastructure, Transport and
Tourism) (Tháng 1/2001) Từ khi mới thành lập, cơ quan này đã đưa ra 5 mục tiêu cụ thể liên quan đến các vấn đề sau:
Nâng cao chất lượng cuộc sống
Tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu
An ninh quốc gia
Bảo tồn cảnh quan và môi trường
Tăng cường đa dạng khu vực
Để thực hiện 5 mục tiêu trên, việc xúc tiến và phát triển du lịch được xem
là một trong những phương án có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp vì có liên quan chặt chẽ đến chính sách phát triển giao thông (đường bộ, đường hàng không và đường biển), xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách phát triển vùng, xây dựng và phát triển tính đa dạng của cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống
Sau khi ổn định cơ cấu của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản, Chính phủ Nhật Bản đã dần dần hoàn thiện bộ máy các cơ quan
Trang 25quản lí du lịch khác, trong đó có Ban Du lịch Nhật Bản (The Japan Tourism Agency, 観 光 庁 Kankō-chō) (viết tắt JTA) (được thành lập vào ngày
01/10/2008) và các phòng trực thuộc khác (xem sơ đồ bên dưới)
Hình 1.2: SƠ ĐỒ CÁC CƠ QUAN QUẢN LÍ DU LỊCH NHẬT BẢN [16]
Như vậy, Nhật Bản đã hoàn thiện tổ chức bộ máy của cơ quan du lịch quốc gia, đứng đầu là Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch với các chức năng ban hành và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách du lịch quốc gia, tiếp đến là Ban Du lịch Nhật Bản và các đơn vị trực thuộc Bên dưới là các cơ quan quản lý nhà nước du lịch cấp địa phương, chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, kế hoạch xúc tiến, nâng cao chất lượng các dịch
vụ du lịch, bảo tồn di sản văn hóa và cấp phép xây dựng các khách sạn, cơ sở
du lịch ở địa phương theo sự chỉ đạo ngành dọc của Ban Du lịch Nhật Bản
Trang 26Sau khi hoàn thiện bộ máy cơ quan quản lí về du lịch, và đặc biệt là sau những thành công của Giải vô địch bóng đá thế giới - World Cup 200212
, chính quyền của Thủ tướng Koizumi13 đã xác định du lịch là một trong những công cụ quan trọng để phát triển kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là trong vấn đề kích cầu tiêu dùng của người dân trong bối cảnh kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Nhật Bản nói riêng đang tăng trưởng chậm Do vậy, từ đầu năm 2003, chính phủ Nhật Bản đã thông qua nhiều chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng du lịch
Hình 1.3: Chiến lược thúc đẩy tăng trưởng du lịch Nhật Bản
Trang 27 Chính sách inbound: tháng 2/2003, chính phủ Nhật Bản đã thông qua chương trình xúc tiến du lịch mang tên “Visit Japan Campaign” (Chương trình tới thăm Nhật Bản) với mục tiêu đến năm 2010, Nhật Bản sẽ thu hút 10 triệu khách du lịch quốc tế (gấp đôi so với lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản năm 2003) và tăng số lượng hội nghị, hội thảo quốc tế được tổ chức tại Nhật lên 50% Chương trình được triển khai rộng rãi với khẩu hiệu “ようこそ日本へ”(Yokoso Japan) và hướng đến 12 thị trường trọng điểm bao gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore, Hoa Kì, Canada, Anh, Đức, Pháp, Australia Chính sách này vẫn được tiếp tục được thực hiện và mở rộng trong những đời thủ tướng sau
Chính sách outbound: Nhật Bản là một trong những quốc gia có lượng khách outbound lớn nhất thế giới và liên tục tăng trưởng hàng năm do kinh tế phát triển, người dân có thu nhập cao và chính sách khuyến khích của Chính phủ Từ năm 1992, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập Quỹ khuyến khích du lịch dài ngày tại nước ngoài (Japan Long-stay Foundation) Trong thời kì cầm quyền của mình, Thủ tướng Koizumi vẫn tiếp tục duy trì nguồn quỹ này để hỗ trợ người dân Nhật Bản, đặc biệt là những người cao tuổi đi du lịch dài ngày
