1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chúa nguyễn và mạc phủ tokugawa với hoạt động ngoại thương giữa đàng trong và nhật bản giai đoạn 1601 1635

87 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chúa Nguyễn và Mạc Phủ Tokugawa Với Hoạt Động Ngoại Thương Giữa Đàng Trong Và Nhật Bản Giai Đoạn 1601-1635
Tác giả Dương Thế Hiền
Người hướng dẫn THS. Dương Thế Hiền
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Khoa Sư Phạm
Thể loại Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2019
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài tập trung làm sáng tỏ những chính sách, vai trò của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa trong tiến trình thúc đẩy quan hệ song phương cũng như các hoạt động buôn bán trên lĩnh vực ngo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

Đề tài nghiên cứu “Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa với hoạt động ngoại

thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản giai đoạn 1601-1635”, do tác giả Dương Thế

Hiền, công tác tại Bộ môn Lịch sử, Khoa Sư phạm thực hiện Đề tài được Hội đồng

Khoa học và Đào tạo của Khoa Sư phạm thông qua ngày 23 tháng 07 năm 2019, và được

Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Trường ĐH An Giang thông qua

ngày…….tháng………năm 2019

Thư ký Chủ nhiệm đề tài

Trang Quang Vinh Dương Thế Hiền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề tài chưa từng công

bố ở các công trình nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ ĐỀ TÀI

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, Ban lãnh đạo Khoa Sư phạm, quý thầy cô Bộ môn Lịch sử cùng tất cả quý thầy cô giảng viên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thư viện Trường ĐHAG, Thư viện tỉnh An Giang, Thư viện Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu

Cùng với sự giúp đỡ tận tình của quý lãnh đạo, sự hỗ trợ của bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và sự cố gắng hết sức mình, tôi đã có điều kiện tiếp thu kiến thức và phương pháp nghiên cứu vô cùng quý báu để hoàn thành đề tài này

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

An Giang, ngày 4 tháng 6 năm 2018 Tác giả đề tài

ThS.Dương Thế Hiền

Trang 5

TÓM TẮT

Nghiên cứu đề tài: “Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa với hoạt động ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản giai đoạn 1601-1635” là một trong những tiền đề nền tảng góp phần làm sáng tỏ và thúc đẩy mối quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh hiện nay Đề tài tập trung làm sáng tỏ những chính sách, vai trò của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa trong tiến trình thúc đẩy quan hệ song phương cũng như các hoạt động buôn bán trên lĩnh vực ngoại thương giữa Đàng Trong – Nhật Bản giai đoạn 1601-1635; đồng thời, rút

ra bài học lịch sử trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ nhất là học sinh, sinh viên về truyền thống thương mại hướng biển của người Việt cũng như tình thân hữu giữa hai dân tộc Việt – Nhật trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế hiện nay Với việc sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó quan trọng nhất là phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic, tác giả đã phục dựng trung thực bối cảnh lịch sử của Đàng Trong và Nhật Bản trong giai đoạn 1601-1635, phân tích chi tiết những bước đi ngoại giao, chính sách và vai trò tác động của chính quyền Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa nhằm thức đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước Đồng thời, đề tài trình bày một cách có hệ thống các hoạt động thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản, nhất là ở cảng thị Hội An trong suốt thời gian này Qua những vấn đề lịch sử đã nêu, tác giả rút ra bài học lịch sử trong việc giáo dục cho thế

hệ trẻ về truyền thống thương mại hướng biển của người Việt cũng như tình thân hữu giữa hai dân tộc Việt – Nhật trong bối cảnh đất nước hợp tác chiến lược, toàn diện giữa hai nước hiện nay

Trang 6

ABSTRACT

Studying the topic: “Nguyen Lord and Shogunate Tokugawa with the foreign trade activities between Cochinchina and Japan in the period 1601-1635” is among basic premise to contribute to make clear and promote the comprehensive strategic partnership between Vietnam and Japan in the current context The topic focused on clarifying the policies, roles of Nguyen Lord and Shogunate Tokugawa in the process

of promoting bilateral relations as well as foreign trade activities between Dang Trong - Japan in the period 1601-1635 At the same time, it draw historical lessons in the education for the young generation such as pupils and students about the maritime trade traditions of Vietnamese, friendship between two Vietnamese and Japanese peoples in the context of integration today By many research methods, the most important of which is the historical method of combining logic method, the author has faithfully restored the historical context of Cochinchina and Japan in the period 1601-1635, specifically analysis the diplomatic process, policy and impact role of Nguyen Lord and Shogunate Tokugawa in order to promote trade relations between the two countries At the same time, the topic systematically presents the commercial activities between Cochinchina and Japan, especially in Hoi An port during this time Through the historical issues mentioned, the author drawed a historical lesson in educating the younger generation on the traditions of maritime commerce of Vietnamese people as well as the friendship between the two Vietnamese and Japanese peoples in the context of a comprehensive and strategic cooperation between the two countries today

Trang 7

MỤC LỤC

Chương 1 Mở đầu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước ……… 2

1.3 Mục tiêu đề tài 4

1.4 Câu hỏi nghiên cứu hoặc giả thuyết nghiên cứu 4

1.5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Phương pháp nghiên cứu 5

1.7 Những đóng góp mới của đề tài 5

1.8 Bố cục của đề tài 6

Chương 2 Bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội của Đàng Trong và Nhật Bản dưới thời Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa đến năm 1635 7

2.1 Bối cảnh lịch sử Đàng Trong từ năm 1558 đến năm 1635 7

2.2 Bối cảnh lịch sử Nhật Bản thời Mạc phủ Tokugawa đến năm 1635 14

Chương 3 Chính sách thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa giai đoạn 1601-1635 21

3.1 Chính quyền Chúa Nguyễn với quá trình mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản thời kỳ 1601-1635 21

3.2 Chính quyền Mạc phủ Tokugawa với quá trình đẩy mạnh hoạt động thương mại của Châu ấn thuyền (Shuinsen) ở Đàng Trong từ năm 1601 đến 1635 32

Chương 4 Hoạt động thương mại giữa Đàng Trong – Nhật Bản trong giai đoạn 1601-1635 và bài học lịch sử trong việc giáo dục thế hệ trẻ 39

4.1 Cảng thị Hội An với những hoạt động giao thương của người Nhật ở Đàng Trong 39

4.2 Hàng hóa buôn bán trao đổi giữa Đàng Trong với Nhật Bản 48

4.3 Tiền kim loại của Nhật Bản ở Đàng Trong thời kì 1601-1635 54

4.4 Bài học lịch sử trong việc giáo dục thế hệ trẻ 57

4.4.1 Về truyền thống hướng biển và thương mại biển của người Việt Nam đến năm 1635 57

4.4.2 Về tình thân hữu giữa Việt – Nhật Bản trong quá khứ và hiện tại 65

Chương 5 Kết luận 70

Trang 8

Tài liệu tham khảo 74 Phụ lục 79

Trang 9

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII chứng kiến sự phân liệt sâu sắc giữa các tập đoàn phong kiến Sau khi chấm dứt sự chia cắt Nam – Bắc triều với sự thắng lợi của nhà Lê – Trịnh cùng sự sụp đổ của nhà Mạc, năm 1592, nước Đại Việt lại rơi vào tình trạng chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài với hai thế lực đối đầu nhau - họ Trịnh ở phía Bắc và họ Nguyễn ở phía Nam Năm 1600, sau khi trở về từ phía Bắc Nguyễn Hoàng quyết chí xây dựng một giang sơn riêng cho họ Nguyễn Với tầm nhìn chiến lược của một nhà “kinh bang tế thế”, Nguyễn Hoàng nhanh chóng xác định cách thức xây dựng thế và lực trên vùng đất mới vốn là đất của Champa xưa Sự

am tường về Champa cho phép Nguyễn Hoàng nghĩ ngay đến phát triển thương mại

để tăng cường tiềm lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ vùng đất mới Trên nền tảng các thương cảng của vương quốc Champa, Nguyễn Hoàng nhanh chóng thu hút thương khách từ rất nhiều nơi đến buôn bán để hình thành nên các cảng thị sầm uất bậc nhất Đại Việt lúc bấy giờ Đàng Trong bước vào thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử tồn tại của nó

Sự phát triển thương mại, nhất là ngoại thương ở Đàng Trong đã thu hút rất nhiều thương nhân của các quốc gia không chỉ châu Âu mà ở Đông Nam Á, Đông Á Trong số các bạn hàng thường xuyên đến Đàng Trong thì các thương nhân Nhật Bản đến trên các Châu ấn thuyền là rất đông đảo và chi phối mạnh thị trường Đàng Trong suốt 35 năm (1601 – 1635) Các thương nhân Nhật Bản đã tạo ra nhiều dấu ấn tốt đẹp về thương mại và về văn hóa trên những nơi họ đặt chân đến ở Đàng Trong Giai đoạn 1601 – 1635 thật sự là giai đoạn hoàng kim trong mối quan hệ mậu dịch cũng như bang giao giữa Đại Việt và Nhật Bản, thường được nhắc đến với tên gọi thời kỳ Châu ấn thuyền

Nghiên cứu vai trò của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa trong quan hệ thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản giai đoạn 1601-1635 không chỉ đánh giá, làm rõ vai trò của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa trong mối quan hệ bang giao truyền thống giữa Việt Nam và Nhật Bản mà còn mang ý nghĩa giáo dục cho thế hệ trẻ nhất là học sinh, sinh viên về truyền thống thương mại hướng biển của người Việt cũng như tình thân hữu giữa hai dân tộc Việt – Nhật trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế hiện nay Bên cạnh đó, nghiên cứu vấn đề này là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc hoàn thiện tri thức về lịch sử bang giao Việt Nam với Nhật Bản qua các thời kỳ, cũng như đáp ứng yêu cầu giảng dạy lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Đàng Trong nói riêng tại Trường Đại học An Giang

Từ những lý do trên tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài: “Chúa Nguyễn

và Mạc phủ Tokugawa với hoạt động ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật

Trang 10

Bản giai đoạn 1601-1635” là công việc có tính cấp thiết cao, cần nhanh chóng tiến

hành

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước

Quan hệ ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản dưới thời Chúa Nguyễn

và Mạc phủ Tokugawa giai đoạn 1601-1635 là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả, sử gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước:

1.2.1 Trong nước

Đầu thế kỷ XX, Sở Cuồng Lê Dư với “Cổ đại Nam Nhật giao thông khảo” và

“Cổ đại ngã quốc dữ Nhật Bản chi giao thông” đăng trên tạp chí Nam Phong, phần Hán văn, số 54 và 56 của quyển IX và quyển X, đã lần lượt giới thiệu 35 bức thư trao đổi giữa Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa in trong tập Ngoại phiên thông thư - An Nam quốc thư Như vậy, có thể nói Sở Cuồng Lê Dư là người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời cũng là người đầu tiên giới thiệu những văn thư trao đổi giữa hai nước trong thế

kỷ XVII qua nguồn tư liệu Nhật Bản Điều này đã khơi nguồn cho những nhà nghiên cứu lịch sử tìm hiểu hệ thống văn thư quan trọng này

Đến nửa sau thế kỷ XX, những tác phẩm, bài viết nghiên cứu về mối quan hệ Việt - Nhật nói chung, Đàng Trong - Nhật Bản nói riêng bắt đầu xuất hiện trên các tạp chí nghiên cứu khoa học Trước hết kể đến Bửu Cầm đã giới thiệu một số di tích của người Nhật tại Hội An với bài viết “Bang giao lịch sử giữa Việt Nam và Nhật Bản”; Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) đã phác thảo về mối quan hệ buôn bán của Đàng Trong với Nhật Bản qua bài “Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích tại Hội An” đăng trên Việt Nam khảo cổ tập san Trong bài viết, tác giả cho rằng năm 1593 là mốc mở đầu mối quan hệ giao thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản và khẳng định vị trí hàng đầu của Hội An trong quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á từ bảng thống kê số tàu Nhật đến Đông Dương

Năm 1961, Nhà xuất bản (NXB) Sử học phát hành cuốn “Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu XIX” của Thành Thế Vỹ Đây là tác phẩm có giá trị khoa học để tìm hiểu về nền ngoại thương Việt Nam nói chung, Đàng Trong nói riêng với các nước, trong đó có Nhật Bản Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến hoàn cảnh trong nước và thế giới tác động đến ngoại thương Việt Nam trong các thế

kỷ XVII, XVIII và XIX Trong mối quan hệ buôn bán Việt - Nhật, tác phẩm khái quát các loại hàng hóa, thuế, thể lệ buôn bán giữa hai nước và giới thiệu bức tranh của dòng họ Chaya ở Nhật Bản thế kỷ XVII Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm trong “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” cũng đề cập đến quan hệ ngoại thương Đàng Trong - Nhật Bản và giới thiệu một số di tích của người Nhật ở Hội An Phan Khoang với “Việt sử Xứ Đàng Trong 1558-1777”, cũng khái quát những nét lớn về quan hệ của Chúa Nguyễn với Nhật Bản trong thế

Trang 11

trước đó Đặng Chí Huyển trong “Phổ Đà Sơn linh trung Phật” giới thiệu một tư liệu văn bia có giá trị để tìm hiểu hoạt động của Nhật kiều ở Quảng Nam (1640) sau khi Mạc phủ thi hành chính sách “tỏa quốc”

Về mối quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản, GS.Nguyễn Văn Kim có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này như “Nhật Bản và Châu Á - những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội”; hoặc tác phẩm “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV - XVII”, tác giả tập trung thể hiện tổng thể các hoạt động buôn bán của người Nhật trong các thế kỉ XV- XVI tại khu vực Đông Nam Á Tác phẩm gồm có 4 chương, trong đó chương ba “Quan hệ thương mại Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỉ XVI - XVII” trình bày chi tiết về sự xâm nhập của người Nhật vào khu vực Đông Nam Á (trong đó có Đại Việt), hoạt động buôn bán của các thương nhân Nhật thông qua hệ thống Shuinsen (Châu ấn trạng) - giấy phép thương mại do Mạc phủ cấp, cũng như việc hình thành các “phố Nhật” ở khu vực này (trong

đó có Hội An) Tuy tác phẩm không nghiên cứu riêng về quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản nhưng qua mối quan hệ tổng thể vẫn có được những nét nổi bật của ngoại thương Việt Nam thời kì này, đặc biệt là vai trò nổi lên của cảng thị Hội An, một cảng trung chuyển mang tầm quốc tế

“Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam thế kỉ XVI - XVII”, luận án tiến sĩ chuyên ngành lịch sử thế giới của Trịnh Tiến Thuận, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Luận án đề cập đến toàn bộ mối quan hệ của hai quốc gia Nhật Bản và Việt Nam, trong đó có đề cập đến mối quan hệ Nhật - Việt tại Đàng Trong mà nổi bật là hoạt động thương mại của người Nhật tại cảng thị Hội An trong các thế kỉ XVI - XVII Đây là một nguồn tài liệu tham khảo quý để tác giả tiếp thu và phát triển thêm đề tài của mình Tuy nhiên, luận án chỉ nghiên cứu trong khoảng thời gian thế kỉ XVI - XVII và trải rộng vấn đề ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài của Việt Nam

“Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ XVII và XVIII” do NXB Trẻ ấn hành là công trình nghiên cứu của Li Tana - một nhà nghiên cứu Việt Nam học người Trung Hoa Nội dung của cuốn sách nói về các chính sách cai trị của Chúa Nguyễn, các hoạt động thương mại, hệ thống tiền tệ và ngoại thương của khu vực, giải thích tên gọi một số địa danh ở Đàng Trong Đáng chú ý là tác phẩm đề cập đến hoạt động buôn bán với người nước ngoài ở Đàng Trong, trong đó có Nhật Bản Trong phần quan hệ ngoại thương với Nhật Bản, tác giả trình bày những hoạt động thư từ qua lại giữa Chúa Nguyễn với chính quyền Mạc phủ; đưa ra số lượng Châu ấn thuyền đến Đàng Trong thông qua bảng số liệu của Sử gia Nhật Bản Iwao Seiichi;

Trang 12

nêu các mặt hàng trao đổi chủ yếu giữa Đàng Trong với Nhật Bản, thời gian hoạt động của các Shuinsen Tuy đây là một tác phẩm của một tác giả nước ngoài nhưng cũng đã thể hiện những hiểu biết khá sâu sắc về Đàng Trong

Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản của các tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các tạp chí như Tân Á học báo, Việt Nam khảo cổ tập san, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á Có thể điểm qua một số bài như: Kikuchi Seiichi (2003), “Phố Nhật Bản ở Hội An qua nghiên cứu khảo cổ học”, Nghiên cứu Lịch sử, số 2, tr 36-47; Miki Sakuraba (Nguyễn Tiến Dũng dịch) (2008),

“Đồ sứ Nhật Bản xuất khẩu đến Việt Nam và Đông Nam Á thế kỉ XVII”, Nghiên cứu Lịch sử, số 9+10, tr 87-96; Nguyễn Văn Kim (2002), “Thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỉ XVI - XVII”, Nghiên cứu Kinh tế, số 3 (286), tr 56-76; Vũ Duy Mền (2002), “Ngoại thương Việt Nam thế kỷ XVII- XVIII”, Nghiên cứu Kinh tế, số 292, tr.60-68; Nguyễn Văn Kim (2006), “Về các mối quan hệ, giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong lịch sử”, Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 5, tr 36-47; Phan Thanh Hải (2007), “Về những văn thư trao đổi giữa Chúa Nguyễn và Nhật Bản (thế

kỉ XVI - XVII)”, Nghiên cứu Lịch sử, số 7, tr 59-68; … Tất cả những bài viết này đều chủ yếu tìm hiểu về mối quan hệ của Đàng Trong với Nhật Bản, đặc biệt là hoạt động buôn bán của thương gia Nhật Bản tại Đàng Trong

1.3 Mục tiêu của đề tài

Việc nghiên cứu vấn đề “Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa với hoạt động ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản giai đoạn 1601-1635” nhằm đạt được những mục tiêu sau đây:

- Làm rõ những chính sách, vai trò của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa trong tiến trình thúc đẩy quan hệ song phương trên lĩnh vực thương mại giữa Đàng Trong – Nhật Bản giai đoạn 1601-1635

- Làm rõ những hoạt động buôn bán trao đổi giữa Đàng Trong – Nhật Bản giai đoạn 1601-1635

- Rút ra bài học lịch sử trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ nhất là học sinh, sinh viên về truyền thống thương mại hướng biển của người Việt cũng như tình thân hữu giữa hai dân tộc Việt – Nhật trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế hiện nay

1.4 Câu hỏi nghiên cứu hoặc giả thuyết nghiên cứu

Quan hệ truyền thống giữa Việt Nam – Nhật Bản trong lĩnh vực thương mại giai đoạn 1601-1635 đã diễn ra như thế nào ở khu vực Đàng Trong? Qua đó, chúng

ta rút ra bài học lịch sử gì nhằm phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển và hội nhập của đất nước, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hiện nay?

1.5 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Trang 13

Đề tài tập trung nghiên cứu về những chính sách hợp tác và những hoạt động thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản dưới sự tác động tích cực của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa giai đoạn 1601-1635

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: vùng đất Đàng Trong trong lịch sử từ Đèo Ngang trở về phía Nam

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 1601 đến năm 1635

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng từ khâu chọn đề tài, xây dựng

đề cương và trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, giúp tác giả tìm hiểu, tham khảo, nắm bắt trong những tài liệu được công bố những nội dung liên quan đến vấn đề của

đề tài, xem xét vấn đề được đề cập, trình bày hoặc giải quyết đến đâu, để xác định

“điểm mới” và “những đóng góp mới” của đề tài, viết phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu, lịch sử vấn đề của đề tài

Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic được tác giả sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để có thể tìm hiểu các sự kiện, sự việc một cách chi tiết, cụ thể trong sự ra đời, phát triển và kết thúc, trong hoàn cảnh, không gian, thời gian xác định, làm cơ sở cho việc lựa chọn, xử lý, sắp xếp tư liệu theo tiến trình thời gian, không gian một cách khoa học, để nhận định và khái quát quá trình lịch sử của vấn đề, làm sáng tỏ chính sách hợp tác và những hoạt động thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản dưới sự tác động tích cực của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa giai đoạn 1601-1635

Phương pháp liên ngành được thực hiện trong quá trình khai thác nguồn tư liệu, kế thừa kết quả nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác nhau như quân sự, địa lý học, khu vực học trong quan hệ quốc tế và quan hệ đối ngoại…

Các phương pháp trên được tác giả cố gắng vận dụng hợp lí trong đề tài để đảm bảo được tính khoa học và góc độ nghiên cứu sử học của vấn đề

1.7 Những đóng góp mới của đề tài

7.1 Đóng góp về mặt khoa học

Góp phần hoàn thiện mảng kiến thức về lịch sử Đàng Trong nói riêng và lịch

sử Việt Nam nói chung

7.2 Đóng góp công tác đào tạo

Được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy các học phần: Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại

7.3 Đóng góp phát triển kinh tế xã hội

Trang 14

Góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết của người đọc về tinh thần hướng biển, thương mại của dân tộc, cũng như bề dày truyền thống quan hệ Việt – Nhật trong lịch sử

1.8 Bố cục của đề tài

Đề tài được bố cục thành 5 chương:

Chương 1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6 Phương pháp nghiên cứu

1.7 Bố cục của đề tài

Chương 2 Bối cảnh lịch sử của Đàng Trong và Nhật Bản dưới thời Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa đến năm 1635

2.1 Bối cảnh lịch sử Đàng Trong đến năm 1635

2.2 Bối cảnh lịch sử Nhật Bản thời Mạc phủ Tokugawa đến năm 1635

Chương 3 Chính sách thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản của Chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa giai đoạn 1601-1635

3.1 Chính quyền Chúa Nguyễn với quá trình mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản thời kỳ 1601-1635

3.2 Chính quyền Mạc phủ Tokugawa với quá trình đẩy mạnh hoạt động thương mại của Châu ấn thuyền (Shuinsen) ở Đàng Trong từ năm 1601 đến 1635

Chương 4 Hoạt động thương mại giữa Đàng Trong – Nhật Bản trong giai đoạn

1601-1635 và bài học lịch sử trong việc giáo dục thế hệ trẻ

4.1 Cảng thị Hội An và những hoạt động giao thương của người Nhật ở Đàng Trong 4.2 Hàng hóa buôn bán trao đổi giữa Đàng Trong với Nhật Bản

4.3 Tiền tệ kim loại của Nhật Bản ở Đàng Trong

4.4 Bài học lịch sử trong việc giáo dục thế hệ trẻ

4.4.1 Về truyền thống thương mại hướng biển của người Việt Nam trước năm

1635

4.4.2 Về tình thân hữu giữa Việt Nam – Nhật Bản trong quá khứ và hiện tại

Chương 5 Kết luận

Trang 15

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐÀNG TRONG VÀ NHẬT BẢN DƯỚI THỜI CHÚA NGUYỄN VÀ

MẠC PHỦ TOKUGAWA ĐẾN NĂM 1635 2.1 Bối cảnh lịch sử Đàng Trong từ năm 1558 đến năm 1635

Vào đầu thế kỷ XVI, triều Lê lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội đó nổi dậy cướp ngôi và lập ra nhà Mạc Các cựu thần nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Kim đã chiêu mộ nghĩa binh âm mưu khôi phục nhà Lê Năm 1533, để danh chính ngôn thuận, Nguyễn Kim tôn Lê Ninh lên làm vua, gây dựng sự nghiệp Công cuộc trung hưng nhà Lê mới bắt đầu có thanh thế thì Nguyễn Kim đột ngột qua đời Sau khi Nguyễn Kim mất, toàn bộ quyền bính rơi vào tay Trịnh Kiểm con rể của Nguyễn Kim Từ đây, dòng họ Trịnh bước lên vũ đài chính trị, từ một dòng họ nghèo khó trở thành “phi vương phi bá quyền khuynh thiên hạ” Trịnh Kiểm lo sợ trước công trạng ngày càng lớn của anh em Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng đã sinh lòng nghi kỵ, sát hại Nguyễn Uông Trước tình hình đó, Nguyễn Hoàng hết sức lo lắng và tìm cách thoát thân Ông nhờ chị mình là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm) xin cho mình trấn thủ đất Thuận Hóa

Trịnh Kiểm đã tâu lên vua Anh Tông xin cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa,

Lê Quý Đôn ghi lại sự kiện này trong Phủ biên tạp lục như sau:

Anh Tông, năm Chính trị thứ 1 (1558), Mậu Ngọ, Thế tổ Thái vương (Trịnh Kiểm) sai Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân bản dinh đi trấn thủ Thuận Hóa để phòng giữ giặc phía Đông, cùng với trấn thủ Quảng Nam Trấn quốc công (Bùi Tá Hán) cứu giúp lẫn nhau, việc địa phương không cứ lớn nhỏ, quân dân thuế khóa đều giao cả Họ Nguyễn có đất Thuận Hóa từ đấy (Lê Quý Đôn, 1977, tr.53)

Tháng 10 năm 1558 (Mậu Ngọ), Nguyễn Hoàng vào Nam nhậm chức Trấn thủ Thuận Hóa với quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử trí”(Lê Quý Đôn, 1977, tr.53) Theo chân Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa là những người thân thuộc của dòng họ và những trung thần của nhà

Lê Sự kiện này được Li Tana ghi lại như sau:

Họ là những trung thần của nhà Lê Một gia phả ở Quảng Nam ghi nhận ông

tổ của họ là một viên chức cao cấp của Lê Duy Tri, anh em với vua Lê Kính Tông (1600 -1619) Khi vua Lê Kính Tông bị chúa Trịnh ép thắt cổ chết vào năm 1619, Lê Duy Tri và tùy tùng đã tới trốn ở huyện Đông Sơn, Thanh Hóa

và ở xã Thanh Châu, phủ Điện Bàn, Quảng Nam năm 1623 Cũng chính Tiền Biên đã ghi là một số quan chức cao cấp của nhà Lê bỏ đi về phương Nam năm 1558 với Nguyễn Hoàng và nhiều gia đình cùng quê với họ Nguyễn ở Thanh Hóa

Trang 16

(Li Tana, 1999, tr.30)

Đến năm 1570, Nguyễn Hoàng được kiêm luôn chức Trấn thủ Quảng Nam, vùng đất biên viễn Quảng Nam với vùng đất cực Nam là huyện Tuy Viễn thuộc phủ Hoài Nhân (nay là Tuy Phước, Bình Định), bên kia đèo Cù Mông là nước Champa Nguyễn Hoàng là người có tầm nhìn chiến lược, hiển nhiên ông hiểu được những khó khăn, thách thức đồng thời cơ hội đang và sẽ đặt ra đối với bản thân khi tiến vào vùng đất này Vùng đất này sẽ trở thành một phương trời mới để dung thân và tạo lập

cơ nghiệp cho dòng họ Nguyễn trong bối cảnh xảy ra cuộc chiến tranh khốc liệt về quyền lực giữa hai dòng họ: họ Trịnh và họ Nguyễn Đây chính là một suy tính lâu dài, một tính toán mang tính chiến lược của một con người có tài “kinh bang tế thế” (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.22)

Lịch sử Đàng Trong giai đoạn từ năm 1558 đến 1635 trải qua hai đời Chúa là Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên Hơn 70 năm dưới sự cai quản của hai Chúa Nguyễn, vùng đất Đàng Trong mà trọng tâm là xứ Thuận – Quảng (Thuận Hóa và Quảng Nam) đã không ngừng hưng khởi làm tiền đề mạnh mẽ cho cơ nghiệp trăm năm của họ Nguyễn trong thế đối trọng với họ Trịnh ở Đàng Ngoài cũng như cho quá trình Nam tiến thiêng liêng của dân tộc Việt

Khởi nguồn từ năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được phong là Thái úy Đoan Quận công giữ chức Trấn thủ xứ Thuận Hoá (sau đảm nhận Tổng trấn 2 xứ Thuận – Quảng), với một quyền hạn rộng lớn Nguyễn Hoàng cho dựng dinh tại xã

Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) Nguyễn Hoàng

là một nhà quân sự, từng cầm quân ra trận lập được nhiều công lớn với Chúa Trịnh nên không phải ngẫu nhiên mà chọn vùng đất Thuận – Quảng để dựng nghiệp Ông

đã sớm nhìn thấy vị thế của vùng “đất linh” là nơi hiểm yếu Nguyễn Hoàng nhờ hiểu

rõ sự quan trọng của núi non về mặt chiến lược nên trước khi mất (1613) có dặn người con thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên rằng:

