1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lập luận trong vở kịch tôi và chúng ta của lưu quang vũ

53 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 671,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng hành cùng quá trình phát triển của kịch, không thể không nhắc đến cái tên Lưu Quang Vũ - một tác giả đã giành được tuyệt đối sự ưu ái của khán giả cũng như giới nghiên cứu kịch nói

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Những đóng góp của đề tài 6

8 Cấu trúc của khóa luận 6

CHƯƠNG 1 7

CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1 1 Khái quát về ngữ dụng học và lập luận 7

1.1.1 Khái quát về ngữ dụng học 7

1.1.2 Khái quát về lập luận 9

1.1.2.1 Khái niệm lập luận 9

1.1.2.2 Lập luận đơn và lập luận phức 9

1.1.2.3 Bản chất ngữ dụng của lập luận 11

1.1.2.3.1 Lập luận trong ngữ dụng là lập luận đời thường 11

1.1.2.3.2 Lập luận trong ngữ dụng là một hành động tại lời 12

1.1.2.4 Quan hệ lập luận và hiệu lực của lập luận 12

1.1.2.5 Các phương tiện định hướng ngôn ngữ lập luận 13

1.1.2.5.1 Tác tử lập luận 13

Trang 2

1.1.2.5.2 Kết tử lập luận 14

1.1.2.6 Cơ sở của lập luận – lẽ thường 14

1.2 Khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ và kịch bản “Tôi và chúng ta” 15 1.2.1 Khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ 15

1.2.2 Khái quát về kịch bản “Tôi và chúng ta” 23

CHƯƠNG 2 27

KẾT QUẢ KHẢO SÁT LẬP LUẬN TRONG KỊCH BẢN “TÔI VÀ CHÚNG TA” CỦA LƯU QUANG VŨ 27

2.1 Khái quát chung về kết quả khảo sát 27

2.2 Các dạng lập luận trong kịch bản 27

2.2.1 Lập luận đơn 27

2.2.1.1 Lập luận đơn chỉ xuất hiện kết luận 28

2.2.1.2 Lập luận đơn có một luận cứ 31

2.2.1.3 Lập luận đơn có nhiều luận cứ 36

2.2.2 Lập luận phức 39

2.2.2.1 Lập luận phức dạng 1 39

2.2.2.2 Lập luận phức dạng 2 45

2.3 Đánh giá phong cách Lưu Quang Vũ qua hệ thống lập luận 49

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lập luận là một yếu tố quan trọng bởi nó được xem như là một loại vũ khí lợi hại trong cuộc sống nhằm thể hiện ý chí, quan điểm của người nói hay thậm chí là bác bỏ ý kiến của người khác Trong văn học, lập luận lại càng được biểu hiện một cách đặc sắc, nó thể hiện sự thông minh, chất trí tuệ và triết lí trong tác phẩm

Khi chúng tôi nghiên cứu về lập luận trong ngữ dụng học, tức nghĩa cũng đang nghiên cứu về những vấn đề vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi bởi lẽ, từ xưa đến nay chúng ta thường hay cho rằng lập luận chỉ xuất hiện trong những diễn ngôn đơn thoại, trong một phát ngôn hoặc trong một văn bản một chiều Sự thực là lập luận còn có cả trong những lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật hội thoại với nhau (sau này chúng ta gọi lời thoại, lượt lời, tham thoại, cặp thoại) Mà kịch lại chính là thể loại chứa những lời thoại của nhân vật

Hơn nữa, kịch là một thể loại văn học so với các thể loại khác vẫn chưa được nghiên cứu nhiều Trong khi đó, những đóng góp của kịch vào nền văn học nước

ta là không hề nhỏ Đồng hành cùng quá trình phát triển của kịch, không thể không nhắc đến cái tên Lưu Quang Vũ - một tác giả đã giành được tuyệt đối sự ưu ái của khán giả cũng như giới nghiên cứu kịch nói suốt những năm 80 của thế kỉ XX Chỉ trong mười năm viết kịch, Lưu Quang Vũ có không ít kịch phẩm không chỉ gây chấn động dư luận đương thời, đề cập những vấn đề nóng bỏng nhất của cuộc sống hiện thực, có hiệu quả to lớn với xã hội, mà giá trị nghệ thuật của chúng còn được xếp hạng trong quá trình phát triển của văn học kịch

Trong số những tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ, “Tôi và chúng ta” là một tác phẩm tiêu biểu cho tài năng và phong cách của ông “Tôi và chúng ta” ra đời trong những năm đất nước gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng, nên đã góp phần cổ

vũ phong trào đổi mới toàn diện đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy vở kịch “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ mà còn cả trong hiện tại và tương lai Những yếu tố quan trọng để làm nên thành công của tác phẩm chính là những lời lẽ, những lập luận của các nhân vật trong vở kịch Đây là một vấn đề khá mới mẻ nhưng vẫn chưa có những nghiên cứu về nó

Do vậy, chúng tôi muốn góp một hướng tiếp cận mới với tác phẩm, đó là dưới góc độ ngữ dụng học mà cụ thể là cái nhìn từ góc độ lập luận trong lời thoại của nhân vật để có thể thấy hết cái hay, cái đẹp trong vở kịch này

Trang 4

2 Lịch sử vần đề

Lập luận vốn không phải là một vấn đề mới mẻ, nó đã xuất hiện từ rất lâu trong các nghiên cứu trên thế giới và cả ở Việt Nam Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lập luận, cụ thể:

Nửa sau thế kỉ XX, lí thuyết lập luận được quan tâm trở lại Mở đầu cho thời

kì này là “khảo luận về sự lập luận – Tu từ học mới” của Perelman và Olbrechts –

Tyteca (1958)

Năm 1985, mô hình luận lý toulmin, một sơ đồ chứa sáu thành phần liên

quan được sử dụng để phân tích lập luận và được xuất bản trong cuốn sách “Sử

dụng tranh luận” của S Toulmin, sau đó là Grize (1982) Nói chung, lập luận vẫn

được nghiên cứu trong tu từ học và logic học

Phải đến công trình của Oswald Ducrot và Jean Claude Ancombre (1983) mới đưa ra một kiến giải mới, căn bản và độc đáo: xem xét lập luận dưới góc độ ngữ dụng học Hướng nghiên cứu này đã gặt hái được nhiều kết quả thú vị, bất ngờ và hiện nay được nhiều người quan tâm

Năm 1985, Trung tâm châu Âu về nghiên cứu lập luận đã được thành lập và

tổ chức những cuộc hội thảo chuyên về lập luận Hội thảo đâu tiên được tổ chức vào cuối tháng 8/1987

*Trong nước

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về Lí thuyết lập luận như các tác giả của “Đại cương ngôn ngữ học” tập II đã nhận định : “Lập luận là một lĩnh vực mới trong Ngôn ngữ học thế giới Ở Việt Nam, nó còn hoàn toàn lạ lẫm với các nhà Ngôn ngữ học, kể cả các nhà nghiên cứu quan tâm đến ngữ dụng học

Cho đến hôm nay, ngoài vài bài báo cáo đăng rải rác trên tạp chí Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và đời sống, Kiến thức ngày nay, thì những nghiên cứu chính thức trình bày về lý thuyết lập luận tương đối có hệ thống chỉ có ở chương IV trong

“Đại cương ngôn ngữ học” tập II của Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán dài 47 trang,

Trang 5

chương IV trong “Ngữ dụng học” của Nguyễn Đức Dân gồm 87 trang và chương VIII trong “Nhập môn logic hình thức và logic phi hình thức” cũng của Nguyễn Đức Dân Đó có thể được xem là những công trình tương đối chi tiết và chính xác

về lý thuyết lập luận Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ mới tập trung nghiên cứu lập luận về mặt lý thuyết

Gần đây, có thêm một số đề tài nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã ứng dụng lý thuyết lập luận vào các tình huống cụ thể như tranh cãi trong pháp lí, phê bình văn học và một vài thể loại khác Tiêu biểu như luận văn

“Ngôn ngữ và lập luận trong tranh cãi pháp lí” (2000) của Lê Tô Thúy Quỳnh,

“Ngôn ngữ và phương pháp lập luận (dựa trên cứ liệu phê bình văn học bằng tiếng Việt – 2001) của Đào Mục Đích, “Lập luận pháp lí” (so sánh tiếng Anh và tiếng Việt – 2005) của Nguyễn Ngọc Thủy, luận văn “Lập luận trong truyện dân gian Việt Nam” của Nguyễn Thị Yến Phương, luận văn “Tìm hiểu lập luận của nhân vật Thúy Kiều trong truyện Kiều của Nguyễn Du” Dù chưa có những đóng góp mới về mặt lí thuyết, nhưng các tác giả trên cũng đã cho thấy rõ tầm quan trọng của lập luận