ở nước ngoài Trong bối cảnh đó, Cơ quan Du lịch Nhật Bản đẩy mạnh hơn nữa chính sách outbound thông qua “Chiến dịch đi thăm thế giới” - Visit World Campaign - với mục tiêu đến năm 2010 sẽ có 20 triệu người Nhật Bản
đi du lịch nước ngoài và xây dựng mối quan hệ kinh doanh chặt chẽ hơn với các đối tác nước ngoài)
Qúa trình thực hiện chính sách inbound và outbound đã cho thấy mặc dù chưa đạt được mục tiêu đề ra (năm 2010, Nhật Bản sẽ thu hút 10 triệu khách
du lịch quốc tế và sẽ có 20 triệu người Nhật Bản đi du lịch nước ngoài), nhưng hai chính sách trên về cơ bản đã có những thành tựu đáng kể Theo số
Trang 28liệu thống kê của JNTO14 và JATA15, lượng khách outbound liên tục tăng trưởng từ các năm 2010, 2011, 2012, và tập trung chủ yếu ở các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, một số nước Đông Nam Á và Mỹ Các thị trường khác như Châu Âu, Châu Phi và Châu Đại Dương thì vẫn đang còn ở dạng tiềm năng (xem hình 1.4 và hình 1.5) Mặt khác, so với lượng khách outbound, khách quốc tế đến Nhật Bản (inbound) thấp hơn và có mức tăng trưởng không đồng đều (xem hình 1.5)
Hình 1.4: Khách du lịch inbound & outbound, Giai đoạn 2008 – 2012
[Nguồn: JNTO và JATA]
14 JINTO: Japan National Tourism Organization (Tổ chức Du lịch quốc gia Nhật Bản)
15 JATA: Japan Association of Travel Agents (Hiệp hội du lịch Nhật Bản)
Trang 29Hình 1.5: Khách outbound phân theo thị trường, Giai đoạn 2009 – 2015
[Nguồn: JNTO và JATA]
1.2.3.2 Sách trắng về du lịch và vấn đề phát triển du lịch bền vững của Nhật Bản
Năm 2008, Nhật Bản công bố Sách Trắng về du lịch, đưa ra những chuẩn mực cụ thể về phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi trường Theo đó "môi trường" và "phát triển" cùng tồn tại trong sự hài hòa, chứ không phải là loại trừ lẫn nhau, do đó, để "phát triển bền vững" thì cần phải bảo vệ môi trường Đặc biệt trong các hoạt động thúc đẩy du lịch quốc gia cần phải chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường và vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh Khi đánh giá về hoạt động của khoảng 1200 doanh nghiệp trong lĩnh vực
du lịch, Sách Trắng nêu ra thực trạng chỉ có hơn 40% trong số đó là có những
nỗ lực đáng kể trong vấn đề bảo vệ môi trường và hầu hết tập trung ở các doanh nghiệp lớn có từ 500 lao động trở lên Liên quan đến vấn đề này, nhiều
Trang 30doanh nghiệp cho rằng họ gặp nhiều khó khăn khi thực hiện vì “Chi phí gia tăng, khó thu hồi vốn đầu tư ","Bất tiện và giảm hiệu quả làm việc ", “Khó đạt được nhận thức thống nhất của nhân viên liên quan đến những nỗ lực bảo vệ môi trường ”, “Khó truyền đạt ý định nỗ lực môi trường cho khách hàng”, …
Sau khi phân tích thực trạng, Sách Trắng chỉ rõ “nỗ lực bảo vệ môi
trường không chỉ cần thiết cho sự tăng trưởng bền vững của du lịch, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức hấp dẫn của các địa điểm du lịch” và “du lịch lệ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên địa phương cho nên chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa nhận thức về môi trường như một cơ hội hoàn hảo để gia tăng giá trị, tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan và
cố gắng tạo ra những địa điểm du lịch hấp dẫn, bền vững theo phương châm
“là nơi đáng để sống và đáng để tham quan”” [17]
Trên thực tế, Nhật Bản đã xây dựng được một số công cụ đóng góp cho phát triển du lịch bền vững như: xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững bền vững ở khu vực Châu Á, chỉ đạo các Bộ, ngành hữu quan có sự liên thông và phối hợp chặt chẽ với ngành Du lịch để tổ chức và quản lý hiệu quả các hoạt động du lịch (xem hình minh họa bên dưới)