Đất Thuận Quảng, phía Bắc có Hoành Sơn và Linh Giang (tức sông Gianh) hiểm trở, phía Nam có Hải Vân và Thạch Bi (tức núi Bia Đá ở Phú Yên) rất vững bền Núi sẵn vàng, sẵn sắt, biển lắm cá, lắm muối, thật đúng là chỗ dụng võ của người anh hùng Nếu biết luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì có thể xây dựng cơ nghiệp đến muôn đời Ví bằng thế lực không chống nổi, thì cứ cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, đừng bỏ qua lời dặn của ta (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, tr.37)

Lợi thế của vùng đất mới cùng những toan tính tạo dựng cơ nghiệp cho dòng

họ Nguyễn về sau, tách khỏi sự thống trị của nhà Lê - Trịnh Qua đó, để thấy yếu tố địa hình hiểm trở quan trọng đến mức độ nào trong tầm nhìn chiến lược gia truyền của các Chúa Nguyễn

Ngay từ buổi đầu lập nghiệp Nguyễn Hoàng đã cố gắng đặt nền tảng cho sự

ra đời và tồn tại của lực lượng quân đội độc lập với chính quyền Lê – Trịnh Quyết

Trang 17

tâm tự chủ của Nguyễn Hoàng được cụ thể hóa vào năm 1600, được xem là móc đánh dấu sự ra đời của chính thể Đàng Trong

Sự khởi nghiệp của họ Nguyễn bắt đầu trên vùng đất Quảng Trị nơi được xem là vùng “ô châu ác địa”, cư dân với đủ loại hình phức tạp, sẵn sàng nổi dậy chống lại chính quyền sở tại, nhưng là địa bàn lý tưởng cho những tay anh hùng thảo

dã chọn làm chỗ nương thân để mưu đồ cát cứ Trước nguy cơ họ Trịnh ở Đàng Ngoài có thể tấn công bất cứ lúc nào, đối với Nguyễn Hoàng một hệ thống quân sự vững chắc là cách thức thích hợp nhất và có thể là hữu hiệu nhất để đối phó với tình trạng khó khăn, đứng vững trên vùng đất mới và đủ sức chống lại họ Trịnh Điều duy nhất mà họ Nguyễn có thể nắm được một cách chặt chẽ là quân đội, vì vậy biện pháp hữu hiệu nhất là làm thế nào để người dân đều có ý thức gia nhập vào lực lượng quân đội

Sau khi đã đặt cơ sở vững vàng ở phía Nam, Nguyễn Hoàng cho đến các Chúa Nguyễn kế nghiệp dự tính sẽ mở rộng cương giới về phương Nam, đồng thời tìm cách ngăn chặn sự tấn công của họ Trịnh ở phía Bắc, vì thế quân đội được chú trọng đặc biệt và yếu tố quân dân được ưu tiên hàng đầu, khái niệm quân và dân không đồng nhất nhưng lại luôn luôn đi kèm với nhau, “hẳn là sẽ khó khăn đối với chính quyền họ Nguyễn nếu chỉ nói quân mà không có dân hoặc ngược lại vì cả hai gần như là một vậy” (Li Tana, 1999, tr.58) Li Tana đã nhận xét rằng: Đàng Trong được tổ chức như một chế độ quân sự, đặc biệt vào thế kỷ XVII Vua là người lãnh đạo cao nhất của lực lượng vũ trang hay đúng hơn, người ta chỉ có thể làm vua với tư cách là tướng tổng chỉ huy quân đội… Cả nước đặt dưới quyền kiểm soát của các quan võ Từ “Dinh” có nghĩa là đạo quân đã được sử dụng để gọi một đơn vị hành chính (Li Tana, 1999, tr.58) Lực lượng quân đội Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII (thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên) “chỉ có khoảng ba vạn quân” nhưng đến thời Nguyễn Phúc Tần, vào khoảng năm 1653 quân số ấy đã tăng lên đến hơn “20 vạn người” (Lê Đình Cai, 1971, tr.37)

Mục đích của Đoan quận công Nguyễn Hoàng khi vào trấn thủ Thuận –Quảng là nhanh chóng xây dựng vùng này ngày càng vững mạnh, đủ sức chống lại những cuộc tấn công của quân Trịnh và từng bước xây dựng một vương triều riêng Việc làm đầu tiên của Chúa Nguyễn là phải tổ chức lại các làng xã, ổn định đời sống nhân dân để dễ bề cai trị Do đó ngay khi vào đây, ông đã tìm cách chiêu nạp nhân tài, thu phục nhân tâm Vấn đề đặt ra là phải giải quyết ổn thoả cho số dân di cư vào đây ngày càng đông do nhiều lý do khác nhau từ các vùng ở miền Bắc Do vậy, Chúa Nguyễn đã đặt ra việc “khẩn hoang lập làng” để ổn định đời sống của nhân dân

Lực lượng quan trọng nhất đối với công cuộc khẩn hoang xứ Thuận – Quảng chính là số người đi theo Nguyễn Hoàng từ năm 1558 Do uy danh của Nguyễn Kim sau những trận thắng quân nhà Mạc, đồng thời cùng do danh vọng và đức tính của Nguyễn Hoàng nên khi ông vào trấn thủ Thuận Hoá rất nhiều người cùng quê ông là huyện Tống Sơn - Thanh Hoá đã tình nguyện đi theo ông Thêm vào đó, nhiều quan

Trang 18

lại, quân lính ở hai trấn Thanh Hoá và Nghệ An cũng tình nguyện theo vào Nam Họ

là chỗ dựa rất quan trọng của chính quyền họ Nguyễn và cũng là lực lượng khai thác Thuận – Quảng trong buổi đầu Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp

Lực lượng thứ hai bao gồm đông đảo nhân dân Đàng Ngoài, do không chịu đựng được chế độ hà khắc của vua Lê - chúa Trịnh với chính sách thuế khóa nặng nề Thêm nữa, thiên tai, mất mùa lại liên tục xảy ra, nên cũng bỏ theo Nguyễn Hoàng vào đây sinh cơ lập nghiệp

Mùa thu năm 1559, vùng Thanh – Nghệ bị lụt to, hàng trăm nghìn nhà cửa

bị trôi dạt, mùa màng bị tổn hại thêm vào đó nhân dân đói khổ, nhiều người kéo nhau vào đất Thuận Hoá tính kế sinh nhai

Năm 1572, nhân dân Nghệ An vừa bị chiến tranh tàn phá, vừa bị nạn đói nạn dịch hoành hành dữ dội, số người chết đói lên quá một nửa, số người còn lại phần nhiều bị phá sản lưu vong phải dạt ra vùng đông Bắc của nhà Mạc hay vào vùng Thuận Quảng của nhà Nguyễn làm cho thôn xóm Nghệ An nhiều nơi trở nên tiêu điều

(Phan Huy Lê, 1960, tr.29)

Như vậy, việc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận - Quảng đã dẫn đến sự kiện là hàng loạt nông dân nghèo khổ ở miền Bắc đã di cư theo để làm ăn và xây dựng cơ nghiệp trên mảnh đất Thuận - Quảng Họ di cư vào do nhiều lý do khác nhau, nhưng đa phần là do bất mãn với chính quyền phong kiến Đàng Ngoài

Thứ ba là lực lượng tù binh bắt được trong chiến tranh với họ Mạc và họ Trịnh Ví dụ, năm 1572, Lập Bạo là một bộ tướng của nhà Mạc đem 60 chiến thuyền

có trang bị đầy đủ theo đường biển tiến vào đánh Thuận Hoá định chiếm đất để đánh

họ Trịnh ở Nghệ An Nguyễn Hoàng đã dùng mẹo đánh tan quân Lập Bạo và dùng một số tù binh đó cho công cuộc khẩn hoang Sau này trong bảy lần giao tranh với quân Trịnh, quân Nguyễn cũng bắt được nhiều tù binh và hầu hết số tù binh này được

sử dụng trong việc khai thác xứ Thuận - Quảng nói riêng và Đàng Trong nói chung (Phan Huy Lê, 1960, tr.39)

Một lực lượng rất quan trọng nữa chính là các cư dân bản địa Họ bao gồm nhiều thành phần tập hợp nhau lại thành các làng từ trước khi vùng đất Thuận-Quảng sát nhập vào Đại Việt Đó là các tù nhân bị đày ở đây từ nhiều triều đại trước,

là các cư dân Chăm (vì đây vốn là vùng đất của Champa) Đối với các lực lượng này, Nguyễn Hoàng và các Chúa Nguyễn về sau đều thi hành những chính sách mềm dẻo, động viên khuyến khích sức dân, quan tâm để nhanh chóng xây dựng xứ Thuận - Quảng trở thành cơ sở vững mạnh đủ sức chống chọi với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài

Có thể nói, vùng đất Thuận - Quảng có thành phần dân cư hết sức phức tạp nhưng đó là nguồn lao động hết sức dồi dào và giàu kinh nghiệm Họ là những nông dân nghèo từ nhiều nơi đến qua nhiều thế hệ, mang theo cả những phong tục tập quán canh tác, kinh nghiệm sản xuất của quê hương mình và nhanh chóng tiếp thu

Trang 19

những phương thức khẩn hoang sản xuất của cư dân bản địa Đồng thời, họ cũng mang theo những hình thức làng xóm cổ truyền của người Việt đến vùng đất mới Cùng với việc mở mang bờ cõi, ông cha ta với sự lao động không biết mệt mỏi đã quyết tâm biến vùng đất hoang vu, khô cằn thành những làng xóm trù phú, sầm uất, xứng đáng là một trung tâm của chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong

Công cuộc khai thác của họ Nguyễn đã có tác dụng lớn trong việc phát triển kinh tế và làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt xứ Thuận - Quảng Biến vùng đất này từ nơi hoang vu lạc hậu thành mảnh đất trù phú mà trong đó theo “Phủ biên tạp lục” có hơn 862 làng xã trong 2 phủ 8 huyện và 3 châu (Lê Quý Đôn,1977) Đồng thời kinh

tế nông nghiệp ở đây cũng có bước phát triển đáng kể, đất hoang ngày càng bị thu hẹp, diện tích canh tác ngày càng tăng lên Cũng theo “Phủ biên tạp lục” từ 7.100 mẫu ruộng( thế kỉ XV) đến 1776 là 265.507 mẫu ruộng (Lê Quý Đôn,1977) Với sức lao động bền bỉ, không biết mệt mỏi của con người đã biết vùng đất Thuận - Quảng thành ruộng đất và xóm làng đông đúc Đất hoang được khai thác gần hết, từ nam Bố Chính (Sông Gianh) cho đến tận đèo Hải Vân, tạo thành một đồng bằng hẹp ven bờ biển và sát chân dãy Trường Sơn, theo những thung lũng các con sông, trong đó đã

có dân cư sinh sống và khai thác

Một thành tựu rất quan trọng nữa là số làng xã đã tăng lên một cách đáng kể Trong những năm 1558 đến 1776 khi Lê Quý Đôn viết “Phủ biên tạp lục” thì số lượng làng xã ở đây đã tăng lên gấp đôi Chỉ riêng Thuận Hoá số lượng làng xã là

862 làng trong 2 phủ 8 huyện 3 châu với 126.857 dân đinh các loại Xứ Quảng Nam tuy được khai thác muộn hơn nhưng với những điều kiện thuận lợi về thiên nhiên, nguồn lao động lại dồi dào nên đến giữa thế kỷ XVIII, ở Quảng Nam “cũng đã có 16 huyện và nhiều thuộc với 95.731 dân đinh các loại” (Thi Long, 2003, tr.360) Ranh giới làng xã được hình thành trong quá trình thành lập và mở mang phạm vi diện tích canh tác và mô hình của các làng mới này thường được mô phỏng theo các làng xã

cổ truyền của cư dân Việt

Thuận - Quảng đã nhanh chóng trở thành căn cứ vững chắc cho dòng họ Nguyễn chống quân Trịnh và làm cơ sở cho dòng họ Nguyễn thực hiện quá trình Nam tiến về sau Công cuộc khai hoang lập làng xứ Thuận Hoá cũng đã làm thay đổi bản đồ chính trị xứ Đàng Trong, trên cơ sở vùng đất chiếm được từ Sông Gianh vào Nam, Chúa Nguyễn đã chia làm 12 dinh Trong đó Thuận - Quảng gồm có các dinh:

Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu Dinh, Chính Dinh, Quảng Nam

Công cuộc khẩn hoang xứ Thuận - Quảng cũng đưa đến kết quả quan trọng nữa là bên cạnh sản xuất nông nghiệp phát triển thì các ngành kinh tế khác cũng phát triển theo.Ví dụ, thủ công nghiệp nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống nhân dân, phục vụ nhu cầu chiến tranh… đã làm nảy sinh hàng loạt các làng nghề như dệt lụa, làm giấy, làm nón, rèn sắt, làm đồng hồ… Đồng thời, việc khai hoang lập làng này cũng góp phần thúc đẩy kinh tế nội, ngoại thương phát triển Các chợ được lập ra ngày càng trở thành một hệ thống dày đặc Các cửa biển cũng

Trang 20

được mở mang để dễ dàng đi lại Xứ Thuận - Quảng càng trở nên sầm uất và trù phú tạo ra nguồn nội lực rất lớn cho công cuộc dựng nghiệp của họ Nguyễn

Đồng thời với quá trình khai hoang lập làng phát triển vùng đất mới, các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên đặc biệt đến quá trình khai phá về phương Nam vùng đất của Champa và Chân Lạp đang bước vào thời kỳ suy yếu

Thời kỳ các Chúa Nguyễn cũng là giai đoạn mà công cuộc mở rộng lãnh thổ

về phía Nam được xúc tiến và đẩy mạnh Đó là một quá trình liên tục Bằng các hoạt động, quân sự, ngoại giao, chính quyền Đàng Trong đã từng bước lấn chiếm hết vùng đất còn lại của Champa và vùng đất của Thủy Chân Lạp ở phía Nam Sự khủng hoảng và suy yếu của Champa đã làm họ không đủ khả năng cản trở bước tiến của Đại Việt mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Trong quá trình sáp nhập lãnh thổ Champa của chính quyền Chúa Nguyễn đã gặp không ít gian nan, khi phải thường xuyên chống đối lại các cuộc đấu tranh của người Chăm - những người cũng đang bị dồn vào bước đường cùng trong cuộc đấu tranh sinh tồn, bảo vệ lãnh thổ cuối cùng của họ Nhưng trong bối cảnh, chính quyền Chúa Nguyễn cũng đang ở trong tình thế khốn cùng, vấn đề mở rộng lãnh thổ trở thành vấn đề sống còn cho cuộc đấu tranh sinh tồn với họ Trịnh ở phía Bắc, buộc họ phải đẩy mạnh các hoạt động di dân, khai phá các vùng đất ở phía Nam Đi phía sau lực lượng dân cư là chính quyền Chúa Nguyễn, các cuộc xung đột, chiến tranh, quan hệ ngoại giao giữa hai bên diễn ra liên tục trong khoảng thời gian dài của thế kỷ XVII Kẻ mạnh hơn đã giành chiến thắng, Champa yếu thế chấp nhận thất bại, chính quyền Chúa Nguyễn thắng lợi và sáp nhập toàn bộ lãnh thổ của Champa vào lãnh thổ Đàng Trong

