Những nhân vật trong truyện như những người quen biết trở về từ những kiếp nào xa xưa của Vũ… Nhà văn Đỗ Chu, một người bạn chân tình nói về truyện ngắn Lưu Quang Vũ: “Những mất mát, cay
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
VÕ THỊ DUYÊN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN
LƯU QUANG VŨ TRONG TẬP “MÙA HÈ ĐANG ĐẾN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRUYỆN NGẮN
LƯU QUANG VŨ TRONG TẬP “MÙA HÈ ĐANG ĐẾN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ của nhà văn 8
1.1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật 8
1.1.2 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn 9
1.2 Lưu Quang Vũ và tập truyện ngắn Mùa hè đang đến 13
1.2.1 Lưu Quang Vũ- nhà nghệ sĩ đa tài 13
1.2.2 “Mùa hè đang đến”- một thử nghiệm của Lưu Quang Vũ đối với thể loại truyện ngắn 16
Chương 2 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN MÙA HÈ ĐANG ĐẾN CỦA LƯU QUANG VŨ 19
2.1 Các phương thức tu từ từ vựng 19
2.1.1 Từ láy 19
2.1.2 Từ hội thoại 25
2.1.3 Từ Hán Việt 28
2.1.4 Từ vay mượn Ấn Âu 30
2.2 Các phương thức tu từ ngữ nghĩa 32
2.2.1 So sánh tu từ 33
Trang 42.3.1 Phép điệp 38
2.3.2 Phép im lặng 41
2.3.3 Một số kiểu câu có giá trị tu từ 43
Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ TRONG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA TẬP TRUYỆN NGẮN MÙA HÈ ĐANG ĐẾN 3.1 Vai trò của hệ thống ngôn ngữ đối với nội dung thể hiện của tập truyện Mùa hè đang đến 48
3.2 Vai trò của yếu tố ngôn ngữ đối với nghệ thuật cá tính hóa nhân vật 53
3.3 Vai trò của yếu tố ngôn ngữ đối với phong cách ngôn ngữ của nhà văn 59
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU 67
PHỤ LỤC 0
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một nhà văn đích thực phải ý thức về mình như một nhà ngôn ngữ vì
ngôn ngữ là “yếu tố đầu tiên quy định cung cách ứng xử” của anh ta, là
phương tiện bắt buộc để anh ta giao tiếp với bạn đọc Đối với văn chương,
ngôn ngữ không chỉ là “cái vỏ của tư duy” mà còn là tài năng, cá tính và
quan điểm nghệ thuật của nhà văn Chính vì thế, hiểu được vẻ đẹp ngôn ngữ nghệ thuật là công việc đầu tiên và quan trọng nhất để giải mã toàn bộ thế giới nghệ thuật trong toàn tác phẩm
Xuất hiện trên văn đàn một thời gian ngắn, nhưng tác phẩm của ông luôn sống mãi trong lòng bạn đọc, Lưu Quang Vũ được biết đến là một nhà thơ xuất sắc, nhà viết kịch đại tài Bên cạnh nhà thơ, nhà viết kịch đại tài ấy, chúng ta còn biết đến Lưu Quang Vũ với thể loại truyện ngắn Được xem là cầu nối giữa thơ và kịch nhưng truyện ngắn của ông hầu như không nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của bạn đọc Trong số những tập truyện ngắn
hiếm hoi đó, phải kể đến “Mùa hè đang đến”- là kỷ niệm về một miền quê,
về tuổi trẻ đầy ước mơ và khát vọng- những kỷ niệm dù qua bao năm tháng vẫn lung linh ngời sáng Bên cạnh đó là những chân dung của những con
người trong cuộc đời thường đã và đang “làm nên” cuộc sống Ngôn ngữ nhẹ
nhàng, sâu lắng, dễ đi vào lòng người là một trong những điểm nhấn để truyện ngắn Lưu Quang Vũ đến gần hơn với bạn đọc
Trong những năm gần đây, việc dạy và học đã có những thay đổi đáng
kể, mục đích nhằm tạo ra tâm thế chủ động cho người học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn học sinh còn công việc chiếm lĩnh tri thức là thuộc về học sinh Nhận thức được vai trò của ngôn ngữ, là một thứ công cụ đắc lực và cần thiết để người giáo viên có thể truyền thụ tri thức tốt hơn trong cơ chế dạy và
Trang 6học hiện nay, sinh viên sư phạm Ngữ văn chúng tôi hiểu rằng, việc nắm vững kiến thức về ngôn ngữ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng, có tác dụng cho công việc về sau trong việc truyền cảm hứng và hướng cho học sinh cảm thụ văn chương một cách đúng đắn, có trọng tâm và sâu sắc hơn
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Đặc điểm
ngôn ngữ truyện ngắn Lưu Quang Vũ qua tập “Mùa hè đang đến” làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp của mình Hi vọng rằng, qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sẽ hiểu rõ hơn về đặc điểm ngôn ngữ trong tập truyện ngắn
“Mùa hè đang đến” của Lưu Quang Vũ, đồng thời gieo thêm tình yêu của
bạn đọc đối với truyện ngắn của ông Đặc biệt, qua quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ bồi đắp thêm những kiến thức lí luận về ngôn ngữ để từng bước hoàn thiện mình hơn cũng như nắm chắc hơn về cách giải quyết một vấn đề khoa học
tác của nhà văn lớn này Tìm hiểu lịch sử vấn đề xung quanh đề tài Đặc điểm
ngôn ngữ truyện ngắn Lưu Quang Vũ qua tập “Mùa hè đang đến”, chúng
tôi điểm lại những nhận xét về:
Các nhận xét về truyện ngắn của Lưu Quang Vũ
Bàn về hai tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến” và “Người kép đóng hổ”, Vương Trí Nhàn nhận thấy rằng “Gần đây hơn, trong những truyện Người kép
đóng hổ, Mùa hè đang đến, người ta lại thấy Vũ nói với những khía cạnh sinh
hoạt bình thường của người dân Thủ đô sau chiến tranh Ở truyện này, mấy người bạn già đấu đầu trò chuyện sự đời, con cái Truyện kia, những cặp
Trang 7thanh niên yêu nhau, giận hờn gia đình về ở lại với nhau, rồi chán ngán chia tay Ở một truyện khác nữa, câu chuyện về một đứa trẻ bị bỏ rơi, được cứu sống lại”.[34]
Quan tâm nhiều hơn đến nội dung của hai tập truyện ngắn này, Đào
Trọng Khánh cho rằng “Mùa hè đang đến và Người kép đóng hổ, đó là hai tập
truyện ngắn của Lưu Quang Vũ thấm đượm những hồi ức, những xao động của một đời người Những nhân vật trong truyện như những người quen biết trở về từ những kiếp nào xa xưa của Vũ… Nhà văn Đỗ Chu, một người bạn
chân tình nói về truyện ngắn Lưu Quang Vũ: “Những mất mát, cay đắng cuộc
đời không dập tắt được những gì tốt đẹp, những ước mơ hạnh phúc”.”[35]
Phong Lê có bài “Văn xuôi Lưu Quang Vũ- cầu nối giữa thơ và kịch”
trong Tạp chí Văn học số 2 năm 1989, ông cho rằng “Vào đời, và vào nghề
bằng tập thơ Hương cây tôi muốn xem những truyện ngắn Vũ viết vào buổi
đầu những năm tám mươi được chọn trong hai tập Hai kép đóng hổ và Mùa
hè đang đến như là chiếc cầu nối giữa thơ và kịch Đứng ở thời điểm cuối bảy
mươi, đầu tám mươi mà nhìn lại, khi hào quang chiến thắng và niềm hào hứng về tương lai của dân tộc có phần nhạt đi trước các khó khăn và thử thách của đời sống, truyện của Vũ vừa mang nét giao thoa của hai âm điệu, vừa
đang nhích dần về phía tiền trạm của một giai đoạn mới Một “Mùa hè đang
đến” Ở Vũ và ở nền văn xuôi mà Vũ góp phần.” [32]
Nguyễn Minh Châu khi viết lời bình về truyện ngắn “Anh Thình” cũng