3 Mục tiêu nghiên cứu

Thực hiện đề tài “Lập luận trong kịch bản “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ”, chúng tôi đề ra những nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, khái quát về hệ thống lập luận và các nhân tố của lập luận trong giao tiếp

Thứ hai, phân tích các yếu tố lập luận trong kịch bản “Tôi và chúng ta”

Thứ ba, đánh giá phong cách, đặc trưng kịch Lưu Quang Vũ thông qua lập luận

4 Đối tượng nghiên cứu

Do yêu cầu của đề tài nên đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là hệ thống lập luận trong kịch bản “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ

5 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận chủ yếu khai thác, tìm hiểu trong phạm vi kịch bản “Tôi và chúng ta”

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Phương pháp này được sử dụng trước và

trong quá trình chúng tôi thực hiện đề tài để có những kiến thức khái quát về những nội dung chính trong đề tài cũng như những nội dung có liên quan

- Phương pháp thống kê phân loại: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để

thống kê số lượng lập luận trong vở kịch cũng như phân loại chúng thành những loại cụ thể

- Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh: Từ những thống kê, phân loại

số lượng lập luận, chúng tôi tiến hành phân tích chúng trên cơ sở lí thuyết lập luận

và đánh giá phong cách của tác giả Lưu Quang Vũ qua hệ thống lập luận ấy

7 Những đóng góp của đề tài

Khóa luận “Lập luận trong vở kịch “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ” nghiên cứu chủ yếu về lập luận trong thể loại kịch dựa trên cơ sở lí luận của chuyên ngành ngữ dụng học, là một đề tài mà hiện nay vẫn chưa được tìm hiểu và bàn luận Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp một lượng kiến thức nhất định để có thể có cái nhìn thấu triệt về lập luận trong vở kịch “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ Ngoài ra, nó sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo quý báu cho những nghiên cứu về lập luận của những sinh viên ngành Ngữ Văn sau này

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận còn có 2 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về một số vấn đề lý thuyết làm nền tảng, cơ sở cho việc nghiên cứu như: lịch sử, khái niệm ngữ dụng học; khái niệm lập luận và những đặc điểm của lập luận

Chương 2: Kết quả khảo sát lập luận trong kịch bản “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ

Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày những kết quả mà chúng tôi đã khảo sát được qua các lượt lời của các nhân vật Từ đó, nhận xét, đánh giá chung về phong cách của Lưu Quang Vũ

Trang 7

Ngữ dụng học quan tâm chủ yếu đến lĩnh vực hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, còn được gọi là lĩnh vực của lời nói hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các sản phẩm của giao tiếp bằng ngôn ngữ và cả các cơ chế, các quy tắc sản sinh ra chúng Đã từng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học: Theo Levinson, trước năm 1983, cần chú ý đến hai định nghĩa sau:

- “Ngữ dụng học nghiên cứu những quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh đã

được ngữ pháp hóa hoặc đã được mã hóa trong cấu trúc của ngôn ngữ.”

- “Ngữ dụng học nghiên cứu tất cả những phương diện của ngôn ngữ không

nằm trong lí thuyết và ngữ nghĩa.” [3, 45]

Năm 1986, Jule cho rằng: “Ngữ dụng học nghiên cứu ý nghĩa của lời nói, ý

nghĩa của ngữ cảnh, nghiên cứu việc người ta có thể thông báo nhiều hơn điều được nói ra như thế nào, nghiên cứu những biểu hiện của những khoảng cách tương đối.” [3, 49]

Năm 1990, Fasold phát biểu: “Ngữ dụng học đề cập tới mọi yếu tố con người

trong quá trình giao tiếp, như tâm lí, sinh lí, và xã hội.” [6, 11]

Năm 1991, Nofsinger cho rằng “Ngữ dụng học nghiên cứu sự giao tiếp bằng

ngôn ngữ, nghiên cứu cách dùng ngôn ngữ thực sự trong những ngữ cảnh chuyên biệt ” Cụ thể, “nó quan tâm đến việc người nói đã dùng lời nói của mình thể hiện hành vi xã hội riêng biệt như thế nào, quan tâm đến việc lời nói được người nghe

lí giải như là những hành vi do người nói tạo ra như thế nào, quan tâm đến việc những người tham gia thực hiện sự suy ý như thế nào để tìm ra cái ý nghĩa được truyền đạt thực sự trong những trường hợp đặc biệt, quan tâm đến việc các cảm nhận về tính thích hợp của người tham gia đã được sử dụng như thế nào để tạo ra những hiệu quả giao tiếp đặc thù, quan tâm đến việc những người tham gia tổ chức lời nói của mình như thế nào Có nghĩa là ngữ dụng học tập trung sự chú ý

Trang 8

vào việc các thao tác thông điệp thực tiễn bằng ngôn ngữ đã được con người vận dụng như thế nào trong hoàn cảnh giao tiếp thực,…” [3, 49]

Năm 1993, Mey định nghĩa: “Ngữ dụng học là khoa học nghiên cứu về

những điều kiện sử dụng ngôn ngữ tự nhiên như là những yếu tố được chế định bởi ngữ cảnh xã hội.” [6, 12]

Năm 1994, Asher (chủ biên) cho rằng: “Ngữ dụng học là sự nghiên cứu ngôn

ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh của con người.” [3, 51]

Năm 1995, Thomas định nghĩa: “Ngữ dụng học là ngữ nghĩa trong tương

tác.” [3,50]

Năm 1997, Kasper định nghĩa: “Ngữ dụng học là nghành học nghiên cứu

ngôn ngữ từ phía người dùng, đặc biệt nghiên cứu những sự lựa chọn mà họ thực hiện, những bó buộc mà họ gặp phải khi sử dụng ngôn ngữ trong tương tác xã hội

và nghiên cứu tác động của cách sử dụng ngôn ngữ lên người đối thoại của mình trong hoạt động giao tiếp Nói cách khác, ngữ dụng học nghiên cứu hoạt động giao tiếp trong hoàn cảnh xã hội.” [3, 50]

Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu cũng tương tự như vậy, cũng có những định nghĩa khác nhau về ngữ dụng học:

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ngữ dụng học là sự nghiên cứu ngôn ngữ trong

sử dụng và giao tiếp”

Theo Đỗ Hữu Châu, “Dụng học nghiên cứu những phương diện nào không

thuộc nghĩa học (hiểu theo nghĩa của tín hiệu học) của ngôn ngữ và của diễn ngôn (ngôn từ, phát ngôn).” [6, 12]

Theo Cao Xuân Hạo, “Dụng pháp có thể định nghĩa là ngành nghiên cứu nội

dung của ngôn từ trong những tác dụng qua lại của nó với tình huống bên ngoài, với ngôn cảnh, với những người tham gia cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói một cách khác, nó nghiên cứu trực tiếp cách sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt xã hội.” [10, 59]

Từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng cho đến nay, những vấn đề về đối tượng phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Tuy vậy, có thể nhận thấy rằng phần lớn các định nghĩa ít nhiều

đã đề cập đến nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ trong những ngữ cành nhất định của

bộ môn ngữ dụng học Có thể hiểu một cách khái quát:

Ngữ dụng học là ngành học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nghiên cứu ngôn ngữ trong sự chi phối của ngữ cảnh

Trang 9

Theo đó, những vấn đề ngữ dụng học nghiên cứu là: các hành động ngôn ngữ, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại và nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn

1.1.2 Khái quát về lập luận

1.1.2.1 Khái niệm lập luận

Giao tiếp bao giờ cũng có mục đích Mục đích ấy thể hiện lập trường, ý chí, quan điểm của người nói và nó là kết luận cuối cùng của diễn ngôn Diễn ngôn sẽ thiếu thuyết phục nếu người nói chỉ đưa ra một phát ngôn rất khái quát, ví dụ:

“Quý nhất là lúa gạo”, “quý nhất là vàng” hay “quý nhất là thì giờ” Vì vậy, để

thuyết phục người nghe đến cái đích mà mình đã định, trong quá trình nói năng,

người nói phải đưa ra các lí lẽ, ví dụ: “Ai không ăn mà sống được”; “có vàng là có

tiền”, “có tiền sẽ mua được lúa gạo”; “Có thì giờ mới làm ra lúa gạo, vàng bạc”

Toàn bộ quá trình nói năng, trong đó có thao tác đưa ra lí lẽ để thuyết phục

người nghe, người đọc đến một kết luận nào đó được gọi là lập luận

Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học (Tập 2, Ngữ dụng học), Đỗ Hữu Châu cho rằng: Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết

luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới [3, 155] và

tiêu chí để xác định một lập luận là kết luận Hễ tìm ra được một kết luận thì ta có một lập luận

Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các nội dung trong phát ngôn như sau:

p1; p2;… r

Trong đó:

p1, p2,…là các luận cứ, lí lẽ

r là kết luận

Ví dụ sau đây là một lập luận:

(1) Cây cối tươi tốt quá, có lẽ tối hôm qua trời mưa

Lập luận trên có một luận cứ “cây cối tươi tốt quá” hướng đến kết luận r là một

dự đoán: “tối hôm qua trời mưa”

1.1.2.2 Lập luận đơn và lập luận phức

Tính chất luận cứ và kết luân của phát ngôn nào đó có tính chất tương đối Tức là, một phát ngôn là kết luận của lập luận này nhưng đồng thời có thể là luận

cứ của một lập luận khác Nói cách khác, một lập luận có thể bao gồm nhiều lập

Trang 10

luận nhỏ hơn – các lập luận bộ phận Tùy theo tính phức hợp của lập luận, ta có các lập luận đơn (gồm một lập luận) và lập luận phức (lập luận gồm các lập luận

Ví dụ (2) là một lập luận phức Có thể phân tích lập luận này như sau:

Trong ví dụ (2), lập luận lớn hướng tới kết luận chung (r) gồm hai luận cứ là

(p) và (q); (p) và (q) lại chính là hai kết luận (r1) và (r2) của hai lập luận bộ phận gồm các luận cứ (p1), (q1) và (p2)

Trang 11

1.1.2.3 Bản chất ngữ dụng của lập luận

1.1.2.3.1 Lập luận trong ngữ dụng là lập luận đời thường

Nhắc đến lập luận, người ta thường hay nghĩ ngay đến lập luận trong logic bởi tam đoạn luận logic có kết luận là hệ quả tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề và của thao tác suy diễn Nếu đại tiền đề đúng, tiểu tiền đề đúng và thao tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu phải đúng Tính đúng sai của nó do tính đúng sai của các tiền đề quyết định Một kết luận logic chỉ có hai khả năng hoặc đúng, hoặc sai Nếu kết luận logic đã đúng thì không thể lập luận để chứng minh rằng nó sai được,

và ngược lại Trong logic không có phản lập luận Ví dụ :

Người nào đen thì xấu

Lan đen

nên Lan xấu

Tuy nhiên, ở tam đoạn luận đời thường, bởi đại tiền đề không phải là một

chân lí khoa học, khách quan mà là những lẽ thường, những kinh nghiệm sống

được đúc kết dưới dạng nguyên lí, cho nên chúng không tất yếu đúng Vì lẽ thường này có thể trái ngược với lẽ thường kia nên lập luận đời thường có phản lập luận Vì vậy mà có người thì kết luận Lan xấu, nhưng người khác lại bảo Lan không xấu (có duyên), nhưng lập luận nào xem chừng cũng nhận được sự đồng tình nhất định của người nghe

Có thể thấy, lập luận trong logic luôn rạch ròi, dứt khoát Một lập luận hướng đến một kết luận là sai thì không thể đồng thời hướng đến kết luận đúng Nói khác

đi, lập luận logic không bao giờ chấp nhận sự mâu thuẫn Tuy nhiên trong lập luận đời thường, đôi khi lập luận mà kết luận của nó có vẻ phi logic vẫn được chấp nhận Chẳng hạn lập luận sau đây:

SP1: - Bạn còn tiền xài không mà không ăn sáng?

SP2: - Hết rồi, chỉ còn năm mươi ngàn

Trong lập luận logic, các luận cứ và kết luận phải được diễn đạt bằng mệnh

đề trần thuyết Do vậy chỉ phát ngôn của hành động ngôn ngữ loại tái hiện (trần thuật – miêu tả) là được sử dụng Còn trong lập luận đời thường, ngoài phát ngôn trần thuyết, các phát ngôn phi miêu tả (như hỏi, than, thúc giục, yêu cầu,…) cũng được sử dụng

Ví dụ:

- Hết giờ làm việc rồi, anh ra đi!

- Mới 8 giờ thôi, cần gì phải vội

- Thuốc lá rất hại cho sức khỏe, con nên cai đi!

Trang 12

1.1.2.3.2 Lập luận trong ngữ dụng là một hành động tại lời

Theo Ducrot, lập luận là một hành động tại lời bởi các lý do sau đây:

Lập luận cũng làm thay đổi tư cách pháp nhân của người nói và người nghe, bởi vì khi đưa ra một lập luận, người nói phải tin vào điều mình nói, phải chịu trách nhiệm về các luận cứ và kết luận mà mình đưa ra; còn người nghe đang ở trạng thái vô can cũng chuyển sang trạng thái chờ đợi lập luận

Lập luận cũng có mục đích của nó Ít khi người ta đưa ra một lí lẽ, một luận

cứ vô mục đích Nói ra một phát ngôn hoặc một chuỗi phát ngôn, bao giờ người ta cũng hướng đến một kết luận, một hành động tại lời

Lập luận cũng là một hành động có quy ước Theo J Moeschler, tính quy ước biểu hiện ở các tác tử, các kết tử lập luận và ở chính các nội dung miêu tả

Lập luận cũng có những thể chế như các hành động tại lời khác Tính thể chế thể hiện ở việc tuân theo các lẽ thường của lập luận

Tóm lại, lập luận trong ngữ dụng có những điểm giống, đồng thời cũng có những điểm khác với lập luận trong logic; lập luận trong ngữ dụng là lập luận đời thường Vì là lập luận đời thường nên nó uyển chuyển, đa dạng hơn lập luận trong logic Chính vì vậy nó đã đi sâu vào đời sống, được mọi người sử dụng hàng ngày trong mọi hình thức giao tiếp

1.1.2.4 Quan hệ lập luận và hiệu lực của lập luận

Trước khi chỉ ra hiệu lực của lập luận, cần điểm qua các kiểu quan hệ giữa các thành tố trong lập luận Trong lập luận, giữa các luận cứ với nhau, giữa các luận cứ và kết luận, giữa hai hay nhiều lập luận với nhau trong một diễn ngôn hay một phát ngôn có quan hệ chặt chẽ Quan hệ này biểu hiện ở hai khả năng:

Thứ nhất là quan hệ đồng hướng, quan hệ này xảy ra khi p và q đều cùng hướng tới một kết luận chung Nếu pr (luận cứ p hướng tới r), và qr (luận cứ

q hướng tới r) thì ta có p và q là hai luận cứ đồng hướng lập luận, ví dụ:

p: Chiếc xe này ít hao xăng

q: Chiếc xe này mới chạy được 9000km

r: Nên mua

Ta nói p, q, r có quan hệ đồng hướng vì đều hướng đến kết luận nên mua

Thứ hai là quan hệ nghịch hướng, quan hệ này xảy ra khi p hướng tới r, còn q hướng tới – r, trong đó r và – r phải thuộc cùng phạm trù, nói cách khác, - r là phủ định của r Nếu pr (luận cứ p hướng tới r), và q -r (luận cứ q hướng tới kết luận trái ngược với r), ta có p và q là hai luận cứ nghịch hướng lập luận Ví dụ:

Trang 13

p: Chiếc xe này rẻ r mua đi

q: Chiếc xe này quá cũ - r đừng mua nó

Trong quan hệ đồng hướng và nghịch hướng, các luận cứ có thể quan hệ với nhau theo hai dạng: tương hợp và không tương hợp Quan hệ tương hợp khi chúng thuộc cùng một phạm trù Quan hệ không tương hợp khi chúng khác phạm trù

Trong ví dụ trên (p: Chiếc xe này ít hao xăng ; q: Chiếc xe này mới chạy được

9000km), p, q có quan hệ tương hợp vì chúng đều nói về thuộc tính của xe Còn ví

dụ sau đây:

p: Chiếc xe này rẻ

q: Anh vừa nhận được tiền nhuận bút

p, q có quan hệ khác phạm trù vì chúng độc lập với nhau: p hướng đến thuộc tính của xe, còn q hướng đến chủ thể mua xe

Tóm lại, có thể rút ra nhận xét về hiệu lực của lập luận như sau: ở các hướng lập luận khác nhau, các luận cứ có thể có hiệu lực lập luận khác nhau, tức là p, q

có sức mạnh khác nhau đối với kết luận Thông thường, hướng của kết luận được

quyết định bởi luận cứ nằm gần nó nhất và luận cứ có hiệu quả lập luận mạnh hơn được đặt sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn [3, 178]