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh cầm quân tiến vào Hoa Anh, vây đánh và hạ thành An Nghiệp – một trong những kinh thành kiên cố và

đồ sộ nhất trong lịch sử của vương quốc Champa, đẩy họ về biên giới cũ ở phía Nam đèo Cả Cuộc tấn công của Lương Văn Chánh và chính quyền họ Nguyễn mới chỉ nhằm thiết lập lại trật tự cũ như đã có trước đó Tuy nhiên Lương Văn Chánh cũng

đã tiến thêm một bước trong việc đưa dân lưu tán vào khai khẩn miền đất này, rãi rác

từ phía Nam đèo Cù Mông đến đồng bằng sông Đà Diễn Đó chính là cơ sở đầu tiên cho cuộc Nam tiến của Đại Việt vào sâu trong vùng lãnh thổ cũ của vương quốc Champa

Năm 1602, Nguyễn Hoàng dựng dinh Thanh Chiêm (Quảng Nam) và giao cho hoàng tử thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn thủ dinh Quảng Nam, đây là vùng đất giàu có, nhiều tiềm lực hơn Thuận Hóa nhiều lần Nguyễn Phúc Nguyên đã nhanh chóng xây dựng vùng đất này trở thành một vùng quan trọng về kinh tế, chính trị của Đàng Trong

Năm 1611, nhân chuyện quân Champa sang cướp phá vùng biên giới và xâm chiếm vùng đất Hoa Anh, Nguyễn Hoàng đã sai tướng là Nguyễn Phong đem quân đi đánh Quân của Champa nhanh chóng bị đánh bại trước sức mạnh quân sự của chính quyền Chúa Nguyễn Vua của Champa là Po Nit đã phải bỏ vùng đất Hoa Anh rút

Trang 21

quân về phía Nam đèo Cả Đến lúc này, Chúa Nguyễn mới chiếm được hẳn vùng đất Hoa Anh (đất cũ của Champa), đặt làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, hợp thành phủ Phú Yên Đóng quân để phòng giữ, Lương Văn Chánh được cử làm Tham tướng dinh Trấn Biên, sau đổi là dinh Phú Yên Trong Việt sử xứ Đàng Trong, Phan Khoang đã ghi lại sự kiện này như sau: “Năm Tân hợi (1611), Thái tổ sai chủ sự là Văn Phong đem quân vào đánh Chiêm Thành, lấy đất bên kia đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi, đặt làm phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, cho Văn Phong làm Lưu thủ” (Phan Khoang, 1966, tr.296) Đây thực sự là bước Nam tiến đầu tiên của các Chúa Nguyễn

Năm 1613, chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất, Hoàng tử thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp, theo lời dặn của cha, tiếp tục xây dựng cơ ngơi để chống đối lại họ Trịnh ở Đàng Ngoài Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) tính tình hiền hậu như Phật nên người ta thường gọi là chúa Sãi Chúa Sãi đã tiến hành cải tổ lại bộ máy hành chính và cách cai trị ở Đàng Trong Lãnh thổ được phân chia theo thừa Tuyên hay xứ, phân thành các chính dinh, dinh ngoài Dưới dinh là các phủ, huyện Quan lại làm việc trong các chính dinh hay dinh ngoài cũng có những tên xưng gọi mới khác với Đàng Ngoài như ty Xá sai thì có Đô tri và Ký lục giữ, ty Tướng thần lại thì có Cai bạ giữ, ty Lệnh sử thì có Nha úy giữ

Sau khi tiếp nhận ngôi chúa, Nguyễn Phúc Nguyên đã dần ra mặt chống đối lại họ Trịnh và cuối cùng đi đến chiến tranh với Đàng Ngoài

Sau khi cũng cố bộ máy chính quyền và lực lượng, Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế hàng năm cho triều đình trung ương Với những hành động nói trên, Nguyễn Phúc Nguyên đã biến từ một chính quyền địa phương phụ thuộc vào nhà nước trung ương thành một chính quyền phong kiến biệt lập của họ Nguyễn, tách khỏi chính quyền trung ương, chống lại triều đình nhà Lê Mâu thuẫn giữa Trịnh – Nguyễn đã trở nên quyết liệt và đó chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, mở đầu từ năm 1627 kéo dài đến 1672

Trang 22

Dưới sự bảo trợ của bà Hoàng hậu người Việt (Ngọc Vạn) của Vương triều Chey Chettha II (1619 – 1627), cư dân Việt từ vùng Thuận - Quảng vào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm Đây chính là cơ sở thuận lợi cho Chúa Nguyễn từng bước hợp pháp hóa sự kiểm soát của mình một cách hòa bình đối với vùng đất đã được người Việt khai khẩn (Vũ Minh Giang, 2006, tr.27- 28)

Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã thương lượng thành công với Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II, tiến hành lập hai thương điếm ở Prei Nokor (tên gọi cũ của Sài Gòn, vị trí tương ứng với Chợ Lớn hiện nay) và Kas Krobey (vùng Bến Nghé xưa, vị trí tương ứng với Sài Gòn ngày nay) để thu thuế Georges Maspéro trong sách Đế quốc Khmer khảo cứu kỹ biên niên sử Khmer cho biết:

Nhà Vua mới lên ngôi Chey Chettha II liền xây một cung điện ở Oudong (U Đông) Nơi đây ông long trọng cử hành lễ cưới một công chúa con Vua An Nam Bà này rất đẹp Chẳng bao lâu, bà có ảnh hưởng mạnh đến nhà Vua Nhờ bà mà một sứ đoàn An Nam đã xin được Chey Chettha cho phép lập thương điếm trong miền Nam Cao Miên, ở chính nơi ngày nay là Sài Gòn (G Maspéro (1904, p.61) (Vũ Minh Giang, 2006, tr.28)

Như vậy, đến đầu thế kỉ XVII, chính quyền Đàng Trong đã bước đầu thiết lập được thực quyền của Đại Việt trên vùng đất “Thủy Chân Lạp”, mở đầu cho quá trình

mở cõi về phương Nam ở cấp độ chính quyền nhà nước, tạo tiền đề cho quá trình mở đất và giữ đất của dân tộc ta về sau

Bên cạnh đó, với mục đích tăng cường tiềm lực về kinh tế và quân sự, chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên cũng tăng cường quan hệ với các khác như Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Ayuthaya, Java,… và đặc biệt là Nhật Bản, một quốc gia đang trong giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại rất mạnh mẽ bằng biểu tượng là những chiếc thuyền Shuinsen thời kỳ đầu của chính quyền Mạc phủ Tokugawa

2.2 Bối cảnh lịch sử Nhật Bản thời Mạc phủ Tokugawa đến năm 1635

Vào 40 năm đầu thế kỷ XVII ở Nhật Bản có nhiều biến đổi lớn Sau khi Shogun Hideyoshi mất (1598), quyền lực của Hội đồng Trưởng lão rơi vào tay Ieyasu Chiến thắng Sekigahara năm 1600 đã đặt cơ sở vững chắc cho Ieyasu trở thành người nắm quyền tối cao ở Nhật Bản Năm 1603, Tokugawa Ieyasu được Thiên hoàng ban chức Shogun và thiết lập Mạc phủ ở Edo (Thủ đô Tokyo ngày nay),

mở đầu “thời đại Edo” hay “thời đại Tokugawa” (1603 – 1868)(R.H.P Mason & J.G Caiger, 2003, tr.214-215) Chính quyền Mạc phủ Tokugawa về thực chất đảm đương chức năng của một chính phủ Tướng quân Ieyasu là người đặt nền móng cho một chính quyền có kỷ cương và hiệu quả hơn tất cả những gì đã có ở đảo quốc này, mở

ra bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Nhật Bản Thể chế do Tokugawa Ieyasu xây dựng và của những người kế tục đưa đến sự ổn định về chính trị, xác lập một nền hòa bình bền vững và trọn vẹn trong hơn hai thế kỷ mà hầu như chưa có dân tộc nào đạt được lúc bấy giờ

Trang 23

Cùng với Shogun Oda Nobunaga và Shogun Toyotomi Hideyoshi, Shogun Tokugawa Ieyasu (1542 – 1616) được coi là nhân vật kiệt xuất nhất trong lịch sử Nhật Bản thời trung đại Là một người nhìn xa trông rộng nhưng cũng hết sức thận trọng, Tokugawa Ieyasu đã chuẩn bị những bước đi vững chắc, hết sức khôn khéo nhằm giải quyết một cách căn bản các vấn đề thực tại của xã hội Nhật Bản lúc đó đồng thời hướng tới xây dựng một thể chế chính trị ổn định, tái thiết nền hoà bình và thống nhất quốc gia

Thực hiện mục tiêu trên, Tokugawa đã có những nỗ lực lớn để củng cố sức mạnh của chính quyền phong kiến tập trung nhằm đạt tới sự điều hành hữu hiệu, trực tiếp của chính quyền trung ương với các địa phương thông qua một cơ chế vận động song song: Mạc phủ, đứng đầu là Shogun (tướng quân) Tokugawa ở Edo và các Daimyo (lãnh chúa) cai trị khoảng 265 han (lãnh địa) (Vĩnh Sính, 1991, tr.36) Do

đó, cơ cấu chính trị mang tính chất quân phiệt này thường được gọi là Bakuhan Taisei tức là Chế độ Mạc phủ – công quốc hay còn được gọi là: Mạc – phiên thể chế, dựa vào sự phục tùng và trung thành tuyệt đối của các võ sĩ

Trên cơ sở mối quan hệ truyền thống và thái độ của các Daimyo trước trận Sekigahara, Tokugawa Ieyasu đã chia các lãnh chúa ra làm 3 loại: Shimpan (thân phiên) gồm có 23 lãnh chúa là họ hàng, con cháu gia tộc Tokugawa Các lãnh chúa này là phiên dậu của chính quyền Edo trong đó dẫn đầu các shimpan là 3 han do 3 con trai của Tokugawa Ieyasu cầm đầu: Mito, Owari và Kii Ba phiên này được ngọi

là “Ngự tam gia”, chiếm giữ những vị trí chiến lược, được hưởng những đặc quyền kinh tế đồng thời là nơi chọn người nối nghiệp Shogun trong trường hợp dòng chính

ở Edo không có người thừa kế (Vĩnh Sính, 1991, tr.36)

Mito ở phía Bắc Edo, được quyền quản lý một lãnh địa rộng lớn có thu nhập tương đương với 350.000 koku thóc (một koku tương đương với 120kg) Đơn vị đo lường này cũng thường thay đổi qua thời gian và có giá trị tương đối khác biệt giữa các địa phương) Owari nằm ở giữa Edo và Kyoto, tại vùng đồng bằng Nagoya có mức thu 619.500 koku Kii án ngữ phía Tây Nam Kyoto với trung tâm là Wakayama

và cũng có thu nhập 555.000 koku (Vĩnh Sính, 1991, tr.37)

Tiếp đến là các Fudai Daimyo (phổ đại) gồm 145 lãnh chúa, vốn là đồng minh của tập đoàn Tokugawa từ trước năm 1600 Mặc dù có số lượng đông nhưng Fudai thường là các lãnh chúa nhỏ, tổng thu nhập của họ khoảng 6.700.000 koku Cuối cùng là Tozama Daimyo (ngoại dạng) gồm 97 lãnh chúa Đây chính là những lãnh chúa chỉ chịu thuần phục Tokugawa sau khi bị đánh bại trong trận Sekigahara Những lãnh chúa này sống tập trung ở phía Bắc hoặc miền Tây Nhật Bản Trong lịch

sử Nhật Bản, các Tozama Daimyo vốn là những dòng họ lớn, rất có thế lực về chính trị và kinh tế Ví như, Satsuma ở vùng Đông Nam Kyushu có thu nhập tới 770.800 koku Trên đảo Honshu những lãnh địa như Choshu cũng có thu nhập 369.000 koku

và đặc biệt là Kaga có thu nhập đến 1.022.700 koku Tổng thu nhập của các lãnh chúa ngoại dạng lên tới 9.800.000 koku

Trang 24

Nhưng lãnh chúa có thu nhập vượt trội hơn tất cả là Tokugawa Ieyasu Bản thân ông giữ cương vị tướng quân nhưng đồng thời cũng là lãnh chúa lớn nhất nắm quyền sở hữu 6.480.000 koku, tức là chiếm tới 25% tổng sản lượng nông nghiệp toàn quốc và khoảng 30% dân số “Vương quốc” của ông trải rộng khắp vùng đồng bằng Kanto, khu vực phụ cận Kyoto, kéo dài tới miền duyên hải phía Nam Ngoài ra, tướng quân Tokugawa còn nắm quyền cai trị trực tiếp những trung tâm hành chính

và kinh tế lớn như: Edo, Kyoto, Osaka, Nagasaki, quản lý các mỏ khoáng sản giàu

có, thâu tóm quan hệ ngoại thương cùng một số lĩnh vực kinh tế quan trọng khác của Nhật Bản Với từng loại Daimyo, Mạc phủ có cách đối xử phân biệt không chỉ trong việc ban cấp lãnh địa, tài sản mà còn trong vấn đề hành chính, luật pháp, tước vị cùng nghĩa vụ phải thực hiện đối với chính quyền trung ương…

Bên cạnh một chính sách có phần ưu ái, nâng đỡ cho các Shimpan và fudai daimyo, Mạc phủ cũng luôn có thái dộ mềm dẻo nhưng hết sức nguyên tắc với các lãnh chúa vốn là những kẻ thù địch Do là “người ngoài”, các Tozama Daimyo được đối xử đúng nghi lễ thậm chí được coi gần như ngang hàng nhưng để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra, Mạc phủ đã phân phong cho các daimyo thân tín những vùng đất có vị trí chiến lược hoặc ở ngay gần kể những lãnh chúa có khả năng chống đối Mục tiêu của chính sách này vừa là để tiện theo dõi, kiểm soát vừa có thể ngăn chặn sớm nếu như các lãnh chúa đó dám liều lĩnh phản bội lại chính quyền trung ương Nhằm làm giảm thiểu sức mạnh của các lãnh chúa, Mạc phủ thường đặt ra những nghĩa vụ đóng góp nặng nề cho các công việc có tính chất quốc gia hay công trình công cộng đòi hỏi đầu tư lớn như: Bắc cầu, đắp đường, làm thuỷ lợi, sửa chữa thành quách v.v…