có nhận xét rằng “Trong truyện ngắn này cũng như nhiều truyện ngắn khác, anh Lưu Quang Vũ dùng một cách viết giản dị, một cách kể chuyện dung dị
và điềm đạm Như một họa sĩ không bao giờ đụng đến những gam màu gắt hoặc những đường nét, bố cục độc đáo, quá bạo Tôi thích cái sự tự nhiên và chừng mực trong cách viết của anh, một sự tự nhiên và chừng mực cả trong nội dung và hình thức rất dễ đến với người đọc.”[31, tr.240]
Trang 8Lê Minh Khuê cho rằng “Buồn, khát vọng, đau đớn… đó cũng là Vũ của những năm bảy mươi Anh cố gắng biểu hiện những trạng thái tình cảm này trong các truyện ngắn mà anh đã viết vì thế, dù không gây được những cơn sóng dữ dội như kịch, truyện ngắn của Vũ thấm đẫm những hồi ức, những xao động của một đời người Truyện ngắn Vũ có những nhân vật nhân hậu như chính tác giả của nó, con người của những năm sôi động”, đó là những nhận
xét tâm huyết đươc in trong 15 truyện ngắn Lưu Quang Vũ, NXB Hội Nhà
văn, H, 2000 [11, tr.243]
Với nhan đề “Lưu Quang Vũ qua hai tập truyện ngắn”, Lê Dục Tú cho
rằng “Nhìn chung cả hai tập, nhất là Mùa hè đang đến, có nhiều truyện đã làm
người đọc cảm động thực sự và thấy mình dường như phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với con người và cuộc sống.”[11, tr.245]
Các nhận xét về ngôn ngữ Lưu Quang Vũ
Lý Hoài Thu trong cuốn Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm đã có
những nhận xét rất sâu sắc về ngôn ngữ Lưu Quang Vũ: “Ngôn ngữ kịch Lưu Quang Vũ chắt lọc và khá điêu luyện Là một người cầm bút giàu kinh nghiệm và có sự am hiểu về tính đặc thù của nhiều loại hình nghệ thuật, trong tác phẩm của mình, Lưu Quang Vũ đã vận dụng một cách sáng tạo những đặc trưng của ngôn ngữ kịch- ngôn ngữ nhân vật Từ trong cấu tạo văn bản, ngôn ngữ kịch của ông vừa có tiết tấu nhanh vừa cá thể hóa được tính cách qua chính lời ăn tiếng nói của họ Các nhân vật kịch Lưu Quang Vũ nói năng bằng một thứ ngôn ngữ dung dị, gần gũi với hình thức hội thoại hằng ngày nhưng vẫn bóng bẩy, hình tượng” [22, tr.52-53]
Bàn về ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ, trong bài viết “Đọc thơ Lưu Quang Vũ”, tác giả Vũ Quần Phương cho rằng: “Đọc thơ anh ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực
và tưởng tượng, sách vở và đời sống hòa quyện thúc đẩy nhau trong các câu
Trang 9thơ dồn dập” [23, tr.52] Tác giả còn nhận thấy ở Lưu Quang Vũ là cây bút
“vốn hào hoa phóng túng trong ngôn từ nhưng lúc này Lưu Quang Vũ lại tìm đến sự giản dị, câu thơ bớt nhiều tính từ, thích dựng lại việc cụ thể” [21, tr.57]
Đến năm 2001, cuốn Lưu Quang Vũ- tài năng và lao động nghệ thuật do
Lưu Khánh Thơ sưu tầm và biên soạn, trên cơ sở tập hợp các công trình của nhiều tác giả khác nhau ra mắt công chúng Trong đó nhà phê bình Hoài Thanh với bài viết “Một cây bút trẻ nhiều triển vọng” thừa nhận thơ Lưu Quang Vũ “Ngôn ngữ nắm rất chắc Chữ dùng chính xác mà uyển chuyển, rất Việt Nam [24, tr.19]
Tác giả Việt Nga với bài viết “Vài nét về thơ tình Lưu Quang Vũ” đã có một sự so sánh rất hay và lý thú: “Nếu thơ Xuân Quỳnh giản dị, mộc mạc, hồn nhiên (ngay cả những dằn vặt đau khổ cũng rất đỗi hồn nhiên) thì thơ Lưu Quang Vũ lại tầng tầng lớp lớp những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, những suy ngẫm, triết lý về cuộc đời, con người và tình yêu [22, tr.136]
Như vậy có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu trên đã nói về truyện ngắn cũng như vài nhận xét về ngôn ngữ của nhà văn Lưu Quang Vũ một cách khá thống nhất Các tác giả đều cho rằng, thơ và kịch nổi trội hơn nhiều, thế nhưng truyện ngắn cũng là một thể loại gây được sự chú ý và cần được nghiên cứu nhiều hơn
Tuy nhiên, các bài nghiên cứu nói trên đề cập đến nội dung truyện ngắn
là phần nhiều, ngôn ngữ tập trung khai thác ở thể loại thơ và kịch, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ qua truyện ngắn mà
đặc biệt là qua tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến” Song cũng cần khẳng
định, các công trình nói trên là những tài liệu tham khảo quan trọng và bổ ích
mang tính định hướng cho đề tài đang thực hiện Hi vọng với đề tài Đặc điểm
ngôn ngữ truyện ngắn Lưu Quang Vũ qua tập “Mùa hè đang đến”, chúng
Trang 10tôi sẽ góp phần làm bật lên giá trị của tập truyện, về phong cách của tác giả cũng như đóng góp một tiếng nói, một cảm nhận của bản thân về tác giả này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vẻ đẹp ngôn ngữ nghệ thuật trong tập
truyện ngắn “Mùa hè đang đến” của Lưu Quang Vũ
Phạm vi nghiên cứu là 11 truyện ngắn trong tập “Mùa hè đang đến” được lấy từ cuốn Mùa hè đang đến (1983), NXB tác phẩm mới, Hội nhà văn
Việt Nam
Dưới đây là danh sách 11 truyện ngắn mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát:
Người chiếu đèn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thấy được vẻ đẹp ngôn ngữ của Lưu Quang Vũ trong “Mùa hè đang
đến”, luận văn sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê phân loại: Người viết sử dụng phương pháp này để khảo sát thống kê tần số xuất hiện và phân loại các
phương thức biểu hiện của ngôn ngữ trong 11 truyện ngắn của tập “Mùa hè
Trang 11- Phương pháp phân tích, chứng minh: Phương pháp này được người viết sử dụng để chỉ ra ý nghĩa và làm rõ các giá trị của những đặc sắc về ngôn ngữ của tập truyện ngắn này
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp hệ thống và nhiều phương pháp bổ trợ khác để có một cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về phong cách Lưu Quang Vũ cũng như có cái nhìn đúng đắn hơn về truyện ngắn mà Lưu Quang
Vũ đã để lại cho văn học nước nhà
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Ngôn ngữ nghệ thuật trong tập truyện ngắn Mùa hè đang đến của
Lưu Quang Vũ
Chương 3: Vai trò của yếu tố ngôn ngữ trong thế giới nghệ thuật của tập
truyện ngắn Mùa hè đang đến
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ của nhà văn
1.1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật
Phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy đã được tìm hiểu một thời gian dài nhưng hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:
Trong cuốn Phong cách học Tiếng Việt, 1982, Nhà xuất bản Giáo dục,
Võ Bình cùng các tác giả khác coi ngôn ngữ nghệ thuật là một phong cách chức năng và “ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ được sử dụng trong thơ ca và văn xuôi nghệ thuật [20, tr.90]
Đồng quan điểm với nhóm tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình; tác giả Cù Đình Tú cũng xem ngôn ngữ nghệ thuật là một