Từ hai tiền đề đã phân tích trên, ta có thể rút ra tiểu kết về lập luận: Khi lập luận, ta có thể chọn lựa nhiều luận cứ có quan hệ khác nhau Trong một lập luận,

có thể có lí lẽ đồng hướng và nghịch hướng, cùng phạm trù và khác phạm trù Tuy nhiên cần nhớ rằng các luận cứ khác nhau có lập luận hiệu lực khác nhau; do đó phải biết cách lựa chọn và sắp xếp các luận cứ một cách hợp lí Hiệu lực của lập luận được quyết định bởi lí lẽ nằm gần nó nhất, cho nên trong những lập luận nghịch hướng, luận cứ nào có hiệu lực càng mạnh thì nên đặt càng gần với kết

đi, “tác tử lập luận là những yếu tố tác động vào một phát ngôn sẽ tạo ra một định

hướng, nghĩa làm thay đổi tiềm năng lập luận của phát ngôn.” [4, 176]

Một số tác tử lập luận thường được sử dụng như: chỉ, những, là ít, là nhiều,

lận, hà…Ví dụ:

Trang 14

Chỉ có ba nghìn trong túi thôi (1)

Có những ba nghìn trong túi ( kia) (2)

Mớ tiền ba chục nghìn là ít (3)

Mớ tiền ba chục nghìn là nhiều (4) Chỉ hướng đến kết luận đánh giá ít, những hướng đến kết luận đánh giá

nhiều; là ít, là nhiều lại đánh dấu những luận cứ đối nghịch về hướng lập luận, cụ thể là nhiều hướng tới kết luận: ít, nhẹ; còn là ít hướng tới kết luận: nhiều, nặng

1.1.2.5.2 Kết tử lập luận

Kết tử là những yếu tố dùng để nối kết các thành phần luận cứ và kết luận trong lập luận Nhờ các kết tử lập luận mà quan hệ lập luận giữa các thành phần trong lập luận chặt chẽ hơn Ví dụ:

(1) Trời đẹp, tôi đi chơi

(2) Vì trời đẹp nên tôi đi chơi

Các kết tử vì, nên nối luận cứ với kết luận và làm cho quan hệ lập luận trong

ví dụ (2) chặt chẽ hơn so với ví dụ (1)

*Kết tử đánh dấu luận cứ và kết tử đánh dấu kết luận

Căn cứ vào vị trí của các kết tử trong lập luận trong lập luận mà có các kết tử đánh dấu luận cứ và các kết tử đánh dấu kết luận

Các kết tử đánh dấu luận cứ như: vì, bởi, hơn nữa, bên cạnh đó,

Các kết tử đánh dấu kết luận như: nên, vậy, thế nên, do đó,

*Kết tử hai vị trí và kết luận ba vị trí

Căn cứ vào số lượng tối thiểu các luận cứ phải có trong lập luận khi sử dụng kết tử lập luận mà các kết tử được chia thành kết tử hai vị trí và kết tử ba vị trí

Kết tử hai vị trí là những kết tử lập luận đòi hỏi tối thiểu phải có một luận cứ

và kết luận để tạo thành lập luận

Kết tử ba vị trí là những kết tử lập luận đòi hỏi tối thiểu phái có hai luận cứ

và kết luận để tạo thành lập luận

1.1.2.6 Cơ sở của lập luận – lẽ thường

Để kết nối các lí lẽ và kết luận với nhau, người ta phải dựa vào các lẽ thường

Nếu tác tử, kết tử là những phương tiện ngôn ngữ có tác dụng định hướng và nối

kết các thành tố lập luận, thì lẽ thường chính là cơ sở của lập luận Trong lập luận đời thường, lẽ thường chính là các nguyên lí, những chân lí thông thường có tính

chất kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiền đề logic, được con người sử dụng để xây dựng những lập luận riêng

Trang 15

Dù có những lẽ thường phổ quát chung cho toàn nhân loại, ví dụ: “Càng ít

thời gian thì càng khẩn trương hơn”; “Càng học hành nhiều thì càng có cơ hội thi đỗ”…Có những lẽ thường chung cho một số dân tộc có cùng nền văn hóa nào đó,

ví dụ: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”;“Tôn sư trọng đạo”…, hay có những lẽ

thưởng riêng cho từng quốc gia, dân tộc, thậm chí cho một địa phương, một tập

thể nào đó, ví dụ: “Số 9 là số tốt”, “ xuất hành kị ngày mùng 5”,… nhưng vẫn có

thể nói đặc điểm chung của lẽ thường là tính khái quát Nhờ có tính khái quát mà

lẽ thường trở thành cơ sở để xây dựng những lập luận cụ thể và những lập luận ấy

có thể được mọi người (hay nhiều người) trong cộng đồng đó chấp nhận

Nói chung, “tất cả các phát ngôn của chúng ta đều bị câu thúc bởi một hoặc

những lẽ thường nào đó Lẽ thường là những câu thúc xã hội vô hình, có khi vô thức nhưng quy định chặt chẽ lời nói và cách xử sự của con người trong cuộc sống

xã hội.” [3, 198] Tuy nhiên có bao nhiêu lẽ thường là điều không thể tính toán,

thống kê hết được Có thể nói có vô số lẽ thường với muôn hình muôn vẻ về nội dung phản ánh Tục ngữ là kho tàng những lẽ thường của các dân tộc trên thế giới

đã được cố định hóa bằng những hình thức ngôn từ, ví dụ như: “Tốt gỗ hơn tốt

nước sơn”, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “bán anh em xa mua láng giềng gần”, “không thầy đố mầy làm nên”, “học thầy không tầy học bạn,… Ngoài ra,

còn có những lẽ thường chưa được định hình bằng ngôn từ nhưng vẫn có tác dụng

chi phối lập luận của chúng ta, chẳng hạn như: “đồ cổ là đồ quý”, “hàng ngoại là

hàng tốt”, “đi học nước ngoài là giỏi”,…

Nghiên cứu các lẽ thường giúp ta có thể phát hiện chiều sâu văn hóa của dân tộc, quan niệm đạo đức của xã hội ở từng thời đại khác nhau - những cái có tác dụng chi phối rất lớn đối với việc xây dựng lập luận và lĩnh hội lập luận của con người

1.2 Khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ và kịch bản “Tôi và chúng ta”

1.2.1 Khái quát về tác giả Lưu Quang Vũ

Nền văn học thời kì kháng chiến chống Mỹ đã ươm mầm nên một tài năng xuất chúng mang tên Lưu Quang Vũ Nếu Nguyễn Tuân, Tô Hoài làm đẹp chữ quốc ngữ trong lĩnh vực truyện ngắn thì Lưu Quang Vũ còn làm đẹp chữ quốc ngữ hơn trong thơ và kịch

Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ trong một gia đình tri thức, cha là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận nên thiên hướng và năng khiếu dành cho bộ môn nghệ thuật kịch nói của ông được bộc lộ từ nhỏ Từ năm 1965 đến năm 1970, ông vào bộ đội, phục vụ trong quân chủng Phòng không

Trang 16

– không quân Từ năm 1970 đến năm 1978 ông xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh như làm hợp đồng cho Nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp phích, Chính những trải nghiệm thực tế đó đã cho Lưu Quang Vũ những cái nhìn và chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống, từ đó đúc kết và viết lên những tác phẩm kết tinh từ những giá trị mà ông đã khám phá được

Từ năm 1978 đến năm 1988, ông là biên tập viên tạp chí Sân khấu và bắt đầu sáng

tác kịch nói Vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” - viết lại theo kịch bản của Đào

Duy Kỳ đã đặt dấu mốc khởi đầu cho một tài năng sáng tác để nối tiếp sau đó, Lưu Quang Vũ lại tiếp tục thành công vang dội với những vở kịch gây chấn động dư

luận như: “Lời nói dối cuối cùng”, “Nàng Xi-ta”, “Chết cho điều chưa có”, “Nếu

anh không đốt lửa”, “Lời thề thứ 9”, “Khoảnh khắc và vô tận”, “Bệnh sĩ”, “Tôi

và chúng ta”, Với những thành tựu đã đạt được nhờ nguồn lực sáng tác mạnh

mẽ, Lưu Quang Vũ không chỉ trở thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm 80 của thế kỉ XX mà còn được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại Ông qua đời giữa lúc tài năng đang độ chín nhất, ngày 29 – 8 - 1988, trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ 5 cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ

Trước khi đến với thể loại kịch nói, Lưu Quang Vũ từng làm thơ, sáng tác truyện ngắn, vẽ tranh Thơ của Lưu Quang Vũ không sắc sảo và dữ dội như kịch nhưng giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao Rất nhiều bài thơ của ông được bạn đọc

yêu thích như: “Và anh tồn tại”, “Tiếng Việt”, “Vườn trong phố”, “Bầy ong trong

đêm sâu”, Ông còn là tác giả của một số truyện ngắn mang đậm phong cách

riêng Tác phẩm chính: “Hương cây” (thơ, 1968 – in chung trong tập “Hương cây

- Bếp lửa”), “Mây trắng của đời tôi”(thơ, 1989), “Bầy ông trong đêm sâu” (thơ, 1993) cùng nhiều bài thơ khác chưa in thành tập và một tập tiểu luận: “Diễn viên

và sân khấu” ( tiểu luận, 1979 – in chung) Năm 2000 ông được tặng Giải thưởng

Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật

Lưu Quang Vũ trải qua hai lần kết hôn, lần kết hôn đầu tiên là với nghệ sĩ,

diễn viên Tố Uyên Diễn viên Tố Uyên là người nổi tiếng qua bộ phim “Con chim

vành khuyên” khi chỉ mới 13 tuổi Đã có một thời gian, Lưu Quang Vũ và Tố

Uyên cùng sinh hoạt chung trong đội văn nghệ Cung thiếu nhi Hà Nội Lưu Quang

Vũ đã phải lòng Tố Uyên từ ngày đó nhưng mối tình của họ chỉ thật sự chớm nở trong khoảng thời gian Lưu Quang Vũ nhập ngũ từ năm 1965 đến năm 1970 Họ

đã thư từ cho nhau, Lưu Quang Vũ đã yêu Tố Uyên say đắm, vượt qua những gì nghiêm khắc nhất của luật lệ quân đội, những vần thơ của Lưu Quang Vũ những năm ấy luôn có hình ảnh của Tố Uyên

Trang 17

Có thể thấy tập thơ Hương cây (1968) là tập hợp những bài thơ ông viết bằng

những cảm xúc thăng hoa nhất, đằm thắm nhất dành cho tình yêu đầu đời - Tố Uyên Năm 1970, hai người tổ chức lễ cưới nhưng mối tình của họ cũng chỉ kéo dài đến năm 1972 – khi đứa con vừa mới chập chững bước đi thì tan vỡ Thời gian sau đó là khoảng thời gian Lưu Quang Vũ chìm vào đau khổ và bế tắc Nhưng những người nghệ sĩ, họ có một may mắn là dù lúc sung sướng hay đau khổ, họ đều có thể vịn vào câu thơ Lưu Quang Vũ đã tựa vào thơ như một chỗ dựa những lúc ấy Nếu kịch giúp Lưu Quang Vũ giao cảm với đời thì thơ lại là nơi để ông sống với cảm xúc của chính mình

Trong đời sống tình cảm của Lưu Quang Vũ, dường như có sự chi phối của nghệ thuật Đôi lúc ta không thể phân biệt được liệu Lưu Quang Vũ yêu người vì chính con người hay vì nghệ thuật mà yêu luôn cả người Người yêu sau này của Lưu Quang Vũ là một nữ họa sĩ Lưu Quang Vũ đặc biệt say mê hội họa Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã dành cho hội họa một tình cảm lớn nhưng khi bước vào sự nghiệp nghệ thuật, Lưu Quang Vũ đã chọn văn chương để theo đuổi Tình yêu do

xa vắng quá lâu ngày với hội họa, Lưu Quang Vũ đã phần nào yêu cô gái này vì điều đó Theo như Lưu Khánh Thơ – em gái của ông kể lại, ngày đó, trong phòng Lưu Quang Vũ treo toàn tranh của người ấy Nhưng dường như những truân chuyên trên con đường tình cảm của Lưu Quang Vũ vẫn chưa hề dừng lại, mối tình mà ông gọi là “ tình yêu những năm đau xót và hy vọng” cũng không kéo dài lâu Chỉ khi đến với Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ mới tìm được hạnh phúc thật sự

Họ chính là mảnh ghép của nhau, họ sinh ra là dành cho nhau Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh đã từng làm việc cùng nhau, cùng sống gần gũi trong khu nhà 96A cho văn nghệ sĩ nhưng mãi cho đến khi trái tim mỗi người đều có một vết nứt, họ mới tìm đến được với nhau Trong lúc Lưu Quang Vũ đang trong bước khó khăn nhất, Xuân Quỳnh đã luôn bên cạnh, nhận ra tài năng và vựt dậy tinh thần ông Vượt qua bao định kiến, chính sự đồng điệu của tâm hồn đã mang họ đến bên nhau

và suốt cuộc đời sau, họ luôn dành cho nhau sự ảnh hưởng Chuyện tình Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh được giới văn nghệ sĩ rất ngưỡng mộ và khâm phục bởi

họ đã yêu và hơn hết vì yêu mà sẵn sàng làm mọi thứ vì nhau Vì yêu Lưu Quang

Vũ, Xuân Quỳnh đã vượt lên trên định kiến xã hội lúc ấy để đến với Vũ, làm tất cả

vì sự nghiệp của Vũ

Với Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh không chỉ là người tình, là mẹ của con ông

mà còn là người ở bên Lưu Quang Vũ những lúc khổ đau nhất Có Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ phấn chấn và làm được nhiều việc hơn Hơn hết, mười lăm năm chung sống bên nhau hạnh phúc, họ đã dành cho nhau những vần thơ đẹp nhất:

“Biết ơn em, em từ miền gió cát

Trang 18

Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng Anh thành người có ích cũng nhờ em Anh biết sống vững vàng không sợ hãi”

(Và anh tồn tại)

“Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu, về đâu”

(Thuyền và biển)

Trong sự nghiệp văn chương của mình, Lưu Quang Vũ khởi đầu bằng thơ ca

và dành trọn đến hai mươi năm cuộc đời để làm thơ Thế nhưng, khi nhắc đến Lưu Quang Vũ, người ta hay nhắc đến kịch nhiều hơn Nhưng không vì vậy mà chúng

ta cho rằng thơ Lưu Quang Vũ viết không hay hay viết ít, mà chỉ vì ông đối với kịch đã quá thành công vang dội Vả lại những năm cuối đời ông chỉ dành cho việc viết kịch Nhưng chính thơ ca mới là tình yêu, là lĩnh vực mà Lưu Quang Vũ tâm đắc Trong một lần nói chuyện với Trịnh Thanh Sơn, Lưu Quang Vũ bộc bạch:

“Mình bận viết kịch! Kịch mới cứu sống mình chết đói Nhưng nói thực, thơ mới

là tình yêu của tôi Tôi sẵn sàng đổi cả mười vở kịch lấy một tập thơ, thậm chí lấy mười bài thơ hay” Khác với chất thơ hồn nhiên của người bạn đời Xuân Quỳnh,

thơ của Lưu Quang Vũ có phần triết lí và tràn ngập hình ảnh ẩn dụ thế nên thơ của ông đôi lúc kén người đọc Làm thơ từ rất sớm, từ khi mới là cậu bé lên năm, Lưu Quang Vũ đã biết viết thơ để thể hiện lòng yêu thương, gắn bó với quê hương Ngay khi mới ra đời, Lưu Quang Vũ đã được rất nhiều bạn trẻ mến mộ và nhận được sự chú ý của giới phê bình Nhà phê bình văn học Hoài Thanh với một ánh

nhìn đầy kinh nghiệm cho cây bút trẻ tuổi, ông đã gọi Lưu Quang Vũ là “một cây

bút nhiều triển vọng”, Lê Đình Kỵ thì cho rằng “Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng” Con đường sáng tác thơ của Lưu Quang Vũ cơ bản có thể chia

thành ba chặng: 1963 – 1971; 1971 – 1973; 1974 – 1988

Lưu Quang Vũ đặt dấu mốc cho tên tuổi của mình ở chặng đường đầu tiên với tập thơ Hương cây - Bếp lửa in chung với Bằng Việt năm 1968 Chàng thanh niên Lưu Quang Vũ cũng như bao nhà thơ ở độ tuổi ấy đều mang một tiếng nói thiết tha yêu đất nước, là trái tim dễ rung cảm với thiên nhiên, con người:

“Tổ quốc là nơi tỏa bóng yên vui Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất

Trang 19

Nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát Xin người đừng trách giận Việt Nam ơi”

(Việt Nam ơi)

“Ta bước đi, thương nhớ những năm nào

Ơi cái phố tuổi thơ, phố nghèo kháng chiến Hương đất hương cây bồi hồi bao kỷ niệm”

(Phố huyện)

Hơn hết, chặng đường thơ đầu tiên đã ghi dấu những rung động đầu đời, những đắm say của chàng thi sĩ, chàng lính đa tình:

“Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài

Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ

Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa.”