Để quản lý chặt chẽ hơn nữa các lãnh chúa trên cơ sở một nguyên tắc chung, năm 1615 trước khi qua đời, Tokugawa Ieyasu đã ban hành bộ luật “Luật vũ gia chư pháp độ” (Buke Shohatto) nhằm thiết chế hoá cơ chế chính trị dựa trên những quy định của đẳng cấp võ sĩ 20 năm sau, bộ luật lại được vị Shogun thứ ba, Tokugawa Iemitsu (1604 – 1651) chỉnh lý, hoàn thiện thêm một bước nữa với những điều khoản quy định nghiêm cẩn về địa vị, bổn phận của các han đối với chính quyền trung ương, nguyên tắc đạo đức, hành vi của từng đẳng cấp trong xã hội đặc biệt là đẳng cấp Samurai

Bộ luật nghiêm cấm các han không được tự ý sửa chữa, xây dựng lâu đài mới nếu chưa được phép của Mạc phủ Cấm các lãnh chúa liên kết đồng minh hay thông gia với nhau Họ cũng không được phép đóng thuyền lớn Bên cạnh những quy định

đó, Mạc phủ còn đặt trạm kiểm soát trên các đường giao thông, hạn chế việc xây cầu, luật lệ hoá chế độ Sankin Kotai, tức chế độ Luân phiên trình diện đối với các Daimyo (David J.Lu, 1997, p.206-209)

Mạc phủ Tokugawa với thiết chế chính trị của nó, vừa mang tính chất quân sự vừa có chức năng dân sự, vừa thống trị Nhật Bản với tư cách là lãnh chúa lớn nhất vừa đóng vai trò của chính phủ trung ương, thay mặt Thiên hoàng cai quản đất nước,

Trang 25

hoạch định chính sách quốc gia Mặc dù, từ năm 1192, các tướng quân đã khuynh loát quyền lực của Thiên hoàng nhưng trong quan hệ với triều đình Kyoto, Mạc phủ luôn tỏ ra tuân thủ các nguyên tắc của đạo lý truyền thống bởi vì trên danh nghĩa Thiên hoàng vẫn là người có quyền uy cao nhất ở Nhật Bản.

Hoàng gia, mà linh hồn là Thiên hoàng, luôn có ý nghĩa là trung tâm hội tụ của sức mạnh truyền thống đồng thời là biểu tượng cho sự trường tồn và thống nhất dân tộc Sự tồn tại song song của hai chính quyền trong cơ chế điều hành kép: Thiên hoàng (triều đình) và tướng quân (Mạc phủ) kéo dài gần 700 năm trong lịch sử Nhật Bản còn in đậm nét cho đến ngày nay là một đặc điểm rất đáng chú ý Nguồn gốc thiêng liêng của Nhật hoàng thấm sâu trong truyền thống và ý thức dân tộc đã khiến cho các tướng quân, dù có tham vọng đến đâu, cũng phải tính toán cẩn trọng trong các bước đi chính trị.(David J.Lu, 1997, p.206-209)

Hơn thế nữa, ở đất nước biệt lập như Nhật Bản, luôn bị chia cắt bởi những thế lực cát cứ thì vị thế thiêng liêng và quyền lực của Thiên hoàng, dù chỉ là hư vị, là điều kiện cần để dung hoà các xung đột Trong ý nghĩ đó, tướng quân được coi là kẻ

bề tôi của Nhật hoàng phải chấp nhận nguyên tắc tối thượng nêu trên

Dưới thời Tokugawa, Nho giáo được coi là tư tưởng chính thống với chữ Trung Hoa mang ý nghĩa chi phối các giá trị đạo đức khác Các học giả uyên bác nhất của chế độ Mạc phủ đã tìm thấy trong giá trị của học thuyết Nho giáo nhiều điểm tương đồng với Thần đạo (Shinto), một tôn giáo chủ yếu là tôn thờ các vị thần

tự nhiên, thể hiện bản sắc và thế ứng xử với tự nhiên của cư dân nông nghiệp Nhật Bản Trên thực tế, Nho giáo Nhật Bản thời kỳ Edo, một hệ tư tưởng và lý luận đạo đức chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Tống Nho, đã đạt đến độ hòa trộn cao với tôn giáo bản địa

Vào đầu thời kỳ Tokugawa, chính quyền Tokugawa có thái độ tích cực và khá khoan dung đối với người châu u, cho thương nhân được hưởng một số đặc quyền, khuyến khích họ tới Nhật Bản buôn bán nhằm mở rộng ngoại thương Qua đó, người Nhật có thể tiếp thu, học hỏi được nhiều kỹ thuật tiên tiến phương Tây, như khai mỏ, hàng hải Đồng thời, việc buôn bán cũng mang lại cho người Nhật nhiều lợi ích kinh

tế Do những lí do khách quan và chủ quan trong thời kỳ này, góp phần làm cho ngoại thương Nhật Bản phát triển vượt bậc

Trước tiên, sự phát triển mạnh mẽ ngoại thương Nhật Bản là do nhu cầu phát triển của nền kinh tế Đất nước hòa bình, đời sống nhân dân được nâng cao nên nhu cầu về hàng hóa tăng lên nhanh chóng Các Daimyora sức phát triển sản xuất, tăng cường trao đổi buôn bán với nước ngoài Nội thương của Nhật được mở rộng, tạo ra một tầng lớp thương gia ngày càng đông đảo và giàu có, dẫn đến nhu cầu mở rộng thị trường Kinh tế hàng hóa phát triển là một cơ sở vững chắc cho hoạt động ngoại thương mở rộng nhanh chóng

Vào thế kỷ XVI, ngoài những thương nhân châu Á quen thuộc như Trung Quốc, Ayuthaya, Java … người Nhật Bản còn thường xuyên buôn bán với Đàng

Trang 26

Trong Đặc biệt, từ nửa sau thế kỷ, các năm 1573, 1585 thuyền buôn Nhật đến các cảng Đàng Trong và khá nhộn nhịp vào những năm 90 của thế kỷ XVI Chính vì vậy,

từ khi Tokugawa Ieyasu lên cầm quyền, quan hệ Nhật – Việt càng trở nên thường xuyên và chặt chẽ hơn Trong mậu dịch với các nước, chính quyền Tokugawa có sự kiểm soát chặt chẽ thông qua các Châu ấn trạng (Shuinjo) được cấp cho các thương thuyền ra nước ngoài Những thương thuyền được cấp Châu ấn trạng được gọi là Châu Ấn thuyền (Shuinsen) (Vĩnh Sính, 1991)

Trong gần 40 năm đầu thế kỷ XVII – từ năm 1601 – 1635, quan hệ Nhật Bản – Đàng Trong có bước phát triển mới về hình thức và nội dung Chính quyền Chúa Nguyễn và Mạc phủ thường xuyên trao đổi văn thư nhằm mở rộng quan hệ, khuyến khích thương nhân Nhật Bản đến Việt Nam nói chung và Đàng Trong nói riêng để buôn bán

Đến đầu thế kỉ XVII, tín đồ Thiên Chúa giáo ở Nhật Bản không ngừng tăng lên: từ 30 vạn (1605) lên 70 vạn (1615) Do đó, Thiên Chúa giáo càng bị nghi ngờ gây ra sự bất ổn đối với chính quyền Shogun; cho nên Ieyasu đã hạn chế hoạt động truyền giáo: năm 1612, với Cấm giáo lệnh (Kinkyorei), Ieyasu cấm Fudai Daimyo và

võ sĩ trong lãnh địa của họ không được theo Thiên Chúa giáo; năm 1613 ra lệnh cấm đạo trên toàn quốc Đến năm 1616, Mạc phủ đưa ra sách lược mới là hạn chế số tàu

bè các nước u châu được ghé hải cảng Hirado và Nagasaki, bắt đầu gây khó khăn cho thương nhân châu u (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.100)

Sau khi Ieyasu mất, các Shogun Hidettada (1616-1623) và Iemitsu 1651) cũng bắt đầu có những chính sách thắt chặt về ngoại giao, kiểm soát xã hội nhất là càng bài đạo Thiên Chúa giáo gắt gao hơn Năm 1622, với cuộc xử hình Thiên Chúa giáo đại quy mô làm cho nhiều tín đồ bị treo cổ, trong đó có 9 nhà truyền giáo phương Tây Tiếp đó Shogun Iemitsu bắt đầu thực hiện “lệnh tỏa quốc” (Sakoku) vì những lý do sau:

(1623 Mạc phủ muốn xây dựng Edo thành trung tâm buôn bán lớn với nước ngoài, hạn chế sự phát triển của khu vực phía Nam - Sakai, Kyoto, Nagasaki, Hakata…vốn thuộc quyền cai quản của Tozama Saimyo, không được Ieyasu tin cậy

- Hạn chế sự phát triển của Thiên Chúa giáo, đang tấn công vào Khổng giáo gây ra nguy cơ làm suy yếu cơ sở tư tưởng, tinh thần của chế độ Shogun

- Sự cạnh tranh của các thương nhân nước ngoài (giữa Anh, Hà Lan với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) để độc chiếm thị trường Nhật Bản (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.101)

Do đó, năm 1623, người Anh vì không cạnh tranh nổi với người Hà Lan nên đóng cửa thương quán Hirado và triệt thoát khỏi Nhật Năm 1624, cấm hẳn tàu buôn Tây Ban Nha ghé Nhật, chấm dứt giao thiệp với Tây Ban Nha Mạc phủ cùng lúc cũng kiểm soát gắt gao hơn các thuyền buôn Nhật Bản đi ra nước ngoài Năm 1631, chính quyền Tokugawa bắt đầu thực hiện chế độ Hoshobune (Phụng thư thuyền)

Trang 27

Theo đó các thuyền buôn khi ra nước ngoài không những bắt buộc có Shuinjo (Châu

ấn trạng) để trở thành Shuinsen (Châu ấn thuyền), các thuyền buôn phải được chức Rojuu (Lão trung) cấp cho Rojuu hosho (Lão trung phụng thư), một loại giấy phép thứ hai

Đến thời Shogun Iemitsu đã ban hành 5 sắc lệnh “tỏa quốc” nhằm hạn chế việc buôn bán với nước ngoài, đóng cửa đất nước Trong đó, đạo luật đầu tiên ban hành vào năm 1633, thực chất là “sắc lệnh” của Mạc phủ gửi cho Phụng hành Nagasaki, gồm những nội dung cơ bản sau:

- Cấm mọi tàu buôn và người Nhật ra nước ngoài nếu không có giấy phép đặc biệt của Mạc phủ

- Những người Nhật ở nước ngoài dưới 5 năm được phép về nước, nhưng nếu tiếp tục ra đi sẽ bị kết án tử hình

- Các tàu buôn nước ngoài muốn đến Nhật Bản phải được phép của chính quyền Mạc phủ

Các đạo luật tiếp sau, được ban hành vào các năm 1635 và 1636, khẳng định đạo luật 1633 và nhấn mạnh thêm các điều khoản:

- Tuyệt đối cấm tàu buôn Nhật Bản và người Nhật Bản ra nước ngoài; người nào trốn sẽ bị treo cổ;

- Cho phép nhập lụa thô của Trung Quốc

- Quy định thể lệ đối với tàu nước ngoài vào Nhật và có một số điều ưu tiên với người Bồ Đào Nha

- Người nước ngoài phải chuyển về sống tại một khu vực tập trung ở đảo Deshima (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.102)

Từ các điều trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng thông qua hàng loạt chủ trương giàu tính sáng tạo, chính quyền Tokugawa đã giải quyết tương đối thành công nhiều vấn đề đặt ra trong xã hội Nhật Bản lúc đó, đưa Nhật Bản bước vào thời kỳ hoà bình, ổn định lâu dài nhất trong lịch sử Môi trường hoà bình, ổn định đó đã tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hoá Hơn nữa, đó cũng là khoảng thời gian hết sức quý báu để dân tộc Nhật Bản chuẩn bị những lực lượng vật chất cần thiết, tích luỹ kinh nghiệm, định thành một ý thức dân tộc mạnh mẽ chuẩn bị đương đầu với thế giới phương Tây

Những đặc điểm tiêu biểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, tôn giáo vốn có ở Nhật Bản cũng đã góp phần “làm nên lịch sử” thời kỳ này Trong dòng phát triển liên tục đó, Tokugawa Ieyasu và những người kế nhiệm ông đã không dễ dàng gạt bỏ những yếu tố truyền thống mà ngược lại còn kế thừa một cách tích cực các giá trị đó đồng thời luôn tỏ ra thích ứng với những biến chuyển của thời đại Trong hơn hai thế kỷ, kinh tế, xã hội Nhật Bản đã diễn ra nhiều biến chuyển sâu sắc Những

Trang 28

biến chuyển đó đã tạo nên điều kiện khách quan cho Nhật Bản tiến vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ ra đời của một nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên ở châu Á

Trang 29

CHƯƠNG 3 CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA ĐÀNG TRONG

VÀ NHẬT BẢN CỦA CHÚA NGUYỄN VÀ MẠC PHỦ TOKUGAWA

GIAI ĐOẠN 1601-1635 3.1 Chính quyền Chúa Nguyễn với quá trình mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản thời kỳ 1601-1635

Vùng đất Thuận – Quảng, một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Trung,

có tài nguyên và nguồn lâm thổ sản phong phú, có những cảng biển nổi tiếng đã từng thu hút thương khách nước ngoài trong nhiều thế kỷ trước đó Đối với Nguyễn Hoàng, việc tận dụng và phát huy những tiềm năng của xứ Thuận – Quảng để nó có khả năng đảm bảo cho một tương lai chính trị mà thuở ra đi ông đã bắt đầu toan tính

là những việc làm tiên quyết Nhận thấy những hạn chế của điều kiện tự nhiên đối với cư dân nông nghiệp vùng khô, Nguyễn Hoàng và sau đó là Nguyễn Phúc Nguyên