phong cách chức năng, Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm
tu từ tiếng Việt cho rằng: “Phong cách ngôn ngữ văn chương là dạng tồn tại
toàn vẹn và sáng chói nhất của ngôn ngữ toàn dân.” [21, tr.173]
Nguyễn Thái Hòa trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt đã định
nghĩa về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật như sau: “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là toàn bộ những biến thể sử dụng ngôn ngữ trong các chuỗi câu hay văn bản có chức năng thông báo- thẩm mĩ, tức là vừa thông tin một nội dung nào đó, vừa thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của con người bằng chính ngôn ngữ (lời nói) của mình” [9, tr.30]
Trang 13Theo Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn: “Phong cách ngôn ngữ văn chương (còn gọi là phong cách ngôn ngữ văn học, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật) là phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong các loại hình văn chương, được xây dựng trên cơ sở tư duy hình tượng.”[16, tr.21]
Mỗi quan niệm đều có cách lí giải và thuyết phục người đọc bằng các dẫn chứng thực tế, sắc sảo Đặc biệt có những công trình nghiên cứu đồng quan điểm với nhau, tuy nhiên trong bài nghiên cứu của mình, chúng tôi xin
đi theo quan điểm của Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn để tìm hiểu phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Lưu Quang Vũ vì chúng tôi cho rằng khái niệm này vừa mang tính khái quát nhưng lại rất cụ thể, vừa ngắn gọn, rõ ràng, lại gần gũi, dễ hiểu
và dễ áp dụng cho việc tim hiểu, phân tích
1.1.2 Phong cách ngôn ngữ của nhà văn
Ngôn từ nghệ thuật là chất liệu chính để nhà văn sáng tạo ra các đứa con tinh thần của mình Sự thành công của nhà văn phần lớn phụ thuộc vào cách ông ta lựa chọn ngôn ngữ Có những nhà văn đã khẳng định được phong cách của mình từ những sản phẩm đầu tay, tuy nhiên cũng có khá nhiều nhà văn qua một quá trình sáng tạo lâu dài mới làm nên, định hình nên phong cách văn học của mình Có thể xem đó là quá trình trải nghiệm, rút kinh nghiệm, tích lũy tri thức và rèn giũa để tự nặn cho mình một phong cách bền vững, để rồi không chỉ là điều tác giả định hình mà quan trọng hơn là độc giả ghi nhận và nhận diện được tác phẩm của mình, đặc biệt ghi nhận tên tuổi của cá nhân tác giả trên diễn đàn văn học
Phong cách nhà văn là một chỉnh thể nghệ thuật riêng, vừa phong phú,
đa dạng, vừa ổn định, vừa có khả năng vận động và phát triển Chính vì thế
mà nhà văn A.T Sêkhốp rất có lí khi nhận định rằng: “Nếu tác giả nào không
có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả” Trên con đường sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn thường có những sở trường ngôn ngữ
Trang 14riêng của mình Chính sở trường ngôn ngữ ấy sẽ tạo nên phong cách ngôn ngữ của một nhà văn
Phong cách ngôn ngữ của nhà văn thực chất là một khía cạnh của phong cách nhà văn, đó chính là một cái nhìn riêng, là bút pháp nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn trong việc sử dụng ngôn ngữ
Nếu như trước đây, phong cách nhà văn ít được quan tâm nghiên cứu cụ thể, thì từ những năm 50 của thế kỉ XX, phong cách nhà văn đã được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và được thừa nhận phổ biến
Quan niệm của các nhà lí luận văn học
Có thể xem các nhà lí luận là những người tiên phong trong việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ của nhà văn, bởi lẽ đây là đối tượng mà họ cần hướng đến trong quá trình nghiên cứu Chính vì vậy đã có nhiều nhà lí luận quan tâm
và khái quát phong cách ngôn ngữ nhà văn thành những phạm trù rộng, ở đây chúng tôi chỉ chọn những quan niệm tiêu biểu:
Trước hết, trong Từ điển Văn học (Đỗ Đức Hiểu chủ biên), phong cách
văn học được hiểu là “Khái niệm chỉ những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, các phương thức biểu hiện nghệ thuật tiêu biểu cho phong cách sáng tác của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học dân tộc nào đó” [10, tr.1411] Có thể thấy rằng đây là một quan niệm, một phạm trù rộng, chính vì vậy mà nó tập trung từ phong cách của một nhà văn đến một tác phẩm, một khuynh hướng văn học và mở rộng ra cả nền văn học của một dân tộc
Lê Bá Hán trong cuốn Cơ sở lí luận văn học, Tập 2 (1980) từng nhận
định “Lắng nghe, ghi chép, học tập ngôn ngữ nhân dân một cách sáng tạo, đó
là con đường quan trọng nhất để nhà văn xây dựng cho mình một văn phong bản sắc” [6, tr.177] Việc nhà văn tạo cho mình một phong cách riêng sẽ bắt đầu từ việc học tập ngôn ngữ, và ngôn ngữ chính là nút thắt để mở ra con
Trang 15đường nghệ thuật cho các nghệ sĩ khám phá và khẳng định tên tuổi của mình trên con đường nghệ thuật đầy gian khổ
Các tác giả trong Lí luận văn học (Phương Lựu chủ biên) khẳng định:
“Sự thật có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì bấy nhiêu chỗ cho phong cách của từng nhà văn thể hiện” và “trong ngôn ngữ thì mỗi nhà văn độc đáo ở những hệ thống tu từ khác nhau cũng là điều dễ thấy” [14, tr.484]
Như vậy, quan niệm của các nhà lí luận tuy có nhiều nét riêng biệt nhưng chung quy lại các nhà lí luận đề đánh giá cao vai trò của ngôn ngữ trong việc thể hiện phong cách nhà văn, có thể xem ngôn ngữ là nơi biểu hiện tập trung nhất những nét độc đáo và sáng tạo của nhà văn đồng thời nó cũng sẽ là một yếu tố quan trọng để chúng ta tìm hiểu và đánh giá phong cách của một nhà văn
Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học
Cùng đi tìm hiểu về phong cách nhà văn, tuy nhiên các nhà ngôn ngữ học lại có cách khám phá riêng Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này
Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học tiếng Việt cho rằng ngôn
ngữ riêng của mỗi nhà văn là sự đi chệch của cái toàn thể hệ thống so với cái toàn thể của ngôn ngữ chung và “nhà văn có phong cách cá nhân là nhà văn
có cái độc đáo về ngôn ngữ mang phẩm chất thẩm mĩ cao được kết tinh trong
sự sáng tạo” [13, tr.20]
Tác giả Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng
Việt cho rằng: “Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản thể,
thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương” [21, tr.122] Theo ông, ngôn ngữ văn chương phải vừa giống và vừa khác mọi người, có nghĩa là trên cơ sở giống nhau để mọi người hiểu và thích đọc, còn khác chính là dấu hiện để xác định phong cách ngôn ngữ của mình đồng thời tạo được tiếng nói