(Vườn trong phố)

Chặng đường thứ hai (1971 – 1973) là giai đoạn chứng kiến nhiều đổi thay của Lưu Quang Vũ Cái “tôi” của thời gian này là cái “tôi” thế sự đời tư Những va vấp trong cuộc đời sau khi rời quân ngũ và đổ vỡ trong hôn nhân đã khiến Lưu Quang Vũ có những hoang mang, hoài nghi và bế tắc:

“Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Như chiếc lá khô, như chồng gạch vụn Một tấm gương chẳng biết soi gì Một đáy giếng cạn khô, một hốc mắt đen”

(Có những lúc)

Chặng đường thứ ba (1974 – 1988) đánh dấu bước trưởng thành của Lưu Quang Vũ, không còn là những mộng mơ của chàng thanh niên hai mươi tuổi cũng không còn là cái tôi hoang mang, bế tắc Lưu Quang Vũ ở chặng này đã tìm được con đường cho mình, trong sự nghiệp lẫn tình yêu Và có lẽ tình yêu chính là nguồn sức mạnh to lớn mới có thể vựt dậy sức mạnh cho con người đương trong bóng tối Nổi bật trong giai đoạn nay chính là những bài thơ tình Lưu Quang Vũ viết cho người bạn đời của mình - nữ thi sĩ Xuân Quỳnh:

“Anh vẫn dựng ngôi nhà theo quy luật của tình yêu

Trang 20

Chẳng cần những lâu đài lạnh giá Chỉ tin nơi nào có em đến ở Chỉ sống bằng hơi thở của em thôi”

(Mắt của trời xanh)

Bên cạnh đó, cảm xúc sáng tác của thi sĩ cũng được khơi nguồn từ lịch sử, văn hóa dân tộc Tác giả hướng về nhân dân, ca ngợi không chỉ lòng yêu nước mà còn ở tính cách mạnh mẽ của họ trong thời hậu chiến Tìm về với giá trị văn hóa, Lưu Quang Vũ cảm nhận về tiếng Việt trong tâm hồn, trong cốt cách Việt Nam:

“Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa Óng tre ngà và mềm mại như tơ”

(Tiếng Việt)

Tóm lại, chặng đường thơ của Lưu Quang Vũ gắn liền với cuộc đời của ông, mỗi giai đoạn là mỗi cái “tôi" khác nhau Tầm vóc trong thơ ca của Lưu Quang Vũ là không thể nào phủ nhận được Từ khi bắt đầu sự nghiệp văn chương đến khi li biệt cuộc đời, dẫu những năm cuối là khoảng thời gian dành cho kịch nhưng ta cũng không thể nào khiên cưỡng phủ nhận thơ của Lưu Quang Vũ lúc nào cũng tỏa sáng trên văn đàn

Thật sự chưa có ai tài năng như Lưu Quang Vũ, không những viết kịch, làm thơ ông còn viết truyện ngắn Truyện Lưu Quang Vũ viết về đời sống xung quanh, những phút giây thoáng qua, những con người bình dị thường nhẹ nhàng, không dữ dội, ông viết một cách giản dị, điềm đạm Đến với truyện ngắn, Lưu Quang Vũ cũng đã khẳng định được phong cách riêng cho mình với hơn ba mươi

truyện ngắn: “Thị trấn ven sống”, “Anh Thình”, “Anh Y”, “Mùa hè đang đến”,

“Một chuyện sớm mùa thu”, Sau này dù đã trở thành nhà viết kịch nổi tiếng, Lưu Quang Vũ đã có lần nói: “Mình vẫn mê thơ lắm Mê cả truyện ngắn Có thể lúc

nào đó mình sẽ trở lại với thơ, với truyện ngắn”

Trong bốn mươi năm cuộc đời của mình, Lưu Quang Vũ gần như dành trọn tám năm cuối đời cho bộ môn kịch nói và cũng chính bộ môn này đã đưa tên tuổi Lưu Quang Vũ trở thành nhà viết kịch Việt Nam vĩ đại nhất mà đến giờ vẫn chưa một ai có thể thay thế được Ít ai biết được rằng những vở kịch từ nhỏ đến lớn, từ chưa công diễn đến được dàn dựng và công diễn rộng rãi trong nước và thế giới lại được sáng tác ở một nơi – trong một điều kiện vô cùng khó khăn Đó là căn nhà

Trang 21

96A Phố Huế, Hà Nội, nơi Lưu Quang Vũ cho ra đời gần 50 vở kịch trên một chiếc bàn nhỏ chỉ kê đủ một quyển sổ, căn phòng chỉ rộng sáu mét vuông, mùa đông cũng như mùa hè Những năm tám mươi của thế kỉ XX, kịch của Lưu Quang

Vũ ngự trị khắp nơi trên sân khấu cả nước Vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” -

viết lại theo kịch bản của Đào Duy Kỳ năm 1979 Kịch tái hiện tao đoạn hoạt động Cách mạng quan trọng trong cuộc đời Lý Tự Trọng, khoảng thời gian anh sống cùng những người dân nghèo, phu bến cảng, bán hàng rong, những người vì cuộc sống mà tha hóa trở thành gái điếm, giang hồ Dẫu chưa gây được tiếng vang

nhưng “Sống mãi tuổi 17” cũng đem đến cho Lưu Quang Vũ Huy chương vàng

trong Hội diễn sân khấu năm 1985 Với bước đà của vở kịch đầu tiên, Lưu Quang

Vũ tiếp tục bùng nổ khi cho ra đời những vở kịch gây chấn động dư luận, phản ánh đời sống và tâm lí con người trong chế độ đương thời Điều đó đã được thể hiện mạnh mẽ trong những dòng thơ của ông: “Thế hệ mình cần những người dũng cảm – Dũng cảm yêu thương dũng cảm căm thù” hay “Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ - Chỉ xây đời là khó khăn thôi” Chính những năm tháng lăn lộn, kiếm sống, va chạm ngoài đời đã cho Lưu Quang Vũ những trải nghiệm thực tế nhất Tâm hồn dễ dàng rung cảm giúp ông nhận ra những mâu thuẫn nội tại và ngọn lửa đấu tranh đòi cải cách đang cháy âm ĩ trong lòng từng người, cần một ai đó tiên phong lên tiếng Và Lưu Quang Vũ đã trở thành một người như thế, thậm chí còn

là một người tiên phong sắc sảo khi dùng kịch để diễn tả những xung đột trong đời sống xã hội Thơ ca, văn xuôi cũng có thể hàm chứa những tư tưởng ấy nhưng hơn hết, kịch mới là thứ vũ khí trực tiếp đi vào lòng người, kết nối họ với nhau bằng những luồng tư tưởng chung Ngôn ngữ một khi được cất lên thành tiếng và đặt vào bối cảnh nhất định trên sân khấu thì lúc nào cũng dễ dàng đi vào tiềm thức con người nhất

Lưu Quang Vũ được mệnh danh là người “nhìn đâu cũng ra kịch” Đó có thể

là những câu chuyện đời thường mà ông tình cờ nghe được hay một phần do tác giả tự tưởng tượng thêm Hơn hết, Lưu Quang Vũ có biệt tài phát hiện cái đẹp trong cái bình dị nhất Các nhân vật trong kịch của ông luôn mang một vẻ đẹp, dù

đó có thể là nhân vật thủ vai ác đi chăng nữa thì Lưu Quang Vũ vẫn cho họ cơ hội

để họ có thể cho khán giả nhìn thấy tâm hồn thật sự của mình Đến với kịch Lưu Quang Vũ, người tốt chưa hẳn tốt mà người xấu chưa hẳn đã xấu Đối với Lưu Quang Vũ, tinh thần nhân ái, tình yêu con người mãi mãi là “nguồn sáng trong

đời” Những vở kịch “Người trong cõi nhớ”, “Người tốt nhà số 5”, “Nguồn sáng

trong đời”, có thể gọi là những vở kịch kết tinh lòng nhân ái và tài năng nhìn đời

của Lưu Quang Vũ

Trang 22

Cảm hứng sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ chủ yếu được khơi nguồn từ ba hướng chính Cốt truyện được xây dựng dựa trên các phương tiện thông tin truyền thông đại chúng, tin tức thời sự, một sự việc bất chợt xảy ra trong đời sống hay một vụ án mới bị phanh phui Đấy là lúc tài năng Lưu Quang Vũ được bộc lộ rõ nhất, những hiểu biết về nghệ thuật kịch nói đã cho ông những kiến thức nhất định

về cách thức tổ chức, sắp xếp cốt truyện, cách làm thế nào để cốt truyện được mạch lạc, ý vẫn được truyền tải mà không hề sáo rỗng Đến đây, cái nôi nghệ thuật mới được chứng tỏ khi hễ có sự việc gì xảy ra, Lưu Quang Vũ sẽ lập tức hình thành cấu tứ và trật tự các lớp vở kịch Vả chăng chỉ có tài năng như thế, Lưu Quang Vũ mới có thể đáp ứng kịp nhu cầu của các đoàn nghệ thuật từ Nam chí Bắc Có những người sẵn sàng đứng ngoài cửa hàng giờ thậm chí chấp nhận mang