Hình 1.6: Chiến lược phát triển du lịch bền vững ở Châu Á
[Nguồn: JATA]
Trang 31Hình 1.7: Sự phối hợp trong vấn đề phát triển du lịch [Nguồn: JATA]
Bên cạnh đó, việc tạo ra các mạng lưới sinh thái tự nhiên quốc gia, xây dựng và bảo tồn các công viên quốc gia - nguồn tài nguyên chính cho ngành
du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái được xem là chính sách đúng đắn trong vấn đề phát triển du lịch bền vững ở Nhật Bản Theo thống kê, Nhật Bản có
28 công viên quốc gia với tổng diện tích hơn 2 triệu ha (chiếm 5,4% diện tích
cả nước) đảm bảo tiêu chí là nơi có giá trị cảnh quan và hệ sinh thái thiên nhiên tuyệt đẹp, có giá trị vượt trội ở phạm vi quốc gia và 55 công viên quốc gia với tổng diện tích khoảng 1,33 triệu ha (chiếm 3,5% diện tích cả nước) đảm bảo tiêu chí là nơi có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp ở cấp địa phương Ngoài ra, Nhật Bản còn có khoảng 301 công viên cấp huyện với tổng diện tích 1, 94 triệu ha (chiếm 5,1% tổng diện tích cả nước)
Ngoài việc thiết lập hệ thống công viên quốc gia, chính phủ Nhật cũng đưa ra những biện pháp phát triển du lịch ở các khu vực này như:
Điều chỉnh lưu lượng ô tô đến 25 khu vực,
Bảo tồn những con đường đi bộ theo triền núi và phục hồi thảm thực vật dọc theo chúng,
Hỗ trợ cho việc xây dựng nhà vệ sinh ở vùng núi,
Tạo ra hệ thống các quy định đối với từng khu vực, …
Trang 32Cho đến thời điểm hiện tại, Nhật Bản vẫn đang trong quá trình xây dựng
và hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững, tập trung vào các vấn đề sau:
Sử dụng du lịch để nâng cao tỷ lệ việc làm;
Tăng cường đào tạo để nâng cao kỹ năng trong ngành du lịch
Khuyến khích tinh thần kinh doanh, khả năng cạnh tranh và đổi mới trong ngành du lịch
Thúc đẩy mạng lưới hỗ trợ du lịch
Thúc đẩy đạo đức trong kinh doanh du lịch
Thúc đẩy du lịch có trách nhiệm như một yếu tố để phát triển văn hóa xã hội
Hạn chế biến đổi khí hậu và tăng cường sử dụng năng lượng sạch
Thúc đẩy sử dụng hiệu quả năng lượng và tiết kiệm trong ngành
du lịch
Thúc đẩy chất lượng và văn hóa trong dịch vụ du lịch
Phối hợp du lịch với bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học
Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên
Giảm số lượng chất thải du lịch
Bảo vệ cảnh quan du lịch
Cải thiện hệ thống giao thông và quản lý sử dụng đất
Kiểm soát sự phát triển của giao thông liên quan đến du lịch và các tác động bất lợi của nó đối với môi trường
Chuyển đổi cân bằng giữa các phương thức vận tải cho du lịch Tóm lại, từ thời Minh Trị trở đi, chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu thể hiện
sự chú trọng đến vấn đề phát triển du lịch qua việc xây dựng khung chính sách về bảo tồn di sản văn hóa (thiết lập hệ thống bảo vệ giá trị văn hóa, tích
Trang 33hợp hệ thống ban đầu về việc bảo tồn di sản văn hóa và quy hoạch đô thị - nông thôn), hoàn thiện bộ máy quản lí, chú trọng sử dụng di sản văn hóa cho mục đích du lịch và thực hiện các chiến lược thúc đẩy tăng trưởng du lịch Nhật Bản, chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng và tiến dần đến việc phát triển du lịch bền vững
Trang 34CHƯƠNG II
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
DU LỊCH CỦA NHẬT BẢN (2012 – NAY)
Trang 352.1 Chính sách "Abenomics"
Sau khi quay lại cương vị thủ tướng Nhật Bản từ cuộc tổng tuyển cử năm
2012, Abe Shinzō ( 安 倍 晋 三 )16 đã ban hành Chiến lược Kinh tế mới Abenomics17 hay còn gọi là Chiến lược “3 mũi tên” vào vào đầu năm 2013 với mục tiêu là thông qua “chính sách nới lỏng tiền tệ” (mũi tên thứ nhất) để xoay chuyển tình trạng giảm phát trong nền kinh tế Nhật Bản và thông qua