Trang 16riêng, không bị trộn lẫn vào các cá thể khác đồng thời thu hút được độc giả đến với tác phẩm của mình
Đặc biệt, Phan Ngọc trong công trình nghiên cứu “Tìm hiểu phong cách
Nguyễn Du trong Truyện Kiều” cho rằng hiện tượng phong cách tác giả là rất
hiếm, bởi lẽ “Một tác giả chỉ có được một phong cách riêng, khi đọc một vài câu người ta đoán biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà tác giả xây dựng nên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều người noi theo và học tập Muốn làm được điều đó, tác giả phải thực hiện được sự đổi mới trong sự kế thừa, để đẩy sự kế thừa sang một bước mới Nếu như tác giả chỉ kế thừa đơn thuần thì tác giả chỉ có được phong cách thời đại, phong cách thể loại mà không có phong cách của riêng mình” [17, tr.24]
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu hai mặt và thường mang tính cấu trúc chặt chẽ Vì vậy, nhà văn muốn tạo được phong cách ngôn ngữ cho riêng mình, nhất thiết phải có sự lựa chọn kỹ càng, thận trọng, thậm chí khắt khe trong việc sử dụng câu văn, hình ảnh Đồng thời, qua sự lựa chọn câu chữ, nhà văn cũng phải thể hiện cái mới, cái sáng tạo của mình trong ngôn ngữ dân tộc Như vậy, các nhà ngôn ngữ học cũng cho rằng ngôn từ chính là chất liệu đồng thời cũng là phương tiện phong phú và vô hạn để nhà văn có thể thể hiện tài năng của mình Tóm lại, chúng ta có thể hiểu khái niệm phong cách ngôn ngữ của nhà văn theo các nhà lí luận cũng như các nhà ngôn ngữ, bởi lẽ
về cơ bản các quan niệm này khá đồng nhất, vì thế điều quan trọng không phải là ở ngôn ngữ hay cách diễn đạt mà là mấu chốt vấn đề Thông thường
để xác định phong cách ngôn ngữ nhà văn, chúng ta phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản là khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả, sự đi lệch chuẩn mực ngôn ngữ của tác giả Mỗi nhà văn thường có thói quen sử dụng ngôn ngữ riêng, nhiều khi thành thục không ai theo được sẽ trở thành biệt tài trong việc sử dụng ngôn
Trang 17ngữ Sở trường ngôn ngữ không chỉ đơn giản thể hiện ở tình yêu thứ ngôn ngữ sẵn có, có thể là ngôn ngữ dân tộc hoặc ngôn ngữ vay mượn mà cốt yếu cần phải có sự sáng tạo, tức là tạo ra thứ ngôn ngữ khác đi, thứ ngôn ngữ mà người ta vẫn gọi là lệch chuẩn nhưng lại thể hiện được tài năng cũng như cá tính văn học của nhà văn
Vậy thì cuối cùng, phong cách ngôn ngữ của nhà văn có thể hiểu đơn giản là nét riêng của cá nhân tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật Nhà văn có phong cách là nhà văn biết chọn cho mình một cách cảm, cách diễn đạt và đặc biệt là cách đi không theo lối mòn, không bắt chước mà là sự sáng tạo thật sự với một trình độ nghệ thuật cao Với cách hiểu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của
Lưu Quang Vũ trong tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến” bằng cách khảo sát
các phương thức tu từ từ vựng, ngữ nghĩa và cú pháp
1.2 Lưu Quang Vũ và tập truyện ngắn Mùa hè đang đến
1.2.1 Lưu Quang Vũ- nhà nghệ sĩ đa tài
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện
Hạ Hòa, Phú Thọ Cha là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, quê ở thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam Mẹ là Vũ Thị Khánh, nữ sinh trường Trung học Đồng Khánh, người Hà Nội gốc Khi đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc, Lưu Quang Vũ đã tình nguyện xin đi bộ đội Mới 17 tuổi không được ban tuyển quân chấp nhận, phải nhờ chú ruột can thiệp mới được nhập ngũ Vào bộ đội, Lưu Quang Vũ được biên chế vào binh chủng Phòng không- Không quân tại sân bay Cát Bi (Hải Phòng) Đồng thời lúc này có thơ đăng trên các báo: Nhân dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ quân đội… Năm 1968, tập thơ đầu tay ra đời và được dư luận đánh giá cao Năm 1970, ông xuất ngũ
và bắt đầu những năm tháng lận đận của cuộc đời nhưng đây cũng chính là
Trang 18lúc tài năng Lưu Quang Vũ nở rộ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ Ông là hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu, hội viên Hội nhà văn Việt Nam
Trong những năm tháng ngắn ngủi của đời mình, Lưu Quang Vũ đã sống
và làm việc hết mình như một bó đuốc rừng rực cháy Những gì mà Lưu Quang Vũ đã làm được và đã để lại cho cuộc đời đủ khiến ông “sừng sững như một trái núi, một lực sĩ không đối thủ” Lưu Quang Vũ ra đi vào ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông cùng nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai út Lưu Quỳnh Thơ khi đang ở vào giai đoạn chín trong việc khám phá đời sống và sáng tạo nghệ thuật, ông đột ngột ra đi để lại bao dự định còn dang dở…
Với văn chương nghệ thuật, có lẽ Lưu Quang Vũ đã nếm trải với khá nhiều thể loại Đi từ những năm tháng sáng tạo nghệ thuật bằng những bài thơ bất hủ, Lưu Quang Vũ dần thể hiện được cá tính cũng như giá trị của mình Khi những bài thơ nối tiếp nhau ra đời và gây được tiếng vang lớn, Lưu Quang Vũ lại tìm đến thử nghiệm với một thể loại văn chương khác, đó là văn xuôi Văn xuôi đã mang đến cho ông những cảm nhận sâu sắc về cuộc đời giữa những thăng trầm của cuộc sống, của lịch sử từ những điều bước ra từ thực tế Và cuối cùng, ông tìm đến với kịch như một định mệnh, kịch là nơi nhà văn thỏa sức sáng tạo và thỏa chỉ tung hoành, tưởng tượng, kịch là nơi Lưu Quang Vũ gửi gắm biết bao nỗi niềm trước cuộc sống, trước những điều mắt thấy tai nghe mà một con mắt tinh tường và nhạy cảm đã cảm nhận được Đây cũng được xem là bước đi cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác không dài của ông
Ở Lưu Quang Vũ, người ta chú ý nhiều hơn đến thể loại thơ và kịch, còn văn xuôi có lẽ là cầu nối giữa thơ và kịch Chính vì thế truyện ngắn Lưu Quang Vũ là những truyện ngắn mang dư vị thơ và những truyện ngắn hàm chứa nhiều chất kịch Ở giữa sự nghiệp sáng tác văn học của Lưu Quang Vũ,
Trang 19người ta thường bảo cái gì bắt đầu và kết thúc cũng ấn tượng và dữ dội hơn, còn có lẽ con đường đi ở giữa lại nhẹ nhàng hơn, cũng chính vì thế mà truyện ngắn của ông nhẹ nhàng hơn nhiều nhưng không vì thế mà không khẳng định được tiếng nói trước những tháng năm biến động của lịch sử, xã hội
Lưu Quang Vũ có những truyện ngắn viết về đời sống xung quanh, về những con người anh gặp thường ngày, về những mối quan hệ riêng biệt, về những nỗi đau lớn lao, những hạnh phúc… Truyện ngắn của ông khi đó mang một bản sắc riêng Ông viết những truyện thường ngày vào thời gian văn học thiên về cổ vũ…