tiếng “dầm dề” để có được kịch bản của Lưu Quang Vũ Những vở kịch “Tôi và

chúng ta”, “Chết cho điều chưa có”, “Vụ án 2000 ngày”, “Lời thề thứ chín”,

“Nguồn sáng trong đời”, là những vở kịch được dựng lên từ những sự kiện nóng

bỏng trong xã hội Thế nên kịch của Lưu Quang Vũ mang tính thời đại sâu sắc

Ngoài ra, một bộ phận kịch của Lưu Quang Vũ được viết dựa vào cốt truyện dân gian và văn học Đó là những thể loại văn học dân gian đã đi vào thời gian, thách thức thời gian của dân tộc như “tích, trò” cổ, cổ tích và huyền thoại Từ những cái đã cũ, Lưu Quang Vũ sáng tạo, tạo ra những cái mới Những vở kịch có thể là những nhân vật cũ nhưng lại mang một hơi thở mới, những người ngày

trước lại mang một nỗi buồn của thời đại ngày nay Những vở kịch như “Hồn

Trương Ba da hàng thịt”, “Ông vua hóa hổ”, “Linh hồn của đá”, “Lời nói dối cuối cùng”, là những vở kịch dẫu mượn cốt truyện dân gian có sẵn nhưng không

vì thế mà lu mờ đi tài năng của Lưu Quang Vũ bởi mỗi vở là một khám phá mới

của ông Ở “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, ta thấy được bi kịch của con người

không được sống là chính mình Nếu cốt truyện dân gian hoàn toàn chấp nhận việc hồn Trương Ba trong xác hàng thịt, hồn vẫn an nhiên, vui sống bên gia đình thì vở kịch của Lưu Quang Vũ lại khai thác theo một hướng mới Trong một thân xác lạ lẫm không phải của mình, Trương Ba rơi vào bi kịch, giằng xé nội tâm khi con người thanh cao không thể chấp nhận cái tầm thường làm mất đi giá trị Trong hoàn cảnh như thế đòi hỏi con người phải luôn đấu tranh để tự hoàn thiện mình, đó cũng là lời cảnh tỉnh của Lưu Quang Vũ với thời đại Ngoài ra, vở kịch cũng phải ánh thực trạng của xã hội với “máu” con buôn thực dụng của anh con cả, tay lí trưởng với những thủ đoạn ăn tiền trắng trợn, là thái độ làm việc quan liêu, tắc

trách của Nam Tào, Bắc Đẩu Hay “Lời nói dối cuối cùng” với thành công trong

việc xây dựng nhân vật Cuội Vở kịch mới nghe vào đã thấy sự thu hút bởi “nói

dối như Cuội” mà cũng có lời nói dối cuối cùng “Lời nói dối cuối cùng” mang

một thông điệp vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự cho đến ngày nay: Sự trung thực

Trang 23

hay lòng tốt của con người phải được xây dựng trên cơ sở của chữ "Chân", chứ không thể dùng sự xảo biện, dối trá để đạt được những mục đích tốt đẹp Đối với những vở kịch được lấy ý tưởng và viết lại dựa trên tác phẩm của tác giả khác như

“Sống mãi tuổi 17”, “Hoa cúc xanh trên đầm lầy”, Lưu Quang Vũ cũng để lại

ấn tượng lớn trong lòng người Từ ý nghĩa đã được đưa vào tác phẩm của tác giả trước, Lưu Quang Vũ lại cho thêm vào gia vị mới Đó là những triết lí hòa trộn trong chất thơ! Trong những vở kịch của Lưu Quang Vũ đôi lúc ta nhận ra chất thơ

từ trong bối cảnh đến lời thoại của nhân vật Đối với ông “thơ và kịch rất gần

nhau, đó là hai thể loại lớn của văn học, là cuộc sống và thế giới tinh thần của con người được biểu hiện ở dạng tinh chất nhất, mạnh mẽ nhất, tuy ngôn ngữ nghệ thuật của chúng có những điểm khác biệt”

Bên cạnh hai nguồn cảm hứng liệt kê ở trên phải kể đến một số lượng lớn tác phẩm được sáng tác dựa hoàn toàn vào tài năng và trải nghiệm sống của bản thân ông Đó là những câu chuyện thu nhặt được trong quá trình bôn ba khắp nơi của Lưu Quang Vũ sau khi xuất ngũ hay những xung đột trong sự sống hằng ngày, giữa người với người và giữa người với chính họ Đó là những lần đâu tranh nội

tâm của nhân vật Hưng trong vở kịch “Bệnh sĩ”, những toan tính tồn tại trong gia đình trong “Ông không phải là bố tôi”, cuộc đấu tranh của những con người trẻ tuổi xã hội lạc hậu trong “Tôi và chúng ta”

1.2.2 Khái quát về kịch bản “Tôi và chúng ta”

“Tôi và chúng ta” được sáng tác vào năm 1984 khi đất nước đang lâm vào

tình trạng khủng hoảng, suy thoái về kinh tế, xã hội ngày càng bất ổn rất cần một

sự thay đổi trong tư tưởng và hành động Mâu thuẫn cơ bản của vở kịch đó là sự

xung đột giữa hai bên đổi mới và bảo thủ “Tôi và chúng ta” gồm tất cả IX cảnh

Nội dung chính của vở kịch phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt để thay đổi phương thức tổ chức, lề lối hoạt động sản xuất ở xí nghiệp Thắng Lợi, giữa hai lực lượng: bảo thủ và đổi mới

Phe bảo thủ, mà đại diện là các nhân vật Nguyễn Chính (phó giám đốc), Trương (quản đốc phân xưởng) cùng sự hỗ trợ của Trần Khắc (đại diện Ban thanh tra của Bộ) với tư tưởng hết sức bảo thủ, khư khư giữ lấy các nguyên tắc, quy chế đã thành cứng đờ, lạc hậu, kiên quyết không chấp nhận đổi mới

Phe đổi mới, mà đại diện là Hoàng Việt (giám đốc xí nghiệp), Thanh (kíp trưởng phân xưởng 1), Lê Sơn (kỹ sư) cùng đại đa số anh chị em công nhân với tinh thần dám nghĩ dám làm, phá bỏ các quy định giáo điều, lạc hậu, khao khát đổi mới để đem lại quyền lợi, hạnh phúc cho mọi người Nhân vật tiểu biểu của vở kịch là Hoàng Việt - đại diện cho tư tưởng đổi mới Đi phần đầu đến cuối vở kịch,

Trang 24

Hoàng Việt hiện lên với toàn bộ vẻ đẹp, người mà tính cách đã thể hiện qua lời nói, rất thẳng thắn và dũng cảm Hoàng Việt là giám đốc mới của Thắng Lợi, một

xí nghiệp mang cái tên hoàn toàn trái ngược với tình trạng hoạt động của nó Xí nghiệp luôn luôn thua lỗ, công nhân không có việc làm, sống khổ sở với đồng lương èo ọt, lay lắt thế nhưng nó vẫn sững sững, hiên ngang tồn tại nhờ cơ chế của chế độ Hoàng Việt dù hãy còn trẻ tuổi và vừa mới vào làm việc đã nhận ra tất cả, muốn cải tạo, thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh nhưng lại bị sự phản đối ghê gớm của lực lượng bảo thủ dùng vỏ ngoài nguyên tắc để chống đối Dù vậy, nhân vật Hoàng Việt trước sau vẫn như một, kiên trì bảo vệ lí tưởng, Hoàng Việt

mạnh dạn bày tỏ khát vọng: “Tôi căm ghét cái nghèo, cái trì trệ nhưng quan trọng

hơn là tôi rất thương và rất tin các công nhân của tôi Nhờ họ mà tôi dám làm!”

