Chính vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội IX của Đảng NDCM Lào tiếp tục khẳng định đường lối, chính sách coi trọng và không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ hữ[r]
Trang 1BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT
NAM - LÀO, LÀO – VIỆT NAM
1 Những nhân tố hình thành, quyết định mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam bắt nguồn từ các điều kiện
tự nhiên, nhân tố dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử và truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước nhưng người đặt nền móng, quyết định mối quan hệ đặc biệt này chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào đều nằm ở trung tâm bán đảo
Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào
Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả Việt Nam và Lào đều theo trục Bắc-Nam Còn về đường biển, Lào chỉ có thể thông thương qua một số tỉnh miền Trung Việt Nam Với điều kiện tự nhiên như thế, Việt Nam và Lào vừa có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, để hợp tác cùng phát triển, hai nước hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau bằng tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước về vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, thị trường cũng như
sự phân vùng kinh tế và phân công lao động hợp lý
Ngoài ra, Việt Nam và Lào là những nước loại “vừa” và “tương đối nhỏ” sống cạnh nhau, lại nằm kề con đường giao thông hàng hải hàng đầu thế giới, nối liền Đông Bắc Á, Nam Á qua Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho nên chiếm vị trí địa- chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam Á
Mặt khác, bờ biển Việt Nam tương đối dài nên việc bố trí chiến lược gặp không ít khó khăn Trong khi đó, dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên giữa Việt Nam và Lào, được
ví như bức tường thành hiểm yếu để hai nước tựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chế những địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắc cho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước
Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc,
đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực Đông Nam
Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này đã chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia Việt Nam-Lào
Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân Việt Nam và cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khai thác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thủy Điều này, thêm một lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là những điều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoa văn hoá nhiều tầng nấc giữa
cư dân hai nước
Về nhân tố văn hoá và lịch sử, do quan hệ gần gũi và lâu đời nên nhân dân hai
nước Việt-Lào, đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận
và sự giao thương ở đây cũng khá nhộn nhịp Trong quan hệ giao thương với Đại
Trang 2Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để mở rộng buôn bán vào sâu lục địa
Sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào Chính trong cuộc sống chan hoà này, nhân dân hai nước Việt Nam- Lào đã ngày càng hiểu nhau và bày tỏ những tình cảm rất đổi chân thành với nhau
Về nhân tố lịch sử, theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam thì mối quan hệ
Việt-Lào bắt đầu từ những năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý Điều đáng nói là bất chấp hoàn cảnh bất lợi của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Lạn Xạng, quan
hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng
Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã làm cho mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào-Việt Nam càng gắn bó keo sơn
Từ khi Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào theo con đường cách mạng
vô sản, đưa sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Việt Nam và Lào ngày càng hoà quyện vào nhau, nương tựa lẫn nhau, mở ra một trang mới trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc và tiến lên con đường
xã hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào- Việt Nam
Và chính Người đã cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam
Thực tiễn đã khẳng định rằng, trong quan hệ quốc tế ít có nơi nào và lúc nào cũng
có được mối quan hệ đặc biệt, đoàn kết, hợp tác bền vững lâu dài, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội như mối quan hệ Việt - Lào
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không ít thách thức Vì vậy, việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng, chính quyền và nhân dân hai nước Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam
2 Tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào
Một trong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai Đảng, hai Nhà nước và hai dân tộc trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay
Ngày 18/7/1977, hai nước chính thức ký kết các hiệp ước: “Hiệp ước hữu nghị và
hợp tác giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, “Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Trang 3Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” và “Tuyên bố chung” đã tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng, hai Nhà nước đã cử trên 30 đoàn từ cấp trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, dân vận Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực
và có hiệu quả
Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam từ 1930- 2007” nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam lên một tầm cao mới
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào- Việt Nam quý báu và thiêng liêng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
“Thương nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt - Lào, hai nước chúng ta.