Buồn, khát vọng, đau đớn… đó cũng là Lưu Quang Vũ của những năm bảy mươi Chính vì thế nhà văn cố gắng biểu hiện những trạng thái tình cảm này trong các truyện ngắn mà tác giả đã viết vì thế, dù không gây được những cơn sóng gió dữ dội như thơ và kịch, truyện ngắn của ông vẫn thấm đẫm những hồi ức, những xao động của một đời người Truyện ngắn của Lưu Quang Vũ có những nhân vật nhân hậu như chính tác giả của nó, con người của những năm sôi động
Đọc Lưu Quang Vũ, chúng ta không gặp những cái sắc sảo bất ngờ đầy
thú vị, nhưng những chuyện như Đêm giao thừa năm ấy, Người kép đóng hổ,
Đứa con, Anh Thình đã để lại cho người đọc những ấn tượng khó quên Ta
thấy xúc động đến nao lòng trước cái tình đời, tình người đang tỏa ra ở những con người như anh Kép Hổ, cô Đào Như, anh Thình, mà những mất mát cay đắng của cuộc đời vẫn không dập tắt được ở họ những niềm khát vọng vươn tới một cái gì tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn
Lưu Quang Vũ- một nghệ sĩ đa tài đã sống và làm việc hết mình trong những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng bạn đọc hôm nay và cả mai sau với sự nghiệp sáng tác đồ sộ và phong phú:
Trang 20- Hơn 50 vở kịch bao gồm kịch dài: Đôi bạn quê hương (1966), Những
ngày đang sống (1981), Nàng Si- ta (1981), Tôi và chúng ta (1984), Tin ở hoa hồng (1986), Ông không phải bố tôi (1988)… và kịch ngắn: Juy- li- ét không trẻ mãi (1983), Sống giả chết giả (1987), Con tò he (1988)…
- Các tập thơ: Hương cây- Bếp lửa (1968), Mây trắng của đời tôi (1984), Thơ tình Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ (1994), Lưu Quang Vũ- thơ và
1.2.2 “Mùa hè đang đến”- một thử nghiệm của Lưu Quang Vũ đối với thể loại truyện ngắn
Bắt đầu sự nghiệp sáng tác với thơ, dường như Lưu Quang Vũ chưa bao giờ mệt mỏi trong suốt hành trình nghệ thuật dài ấy Ông tìm đến văn xuôi
như một thử nghiệm mới đầy gian nan Khởi đầu là Thị trấn ven sông, rồi sau này Giếng nước gốc gạo… Lần đầu tiên đến với truyện ngắn còn nhiều bỡ
ngỡ, có lẽ văn xuôi Lưu Quang Vũ chưa thực sự thấm sâu vào độc giả Phong
Lê trong bài viết “Văn xuôi Lưu Quang Vũ- cầu nối giữa thơ và kịch” có nhận
xét: “Tôi không đánh giá cao hiệu quả nghệ thuật của những truyện này, như
Trang viết đầu tay, Người đưa thư, Một chuyện ở biên giới… mà đánh giá cao
ý thức chính trị ở Vũ, một ý thức hồn nhiên, nó là sản phẩm của tuổi trẻ biết
Trang 21tự giác gắn số phận cá nhân với nhân dân và đất nước Sau nhiều va vấp và đụng chạm với đời, dẫu không phải lớn nhưng có thể làm mòn đi sự tin yêu, thế mà Vũ vẫn có được sự trăn trở và thiết tha với những gì đã thành thiêng liêng, và với cả cuộc đời rộng lớn… Rồi cùng với những trang về biên giới,
Vũ nhanh chóng trở lại đời thường với biết bao trăn trở, suy tư trong một cảm hứng mới- cảm hứng công dân và trách nhiệm.”[32, tr.233]
Thế nhưng, không dừng lại ở đó, bước sang tuổi 30, Lưu Quang Vũ tiếp tục thử nghiệm với thể loại truyện ngắn và đem lại một số thành công nhất
định đặc biệt trong tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến” (1983) Ở tập truyện
ngắn bao gồm 11 truyện ngắn này, Lưu Quang Vũ đã đem lại cho bạn đọc không ít chân dung khó quên Vui hóm, nhẹ nhàng mà thấm, không ác ý mà
đau qua chân dung một “con người nhũn nhặn” như anh Bân: “Anh không
bao giờ làm mất lòng ai vì không bao giờ anh cãi lại ai”… [37, tr.59] “Không bao giờ ngã trên đường, vì một lẽ rất đơn giản là anh không đi đâu, anh đứng yên một chỗ”… [37, tr.60] “Trong các cuộc họp, anh thường ngồi nghiêm chỉnh ở hàng ghế trên, thủ trưởng nói một câu anh gật đầu một cái…”[37,
tr.61] “Nhũn nhặn” chứ không phải “nịn” như lời tác giả phân trần Thế
nhưng, với tất cả đức tính ấy, anh Bân rồi cũng không tránh khỏi bị những loại người như Đào Ty cho vào cuộc, cho dây vào kiện tụng và đấu tranh, để cuối cùng trơ ra là một con người nhạt nhẽo và vô tích sự
Lại một chân dung khác: anh Y, một “cán bộ lâu năm”, được chuyển công tác nhiều lần, con người tưởng là “bách khoa” hóa ra là một cục đất … Sắp cuối cuộc đời anh vẫn không làm được gì, trước sau vẫn chỉ là một người
vô tích sự Dựng nên anh Y với tính cách như trên, đưa anh Y vào một cái kết
bế tắc ở cuối truyện, tác giả đưa ra một lời cảnh cáo Có điều cảnh cáo là một chuyện, còn sự thực lại là chuyện khác Xã hội đâu dễ hết những cây tầm gửi,
Trang 22khi toàn bộ cơ chế cũ và quan niệm cũ còn chưa vỡ, còn gắn với lợi ích của một lớp người
Trong các truyện ngắn của mình, Lưu Quang Vũ dùng một cách viết giản dị, một cách kể chuyện dung dị và điềm đạm Như một họa sĩ không bao giờ đụng đến những gam màu gắt hoặc những đường nét, bố cục độc đáo, quá bạo Truyện ngắn của Lưu Quang Vũ tự nhiên và chừng mực toát lên trong cả nội dung và nghệ thuật nên rất dễ đến với người đọc Không gây ấn tượng dữ dội nhưng nó nhẹ nhàng, thấm sâu và khó gạt ra khỏi tâm trí mình khi đã nghe, đã đọc Thơ và truyện ngắn được xem là cái bệ phóng vững vàng cho Lưu Quang Vũ bước sang sân khấu Ông đã thành công với hơn 50 vở kịch Nhưng cuối cũng nhà nghệ sĩ đa tài vẫn thường nói rằng: “Tôi vẫn mê thơ lắm Mê cả truyện ngắn Có thể lúc nào đó mình sẽ trở lại với thơ, với truyện ngắn.”
Cuối cùng, ngay chính Lưu Quang Vũ cũng không ngờ được rằng,
truyện ngắn của ông, mà đặc biệt là tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến” đã
làm cho người đọc cảm động thực sự và thấy mình dường như phải sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với con người và cuộc sống
Không trở thành đỉnh cao nghệ thuật, không cầu kì và để lại ấn tượng dữ
dội, “Mùa hè đang đến” như một điềm báo, nó nhẹ nhàng, sâu lắng, thấm sâu,
đi từ từ vào lòng độc giả “Mùa hè đang đến” là một thử nghiệm táo bạo và
đồng thời cũng là một tập truyện ngắn để lại bao xót xa trong lòng người đọc
về số phận con người trước cuộc sống Chính vì vậy, tìm hiểu ngôn ngữ trong
truyện ngắn “Mùa hè đang đến” chính là con đường tiếp cận với nghệ sĩ đa
tài Lưu Quang Vũ và cũng chính là con đường đi đến những cách tân mới lạ trong nghệ thuật viết truyện của nhà văn này
Trang 23Chương 2 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN
MÙA HÈ ĐANG ĐẾN CỦA LƯU QUANG VŨ
Ngôn ngữ nghệ thuật là một phạm trù rộng, đây là vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất mà mỗi nhà nghiên cứu, giới chuyên môn khi đến với ngôn ngữ học đều phải tìm hiểu Có nhiều cách tiếp cận với ngôn ngữ của một tác phẩm văn học, với đề tài này, chúng tôi xin được đi sâu tìm hiểu về các phương thức tu từ từ vựng, các phương thức tu từ ngữ nghĩa và các phương thức tu từ cú pháp để làm rõ phong cách ngôn ngữ nhà văn cũng như nội dung phản ánh và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tập truyện ngắn này