đã xác lập một chiến lược phát triển mới với những bước đi và hình thức khác biệt nhằm hòa nhập mạnh mẽ hơn với những bước chuyển biến chung của khu vực Cách thức lựa chọn con đường phát triển đó đã đưa Đàng Trong hội nhập với mô hình phát triển chung của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á lúc bấy giờ là hướng ra biển Phát triển ngoại thương đã trở thành một chiến lược kinh tế liên quan đến sự sống còn của thể chế mà các Chúa Nguyễn ra công tạo dựng

Thế kỉ XVII – XVIII, lịch sử Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương Đàng Trong Đây không phải là một sự ngẫu nhiên của lịch sử mà nó xuất phát từ những nguyên nhân hết sức khách quan và chủ quan theo một quy luật không thể sai khác được Để có được sự phát triển mạnh mẽ của cả khu vực Đàng Trong nói chung và ngoại thương nói riêng, những người lãnh đạo đã có những quyết định mạnh dạn và dứt khoát để vượt qua những trở ngại, rào cản về chính trị và quân

sự cho một sự thịnh vượng về sau

Trong vấn đề này, sự kiện đầu tiên cần phải đề cập đến là sự kiện Tết Đoan Ngọ năm 1600: Đối với lịch sử trung hưng nhà Lê, năm Canh Tý - 1600, dù nhìn dưới khía cạnh nào cũng phải thừa nhận đây là một móc lịch sử quan trọng

Năm 1600, đánh dấu sự thoát ly của Nguyễn Hoàng khỏi vòng cương tỏa của Trịnh Tùng Nói rõ hơn, năm 1600, Nguyễn Hoàng dứt khoát bỏ miền Bắc, đặt Thuận – Quảng vào thế đứng biệt lập với Thăng Long, hay Đàng Trong biệt lập với Đàng Ngoài

Như vậy, sau biến cố Tết Đoan Ngọ, người ta thấy Trịnh Tùng lo giữ thế thủ hơn là phô trương thế công Biết Nguyễn Hoàng đã về lại Thuận Hoá, tất nhiên biên giới phía Nam của Tây Đô là Đèo Ngang, Trịnh Tùng phải lo phòng vệ tối đa Lần thứ nhất, đây là một phòng tuyến giữa hai thế lực Bắc và Nam có lý do xuất hiện, cả trong tư tưởng cả trên thực tế của hiện trường

Trang 30

Kinh tế bao giờ muốn phát triển cũng đòi hỏi những yêu cầu về an ninh và hòa bình Trong bối cảnh mở cõi lập quốc ở vùng đất mới các Chúa Nguyễn lúc nào cũng canh cánh nỗi lo về thế lực họ Trịnh ở phía Bắc Do đó, sự tồn tại và phát triển phải

đi đôi với quá trình chiến đấu để bảo vệ Nhận thức rõ vấn đề sống còn đó trước khi mất Nguyễn Hoàng đã để lại những lời di huấn cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên Theo lời cha dặn, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã tiến hành các hoạt động cả về chính trị lẫn quân sự để phân định sơn hà với họ Trịnh Sau khi cũng cố bộ máy chính quyền và lực lượng, Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế hàng năm cho triều đình trung ương Với những hành động nói trên, Nguyễn Phúc Nguyên đã biến

từ một chính quyền địa phương phụ thuộc vào nhà nước trung ương thành một chính quyền phong kiến biệt lập của họ Nguyễn, tách khỏi chính quyền trung ương, chống lại triều đình nhà Lê – Trịnh Mâu thuẫn giữa Trịnh – Nguyễn đã trở nên quyết liệt và

đó chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn, mở đầu từ năm

1627 kéo dài đến 1672 Trong bảy lần giao tranh, quân Trịnh chủ động tấn công đánh quân Nguyễn tới sáu lần, quân Nguyễn chỉ chủ dộng tấn công quân Trịnh trong lần giao tranh thứ năm (1655-1660) Do lực lượng cả hai bên đều mạnh nên kết quả sau bảy lần giao chiến không bên nào giành được thắng lợi Cuối cùng phải lấy sông Gianh làm giới tuyến chia đôi vùng cai quản Kể từ đây, đất nước ta cũng bị chia đôi,

sử cũ thường gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài

Như thế, bằng những hành động quyết đoán trong cả chính trị và quân sự các Chúa Nguyễn đã tạo ra một không gian cho sự phát triển mới của cả xứ Đàng Trong Cũng cần nói thêm, sở dĩ hoạt động kinh tế hàng hóa và mở đất ở Đàng Trong phát triển mạnh mẽ trong thế kỉ XVII – XVIII xuất phát từ nhiều nguyên nhân Cổ nhân thường nói: “phi thương bất phú, phi trí bất hưng, phi nông bất ổn”, nhưng khi xét điều này ở Đàng Trong thì có những phần sai khác

Về nông nghiệp: Khởi thủy khi chúa Tiên vào trấn nhậm đất Thuận – Quảng, thì nông nghiệp không phải là thế mạnh của vùng đất này Đất đai kém mầu mở, nguồn nhân lực ít ỏi khiến việc phát triển nông nghiệp trở nên khó khăn Tuy nhiên, Thuận - Quảng lại nằm trên con đường giao thương huyết mạch Bắc – Nam, Đông - Tây với nhiều cảng biển tốt Nguyễn Hoàng với cái nhìn của một nhà chiến lược không khó để nhận ra điều đó, để đi đến quyết định mở mang thương mại nhất là ngoại thương để tăng cường lực lượng cho Đàng Trong Song song với việc đẩy mạnh mở cõi về phương Nam, thì việc phát triển thương mại và ngoại thương là điều sống còn với các Chúa Nguyễn

Những hành động của các Chúa Nguyễn đã đảo lộn hoàn toàn tư tưởng “dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt” chỉ chú trọng “nghề gốc” (nghề nông) hạn chế “nghề ngọn” (nghề buôn) Nghề buôn, người đi buôn… do vậy thường bị xem thường, bị khinh miệt

Sang thời Lê Trung Hưng (từ thế kỉ XVII) tình hình ngoại thương nước ta bắt đầu có chuyển biến mới Chúng ta có thể nêu lên hai nguyên nhân quan trọng của sự

Trang 31

chuyển biến ấy: Về mặt chủ quan thì cuộc phân tranh Nguyễn Trịnh đặt họ Trịnh ở Đàng Ngoài cũng như họ Nguyễn ở Đàng Trong trước nhu cầu bức thiết đối với một

số vật liệu quân dụng, như diêm sinh, diêm tiêu, súng ống Đàng Trong lại cần dùng đồng và bạc, cho nên mặc dù về chính trị chính quyền Đàng Ngoài cũng như chính quyền Đàng Trong phải đóng cửa tử thủ, họ vẫn hoan nghênh những thuyền buôn ngoại quốc chở đến bán cho họ những vật cần dùng cho chiến tranh mà họ không thể

tự cấp trong nước được Hơn nữa, việc mở cửa ngoại thương sẽ đưa lại món lợi lớn,

có thể bù phần nào sự thiếu hụt ngân khố nhà nước do chiến tranh nông dân lưu tán, khởi nghĩa không thu thuế được; đồng thời đáp ứng phần nào nhu cầu tiêu dùng và thỏa mãn tính hiếu kỳ của các vua chúa và quan lại phong kiến đương thời Về mặt khách quan, tình hình mậu dịch quốc tế có những chuyển biến lớn từ thế kỉ XVI dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản, sang thế kỉ XVII cũng có tác dụng quan trọng đến nước ta là nước nằm ngay trên đường giao thông quốc tế giữa Ấn Độ và Thái Bình Dương hoặc là những ảnh hưởng gián tiếp qua Trung Quốc và Nhật Bản, hoặc là những ảnh hưởng trực tiếp do các tư bản Tây phương

Các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, do nhu cầu tồn tại và phát triển, cũng như tăng cường lực lượng để đối phó với các cuộc chiến tranh từ nhà Trịnh ở phía Bắc, Champa ở phía Nam, rồi Chân Lạp, Siam … nên ngoại thương được chú trọng đặt biệt và trở thành quốc sách của Đàng Trong lúc bấy giờ Theo Christophoro Borri (1621): “thật lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn một trăm dặm một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều rất thuận tiện để cặp bến và lên đất liền” (Cristophoro Borri, 1998, tr.91) Có thể nói, các Chúa Nguyễn lúc bấy giờ trong cái khó đã dám đi một nước cờ “mạo hiểm” so với cách trị quốc của các triều đại trước Cách thức lựa chọn con đường phát triển đó đã đưa Đàng Trong tái hợp với mô hình phát triển chung của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á và ngã mạnh về hướng biển Trong diễn tiến lịch sử đó, vai trò của những vị Chúa thời khai sáng như Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên có ý nghĩa hết sức quan trọng

Các Chúa Nguyễn còn tổ chức xây dựng bến cảng, nhà trạm thuận tiện cho việc lưu thông thủy bộ Ch Borri ghi nhận:

Về các cảng của họ thì có một điều đáng phục là trong khoảng 100 dặm người

ta thấy có tới trên 60 chỗ có thể đổ bộ được… cảng tốt nhất mà mọi khách lạ đều tới là nơi người ta tổ chức hội chợ nổi tiếng như chúng tôi đã nói thì thuộc tỉnh Cacciam (Quảng Nam) Người ta vào đó bằng hai cửa biển, một cửa tên là Puluciam (Đại Chiêm) và một cửa là Tevrono (Đà Nẵng)

(Cristophoro Borri, 1998, tr.91)

Trong việc hoạch định chiến lược tồn tại và phát triển cho vương quốc Đàng Trong cho dòng họ Nguyễn Gia Miêu Ngoại trang công đầu phải thuộc về chúa Tiên Ông chính là công trình sư xuất sắc dám nghĩ dám làm để tạo ra một xứ “Việt Nam khác” ở phía Nam Đại Việt mà sức mạnh từ ban đầu được tạo ra từ nền thương nghiệp với các thương nhân ngoại quốc Các thương thuyền mang Châu ấn của Nhật

Trang 32

Bản đã là một phương thế trong tầm tay của ông Sự giao thương đến từ Nhật Bản đã đem lại cho xứ Đàng Trong và họ Nguyễn niềm hy vọng tươi sáng vào tương lai Khi đã có điều kiện mở thương cảng, nội thương phát triển làm nền tảng phục

vụ ngoại thương, các Chúa Nguyễn bắt đầu chủ động tạo ra những mối quan hệ buôn bán với bên ngoài bằng biện pháp mời gọi thương nhân nước ngoài đến buôn bán và làm ăn Biện pháp này đã đưa các Chúa Nguyễn trở thành những người đầu tiên có những quan hệ giao thương quốc tế rộng Sự chủ động “mời gọi” này là một bước đi

cụ thể trong chính sách giao thương của các Chúa Nguyễn Để thể hiện tính chủ động, các Chúa Nguyễn viết các văn thư ngoại giao, tặng quà gây thiện cảm, ký các hiệp ước tạo điều kiện hay bảo hộ thương nhân và hoạt động thương mại của thương nhân

Năm 1600, với chiến lược ngoại thương được xác định rõ ràng, ngay khi trở về

từ phía Bắc, Nguyễn Hoàng nhanh chóng thắt chặt mối quan hệ với Nhật Bản Bằng nhãn quan của một nhà chính trị lão luyện và sự nhạy bén trong cách nhìn nhận vấn

đề Nguyễn Hoàng đã bắt đầu mối quan hệ với Nhật Bản thông qua sự vụ của thương nhân Hiển Quý (Shirahama Kenki) Phần Tiền biên của Đại Nam thực lục ghi rõ:

Ất Dậu, năm thứ 28 [1585], mùa xuân, tháng 3, bấy giờ có tướng giặc nước Tây Dương hiệu là Hiển Quý (Hiển Quý là tên hiệu của bọn tù trưởng phiên, không phải là tên người) đi 5 chiếc thuyền lớn, đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 10 chiếc thuyền tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc Hiển Quý sợ chạy Chúa cả mừng nói rằng: Con ta thật anh kiệt Từ đó giặc biển im hơi

(Dẫn theo Trần Trọng Kim, 2002, tr.32)

Cũng trong năm 1600, tàu của Hiển Quý bị đắm ở cửa biển Thuận An và sau

đó xảy ra đánh nhau với quan Đại Đô Đường Thuận Hóa làm cho viên quan này chết Sau đó, Hiển Quý bị bắt về giam ở Thuận Hóa Nguyễn Hoàng khi về đất Thuận Hóa

đã đi gặp Hiển Quý Năm 1601 (tức 16 năm sau) trong bức thư gửi tướng quân Tokugawa thứ nhất, chúa Nguyễn Hoàng đã thanh minh sự kiện này với lời lẽ rất khéo léo và cung kính, mong muốn giữ quan hệ hòa hiếu, giúp đỡ lẫn nhau Chúa tha cho Hiển Quý về Nhật với một bức thư gửi cho chính quyền Tokugawa để bắt đầu kỉ nguyên thương mại chính thức giữa Đàng Trong và Nhật Bản

Mở đầu mối quan hệ có tính chất nhà nước giữa Việt Nam - Nhật Bản được ghi nhận qua bức thư của chúa Nguyễn Hoàng gửi cho Shogun Tokugawa Ieyasu ngày 5/5/1601:

Quan Thiên hạ Thống binh Đô Nguyên súy Đoan Quốc công nước An Nam: Gửi Mạc phủ Đức Xuyên:

Nay thường được ý tốt của Ô Gia Khang, trước đã sai Bạch Tần Hiển Quý đi thuyền đến mua hàng, thông thương kết hòa, lại cho thơ tới, đó là việc của quan Đô Đường trước, nay tôi mới nhận chức Đô Nguyên Súy, muốn theo như

Trang 33

trước, hai nước giao thông Không may, khoảng tháng 4 năm qua thuyền của

Ô Hiển Quý đậu ở của biển Thuận Hóa, bị bão gió vỡ thuyền, không nơi nương cậy Quan Đại Đô Đường ở Thuận Hóa không biết Ô Hiển Quý là nhà buôn lương thiện, tranh giành với các người ở thuyền, không ngờ quan Đô Đường vì việc lầm đó mà thiệt mạng, các tướng súy đem lòng báo thù, thường ngày đến đòi giết Hiển Quý Tôi ở Đông Kinh được tin đó, rất là tiếc, năm rồi tôi phụng mạng thiên triều đến trấn giữ nơi này, thấy Hiển Quý còn ở nước tôi, vẫn muốn dùng thuyền đưa về nước, nhưng vì tiết trời chưa thuận, phải đợi chờ đến nay