“Chính sách thúc đẩy chi tiêu công” (mũi tên thứ hai) để nâng cao nhu cầu thực tế, xóa bỏ lỗ hổng cung cầu, thoát khỏi giảm phát, đồng thời thực hiện
“Chính sách tăng trưởng kinh tế sâu rộng” (mũi tên thứ 3) nhằm khơi dậy sức sống cho nền kinh tế Nhật Bản
- Chính sách nới lỏng tiền tệ: Đây là chính sách thực hiện giảm lãi suất thực được Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) áp dụng nhằm nới lỏng tiền
tệ, hạ giá đồng Yên, cũng như thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa Nhật Bản trên thị trường nước ngoài
- Chính sách thúc đẩy chi tiêu công: từ năm 2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã ban hành các gói kích thích kinh tế trị giá 20,2 nghìn tỷ Yên (210 tỷ USD), trong đó có 10,3 nghìn tỷ Yên (116 tỷ USD) là chi tiêu trực tiếp của Chính phủ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng (cầu, đường hầm và đường chống động đất) Tiếp theo đó, Nhật Bản công bố thêm gói kích thích 5,5 nghìn tỷ Yên vào tháng 4/2014 và gói kích thích trị giá 3,5 nghìn tỷ Yên sau cuộc bầu cử tháng 12/2014 Giai đoạn 2015 - 2017, do kinh
16
Abe Shinzō (sinh ngày 21 tháng 9 năm 1954) là người nhậm chức lúc trẻ nhất trong các Thủ tướng Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II và là Thủ tướng đầu tiên sinh sau Chiến tranh Ông từng là Thủ tướng Nhật Bản từ ngày 26 tháng 9 năm 2006 đến ngày 26 tháng 9 năm 2007 Năm 2007, ông Abe từ chức Thủ tướng và chức Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do sau thất bại thảm hại của đảng này khi bầu cử Thượng viện 5 năm sau khi từ chức Thủ tướng và Chủ tịch Đảng, Abe lại tranh cử Chủ tịch Đảng và được bầu làm Chủ tịch Đảng trở lại vào ngày 26/9/2012
17 "Abenomics" có nghĩa là “Kinh tế học của Thủ tướng Abe”, được ghép từ “Abe” và “economics”
Trang 36tế phục hồi chưa được như kỳ vọng nên Nhật Bản tiếp tục thực hiện các gói kích thích như ngày 02/08/2016, Chính phủ Nhật Bản thông qua gói kích thích trị giá 28.100 tỷ Yên (274 tỷ USD) tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội; Ngày 11/10/2016, Nhật Bản phê chuẩn gói kích thích thứ hai trong năm 2016 trị giá hơn 4.000 tỷ Yên (40 tỷ USD) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng; Ngày 27/3/2017, Thượng viện Nhật Bản thông qua ngân sách cho năm tài khóa 2017 trị giá 97.400 nghìn tỷ Yên (880 tỷ USD) Đây là quy mô ngân sách lớn nhất từ trước đến nay, với mục tiêu tiếp tục tăng chi tiêu cho an sinh xã hội, quốc phòng và những lĩnh vực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Chính sách tăng trưởng kinh tế sâu rộng: Đây là trụ cột mang tính dài hạn nhằm tạo đà phát triển bền vững cho nền kinh tế Nhật Bản Để tăng trưởng kinh tế sâu rộng chính sách này đã hướng tới các mục tiêu như: giảm
tỷ lệ thất nghiệp khoảng 20%, thu hút lao động nữ để bù đắp cho sự thiếu hụt
về nguồn lao động, đứng thứ nhất thế giới về những đổi mới trong phát triển kinh tế, đưa nông nghiệp trở thành “ngành Công nghiệp thứ 6”, thực hiện tự
do thương mại
Về vai trò của chính sách “Abenomics” đối với du lịch Nhật Bản, trong một bài viết ở tờ nhật báo The Japan Time (ngày 03/4/2018), Jesper Koll18nhấn mạnh rằng, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Nhật Bản trong thời gian qua được cho là một trong những kết quả thành công nhất của chính sách "Abenomics" Cụ thể, với những nỗ lực nhằm đơn giản hóa các quy định
về cấp thị thực, đặc biệt là việc cắt giảm mạnh mẽ các quy định về thị thực đối với khách du lịch Trung Quốc và các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã giúp số lượng khách du lịch đến quốc gia này tăng