2.1 Các phương thức tu từ từ vựng
Ngôn ngữ Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, trong hệ thống ngôn ngữ đó, chúng ta không thể không nhắc đến vốn từ vựng Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của nhà văn Theo Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn, phương thức tu từ từ vựng có thể chia thành các loại như: từ thi ca, từ cũ, từ Hán Việt, từ hội thoại, từ vay mượn, từ thông tục, từ lóng, từ nghề nghiệp, từ địa phương, từ láy, thành ngữ Để tìm hiểu giá trị phong cách ngôn ngữ truyện ngắn của Lưu Quang Vũ, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát một số phương thức tu từ từ vựng được thể hiện nổi bật trong tập truyện ngắn này như: từ láy, từ Hán Việt, từ hội thoại, từ vay mượn…
2.1.1 Từ láy
Từ láy là từ phức được tạo ra bằng phương thức láy âm có tác dụng tạo
nghĩa Theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ
tiếng Việt, “Từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc
theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa
Trang 24điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa” [12, tr.33]
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập vì thế từ láy có một vị trí quan trọng trong việc tạo ra ngữ điệu, tiết tấu cho phát ngôn Hơn nữa láy là một phương thức cấu tạo từ rất uyển chuyển, ngoài thông tin cơ sở, từ láy luôn luôn hàm chứa thông tin bổ sung giàu sắc biểu cảm
Trong truyện ngắn “Mùa hè đang đến” của Lưu Quang Vũ, từ láy xuất
hiện với mật độ dày đặc Khảo sát 11 truyện ngắn, chúng tôi thống kê được
535 từ với 608 lượt dùng Cụ thể như sau:
Bảng 2.1 BẢNG THỐNG KÊ TỪ LÁY
ST
Số lượt dùng
Tỉ lệ (%)
Kiểu loại
Từ láy khái quát hóa về nghĩa
Từ láy sắc thái hóa về nghĩa
Từ láy mang tính tượng thanh
Từ láy mang tính tượng hình
Trang 25Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ từ láy xuất hiện trong mỗi truyện rất cao,
một số truyện có số lượng từ láy xuất hiện khá lớn như: Bạn già với 90 lượt dùng (chiếm 14.8%), Đứa con với 80 lượt dùng (chiếm 13.2%)… Trong đó
có nhiều từ được sử dụng nhiều lần như vui vẻ (19 lần), lo lắng (11 lần), nhũn
nhặn (10 lần), rụt rè (10 lần), vất vả (7 lần)…
Thông thường, từ láy có các tác dụng tu từ như: Khái quát hóa về nghĩa, Sắc thái hóa về nghĩa, tính tượng thanh (mô phỏng âm thanh), tính tượng hình (giá trị tạo hình) Theo đó, từ láy cũng được chia thành 4 loại lớn là: từ láy khái quát hóa về nghĩa, từ láy sắc thái hóa về nghĩa, từ láy mang tính tượng thanh, từ láy mang tính tượng hình
Từ láy khái quát hóa về nghĩa
Kiểu từ láy khái thái hóa về nghĩa trong “Mùa hè đang đến” được sử
dụng nhiều nhất với 325 lượt dùng (chiếm 53.5%) trong tổng số từ láy mà chúng tôi khảo sát được Hầu hết các từ láy được tác giả dùng theo nghĩa quen
thuộc như đã giải thích trong Từ điển từ láy tiếng Việt (1995) do Hoàng Văn Hành chủ biên Từ láy khái quát hóa về nghĩa trong tập truyện ngắn “Mùa hè
đang đến” chủ yếu là các từ láy khái quát hóa đặc điểm, tính chất của đối
tượng như: độc đáo, phong phú, ngậm ngùi, xởi lởi, thiêng liêng, lung tung,
thử thách, uyển chuyển, miên man, khéo léo, buồn bã…
Ví dụ:
(1) Tôi coi anh như một bậc đàn anh, một người thầy, một nhân cách
độc đáo, một trí tuệ vừa sâu sắc vừa thực tế, một kho kinh nghiệm phong phú
dạy tôi bao bài học về cách sống, cách xử thế, khi làm việc cũng như trong mọi mối quan hệ…[37, tr.114]
“Độc đáo” nghĩa là “có tính chất riêng biệt đặc sắc mà người khác, nơi
khác không có” [8, tr.125]
Trang 26“Sâu sắc” nghĩa là “có tính chất đi vào chiều sâu, vào nội dung thực
chất, không chịu dừng lại ở bề mặt, có ý nghĩa quan trọng và lâu dài” [8, tr.479]
“Phong phú” nghĩa là “dồi dào và nhiều màu vẻ” [8, tr.442]
(2) Nghĩ vậy nhưng trong lòng tôi vẫn ấm ức, buồn bã [37, tr.133]
“Buồn bã” nghĩa là “có vẻ buồn hoặc có tác dụng gây cảm giác buồn
(nói khái quát)” [8, tr.57]
Từ láy sắc thái hóa về nghĩa
Từ láy sắc thái hóa về nghĩa có đến 129 lượt dùng, bao gồm:
- Các từ láy chỉ mức độ thấp của một trạng thái, đặc điểm như: đèm
đẹp, khe khẽ, khinh khỉnh, cỏn con, lơ lớ, luống cuống…
Ví dụ:
(1) Người khách mới chắp hai bàn tay móng cáu ghét, kêu lên khe khẽ…
[37, tr.194]
“Khe khẽ” nghĩa là “(cách thức hoặc mức độ hoạt động) êm nhẹ, không
gây tiếng động, tiếng ồn có thể ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung” [8, tr.196]
(2) Ba ông bạn bị bất ngờ, cũng luống cuống đứng líu tíu quanh ông
Mạc, muốn nói mà không biết nói gì [37, tr.27]
“Luống cuống” nghĩa là “(mức độ thấp) hơi cuống lên, không cong bình
tĩnh và tự chủ để đối phó, xử sự trước tình huống” [8, tr.323]
- Các từ láy chỉ mức độ cao của một trạng thái, đặc điểm như: bạc bẽo,
ngào ngạt, xanh xao, keo kiệt, vội vã…
Ví dụ:
(1) Đã bốn năm trong nghề, đã là một nhà y học có những thành tựu nổi
tiếng thế giới, đã cứu sống biết bao bệnh nhân và cũng đã nhiều lần chứng kiến cái chết, nhưng lần nào cũng vậy, trước cái chết không tránh khỏi của
bệnh nhân, ông Tường vẫn cứ tự day dứt, dằn vặt…[37, tr.75]
Trang 27“Day dứt” nghĩa là “làm cho không lúc nào được yên lòng, luôn phải
bứt rứt, lo phiền” [8, tr.106]
(2) Nỗi buồn phiền day dứt dường như chưa tan hết trên căn gác nhỏ,
bỗng có tiếng còi ô tô, tiếng chân chạy vội vã lên cầu thang” [37, tr.26]
“Vội vã” nghĩa là “tỏ ra rất vội, hấp tấp, muốn tranh thủ thời gian cho
kịp hoặc tỏ ra nhanh gấp nên thiếu cân nhắc, suy nghĩ” [8, tr.558]
Từ láy mang tính tượng thanh:
Xuất hiện hạn chế nhất trong 4 kiểu loại từ láy, tuy nhiên, từ láy mang tính tượng thanh cũng có đến 50 lượt dùng (chiếm 8.2%) Bao gồm:
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của con người như: lắp bắp, lẩm bẩm,
khà khà, xì xào, thì thào, làu bàu, hô hố…
Ví dụ:
(1) Anh Y lại cười khà khà, tay đập vào lưng anh Hà- ba cái ông lãnh
đạo thật đến lạ, việc này có phải trách nhiệm của tôi đâu [37, tr.123]
“Khà khà” nghĩa là “(tiếng cười) thành tiếng phát ra từ cổ họng, to và
trầm, tỏ vẻ thích thú, khoan khoái” [8, tr.188]
(2) Cả bọn lại cười hô hố [37, tr.54]
“Hô hố” nghĩa là “(tiếng cười) to, phát ra những tiếng thô, không một
chút giữ gìn ý tứ, biểu lộ vẻ thô lỗ” [8, tr.169]
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của sự vật như: lách cách, tíu tít, nức
nở, rào rào, véo von, ầm ầm, tí tách, ào ào…
Ví dụ:
(1) Buổi chiều, thành phố loáng thoáng mưa, trời rét buốt, lá vàng rụng