[15, 76] Chính dự cảm đổi thay đã cho Lưu Quang Vũ có những lí tưởng tốt đẹp

để ông truyền tất cả vào nhân vật Hoàng Việt Khi chế độ vẫn chưa được cải cách

thì Lưu Quang Vũ đã cho nhân vật của mình thẳng thắn: “Xây dựng chủ nghĩa xã

hội là gì các đồng chí biết không ? Là đi từ thế giới của cái Tôi sang thế giới của chúng ta Không còn “tiền của tôi”, “của cải của tôi”, “quyền lợi của riêng tôi",

mà là quyền lợi của chúng ta, của cải của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta ? Và cái Chúng ta ấy phải được làm bằng khả năng, phẩm cách và quyền lực của từng cái Tôi cụ thể".[15, 30] Với những tư tưởng cao đẹp ấy của mình, Hoàng Việt

quyết định củng cố lại xí nghiệp, thực thi cách làm ăn mới, kiên quyết không theo những nguyên tắc đã kìm hãm xí nghiệp đi lên Thế nhưng những đề xuất của Hoàng Việt lúc nào cũng vấp phải sự phản đối của những con người bảo thủ đang cùng làm việc trong xí nghiệp với vô số những lí do: muốn mở rộng quy mô sản xuất thì cần phải thêm nhiều công nhân; không được sự cho phép của biên chế trên; không có quỹ lương cho hợp đồng Nguyễn Chính – người đại diện cho phe bảo thủ, lúc nào cũng tỏ ra chính trực dựa vào cấp trên, tuân theo nguyên tắc cấp

trên nhằm mục đích duy nhất chống lại những cải cách của Hoàng Việt “Tôi và

chúng ta” vì thế hấp dẫn nhờ vào những mâu thuẫn và cũng nhờ mâu thuẫn mà

người xem luôn phân biệt giữa hai tuyến nhân vật Nói cách khác “Tôi và chúng

ta” chính là sự đối đầu giữa Hoàng Việt, Thanh, Lê Sơn và đại đa số anh em công

nhân đối với Nguyễn Chính, Trương và Trần Khắc Cuối cùng, số đông vì lí tưởng cao đẹp cũng giành chiến thắng

Hoàng Việt đánh trúng tâm lí đại bộ phận lao động khi vạch ra khuyết điểm:

“Cái dở lâu nay của chúng ta là: người chăm và kẻ lười được đối xử như nhau,

người tài năng và kẻ đốt nát đều hưởng chung một mức quyền lợi.Thậm chí có những kẻ không làm gì cả chỉ ngồi phấn thôi, lại được vị nể hơn người vất vả cống hiến Xã hội chủ nghĩa gì mà lại lạ thế ?” [15, 37] Muốn đưa xí nghiệp ra khỏi

thua lỗ, trì trệ cần sự kiên trì và dũng cảm, Hoàng Việt luôn sẵn sàng đối mặt với

Trang 25

sự chống đối, “miễn là nó giúp chúng ta làm được thêm nhiều sản phẩm” [15, 38]

Hoàng Việt thực hiện chế độ lương khoán theo sản phẩm nhằm đảm bảo công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, kích thích khả năng lao động sáng tạo Thế nên

dù đang sống trong cơn bão phản đối, Hoàng Việt vẫn nhận được sự tin tưởng của

đa số công nhân Như một sự am tường về quy luật cuộc sống và thời đại, anh cho

rằng: “Sự vật không đứng yên, cuộc sống không đứng yên một chỗ, có cái hôm qua

đúng, hôm nay nó là vật cản phải tìm cách phá bỏ ” [15, 40] Khi mà chế độ bao

cấp vẫn đang tồn tại gây ra nhiều hệ lụy, tình trạng quan liêu vẫn tiếp tục hoành

hành, ngay tại trong xí nghiệp, nhiều cán bộ làm việc theo nguyên tắc “Cấp trên

cao lại dựa vào cấp trên cao hơn nữa, nghĩa là các kế hoạch được đề ra một cách ngược đời” [15, 35] Đáng lẽ phải do từ cơ sở đưa lên, dựa trên khả năng cơ sở và

yêu cầu của thị trường Với sự chuyển động mạnh mẽ của đời sống, Hoàng Việt được xây dựng như một nhân vật tiên phong mở đường

Những nhân vật như Lê Sơn, Thanh cũng là một trong những người có cùng quan điểm và lí tưởng với Hoàng Việt Nhưng khác với Hoàng Việt, Lê Sơn vẫn chưa đủ dũng cảm, có lí tưởng nhưng không dám theo đuổi lí tưởng, có tài nhưng lại dễ dàng chấp nhận Điều đó thật dễ thấy khi bao lần Hoàng Việt mời anh giúp

đỡ, anh đã lắc đầu từ chối Lê Sơn là một kỹ sư có năng lực nhưng chính cơ chế cũ

kĩ đã gò bó, uốn nắn anh thành một người biết nghe lời tuyệt đối Dù biết Hoàng

Việt có khả năng nhưng anh phủ nhận: “Anh sẽ không làm được gì đâu? Ai cho

anh làm? Cái cơ chế này nó là như vậy: mọi người đều có quyền mà hóa ra chẳng

ai có quyền hết!” [15, 19] Lê Sơn chẳng khác nào dạng người đang rất cần người

tiếp thêm động lực và vạch đường đi thì Hoàng Việt lại xuất hiện đúng ngay lúc

ấy Đi theo Hoàng Việt, dù có lần cũng phải thừa nhận “Tôi nhát Nếu người ta

dọa thiêu tôi trên giàn lửa thì tôi cũng đành phải nói là trái đất này không quay”

[15, 41] nhưng Lê Sơn vẫn một mực khẳng định “Tôi sẽ không bỏ chạy đâu” [15,

41] Bên cạnh đó, nhân vật Thanh là người có vai trò quan trọng trong vở kịch Đối với Hoàng Việt, Thanh là người góp phần làm sáng rõ thêm lí tưởng của anh Hoàng Việt có thể có ý tốt, có lập trường cao đẹp nhưng những lí tưởng của anh còn thiên về lí thuyết hơn thực tế Nếu không có nhân vật Thanh trong vở kịch, quá trình cải cách của Hoàng Việt có thể còn lâu mới thành công

Một trong những nhân vật đại điện cho phe bảo thủ - Phó Giám đốc Nguyễn

Chính là người đã từng đánh đổ bốn đời giám đốc, thâm độc đến mức “nếu bắt tay

mình, mình phải xem lại tay có còn đủ năm ngón không ?Từ nay Chính sẽ không can ngăn anh nữa đâu, hắn sẽ để mặc anh dấn sân vào các sự việc rồi hắn mới ra tay” [15, 40] Nguyễn Chính là một kẻ ích kỷ, chỉ biếtt nghĩ cho riêng mình và đố

kị với người khác một cách kín đáo Từ sâu trong bản chất, đây chính là đại biểu

Trang 26

cho loại quan liêu bao cấp lúc nào cũng dựa vào cấp trên, sử dụng những nguyên tắc đã lỗi thời để ngụy biện chống chế

“Tôi và chúng ta” dù được sáng tác 1984 nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá

trị, mang hơi thở thời sự và phản ánh đúng quy luật xã hội Tiết mục được ra mắt khán giả Thành phố Hồ Chí Minh trong Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985, giành Huy chương vàng của hội diễn Thay mặt cho cả một đất nước, Lưu Quang Vũ đã cất lên tiếng nói đời đổi thay, sẵn sàng tiên phong, dấn

thân để làm đẹp thêm chân lý: “Cuộc sống, chỉ gắn bó với cuộc sống, sống hết

mình với cuộc sống mới tránh khỏi sự khô cạn tài năng và tâm hồn - thứ hiểm họa luôn đe dọa người nghệ sĩ ở bất cứ lứa tuổi nào, địa vị nào ”

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh. (2001). Chân dung văn học. NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
2. Đỗ Hữu Châu. (2003). Cơ sở ngữ dụng học. Tập I. TP. HCM: NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
3. Đỗ Hữu Châu. (2012). Đại cương ngôn ngữ học. Tập hai. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
4. Đỗ Hữu Châu. (2003). Tuyển tập Đỗ Hữu Châu. Tập I. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Đỗ Hữu Châu
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
5. Mai Ngọc Chừ (chủ biên) – Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán. (2011). Nhập môn ngôn ngữ học. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên) – Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
6. Nguyễn Đức Dân. (1998). Lôgic và tiếng Việt. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
7. Nguyễn Đức Dân. (2000). Ngữ dụng học. Tập một. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
9. Vũ Cao Đàm. (2009). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Hà Nội: NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2009
10. Nguyễn Thiện Giáp. (2012). Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
11. Cao Xuân Hạo. (1991). Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng. Quyển I. NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1991
12. Lưu Khánh Thơ. (2001). Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật. Hà Nội: NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật
Tác giả: Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
13. Lý Hoài Thu – Lưu Khánh Thơ. (2010). Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm. Hà Nội: NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lý Hoài Thu – Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
14. Lê Thị Trang. (2016). Về lập luận trong “Hồn Trương Ba và da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ. Tạp chí ngôn ngữ số 6 năm 2016. Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn Trương Ba và da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ. "Tạp chí ngôn ngữ số 6 năm 2016
Tác giả: Lê Thị Trang
Năm: 2016
15. Lưu Quang Vũ. (1986). Tôi và chúng ta. NXB Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi và chúng ta
Tác giả: Lưu Quang Vũ
Nhà XB: NXB Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1986
8. Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Nguyễn Thị Hồng Nam – Nguyễn Thị Thu Thủy Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w