1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lục Địa Oxtraylia

32 847 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lục Địa Ôxtrâylia
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 5,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đảo châu Đại Dươngbắc và đông bắc lục địa Ôxtrâylia, giữa các vĩ tuyến 00 và 230N, và kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam giữa các kinh tuyến 130-1700Đ với chiều dài trên 5000 km, ba

Trang 1

LỤC ĐỊA ÔXTRÂYLIA

VÀ CÁC ĐẢO CHÂU ĐẠI DƯƠNG

Trang 2

CHƯƠNG I CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN

+ Điểm cực Nam là mũi Đông Nam ở

ngang với vĩ tuyến 39011’N và

cách đường Chí Tuyến Nam trên

- Phía bắc Ôxtrâylia tiếp giáp với

biển Timo, biển Araphura và cách

Trang 3

- Phía tây Ôxtrâylia tiếp giáp với Ấn Độ Dương Phần lớn bờ biển ở đây thấp, bằng phẳng và có nhiều bãi biển rộng

- Phía nam lục địa, biển ăn lõm vào đất liền tạo thành vịnh Ôxtrâylia Lớn Ngoài khơi phía đông nam lục địa có đảo Taxmania là đảo lớn nhất và phân cách với lục địa bởi eo biển Baxơ rộng khoảng 220 km

- Phía đông Ôxtrâylia tiếp giáp với hai biển thuộc Thái Bình Dương, đó là biển San Hô và biển Taxmania

Trang 4

3 Hình dạng và kích thước lục địa

Lục địa Ôxtrâylia ít có các vịnh biển ăn sâu vào nội địa nên bề mặt có dạng khối rõ rệt Từ cực bắc đến cực nam lục địa dài hơn 3200 km, từ điểm cực tây sang điểm cực đông lục địa rộng 4100 km

Trang 5

II Các đảo châu Đại Dương

bắc và đông bắc lục địa Ôxtrâylia, giữa các vĩ tuyến 00 và 230N, và kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam giữa các kinh tuyến 130-1700Đ với chiều dài trên 5000 km, bao gồm các đảo và nhóm đảo chính như: Niu Ghinê, Bixmác, Xôlômôn, New Caleđôni, Phigi Diện tích chung rộng khoảng 980.000km2, bằng 3/4 diện tích toàn bộ các đảo châu Đại dương

50N và giữa 130-1750Đ Các quần đảo chính ở đây là Marian, Cora, Mácsan, với tổng số gần 1500 đảo khác nhau Diện tích chung các đảo là 3420 km2 Phần lớn các đảo có nguồn gốc san hô, số còn lại là đảo núi lửa

tuyến 350B và 250N, giữa các kinh tuyến 1700Đ và 1200 T Pôlinêdi là bộ phận

có nhiều đảo nhất và tập hợp thành nhiều nhóm đảo và quần đảo như: Haoai, Tônga, Tôclai, Cúc, Xamoa, Lain, Tubuai, Tuamôtu, Tahiti Diện tích chung là 26.000 km2 Các đảo đều có nguồn gốc san hô hoặc núi lửa

đảo Bắc và đảo Nam Ngoài ra còn một số đảo nhỏ khác Diện tích gần 270.000 km2

Trang 6

III Lịch sử phát triển tự nhiên

- Phần lớn lục địa Ôxtrâylia đã được hình thành Đó là một bộ phận của lục địa Gônvana được gọi là nền Ôxtrâylia

- Nền Ôxtrâylia chiếm khoảng 2/3 diện tích lục địa, có cấu tạo gồm các đá kết tinh và biến chất: granít, gơnai, đá phiến biến chất Ngoài ra còn có các đá mácma như gabrô, ămphibôlit, xécpentin và các mạch quắcdít có chứa vàng

- Nền đá kết tinh ngày nay chỉ lộ ra ở một vài nơi như sơn nguyên Đác Linh ở phía tây nam và vùng đất cao Trung Ôxtrâylia

- Bao quanh phía đông và phía bắc nền Ôxtrâylia là miền tạo núi Đông Ôxtrâylia

Trang 7

- Các nếp uốn Hécxini bao quanh lấy phần đông nền Ôxtrâylia Các chuyển động uốn nếp xảy ra mạnh nhất vào kỉ Cácbon gây nên các đứt gãy và hoạt động phun trào ở nhiều nơi

- Đến đầu Trung Sinh, từ kỉ Triát trở đi, lục địa Gônvana bị nứt vỡ mạnh và tách Ôxtrâylia ra khỏi lục địa Phi