rào rào xuống hè đường khấp khểnh [37, tr.25]
“Rào rào” nghĩa là “có nhiều tiếng động nhỏ, xen lẫn nhau đều đều, liên
tiếp” [8, tr.460]
(2) Phía vực sâu, tiếng nước réo ầm ầm [37, tr 39]
Trang 28“Ầm ầm” nghĩa là “tiếng động vang to và rền liên tiếp” [8, tr.17]
Từ láy mang tính tượng hình:
Xuất hiện nhiều hơn từ láy tượng thanh với 104 lượt dùng (chiếm
17.1%) Bao gồm:
- Các từ láy gợi tả hình dáng, dáng vẻ của con người như: hốc hác, loắt
choắt, tập tễnh, khập khiễng, ung dung…
Ví dụ:
(1) Quả thật, tôi rất ít giận ai, nhưng lúc ấy, tôi cảm thấy không có kẻ
nào trên đời làm tôi căm ghét bằng cái con người loắt choắt, mặt tái mét ấy…
[37, tr.144]
“Loắt choắt” nghĩa là “có vóc dáng nhỏ bé nhưng có vẻ rắn chắc, nhanh
nhẹn” [8, tr.284]
(2) Đã mấy lần anh Thình lên xã xin đi bộ đội, nhưng vì anh có tật ở
chân, phải đi tập tễnh, mắt lại rất kém- do những trận ốm nặng ngày bé- nên
xã không nhận [37, tr.35]
“Tập tễnh” nghĩa là “(dáng đi) bên cao, bên thấp, không cân, không
đều” [8, tr.495]
- Các từ láy gợi tả hình dáng, dáng vẻ của sự vật như: lố nhố, lác đác,
um tùm, mù mịt, lấp lánh, mênh mông, xinh xắn, rậm rạp …
Ví dụ:
(1) Anh được cơ quan phân cho một căn hộ hai buồng xinh xắn và yên
tĩnh [37, tr.167]
“Xinh xắn” nghĩa là “xinh, nhỏ đáng yêu” [8, tr.571]
(2) Gió xào xạc trên hàng muỗm cao vút rậm rạp [37, tr.74]
“Rậm rạp” nghĩa là “(cây lá) dày, rậm thành nhiều tầng lớp” [8, tr.462]
Trang 292.1.2 Từ hội thoại
“Từ hội thoại còn được gọi là từ khẩu ngữ, là những từ được dùng chủ yếu trong lời nói miệng trong giao tiếp hàng ngày Từ hội thoại được coi là một dấu hiệu đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hàng ngày [16, tr.28]
Từ hội thoại có nhiều kiểu khác nhau như: thêm yếu tố; bớt yếu tố; biến
âm; biến nghĩa hay không lí do, ngẫu nhiên Trong “Mùa hè đang đến”, Lưu
Quang Vũ chỉ sử dụng từ hội thoại có dạng thêm yếu tố; biến âm; biến nghĩa; không lí do, ngẫu nhiên (không có dạng bớt yếu tố) Khảo sát toàn bộ 215 trang của tập truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy tác giả đã sử dụng tất cả 137 từ với 156 lượt dùng Cụ thể như sau:
Bảng 2.2 BẢNG THỐNG KÊ TỪ HỘI THOẠI
Tỉ lệ (%)
Kiểu cấu tạo
Thêm yếu tố
Biến
âm
Biến nghĩa
Không
lí do, ngẫu nhiên
Trang 30Mặc dù xuất hiện không nhiều như từ láy nhưng từ hội thoại có vai trò
vô cùng quan trọng, đó là một trong những yếu tố chính góp phần làm nên
tính chân thực của truyện ngắn Mùa hè đang đến Chúng có mặt nhiều nhất trong các bài Bạn già với 34 lượt dùng (chiếm 21.8%), Đứa con với 17 lượt dùng (chiếm 10.9%), Người đưa thư với 16 lượt dùng (chiếm 10.3%), Con
người nhũn nhặn với 15 lượt dùng (chiếm 9.6%), Mùa hè đang đến với 14
lượt dùng (chiếm 9.0%) Có một số từ được sử dụng nhiều lần và mang lại
hiệu quả cao như: dăm (4 lần), giời (4 lần), xanh xao (3 lần), trắng xóa (2
lần)…
Từ hội thoại có kiểu cấu tạo thêm yếu tố
Từ hội thoại được cấu tạo bằng cách thêm yếu tố bao gồm từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa và từ láy Trong các truyện được khảo sát, chúng tôi thấy xuất hiện kiểu cấu tạo từ láy và từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa
- Từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa là một kiểu cấu tạo của
từ hội thoại mang tính miêu tả cụ thể như: bé tí, rét buốt, tối om, tối mịt, vắng
ngắt, gầy quắt, cao vút, đen sì…
Ví dụ:
(1) Gian nhà vẫn vắng ngắt, bọn lính gác ngoài ngõ không hay biết gì
[37, tr.54]
Trang 31(2) Chân thì bẩn, răng thì đen sì, trông đã biết đồ du thủ du thực [37,
tr.95]
- Từ láy là một dạng được dùng phổ biến nhất: vắng vẻ, xanh xao, vàng
vỏ, mập mạp, trắng trợn, vắng vẻ, đẹp đẽ…
Ví dụ:
(1) Mặt anh vàng vỏ, mắt anh thâm quầng [37, tr.68]
(2) Trời vẫn chưa sáng rõ, đường vẫn vắng vẻ, chưa gặp xe cộ hay
người đi đường nào [37, tr.48]
Từ hội thoại có kiểu cấu tạo biến âm
Có mặt rải rác trong tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến” của Lưu Quang
Vũ, trong 11 truyện ngắn được khảo sát, chúng tôi thấy từ hội thoại được cấu tạo theo phương thức này xuất hiện với 26 lượt dùng, chẳng hạn như các từ:
dớ dẩn, giời, hổng, sanh, dăm, giai, rày, lãnh…
Ví dụ:
(1) Thôi được, tôi đã đến tận nơi để gặp chú, có lẽ chú cũng không phải
là thằng xấu! Nhưng chú mày sống sai rồi, đầu óc chú mày dớ dẩn lắm! [37,
tr.110]
(2) Mình đem con bỏ chợ thế chả trách giời hổng cho mình sanh con
nữa… [37, tr.150]
Từ hội thoại có kiểu cấu tạo biến nghĩa
Khảo sát 11 truyện ngắn trong tập truyện Mùa hè đang đến, chúng tôi
nhận thấy từ hội thoại được cấu tạo theo phương thức này xuất hiện với 16
lượt dùng Chúng tập trung chủ yếu ở một số truyện như Bạn già, Anh Y,
Những người bạn Có thể kể đến các từ như: nhắm mắt, hoa lá cành, cánh gà,
bó tay, đầu đuôi, rượu…
Ví dụ:
Trang 32(1) Bà còn hay mách với khách khứa: Ông Châu nhà tôi thời trẻ cũng
thuộc loại “hoa lá cành” lắm [37, tr.7] “Hoa lá cành” ở đây được sử dụng
với nghĩa không đứng đắn, ám chỉ một con người lăng nhăng
(2) Đầu đuôi ra sao, bà ngồi xuống đây đã… [37, tr.18] “Đầu đuôi”
được sử dụng với nghĩa là kể câu chuyện một cách đầy đủ từ khi xảy ra đến lúc kết thúc
Từ hội thoại có kiểu cấu tạo không lí do, ngẫu nhiên
Từ hội thoại có kiểu cấu tạo này khá đặc biệt, chúng xuất hiện hầu khắp
tất cả các truyện Có thể kể đến một số từ như: kêu, chả là, chui cha, đâm ra,
hiềm một nỗi, ấy chết, chả là…
Trong tập truyện ngắn “Mùa hè đang đến”, Lưu Quang Vũ đã sử dụng
khá nhiều từ Hán Việt bên cạnh từ láy, từ hội thoại… Từ Hán Việt có sắc thái
ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại, thường không gợi hình, không mang tính chất miêu tả sinh động; nhưng nó lại mang sắc thái trang trọng, thanh nhã; đặc biệt nó góp phần tạo nên một không khí trang nghiêm, một cách ứng xử lịch sự giữa những cuộc sống thường nhật của các nhân vật mà tác giả xây dựng nên
Trang 33Khảo sát 11 truyện ngắn của Lưu Quang Vũ, chúng tôi nhận thấy rằng ông đã sử dụng từ Hán Việt một cách khá đều đặn trong các truyện ngắn của mình Cụ thể như sau:
Bảng 2.3 BẢNG THỐNG KÊ TỪ HÁN VIỆT
Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại không đồng nghĩa với việc chúng ta
sẽ học một cách rập khuôn, máy móc mà chúng ta phải biết sáng tạo từ những điều học hỏi được Tuy nhiên, không phải lúc nào quá trình sáng tạo cũng được xem là biện pháp tối ưu Đặc biệt, trong việc sử dụng ngôn ngữ, chúng
ta đã vay mượn khá nhiều từ Hán Việt, đó cũng chính là cách làm cho ngôn ngữ Việt Nam càng ngày càng phong phú hơn Thế nhưng, sử dụng như thế