18 Jesper Koll là chuyên gia kinh tế của WisdomTree tại Tokyo, Nhật Bản Với quá trình nghiên cứu và đầu
tư tại Nhật Bản từ năm 1986, ông được xem là một trong những chuyên gia kinh tế hàng đầu ở Nhật
Trang 37gần 4 lần, từ mức trung bình hằng tháng là 697.000 lượt (năm 2012) lên 2,6 triệu lượt khách trong thời gian gần đây [18] Ngoài ra,chính phủ Nhật Bản còn cho phép tăng số giờ cất/hạ cánh của máy bay tại các sân bay, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc cấp phép xây dựng các khách sạn Nhờ vậy, số lượng khách du lịch quốc tế đến Nhật Bản không ngừng gia tăng (xem bảng
số liệu năm 2014 – 2015 bên dưới), đặc biệt năm 2017 số du khách nước ngoài đến Nhật Bản đạt mức kỷ lục và ngành du lịch Nhật Bản được đánh giá
là có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong số các quốc gia ở khu vực châu Á19
Trang 38Nhìn lại quá trình phát triển của ngành du lịch Nhật Bản trước và trong những năm đầu của thế kỉ XXI chúng ta có thể thấy rằng chưa bao giờ du lịch được đánh giá là một ngành kinh tế phát triển, có ảnh hưởng to lớn đến cán cân thương mại và kinh tế của Nhật Bản Tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay thì
du lịch lại được xem là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng thần kì khi lượng khách
du lịch quốc tế đến Nhật Bản ngày càng gia tăng Nhật Bản trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất ở khu vực Châu Á
Kết quả trên phần nào đã cho thấy sự thành công của việc xây dựng, hoạch định chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp của Chính phủ Nhật Bản mà điểm nhấn là chính sách “Abenomics” với việc làm cho các thủ tục tài chính được dễ dàng, thuận lợi, cũng như làm suy yếu đồng yên Nhật để thuận lợi cho hoạt động giao thương - xuất khẩu hàng hóa Nhật Bản
ra nước ngoài như đã trình bày ở trên Chính sách này ngay lập tức đã giúp cho giá cả hàng hóa và dịch vụ du lịch ở Nhật Bản rẻ hơn, qua đó kích thích
du lịch trong nước phát triển và thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế tới thăm Nhật Bản, đặc biệt là khách du lịch quốc tế đến từ các thị trường Châu Á
2.2 Các chiến lược và chính sách phụ trợ cho phát triển du lịch của Nhật
Từ cuối tháng 3 năm 2016, Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản đã đưa ra chiến lược phát triển du lịch mới để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế Nhật Bản với các mục tiêu chính như sau:
Trang 39Hình 2.2: Các mục tiêu mới cho phát triển du lịch Nhật Bản [20]
Khách quốc tế đến Nhật Bản đạt con số 40 triệu người vào năm 2020,
và 60 triệu người vào năm 2030
Chi tiêu của khách quốc tế đến Nhật Bản: 8000 tỷ Yên (năm 2020) và 15.000 tỷ Yên (năm 2030)
Chi tiêu của khách du lịch nội địa: 21.000 tỷ Yên (năm 2020) và 22.000 tỷ Yên (năm 2030)
Theo đó, để đạt được các mục tiêu trên cần phải có sự phối hợp giữa các
cơ quan chính phủ, đoàn thể và các đại lý lữ hành du lịch tư nhân của Nhật Bản trong vấn đề thực hiện “3 tầm nhìn cơ bản” và “10 cải cách” theo sơ đồ sau:
Trang 40Hình 2.3: Chiến lược du lịch mới của Nhật Bản [20]
Tầm nhìn 1: Tối ưu hóa sức hấp dẫn của các nguồn lực du lịch thông qua 4 cải cách sau:
- Cho phép khách du lịch quốc tế và nội địa tham quan các di sản văn hóa đặc biệt như Akasaka State Guest House (赤坂離宮(迎賓館) )20
, Kyoto State Guest House21, …
20 Nơi ở của Hoàng Thái Tử, được xây dựng từ năm 1909 và trở thành một trong những cung điện hoàng gia đẹp của Nhật Bản Ngày nay, nơi này được dùng để tiếp đón các phái đoàn ngoại giao và các quan chức nhà nước
21 Được xây dựng vào năm 2005 với mục đích tiếp đón và làm nơi lưu trú cho các nguyên thủ quốc gia của các nước đến tham dự những hội nghị quan trọng được tổ chức tại Nhật Bản