May sao, có thuyền buôn của quý quốc lại tới, Ô Hiển Quý hiểu biết sự đó, tôi vui lòng lắm Vậy có chút lễ mọn để tỏ lòng thành, mong ông nhận cho Ngoài

ra còn một phong thư nhờ ông chuyển tới Thượng vị, và bảo ông Hiển Quý trở

về nước, để kết tình nước anh em và giữ lẽ trời đất Nếu được như thế, thì xin giúp cho bốn thứ quân khí, để dùng vào việc nước (sinh, diêm, sơn và khí giới) Tôi thật cảm ơn vô cùng …

(Phan Thanh Hải, 2007, tr.62)

Về phần chính quyền Tokugawa, họ nói rõ Hiển Quý không phải là phái viên chính thức của họ: “Những con người độc ác ấy đã phạm tội giết người đáng bị dân tộc quý ngài trừng phạt Lòng quảng đại của quý ngài đối với các thủy thủ ấy đáng được chúng tôi ghi lòng tạc dạ một cách sâu sắc.” (Li Tana, 1999, tr.88) Bức thư còn thông báo cho Chúa Nguyễn về các Châu ấn thuyền: “Trong tương lai các tàu thuyền

từ xứ chúng tôi tới thăm xứ của Ngài phải được chứng nhận bởi con dấu đóng trên bức thư này, tàu thuyền nào không có con dấu sẽ bị coi là bất hợp pháp” (Li Tana,

1999, tr.88)

Qua nội dung của bức thư Chúa Nguyễn gửi cho Tokugawa có thể thấy được chính quyền Đàng Trong rất coi trọng quan hệ với Nhật Bản, mong muốn được tăng cường mối quan hệ buôn bán Có thể, Chúa Nguyễn đã lầm tưởng Hiển Quý là một thương gia do chính quyền Tokugawa phái tới, hoặc có thể ông đã coi sự hiện diện của anh ta như một cơ hội thuận lợi để thiết lập mối giao hảo với Nhật Bản theo chiều hướng “tiếp tục các mối quan hệ tốt của chúng ta theo tiền lệ” (Li Tana, 1999, tr.88), như thư của Nguyễn Hoàng cho thấy Ngược lại, chính quyền Mạc phủ cũng bày tỏ thiện chí, bỏ qua hiềm khích, nói rõ Hiển Quý không phải là phái viên chính

Trang 34

thức và thông báo với Chúa Nguyễn về việc thuyền buôn đến từ Nhật phải có giấy phép (Châu ấn trạng) của chính quyền Nhật Bản Chính nhờ mối giao hảo này mà

“hai bên bắt đầu buôn bán với nhau một cách đều đặn từ thời điểm đó” (Li Tana,

1999, tr.88)

Từ năm 1601 đến 1606, Chúa Nguyễn đã gửi cho chính quyền Tokugawa 8 bức thư Trong các bức thư Chúa Nguyễn luôn tỏ ra là bạn hàng hăm hở và đóng vai trò chủ động mời gọi buôn bán Cùng với trao đổi thư từ, Chúa Nguyễn cũng đã hai lần gửi tặng phẩm trong đó đáng kể nhất là việc Chúa cử một phái đoàn gồm 1.200 người mang theo tặng phẩm là một con hổ, một con voi và hai con công lớn tới Nagasaki để tặng cho phía Nhật Bản

Như thế, trong cách xử trí khéo léo, có dụng ý của Chúa Tiên đã tạo ra được lòng tin lớn từ phía chính quyền Nhật Bản đối với Đàng Trong, đi kèm với đó là lời hứa giao hảo qua các thương thuyền mang Châu ấn của chính quyền Tokugawa Qua đấy cho chúng ta thấy rõ cái uy đức, cái tầm nhìn của Chúa Nguyễn rất cao sâu Chính Chúa Nguyễn là người trực tiếp, tích cực và chủ động nâng mối quan hệ ban giao và mậu dịch giữa Đàng Trong với Nhật Bản lên tầm quốc gia

Sự khôn khéo của Chúa Nguyễn không chỉ thể hiện trong chính sách ưu đãi, quan tâm chân thành mà còn tạo ra tâm lý yên tâm, an toàn và một môi trường thuận lợi cho thương nhân Nhật Bản khi đến buôn bán với Đàng Trong Điều này thể hiện khá rõ qua bức thư Chúa Tiên gửi cho Kata Kiyamasa vào năm 1611 Trong thư Chúa viết về một con tàu Nhật Bản đi Siam bị bảo đánh dạt vào Đàng Trong và Chúa thêm:

Tôi (Nguyễn Hoàng) nghe nói là Siam đang lộn xộn và tôi không thể chấp nhận chiếc tàu này gặp rắc rối, do đó, tôi đã mời họ ở lại đây buôn bán và tôi

đã đối xử với họ một cách chân thành Và bởi vì lúc tàu này sắp rời bến , tôi xin gửi ngài một số tặng phẩm nhỏ Nếu ngày cảm thấy có thiên về chúng tôi, xin ngài cho tàu trở lại xứ chúng tôi năm sau

(Li Tana, 1999, tr.93)

Một trong những yếu tố quan trọng giúp cho sự thông thương tại Hội An nói riêng và Đàng Trong nói chung phát triển là sự bảo hộ và khuyến khích của các Chúa Nguyễn Đại Nam thực lục tiền biên có chép rằng: “Thượng tại trấn mười mấy năm, trị dân yên bình, quân lệnh nghiêm khắc, vì vậy, dân đều an cư lạc nghiệp, trong chợ chẳng có nhị giá, người không làm trộm, thương thuyền các nước đua nhau về đây, biến thành một đô hội lớn lao” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học, 2007, tập 1)

Sự nhập cuộc của lãnh đạo họ Nguyễn mà tiên phong là Chúa Tiên là rất quan trọng đối với việc duy trì các mối quan hệ với các đối tác nói chung và Nhật Bản nói riêng Năm 1604, Chúa Tiên đã chủ động nhận thương nhân và cũng là phái viên của chính quyền Tokugawa là Hunamoto Yabeije làm con nuôi Sau đó, Chúa đã gửi thư

Trang 35

thông báo việc này cho Chính phủ Nhật Bản để từ đó thắt chặt quan hệ ngoại giao và mậu dịch hơn nữa giữa hai quốc gia, đồng thời cũng yêu cầu Chính phủ Nhật Bản sẽ tiếp tục phái Hunamoto Yabeije trở lại Đàng Trong tiếp tục buôn bán

Chính những điều này đã thúc đẩy ngày càng nhiều Châu ấn thuyền Nhật Bản đến Đàng Trong

Với nền kinh tế nội địa, sau khi Nguyễn Hoàng qua đời, chúa Nguyễn Phúc Nguyên không thi hành chính sách độc quyền như ở Đàng Ngoài mà khuyến khích mọi người tham gia buôn bán Điều này tạo ra một tầng lớp thương nhân người Việt đông đảo hơn nhiều so với trước đó bao gồm những tiểu thương, tiểu chủ, tầng lớp mại biện, các chủ cửa hàng đến cả tầng lớp không chuyên như quan lại, thậm chí cả Chúa Nguyễn

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn khuyến khích việc lưu thông tiền tệ một cách rộng rãi, “lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Đàng Trong của thế kỷ XVII, XVIII

đã trở thành một xã hội trong đó đa số các cuộc trao đổi thông thương được thực hiện bằng tiền tệ hơn là hiện vật” (Litana, 1999, tr.117) Tiền kim loại lưu hành giúp cho việc trao đổi kinh tế trở nên nhanh chóng, tiện lợi hơn Quá trình này càng đẩy nhanh nền kinh tế hàng hóa phát triển, nền kinh tế tự cung tự cấp bị đẩy lùi Chúa cũng khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, còn đối với ngoại thương thì đặc biệt chú trọng Chính vì thế mà quan niệm trọng nông ức thương tồn tại lâu dài trước đó đến đây đã được thay đổi Nhờ vậy, tầng lớp thương nhân người Việt tại Hội An có điều kiện phát triển về số lượng và có cơ hội tiếp xúc, trao đổi buôn bán với thương nhân các nước

Nhờ những biện pháp tích cực đó, Hội An trở thành đầu mối kinh tế của Đàng Trong và là một thương trường quốc tế Hội An cùng với sự phát triển của nó sau này

đã chiếm vị trí là trung tâm mậu dịch quan trọng ở Đông Nam Á với sự góp mặt của thương nhân người Việt, Nhật Bản, Trung Quốc, Batavia, Malaysia, Siam, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp

Mặc khác, về đối ngoại, chúa Nguyễn Phúc Nguyên tiếp tục gửi những văn thư đến chính quyền Tokugawa để đẩy mạnh hoạt động thương mại giữa hai nước Khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn diễn ra, chúa Nguyễn Phúc Nguyên càng thúc đẩy việc chủ động mời gọi sự buôn bán của thương nhân Nhật ở Đàng Trong, “ở mỗi thư trong số bốn bức thư gửi cho hoàng đế cũng như thương gia Nhật Bản vào năm 1628,

họ Nguyễn đều yêu cầu họ buôn bán với Đàng Trong Đòi hỏi này liên tiếp được lặp lại cho tới năm 1635, năm cuối cùng của nền ngoại thương Nhật Bản vào thời kì này” (Li Tana, 1999, tr.95)

Tiếp nối ý thức của Chúa Tiên, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã nâng tầm quan

hệ này lên cao hơn bằng quan hệ hôn nhân Năm 1619, chúa Nguyễn Phúc Nguyên

đã gả con gái là Công nữ Ngọc Hoa cho một thương nhân Nagasaki tên là Araki Shotaro Đương nhiên Araki Shotaro trở thành Phò mã của xứ Đàng Trong góp phần nâng cao vị thế người Nhật ở đây Mối quan hệ mang tính cách hôn nhân này đã

Trang 36

hướng các tàu Nhật Bản về Đàng Trong ngày càng nhiều hơn Chính những hoạt động thiết thực này của hai chúa đã làm cho số lượng thương thuyền Nhật Bản đến Đàng Trong ngày một đông đúc hơn Từ năm 1604 – 1635, số thương thuyền Châu

ấn của Nhật đến Đàng Trong lên đến hơn 70 chiếc, bỏ xa các nước khác trong khu vực trong đó có đến 17 chiếc là thuyền do Hunamoto Yabeije và Araki Shotaro cầm đầu (Li Tana, 1999, tr.94)

Từ cuối thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVII, với phương thức ngoại giao mềm mỏng khéo léo, chính quyền Chúa Nguyễn đã thiết lập được mối quan hệ thương mại với Nhật Bản Trong khoảng thời gian đó, quan hệ thương mại Đàng Trong - Nhật Bản diễn ra sôi nổi nhất là vào khoảng 30 năm đầu thế kỷ XVII, khi chính quyền Mạc phủ thực hiện chế độ Châu ấn thuyền Điều đó được thể hiện qua số lượng thương thuyền Châu ấn của Nhật Bản đến buôn bán ở Đàng Trong (Cochinchina) luôn chiếm vị trí hàng đầu trong tổng số thuyền đến khu vực Đông Nam Á từ năm 1601-1635 (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.52)

Cùng với chính sách mở cửa, khi các thương nhân nước ngoài gồm cả thương nhân Nhật đến buôn bán với Đàng Trong, các Chúa Nguyễn cũng có những chính sách xã hội như bảo hộ, khuyến khích cư trú lâu dài…một mặt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh thương này làm ăn, sinh sống Mặt khác, cũng là muốn giữ chân họ lại buôn bán lâu dài ở Đàng Trong Chính quyền Phú Xuân đã có nhiều

ưu đãi, tạo mọi điều kiện sinh sống và trọng dụng tài năng của giới thương gia nước ngoài, nhất là thương gia Nhật Bản Đầu tiên, các Chúa Nguyễn đã tạo ra cho họ một môi trường buôn bán bảo đảm an toàn Môi trường đó, trước hết là một xã hội thanh bình: “Bấy giờ, Chúa ở trấn 10 năm Chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang nên nhân dân đều an cư lạc nghiệp Chợ không bán hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn các nước đến nhiều Trấn trở nên một nơi đô hội lớn” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện Sử học, 2007, tr.31)

Thương gia Nhật Bản đến buôn bán với Đàng Trong được Chúa Nguyễn tạo điều kiện thuận lợi để tập trung ở Hội An Tại hải cảng Hội An, người Nhật Bản có lúc lấn át thương nhân Trung Hoa và các nước khác Một thương nhân phương Tây qua Hội An đương thời từng nhận xét rằng: Hội An là thương cảng mua bán chủ yếu của người Nhật Bản ở Đàng Trong Thương cảng Hội An trở thành cửa ngõ thông thương quan trọng nhất ở Đàng Trong Hàng năm, nơi đây thường có hội chợ quốc

tế, thường gọi là mùa mậu dịch, đây là thời gian mà các thuyền buôn nước ngoài nhất

là thuyền buôn Nhật Bản và thuyền buôn Trung Hoa đậu đầy bến cảng để đổ hàng và nhận hàng chở đi, và “người Tàu và người Nhật là những người làm thương mại chính yếu ở xứ Đàng Trong tại một phiên họp hàng năm ở một hải cảng và kéo dài tới chứng bốn tháng Người Nhật thường chở trên thuyền của họ giá trị bằng bốn hay năm triệu bạc, còn người Tàu chở trong tàu họ gọi là Some (thuyền mành) rất nhiều thứ lụa mịn và nhiều hàng hóa khác của xứ họ” (Cristophoro Borri, 1998, tr.89-90)

Trang 37

Vùng đất Quảng Nam đất đai trù phú giàu sản vật nhưng là vùng đất mới phát triển nên trong một số mùa mậu dịch nền kinh tế sản xuất hàng hóa của Đàng Trong chưa thể tạo nên một số lượng sản phẩm khổng lồ, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường quốc tế Thêm vào đó, do sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và những hạn chế trong kinh tế, sản xuất hàng hóa xuất khẩu nên vào mùa buôn bán, thương nhân ngoại quốc thường không đủ mua số lượng hàng theo nhu cầu Do vậy,

để có lượng hàng cần thiết, thương nhân ngoại quốc phải cử người ở lại mua gom hàng hóa hoặc tìm đến từng hộ sản xuất để đặt tiền mua bao trước toàn bộ số sản phẩm mà các hộ thủ công làm ra để chuẩn bị cho mùa mậu dịch năm sau Dampier (1688) viết rằng:

Các nhà buôn nước ngoài buộc phải đặt tiền trước, ít ra lãi một phần ba hoặc một nửa giá trị hàng hóa đặt hàng Tiền đặt trước 2 đến 3 tháng hay hơn nữa trước ngày sản phẩm làm xong và đem giao cho nhà buôn Như vậy là họ không làm hàng sẵn cho đến khi nhận được tiền của những nhà buôn ngoại quốc Vì thế các tàu đến giao dịch bắt buộc phải ở lại trong nước trong thời gian hàng hóa được đặt làm, thường là 5 hay 6 tháng

(William Dampier, 2011, tr.66)

Thương nhân Nhật Bản cũng không ngoại lệ, việc Chúa Nguyễn cho người Nhật lập phố xá, mở cửa hàng ở Hội An là một điều vô cùng thuận lợi để các thương nhân Nhật có thể tiếp xúc được với nguồn hàng cũng như mặt hàng ở Đàng Trong Sau Hội chợ, các thương nhân Nhật tỏa xuống nông thôn, gặp gỡ và giao thiệp với tất cả những nhà sản xuất tơ để giấm hàng, nhằm thu mua tất cả tơ đương mùa hay tơ quá mùa cho vụ buôn năm sau Họ không đặt hàng suông mà cho trước nhà sản xuất chừng 10 đến 12 lạng bạc Họ còn khuyến khích nông dân chuyển từ trồng cây khoai lang sang trồng dâu nuôi tằm (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.58)

Để xây dựng quan hệ gắn bó lâu dài, cũng như một nghi thức, các Chúa Nguyễn thường gửi tặng sản phẩm quý hiếm của Đàng Trong Chúa Nguyễn nhiều lần gửi biếu Mạc phủ những sản vật quý như:

Năm 1605: Kỳ nam 1 khối, lụa trắng 10 tấm

Năm 1606: Kỳ nam 1 cân, lụa trắng 2 tấm

Năm 1622: Kỳ nam 1 cân, trầm hương 1 cân, lụa 2 tấm, đại xam lĩnh 2 tấm Năm 1635: Kỳ nam 1 cân, lụa 4 tấm, rượu 30 chĩnh

(Trịnh Tiến Thuận, 2002, tr.74)

Mối quan hệ thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản không chỉ diễn ra tốt đẹp không những trên phương diện giữa thương nhân Nhật với người sản xuất ở Đàng Trong mà còn diễn ra tốt đẹp trên phương diện giữa thương nhân Nhật với chính quyền Chúa Nguyễn Trong quan hệ thương mại giữa Đàng Trong và Nhật Bản, hoạt động chính quyền Chúa Nguyễn có vai trò hết sức quan trọng Phần lớn

Trang 38

ngoại thương đều thuộc quyền quản lý của nhà nước, thông qua Tàu vụ, vì thế khi các tàu buôn cập bến, chủ tàu phải làm lễ trình diện, trình giấy phép do Mạc phủ cấp, làm đơn kê khai hàng hóa đem đến và mua đi… Sau khi đại diện triều đình kiểm duyệt, hàng hóa được triều đình chọn mua trước, phần còn lại mới đem bán ra ngoài

Để đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với Nhật Bản, ngoài những bức thư gửi Mạc phủ, Chúa Nguyễn còn trực tiếp viết thư cho các thương nhân đã về Nhật là Honda Kouzukenosuke, Chaya Shiro Jiro…bày tỏ mong muốn họ quay trở lại Hội

An buôn bán Một bức thư của Nguyễn Hoàng gửi cho thương nhân Kato Kiyamasa năm 1611 cho thấy sự quan tâm của Chúa Nguyễn tới vấn đề thương mại nhằm mời gọi thương thuyền Nhật Bản đến buôn bán ở Đàng Trong (Kawamoto Kuniye, 1991, tr.68)

Chính quyền Đàng Trong còn có những mối quan hệ đặc biệt với người Nhật, góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại thêm thuận lợi Năm 1604, Chúa Nguyễn Hoàng đã nhận Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang) - một thương gia và cũng là phái viên đầu tiên của chính quyền Mạc phủ làm con nuôi Sau đó Chúa đã gửi thư thông báo việc này cho Chính phủ Nhật Bản để từ đó thắt chặt mối quan hệ đối ngoại hơn nữa giữa hai quốc gia, đồng thời cũng yêu cầu chính quyền Tokugawa sẽ tiếp tục phái Hunamoto Yabeije trở lại Đàng Trong tiếp tục buôn bán:

Đọc được thư ở xa như thấy được phong thái, hơn nữa gặp Di Thất Lang thấy chân thật đôn hậu, nên tôi nhận làm nghĩa tử, mến mộ các khách trên thuyền, lại khuyên nhủ thêm, mọi việc đều như ý muốn Nay Di Thất Lang về nước, tưởng nhớ Mạc hạ không nguôi, bèn viết thư thuận nẻo gió đưa, mong đến tay Mạc hạ, tôi thật biết ơn Di Thất Lang… Sang năm lại nên cho Di Thất Lang sửa chữa ba chiếc thuyền tiện đường đến bản trấn, giao dịch bình thường trọn vẹn ân nghĩa đôi đường…

(Phan Thanh Hải, 2007, tr.64)

Đến năm 1634, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nhận Toba làm con nuôi Trong một bức thư Nguyễn Phúc Nguyên gửi cho Toba, người ta được biết Chúa yêu cầu Toba mang theo 1.000 lạng bạc của Chúa để mua hàng (chủ yếu là các mặt hàng xa

xỉ như: 50 cái bát nửa bằng vàng, nửa bằng bạc, 50 cái dĩa cũng thuộc loại này) Năm

1635, Chúa còn gửi cho Toba 300 lạng tơ thô và nhờ Toba mua hàng ở Nhật cho Chúa theo giá trị của số tơ này Vào tháng 11/1633, Joast Schouten báo cáo với Hendrick Brouwer, viên Toàn quyền miền Đông Ấn Độ, rằng đầu tháng đó có ba chiếc thuyền mành của Nhật Bản đã từ Đàng Trong đến buôn bán ở Ayutthaya, trong

đó có một chiếc “do nhà vua và một số viên chức cấp cao của Đàng Trong phái đi với ý định đầu tư vào việc buôn bán da đanh” (Li Tana, 1999, tr.94)

Trong số những người Nhật đến Việt Nam vào thời kỳ này, Araki Shotaro (Mộc Tôn Thái Lang) là con một gia đình võ sĩ (Samorai) ở Akunoura, gần Nagasaki Từ năm 1592, Araki Shotaro đã nhận được Shuinjo và nhiều lần đến Hội

An Ông được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin cậy và giao nhiều trọng trách Chúa

Trang 39

Nguyễn còn dành cho ông sự ưu ái đặc biệt: ban quốc tính, tước hiệu quý tộc Điều này được thể hiện qua bức thư của chúa Nguyễn Phúc Nguyên gửi Shogun năm 1619:

Điện hạ nước An Nam kiêm các xứ Quảng Nam lập thư: Nay có chủ tàu là Mộc Thôn Thái Lang (Araki Shotaro) nước Nhật Bản, cưỡi thuyền vượt biển, hân hạnh cho nước ta, vào xin bái kiến nguyện được nương nhờ Ta bèn giúp thêm cho đạt được điều mong muốn, nhưng lại ban thêm cho tên được nổi danh quý tộc là Nguyễn Đại Lương, tên Hiển Hùng Chẳng những được hiển vinh ở cung đình mà còn củng cố thêm mối loại giao thương của Nam - Bắc Thư đề ngày 22 tháng tư năm Hoàng Định thứ 20 (1619)

(Nguyễn Huy Khuyến, 2013, tr.36)

Sử liệu Nhật Bản cũng xác nhận, Công nữ Ngọc Hoa (có tên Nhật là Anio) đã kết hôn với Araki Shotaro vào năm 1619 và bà đã cùng chồng về Nagasaki (Nguyễn Huy Khuyến, 2013, tr.36)

Cùng với lợi ích kinh tế, mối bang giao hòa hiếu, thân tình đó góp phần không nhỏ vào việc phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước thời cận thế Sự gắn bó này đã thu hút các tàu Nhật Bản về Đàng Trong ngày càng nhiều hơn Số lượng thương thuyền Nhật Bản đến Đàng Trong tăng lên đáng kể, từ năm 1604 đến 1635,

đã có 70 chiếc thương thuyền Châu ấn đến Đàng Trong, bỏ xa các nước khác trong khu vực trong đó có đến 17 chiếc là thuyền do Hunamato Yabeijec cầm đầu Phần khác góp phần tạo nên sự gần gũi, gắn kết giữa ngoại kiều với người bản xứ trên đất Hội An Đó là cơ sở để cắt nghĩa hiện tượng có vẻ trái ngược ở khu vực Đông Nam

Á vào thế kỉ XVII, khi những phố Nhật ở Phnom Penh sớm bị tàn phá, người Nhật ở Ayuthya bị tàn sát, xua đuổi, thì ở Hội An người Nhật được chính quyền ưu đãi trọng dụng, phố Nhật tồn tại ngay cả khi quan hệ buôn bán giữa hai nước bị lệnh tỏa quốc của chính phủ Nhật Bản ngăn cấm (Cao Thị Thanh Thanh, 2014, tr.79)

Các Chúa Nguyễn đã thể hiện vai trò của mình một cách xứng đáng trong việc tạo lập mối quan hệ hữu hảo trong ngoại giao cũng như buôn bán với Nhật Bản góp phần quan trọng vào sự phát triển vượt bật về thương mại của Đàng Trong vào thế kỉ XVII Tất cả những thành quả về ngoại thương của Đàng Trong đạt nói chung và với Nhật Bản nói riêng được có dấu ấn và vai trò rất lớn từ các Chúa Nguyễn nhất là chúa Tiên – Nguyễn Hoàng Thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên quản lý Đàng Trong, nhất là trong thời gian chiến tranh với Chúa Trịnh ở phía Bắc đã triệt để thực thi việc củng cố lại quan hệ thương mại với các nước trong đó có Nhật Bản để khôi phục kinh tế và đẩy nhanh công cuộc khai phá vùng đất phương Nam Nhưng, tình hình chính trị khu vực và hoạt động của hệ thống thương mại quốc tế đã có nhiều thay đổi Chính sách “tỏa cảng”, hạn chế ngoại thương của chính quyền Edo rất khắc khe, lời thỉnh cầu của Chúa Nguyễn không được Mạc phủ chấp nhận Nhưng, qua lời bộc bạch trong bức thư của Chúa Nguyễn và tình hình thực tế của Đàng Trong thời kỳ

Trang 40

này, chúng ta thấy được nhu cầu buôn bán với Nhật Bản đã trở thành nhân tố vô cùng trọng yếu để ổn định tình hình kinh tế xã hội Đàng Trong

3.2 Chính quyền Mạc phủ Tokugawa với quá trình đẩy mạnh hoạt động thương mại của Châu ấn thuyền (Shuinsen) ở Đàng Trong từ năm 1601 đến 1635

Từ năm 1600, tướng quân Tokugawa Ieyasu trở thành người lãnh đạo đất nước Nhật Bản với những thay đổi to lớn về chính trị, kinh tế và bang giao bao gồm

cả vấn đề ngoại thương

Thay thế vị trí quyền lực của Hideyoshi, Ieyasu đứng trước một hoàn cảnh hết sức khó khăn: khôi phục nền kinh tế đất nước bị tàn phá bởi nội chiến và hậu quả chiến tranh xâm lược Triều Tiên, do Hideyoshi tiến hành Vào thời kỳ này, hàng nhập khẩu nhiều nhất của Nhật Bản vẫn là các loại tơ lụa cao cấp của Trung Hoa Hàng năm, tơ tằm, vải lụa chiếm tới 80 kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản; nhu cầu về mặt hàng này rất lớn vì phục vụ cho sinh hoạt của giai cấp thống trị, tầng lớp quý tộc, võ sĩ Do Nhật Bản đang trong quá trình thống nhất về tiền tệ, nên tơ, lụa còn là mặt hàng chiến lược có giá trị cao và lưu thông phổ biến trong toàn quốc với

tư cách là vật trung gian trao đổi hàng hóa Do quan hệ Nhật – Trung đã chấm dứt, tháng 1 năm 1600, Ieyasu nhờ sứ giả của Daimyo Shimazu (Kagoshima) sang Trung Hoa để nối lại quan hệ ngoại giao Ông hứa sẽ trả lại tù binh bị bắt giữ trong chiến tranh Triều Tiên Nhà Minh đồng ý và đưa thuyền từ Phúc Châu sang Satsuma buôn bán, nhưng dọc đường lại bị cướp biển Sự trắc trở quan hệ Trung – Nhật, dù mọi cố gắng của Ieyasu để khôi phục đều không thành, buộc Ieyasu phải mở rộng quan hệ với phương Tây và các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trịnh Tiến Thuận, 2002, tr.1959)

Vào đầu thời kỳ Tokugawa, việc mở rộng quan hệ với nhiều nước phương Tây là nhân tố mới xuất hiện, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngoại thương của Nhật Bản Trong vấn đề ngoại giao và ngoại thương chính quyền Tokugawa đặc biệt chú trọng Trong giai đoạn đầu Mạc phủ Edo, tướng quân Tokugawa Ieyasu đã thực hiện chính sách mở rộng quan hệ ngoại giao một cách hòa bình bằng việc cho phép

và mời gọi rất nhiều đối tác đến để đặt quan hệ giao thương buôn bán Chính quyền Tokugawa có thái độ tích cực và khá khoan dung đối với người châu u, cho thương nhân được hưởng một số đặc quyền, khuyến khích họ tới Nhật Bản buôn bán nhằm

mở rộng ngoại thương Qua đó, người Nhật có thể tiếp thu, học hỏi được nhiều kỹ thuật tiên tiến phương Tây, như khai mỏ, hàng hải Đồng thời, việc buôn bán cũng mang lại cho người Nhật nhiều lợi ích kinh tế, góp phần làm cho ngoại thương Nhật Bản phát triển vượt bậc Người Nhật còn mời nhiều hoa tiêu nước ngoài, như Hà Lan, Anh làm hướng đạo Nhờ vậy, họ có thể dễ dàng đi đến những hải cảng Đông Nam Á và Đàng Trong để buôn bán

Năm 1600, con tàu Hà Lan tên De Liefde đã trôi dạt đến vùng biển Bungo (nay thuộc tỉnh Oita ở Kyuushuu) Thuyền trưởng là Jan Joosten van Lodensteyn (1557-1623) (tên Nhật là Da Dương Tử =Yayosu) và viên hoa tiêu của ông, người

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w