- Toàn bộ vùng đồng bằng Trung tâm Ôxtrâylia bị lún xuống mạnh, biển bao phủ một vùng rộng lớn, tách sơn nguyên Tây Ôxtrâylia ra khỏi miền núi Đông Ôxtrâylia Các sơn nguyên và miền núi nói trên chịu quá trình san bằng mạnh

mẽ, còn trong các bồn biển nội địa được bồi trầm tích đá vôi, cát kết, đá phiến với các tuổi khác nhau

- Đến cuối kỉ Crêta, toàn bộ lục địa được nâng lên và đồng bằng Trung tâm Ôxtrâylia dần dần thoát khỏi mực nước biển

- Từ cuối Trung Sinh đến đầu Tân Sinh trong khu vực bao quanh phía bắc và phía đông Taxmania bắt đầu xuất hiện các chuyển động của chu kì tạo núi Tân Sinh Các chuyển động uốn nếp xảy ra mạnh nhất vào kỉ Nêôgen và hình

Trang 8

- Các vận động nâng lên và hạ xuống theo khối, đứt gãy và hoạt động phun trào diễn ra mạnh mẽ, hình thành các dãy núi thấp như Đáclinh (500-600m) dọc theo bờ tây nam, dãy Mắcđônen và Mơxgrêvơ (800-900m) ở trung tâm sơn nguyên phía tây và dãy Phlinđơ ở phía nam Ôxtrâylia Sự nâng lên mạnh kèm theo hoạt động phun trào còn tạo ra các cao nguyên dung nham như Kimbơli (600m) ở phía tây bắc lục địa Toàn bộ dãy Đông Ôxtrâylia cũng được nâng lên mạnh trong giai đoạn này.

- Nhiều vùng bị sụt lún và đứt gãy tạo thành các hố trũng và các thung lũng địa hào như hố trũng Amađếch, hoặc thung lũng địa hào kéo dài từ hồ Toren đến

hồ Xpensơ ở phía nam Đặc biệt, hiện tượng đứt gãy và lún sụt xảy ra mạnh nhất ở phía đông làm cho phần lớn Taxmalit đổ sụp xuống biển, chỉ để lại một bộ phận nhỏ ở phía tây là dãy Đông Ôxtrâylia ngày nay

- Phần nam lục địa đến kỉ Paleogen bị lún xuống, biển tràn ngập và bồi trầm tích

đá vôi dày, đến kỉ Nêôgen được nâng lên tạo thành đồng bằng Nulabo ngày nay

Trang 9

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CHUNG

Địa hình núi chỉ chiếm 5%

diện tích lục địa, trong đó các

vùng có độ cao trên 2000 m

chỉ chiếm 0,8% Độ cao trung

bình toàn lục địa là 350m trên

mực nước biển

Bản đồ tự nhiên lu ̣c đi ̣a Ôxtrâylia

Trang 10

2 Địa hình Ôxtrâylia gồm ba bộ phận

a Sơn nguyên Tây Ôxtrâylia

- Được hình thành trên nền đá kết tinh và bị

san bằng lâu dài Độ cao trung bình từ

300 - 500 m

- Phần lớn sơn nguyên là các hoang mạc đá

và hoang mạc cát với các dạng địa hình

Đồng bằng Nunlabo là một cao nguyên đá

vôi có sườn đổ dốc xuống bờ biển tạo

thành các vách đứng cao từ 100 - 150 m

- Phía bắc và tây bắc sơn nguyên là các cao

nguyên tương đối rộng như Kimbơcli,

Acnhem, Backli

Bản đồ tự nhiên lu ̣c đi ̣a Ôxtrâylia

Trang 11

bằng Trung Tâm hay bồn

địa Trung Tâm; đồng

bằng lưu vực sông

Mơray- Đaclinh. Bản đồ tự nhiên lu ̣c đi ̣a Ôxtrâylia

Trang 12

c Miền núi phía đông là dãy

Đông Ôxtrâylia

- Các núi được hình thành trong

uốn nếp Cổ sinh, bị san bằng

lâu dài, về sau được nâng lên

và bị chia cắt sâu tạo thành

nhiều thung lũng hẹp với

mở rộng cao không quá 1000

m và chia thành 2 dãy kẹp lấy

các cao nguyên thấp ở giữa Bản đồ tự nhiên lu ̣c đi ̣a Ôxtrâylia

Trang 13

- Phần nam: núi thu hẹp lại và chia thành nhiều khối riêng lẻ với độ cao trung bình trên 1000 m Các dãy núi quan trọng nhất là Niu Inglân, Liverpool, núi Xanh và dãy Anpơ Ôxtrâylia