Trang 34nào cho phù hợp không phải là điều dễ dàng Đến với tập truyện ngắn của Lưu Quang Vũ, chúng ta thấy rằng ông không chỉ khai thác ngôn ngữ vay mượn một cách có hiệu quả mà còn thể hiện được tâm hồn cũng như tâm tư tình cảm của con người Việt Nam một cách khéo léo Viết về cuộc sống thường nhật giữa bộn bề những lo toan đời thường, Lưu Quang Vũ đã nhạy bén sử dụng từ Hán Việt làm cho câu chuyện thêm phần trang trọng và cuốn hút người đọc hơn
Trong 11 truyện ngắn được khảo sát, chúng tôi thấy xuất hiện 104 từ với
127 lượt dùng Nó xuất hiện nhiều trong các truyện như: Những người bạn với 37 lượt dùng (chiếm 29.3%), Bạn già với 24 lượt dùng (chiếm 18.9%),
Người chiếu đèn với 13 lượt dùng (chiếm 10.2%) …
Ví dụ:
(1) Cũng có thể như một hiệp sĩ đã phờ phạc sau quá nhiều cuộc giao
tranh ghê gớm, nay đã về già, không thể đương đầu với sư tử hoặc tê giác, để cho khuây khỏa, anh Ty chĩa mũi giáo vào một chú chồn con- đó là anh Bân tội nghiệp.[37, tr.65]
(2) Về khoản gia đình, tớ ưa kiểu phong kiến… [37, tr.119]
(3) Năm nay ông sáu mươi bảy tuổi, đến tuổi về hưu đã lâu, nhưng do
ông là một bác sĩ phẫu thuật giỏi, nhiều kinh nghiệm nên bệnh viện vẫn giữ lại công tác [37, tr.10]
(4) U tôi cứ nói thế, tôi đâm ra thành kiến, ác cảm với các cô gái đẹp
[37, tr.131]
2.1.4 Từ vay mượn Ấn Âu
Theo Đinh Trọng Lạc, từ mượn là từ lấy từ tiếng nước ngoài nhưng đã phần nào thích nghi với những chuẩn mực của tiếng Việt, cho nên được dùng một cách thông thường, mặc dù người nói còn cảm thấy rất rõ cái nguồn gốc
Trang 35ngoại lai của nó [12, tr.18] Từ vay mượn ở Việt Nam rất phong phú và cần thiết, hầu như phạm vi biểu vật nào cũng có
Những từ mượn thường là của tiếng Pháp, tiếng Anh… thông qua con đường sách báo mà đi vào tiếng Việt Lớp từ này dùng lâu dần quen đi, không
ai đi tìm những từ thuần Việt để thay thế, vì dịch lại vừa rườm rà lại vừa không chính xác Từ vay mượn mang nhiều đặc điểm tu từ khác nhau, trong
đó việc đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngôn ngữ trong cuộc sống cũng như đối với sự ra đời và phát triển chóng mặt của nhiều ngành khoa học kĩ thuật là rất quan trọng Đặc biệt, đối với tác phẩm tự sự, từ vay mượn sẽ đảm bảo được tính chân thực, lịch sử của hiện thực xã hội được phản ánh trong tác phẩm Mặt khác nó còn góp phần thể hiện, bộc lộ tính cách nhân vật
Trong truyện ngắn “Mùa hè đang đến” của Lưu Quang Vũ, tác giả đã sử
dụng từ vay mượn một cách khéo léo và sắc sảo, khảo sát 215 trang truyện ngắn, chúng tôi thống kê được 41 từ với 48 lượt dùng
Bảng 2.4 BẢNG THỐNG KÊ TỪ VAY MƯỢN ẤN- ÂU
Trang 369 Tiếng hát 4 8.3%
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng, từ vay mượn xuất hiện nhiều nhất là ở
truyện ngắn: Bạn già với 14 lượt dùng (chiếm 29.0%), Một đêm của giáo sư
Tường với 8 lượt dùng (chiếm 16.7%), còn lại chúng nằm rải rác trong hầu
hết các truyện ngắn Trong đó, có một số từ được dùng lặp đi lặp lại nhiều
lần: vali (2 lần), mốt (2 lần), rađiô (2 lần)…
Ví dụ:
(1) Tất nhiên ông không phải cua- rơ loại nhất, nhưng cũng không phải
không được người ta từng biết đến, và theo lời ông kể, thì lần ấy, nếu không
bị hỏng xe đạp trên đèo Hải Vân, có lẽ ông đã giữ chức vô địch Đông Dương… [37, tr.8]
(2) Gian buồng của anh coi nhà xác khá khang trang lịch sự: đèn nê-
ông, tủ lệch gắn gương, ti- vi, ra- đi- ô, bộ xa- lông xinh xắn, đôi găng tay
bằng cao su trắng- dụng cụ làm việc của Ty- vắt trên thành ghế… [37, tr.79]
(3) Các mặt tường, lan can đều bằng đuy- ra và các loại hợp kim không
gỉ.[37, tr.93]
(4) Tôi quét vôi và đóng bàn ghế, xích- đông, chạn bát cho gian buồng
của Nga ở khu tập thể đoàn.[37, tr.210]
Với việc sử dụng phương thức tu từ từ vựng phong phú và đặc sắc: từ láy, từ hội thoại, từ Hán Việt và từ vay mượn Ấn- Âu, Lưu Quang Vũ đã cho chúng ta thấy một tài năng lớn trong việc sử dụng ngôn ngữ Nhờ đó mà bạn đọc có thể hiểu và thấy được cuộc sống của các nhân vật trong tác phẩm một cách gần gũi và thân quen như ta thấy trực tiếp từ mắt mình
2.2 Các phương thức tu từ ngữ nghĩa
Trang 372.2.1 So sánh tu từ
So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu
từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng [12, tr.154]
So sánh là một trong những phương tiện tu từ ngữ nghĩa đưa lại hiệu quả tu từ cao trong sáng tác văn học So sánh tu từ là một cách thức xây dựng hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và trở nên gợi cảm
Theo Tiến sĩ Bùi Trọng Ngoãn, so sánh tu từ bao gồm bốn kiểu: kiểu A như (tựa như, như là) B; kiểu A là B, kiểu A// B, kiểu B bao nhiêu A bấy nhiêu Khảo sát truyện ngắn Lưu Quang Vũ, chúng tôi thấy xuất hiện hai kiểu
so sánh là A như (tựa như, như là) B, A là B; trong đó kiểu so sánh A như (tựa như, như là) B là phổ biến nhất
Bảng 2.5 BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TU TỪ
Trang 389 Tiếng hát 6 18.5%
Phương thức tu từ so sánh được sử dụng không nhiều trong tập truyện
ngắn Mùa hè đang đến của Lưu Quang Vũ nhưng đã góp phần quan trọng
trong việc khẳng định tư duy nghệ thuật của nhà văn Nằm rải rác ở tất cả các
truyện, tập trung nhiều nhất ở Tiếng hát với 6 lượt dùng (chiếm 18.5%), Anh
Y với 4 lượt dùng (chiếm 12.5%)…
So sánh kiểu A như (tựa như, như là) B
Đây là kiểu cấu trúc rất phổ biến trong ca dao và thơ văn truyền thống Kiểu so sánh này có khả năng tạo chiết đoạn song song để khẳng định giá trị
và nâng sự thẩm thấu lên trình độ nhận thức, mang lại cho câu văn sự giàu có
Trang 39Vinh nhìn thấy chỗ nào cũng có lính Tàu đông lúc nhúc như kiến
Ẩn dụ tu từ gồm ba loại là ẩn dụ chân thực, ẩn dụ bổ sung và ẩn dụ tượng trưng Sức mạnh đặc biệt của ẩn dụ là biểu cảm, thông qua lối nói hình
ảnh, kín đáo Khảo sát 11 truyện ngắn trong tập Mùa hè đang đến chúng tôi
thấy sự xuất hiện của ẩn dụ chân thực và ẩn dụ bổ sung Có thể khái quát qua bảng sau:
Trang 40Bảng 2.6 BẢNG THỐNG KÊ ẨN DỤ TU TỪ
Số lượt dùng
“Ẩn dụ chân thực là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm
những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng” [16, tr.34] Trên cơ sở
khảo sát 11 truyện ngắn của tập “Mùa hè đang đến”, chúng tôi thống kê được
6 lượt dùng ẩn dụ chân thực (chiếm 54.5%)
Ví dụ:
“Sau này tôi mới hiểu: trong cuộc đời còn có biết bao người không có
điều kiện và khả năng thực hiện những ao ước của mình, nhưng ai bảo ngọn
lửa thầm lặng từng được nhen lên và tắt đi trong lòng họ không đáng được
quý trọng và ghi nhớ?” [37, tr.43]