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: “Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu
và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam”; “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”
Cùng với cả nước, mối quan hệ giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Khăm muộn của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào cũng không ngoài truyền thống quý báu đó
Cùng chung một chiến hào chống kẻ thù chung, trong gian khổ, hy sinh, tình đoàn kết chiến đấu giữa Hà tĩnh và tỉnh bạn Lào luôn keo sơn, gắn bó Với tinh thần “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, quân dân Hà tĩnh cùng bạn chiến đấu anh dũng, kiên cường, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn
Về phía bạn, bằng tấm lòng chân thật, ngay thẳng, thủy chung, trong sáng, Đảng bộ
và nhân dân hai tỉnh đã cưu mang, giúp đỡ Hà tĩnh lúc khó khăn, hiểm nguy nhất Biên giới bạn phía tây trở thành căn cứ cho bộ đội, cán bộ, nhân dân Hà Tĩnh bảo toàn
và phát triển lực lượng
Tỉnh bạn cũng tạo điều kiện, giúp đỡ Ha Tĩnh trong việc tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ Phát huy truyền thống đó, trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh bạn Lào sẽ làm hết sức mình, tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung, cơ chế phù hợp trên tất cả các lĩnh vực góp phần cùng với hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam- Lào bảo vệ và nâng quan hệ đặc biệt lên tầm cao mới
3 VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAY XỎN PHÔMVIHẢN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT
VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM.
Trang 4Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về
sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
và Đảng Cộng sản Việt Nam:
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn
Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí
Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân Cuộc gặp
gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia chính phủ Lào,
Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới ”
Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt và Hiệp định về tổ
Trang 5chức Liên quân Lào - Việt, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên
minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Lào
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao
động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu
Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan
hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộ quân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước Ngày 30 tháng 4 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với
Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam
Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung
tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu
dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hiệp ước có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10 năm nếu một trong hai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một năm trước khi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừng tăng cường tình đoàn kết và tin
Trang 6cậy lẫn nhau, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên tinh thần của chủ
nghĩa quốc tế vô sản và theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước Việc ký kết hiệp ước đó còn có ý nghĩa
quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải
quyết vấn đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986,lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: " Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa
ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài
và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam" ; " Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
4 NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
1 Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc
Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công tháng 8-1945
Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam - Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ phát triển rực rỡ trong giai đoạn sau
2 Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phó ngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
Sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam đứng trước những thử thách hết sức nghiêm trọng
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:
Trang 7Thành quả của mối quan hệ đặc biệt này được thể hiện:
Một là, sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân và dân hai nước Việt Nam, Lào phá vỡ
mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang nòng cốt Pathết Lào và hãm hại bộ phận đầu não
cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tiến hành
Hai là, sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt
Nam trong quá trình xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu kết hợp đấu tranh chính trị chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Lào
Ba là, tuyến đường chiến lược Trường Sơn, một công trình vĩ đại của quan hệ
đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
3 Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (từ 1976 đến nay)
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao:
Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận và chỉ đạo thực tiễn sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơi dậy nội lực và mở rộng quan hệ quốc tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗi nước
Về quốc phòng an ninh:
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước luôn xác định hợp tác trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những điểm mấu chốt của mối quan hệ đặc bịêt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, đào tạo cán bộ:
Lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào đều nhất trí coi trọng sự hợp tác kinh tế, văn hóa và đào tạo cán bộ
Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời, căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau
Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ đạt trình độ đại học và trên đại học
6 MỘT SỐ BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ, THỦY CHUNG SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG
NHỮNG NĂM QUA
1 Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc Việt Nam - Lào đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Trang 82 Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu hiện vô cùng sinh động mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
3 Quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng phát triển sống động trong giai đoạn hoà bình, xây dựng đất nước phồn vinh, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Các tổ chức hội hữu nghị trên nhiều lĩnh vực với hàng nghìn hội viên từ Trung ương đến cơ sở ra đời Đặc biệt mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các tỉnh ngày càng thắt chặt phát triển thành quan hệ kết nghĩa; không chỉ dừng lại ở 10 tỉnh có đường biên giới chung mà còn mở rộng ra các tỉnh, thành phố khác như thủ đô Hà Nội với Viêng Chăn Tại các tỉnh có đường biên giới chung, quan hệ kết nghĩa phát triển đến tận cơ sở, đó là kết nghĩa huyện với huyện, bản với bản trên cơ sở phát huy
và duy trì mối quan hệ đoàn kết, hợp tác truyền thống láng giềng tốt đẹp, bảo đảm an ninh xã hội vùng biên, giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh, chủ động phối hợp tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào
7 NHỮNG KINH NGHIỆM QUÝ BÁU VỀ VIỆC GÌN GIỮ, CỦNG CỐ, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào là tài sản chung vô giá của hai dân tộc, là nhân tố bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của mỗi nước.