+ Các đảo châu Đại dương có thể chia ra hai kiểu: Kiểu lục địa và kiểu đại

số đảo vẫn còn núi lửa hoạt động như Môna Loa (4170 m) và Kilôoa (1247 m) trên đảo Haoai

Trang 14

II KHÍ HẬU

1 Các điều kiện hình thành khí hậu

- Lục địa Ôxtrâylia nằm phần lớn trong vòng đai nhiệt đới do đó hàng năm nhận được lượng bức xạ lớn, khoảng 140 Kcal/ cm2

- Lục địa có dạng khối tạo điều kiện cho sự hình thành các trung tâm khí áp theo mùa

- Địa hình bề mặt lục địa ít chia cắt, ven bờ phía đông và phía tây của lục địa lại

có các dãy núi và các cao nguyên ngăn chặn ảnh hưởng của biển vào sâu trong nội địa, tạo ra sự tương phản về lượng mưa giữa sườn đón gió và sườn khuất gió, cũng như giữa duyên hải và nội địa

- Các đảo châu Đại Dương cũng nằm phần lớn trong vòng đai nhiệt đới, bởi vậy cũng nhận được lượng bức xạ cao Tuy nhiên do vị trí nằm giữa đại dương nên ảnh hưởng của biển rất lớn Nhờ đó khí hậu rất điều hòa, biên độ nhiệt ngày cũng như biên độ nhiệt năm khá nhỏ

2 Hoàn lưu khí quyển

a Tháng 1

- Lục địa Ôxtrâylia được sưởi nóng mạnh Phần lớn lãnh thổ có nhiệt độ trung

Trang 15

- Áp thấp này phối hợp với áp thấp xích đạo tạo thành một đai áp thấp bao phủ phần lớn lục địa và các đảo Mêlanêdi.

- Trên Thái Bình Dương dải áp thấp này bao phủ một vùng rộng từ vĩ tuyến 200N đến 100B

- Khu vực nam Ôxtrâylia, bắc Niu Dilân và nam Pôlinêdi nằm trong phạm vi áp cao cận nhiệt Bán cầu nam

- Nam Niu Dilân và đảo Taxmania chịu ảnh hưởng của áp thấp ôn đới

- Các đảo bắc Micrônêdi và Pôlinêdi nằm trong phạm vi của áp cao Ha oai

- Vùng bắc Ôxtrâylia và các đảo bắc Mêlanêdi có gió mùa tây bắc, thời tiết nóng

ẩm mưa nhiều

- Trên lục địa, gió mùa tây bắc thổi đến vĩ tuyến 19- 200N, nhưng càng về phía nam không khí càng bị biến tính nên lượng mưa giảm xuống

- Phần trung và nam lục địa thời gian này có gió mậu dịch đông nam Dọc theo

bờ đông lục địa, gió mậu dịch từ biển thổi vào lại gặp các sườn núi đón gió nên có mưa khá nhiều, thời tiết nóng và ẩm ướt

- Trong vùng nội địa như vùng đồng bằng Trung Tâm và sơn nguyên Tây Ôxtrâylia gió mậu dịch mang theo không khí lục địa khô và nóng, thời tiết ổn định và không mưa

Trang 16

- Đảo Taxmania và phần nam Niu Dilân thường có gió tây, thời tiết mát dịu và có mưa.

- Các vùng còn lại của châu Đại Dương nằm trong hai đới gió mậu dịch đông bắc và đông nam của hai bán cầu Thời tiết mát, thoáng gió và có mưa ở sườn đón gió

* Về nhiệt độ, toàn lục địa có nhiệt độ cao Đường đẳng nhiệt 200C chạy men theo bờ nam lục địa, còn từ 320N trở về phía bắc có nhiệt độ 25 – 300C Chỉ miền nam Niu Dilân mát hơn, dưới 160C

b Tháng 7

- Vào tháng 7 là mùa đông của BCN, lục địa bị hóa lạnh mạnh Phần lớn lục địa

có nhiệt độ trung bình dưới 160C Do bị hóa lạnh, trên lục địa hình thành một vùng áp cao được gọi là áp cao Ôxtrâylia (1020mb)

- Áp cao này phối hợp với các áp cao nam Thái Bình Dương và nam Ấn Độ Dương thành một đai áp cao liên tục bao phủ gần như toàn bộ lục địa

- Rìa phía bắc chịu ảnh hưởng của áp thấp xích đạo

- Rìa phía nam chịu ảnh hưởng của áp thấp ôn đới bán cầu Nam

- Các đảo châu Đại Dương, trừ một dải nằm giữa các vĩ tuyến 10 – 150N thuộc đai áp thấp xích đạo, phần còn lại nằm trong phạm vi các áp cao bắc và nam

Trang 17

- Do sự phân bố khí áp như vậy về mùa đông phần lớn lục địa Ôxtrâylia, khoảng

từ 330N trở về phía bắc nằm trong đới gió mậu dịch và khối khí nhiệt đới lục địa, thời tiết khắp nơi khô ráo không mưa

- Riêng vùng duyên hải phía đông lục địa có sự phân hóa: từ chí tuyến nam trở

về phía bắc do gió mậu dịch đông nam từ biển vào nên mưa khá nhiều, trái lại từ chí tuyến nam đến 320N có gió nam hoặc tây nam, thời tiết khô ráo, ít khi có mưa

- Phần còn lại ở phía đông nam thường có gió tây nam tương đối lạnh và ít mưa

- Vùng đảo châu Đại Dương khoảng từ chí tuyến Nam trở về phía bắc chịu ảnh hưởng của gió mậu dịch đông nam

- Phần nam lục địa, đảo Taxmania và Niu Dilân vào thời kì này có gió tây và hoạt động của khí xoáy nên thời tiết thường u ám, có gió lạnh và mưa nhiều

* Về sự phân bố mưa

- Mưa ít và phân bố không đều

- Những vùng có mưa trên 1000 mm/năm bao gồm: duyên hải phía đông, phía bắc và rìa tây nam

- Vùng có mưa dưới 250 mm là các sơn nguyên và đồng bằng nội địa, trong đó vùng bồn địa Trung Tâm mưa không quá 125 mm/năm

Trang 18

- Trên các đảo châu Đại Dương lượng mưa cao hơn, nhất là các đảo nằm trong vòng đai xích đạo.

Trang 19

3 Đặc điểm các đới khí hậu

- Bao gồm phần bắc đảo Niu Ghinê, quần đảo Bixmac, giới hạn phía đông cho đến quần đảo Ginbơc

- Đặc điểm: quanh năm thống trị khối khí xích đạo nóng, ẩm ướt

- Lượng mưa trung bình năm cao 3000 – 4000 mm và phân bố đều trong các tháng

- Nhiệt độ trung bình năm cao (25-270C) và biên độ giữa các tháng tương đối nhỏ

3.2 Đới khí hậu cận xích đạo

- Bao gồm phần bắc Ôxtrâylia (đến khoảng 200N), phần đông nam đảo Niu Ghinê, quần đảo Xôlômôn và một dải hẹp dọc phía nam đường xích đạo

- Mùa hè, chịu ảnh hưởng của gió mùa tây bắc nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mậu dịch đông nam, thời tiết trở nên ổn định, khô ráo

- Lượng mưa trung bình năm trên lục địa khoảng 500 – 1500 mm, còn trên các đảo 1000 – 2000 mm Nhiệt độ cũng có sự thay đổi theo mùa, tháng lạnh nhất không dưới 200C

Trang 20

3.3 Đới khí hậu nhiệt đới

a Kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm

- Chiếm một dải hẹp ở phía đông dãy Đông Ôxtrâylia

- Mùa hè có gió mậu dịch từ Thái Bình Dương vào nên có nhiều mưa Mùa đông gió yếu hơn, mưa ít hơn

- Trên các đảo, đới khí hậu nhiệt đới có đặc điểm nóng ẩm quanh năm Gió mậu dịch thổi vào các đảo trở thành gió ẩm nhờ bề mặt đại dương rộng lớn

- Mưa nhiều, lượng mưa trung bình trên các đảo từ 1000 – 1500 mm ở sườn khuất gió, 3000 – 5000 mm/năm ở sườn đón gió

b Kiểu khí hậu nhiệt đới lục địa

- Chiếm toàn bộ khu vực từ sườn tây dãy đông Ôxtrâylia trở về phía tây

- Ở đây quanh năm thống trị khối khí lục địa Độ ẩm tương đối rất thấp, thường

từ 30-40%, lượng mưa không quá 250 mm/năm Mùa hè rất nóng và khô Mùa đông tương đối lạnh, đôi khi có băng giá do không khí cực xâm nhập tới

a Kiểu khí hậu cận nhiệt địa trung hải:

- Chiếm phần phía tây của đới Mùa hè khô, nóng do ảnh hưởng của áp cao cận

Trang 21

b Kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa: chiếm phần giữa của đới Do chịu ảnh hưởng của không khí lục địa nên lượng mưa hàng năm không đáng kể.

c Kiểu cận nhiệt ẩm: Chiếm phần phía đông Về mùa hè có mưa do gió đông

nam từ biển thổi vào còn mùa đông khô và hơi lạnh do gió từ lục địa thổi ra

- Bao gồm đảo Taxmania và phần nam Niu Dilân Ở đây quanh năm thống trị gió tây và khối khí ôn đới nên có mưa nhiều và phân bố đều cả năm Thời tiết thường xuyên ẩm ướt và mưa Mùa đông tương đối lạnh

III SÔNG, HÔ VÀ NƯỚC NGẦM

- Lục địa Ôxtrâylia có mạng lưới sông ngòi kém phát triển, trên toàn lục địa chỉ 40% diện tích có dòng chảy thường xuyên 60% diện tích còn lại không có dòng chảy hoặc chỉ có các dòng chảy tạm thời

- Lớp dòng chảy bình quân của toàn lục địa chỉ đạt 46mm, thấp nhất thế giới

- Nguồn cùng cấp nước của các sông chủ yếu là mưa nên hầu hết các sông có chế độ nước thay đổi theo mùa rõ rệt Các sông chảy về phía bắc hoặc đổ vào Thái Bình Dương là những sông có nhiều nước và có nước lớn vào mùa

hè Các sông chảy trên các miền duyên hải phía tây và tây nam có nước chủ yếu vào mùa đông, còn mùa hè khô cạn

Trang 22

- Trên các đảo châu Đại dương, lớp dòng chảy khá lớn, nhưng vì kích thước các đảo khá nhỏ nên các sông đều ngắn Các đảo có sông tương đối lớn là đảo Ghine với lớp dòng chảy trên 1000mm và Niu Dilân.

- Ở Ôxtrâylia có khá nhiều hồ, tập trung chủ yếu ở phía nam và tây nam, trong các vùng khô hạn Các hồ đều có diện tích nhỏ và thuộc nguồn gốc tàn tích Trên các đảo châu Đại Dương thường gặp các hồ núi lửa Ở Niu Dilân còn

có các hồ băng hà

2 Các lưu vực sông chính

a Lưu vực Thái Bình Dương: chiếm 10% diện tích lục địa Các sông thuộc lưu

vực này là những sông ngắn, chảy từ sườn đông dãy Đông Ôxtraylia xuống biển

- Các sông có nhiều nước và có nước lớn vào mùa hè

- Sông ít có giá trị giao thông nhưng có giá trị thuỷ điện do có nguồn dự trữ thủy năng lớn Các sông quan trọng là Bơđơkin, Hơntơ

b Lưu vực Ấn Độ Dương: Chiếm khoảng 20% diện tích lục địa

- Đa số các sông đều ngắn, chảy từ cao nguyên hoặc sườn núi ven bờ ở phía bắc, tây bắc, tây nam, nam xuống biển Trong đó quan trọng nhất là hệ thống sông Mơrây - Đáclinh

- Nguồn cấp nước chủ yếu do mưa và một phần do tuyết tan Sông có nhiều nước và thời kì nước lớn nhất vào xuân - hè và cạn nhất vào cuối mùa đông

Trang 23

c Lưu vực nội lưu

- Chiếm diện tích rất lớn nhưng phần lớn không có dòng chảy, chỉ một bộ phận thuộc bồn địa Erơ có các dòng chảy tạm thời đổ vào các hồ

- Vùng đảo châu Đại dương đa số là những đảo nhỏ, nên sông ngòi tuy phát triển nhưng đều là các sông ngắn, diện tích lưu vực không đáng kể

2 Các hồ

- Lục địa Ôxtrâylia có khoảng 800 hồ có kích thước tương đối lớn trong đó 40 hồ

có diện tích trên 1000 km2 Vào mùa khô, phần lớn các hồ đều khô cạn, bề mặt phủ một lớp muối hoặc thạch cao khá dày

3 Nước ngầm

- Lục địa Ôxtrâylia có lượng nước ngầm khá phong phú, tập trung chủ yếu trong các miền lún sụt tạo thành các bồn nước phun Trong đó quan trọng nhất là Bồn Phun Lớn

Ngày đăng: 07/11/2013, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3. Hình dạng và kích thước lục địa - Lục Địa Oxtraylia
3. Hình dạng và kích thước lục địa (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w