Để gìn giữ, củng cố và phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào - Việt Nam chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây cần phải được phát huy:
Một là: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào được tạo dựng trên cơ sở xác định đúng đắn những quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng do hai nước xác lập
Hai là: Cả hai dân tộc Việt Nam và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Giúp bạn là mình tự giúp mình”
Ba là: Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào phải
luôn coi trọng thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân chủ của hai bên
Bốn là: Để việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần thường xuyên thông báo cho nhau về tình hình mỗi Ðảng, mỗi nước
Trang 98 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY MỐI QUAN
HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ CỦA HAI DÂN TỘC VÀ TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN MỚI
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết, bền chặt, thủy chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh giành độc lập tự
do và tiến bộ xã hội Mối quan hệ đó được lãnh đạo hai Đảng hai Nhà nước khẳng
định là mối quan hệ đặc biệt Điều này cắt nghĩa cho việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong lịch sử và trên những
chặng đường phát triển mới là vô cùng quan trọng
Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự
sống, còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường phát
triển mới
Bước sang thế kỷ XXI, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc trong thế giới hiện đại trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt
kinh tế, khoa học, công nghệ, thương mại Chính vì vậy, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội IX của Đảng NDCM Lào tiếp tục khẳng định đường lối, chính sách coi trọng và không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị
truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, coi đó là di sản vô giá của hai dân tộc và là quy luật phát triển, là một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước Việc đưa quan
hệ Việt Nam - Lào lên tầm cao mới sẽ đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Tuyên bố chung về kết quả cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Choummaly Sayasone đã khẳng định:
Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, kết hợp thỏa đáng tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào với thông lệ quốc tế, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới
Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi một số biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận cấp cao hai Đảng, hai nước Trong đó đặc biệt chú ý việc Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các Bộ,
Trang 10Ngành,địa phương triển khai thực hiện Hiệp định hợp tác 5 năm 2011-2015 và Chiến lược hợp tác 10 năm 2011- 2020;
Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương của hai nước, nhất là các địa phương có chung biên giới; sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Liên Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Tiếp tục đi sâu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới, trong đó đặc biệt quan tâm việc tuyên truyền, giáo dục dưới nhiều hình thức về Công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam
Chủ động chuẩn bị kỹ, trao đổi thống nhất và phối hợp chặt chẽ về nội dung, chương trình hoạt động của “Năm đoàn kết hữu nghị 2012” trong đó có việc Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước thăm chính thức lẫn nhau để cùng khai mạc và bế mạc
“Năm đoàn kết hữu nghị 2012,” tổ chức khởi công hoặc khánh thành một số công trình trọng điểm tạo dấu ấn về quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào
Phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1962-2012) và 35 năm ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (1977-2012) Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; hoàn thành dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới vào năm 2014 và tiếp tục xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào Khẳng định mong muốn cùng các bên liên quan giải quyết vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên
ở biển Đông (DOC), nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực Hai Đảng luôn duy trì, giữ vững và giúp đỡ lẫn nhau một cách chí tình và vô tư, trong sáng để cùng phát triển, đồng thời giữ vững các mục tiêu cách mạng trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước
Một lần nữa chúng ta khẳng định một điều rằng, giữ gìn và phát huy mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bởi lẽ, đó
là mối quan hệ đặc biệt được hai Đảng, hai Nước và nhân dân hai dân tộc thường xuyên trân trọng, vun đắp và gìn giữ qua các thời kỳ cách mạng Chúng ta tin tưởng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của hai Đảng, nhân dân hai Nước sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng cũng như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mình./.