Theo quan điểm của các nhà lãnh đạo đảng và các học giả trong nước đóng góp nổi bật của ông là năm 1939, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, ông đã góp phần cho sự ra đời của [r]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đãlãnh đạo sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập hoàn toàn cho dân tộcthống nhất đất nước và xây dựng đất nước đi theo con đường xã hội chủnghĩa, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi củacách mạng Việt Nam Đặc biệt là từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công,nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (2/9/1945) mở ra kỷ nguyên mới củadân tộc Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Vận mệnhcủa Đảng gắn liền với vận mệnh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động vàcủa toàn dân tộc Mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và quần chúng nhân dân lànguồn gốc sức mạnh và thắng lợi của cách mạng Việt Nam Trong bài viếtnhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Đảng
đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấpmình Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị côlập Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không
ngừng củng cố và tăng cường" Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000, tr9 Hai mươi lăm năm qua với bản lĩnh, trí tuệ vàđạo đức cao đẹp của một Đảng cách mạng cầm quyền dày dạn kinh nghiệm,luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệpđổi mới toàn diện đất nước vươn lên giành nhiều thắng lợi mới Mô hình, mụctiêu và con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngàycàng sâu sắc, đầy đủ hơn Mặc dù cách mạng còn nhiều khó khăn, lâu dàinhưng nhất định thắng lợi Bởi đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của cáchmạng Việt Nam phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử nhân loại Đườnglối đổi mới của Đảng xa lạ với những gì mà kẻ thù lâu nay vẫn ra sức tuyên
Trang 2truyền xuyên tạc rằng con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa của chúng ta Giữ vững nguyên tắc độc lập, sáng tạo, trung thành vớilợi ích của nhân dân, bám sát thực tiễn cuộc sống, xác định đường lối, chínhsách đúng đắn và nhanh chóng đưa vào cuộc sống hướng dẫn hoạt động cáchmạng của nhân dân là bí quyết thành công của Đảng ta Ngay từ đầu, Đảng đãxác định rõ khâu đột phá của sự nghiệp đổi mới là đổi mới tư duy nhưng trọngtâm lại là đổi mới kinh tế Đổi mới kinh tế kết hợp với đổi mới chính trị làm cơ
sở cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, quyết tâm xây dựng một xã hội
"Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân, phát huy đượcsức mạnh đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lượcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng đòi hỏi phải nắm vững mộtcách có hệ thống quá trình xây dựng, phát triển cương lĩnh, đường lối, chủtrương của Đảng qua các Đại hội Địa biểu toàn quốc của Đảng và các Hộinghị ban chấp hành Trung ương Đảng các khóa từ khi ra đời cho đấn nay Vớinhững phương hướng trên, chắc chắn trong thời gian tới, Đảng ta sẽ tiếp tụclãnh đạo đất nước tiến lên không ngừng, đạt được nhiều thắng lợi to lớn hơntrong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.Trong đó vai trò của các Tổng
Bí Thư của Đảng là vô cùng to lớn ho đã lãnh đạo, đề ra những cương lĩnhđường lối góp phần tạo nên thành công của Đảng, cuộc đời, sự nghiệp và têntuổi của các ông luôn gắng liền với Đảng Vì vậy việc nghiên cứu về cuộc đời
và sự nghiệp của các ông cũng không kém phần quan trọng, nên em quyết
định chọn đề tài “Tổng Bí thư của Đảng qua các kỳ Đại hội (Hồ chí Minh Nguyễn Phú Trọng” trong bài tiểu luận của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đảng ta đã phát triển và lớn dần cùng với thời gian, trong quá trìnhphát triển đó, chia ra nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn, và trong các thời kỳ, giai
Trang 3đoạn ấy gắng với sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của các Tổng bí thư củachúng ta, Có thể nói trong mỗi giai đoạn khác nhau dù mỗi người lại cónhững cống hiến khác nhau, nhưng chung quy là làm cho Đảng và đưa đấtnước ta ngày càng vững bước chiến thắng kẻ thù xâm lược, đưa đất nước tiếnlên con đường đã chọn.
Liên quan đến vấn đề Tổng bí thư qua các kỳ đại hội, đã được nhiềitác giả nghiên cứu, và trình bày khá phong phú về nội dung Các tác phẩm của
các tác giả như: GS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Các đại hội đại biểu toàn quốc
và hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006; hay Biên Niên sử các Địa hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb, Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006 Cũng trình
-bày khá rõ về thận thế sự nghiệp của các Tổng bí thư qua các kỳ Đại hội của
Đảng;hay những tác phẩm như: Lê Hồng Phong tiểu sử, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007; Tổng bí thư Hà Huy Tập Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006; Trường Chinh tiểu sử, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007; Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006; Lê Khả Phiêu tuển tập, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; Nguyễn Văn Linh Tổng bí thư thời kỳ đổi mới, Nxb.Thông Tấn – VNA
Publishing House , Hà Nội, 2009… Ngoài ra còn rất nhiều, rất nhiều tác phẩmviết về cuộc đời và sự nghiệp của các ông, và một số tác phẩm vừa nêu trêncũng chính là những nguồn tài liệu quý giá và bổ ích cho việc học tập vànghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của các Tổng bí thư của chúng ta
3 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
* Mục đích của tiểu luận
Mục đích của tiểu luận là làm rõ hơn các cuộc đời và sự nghiệp củacác Tổng bí thư, những thành tựu đạt được trong quá trình lãnh Đảng nhữngcống hiến to lớn mà những người đi trước và những người tiếp nối sự nghiệp
vẻ vang ngày nay.Để từ đó chúng ta thấy được lòng tự hào của dân tộc
Trang 4Mục đích của đề tài nhằm làm rõ hơn các cuộc đời và sự nghiệp của cácTổng bí thư, quan trọng những thành tựu đạt được trong quá trình lãnh Đảng,qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội I đến Đại hội XI) và ý nghĩa lịch sử đối với sựphát triển của đất nước, định hướng cho đất nước phát triển theo con đườngđúng đắn, toàn diện Từng bước sánh vai với các nước trong khu vực thế giới.Đồng thời thấy được vai trò to lớn của Đảng trong đối với đất nước, đặc biệttrong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, đề tài này tập trung giải quyết một số nhiệm
vụ sau:
- Trình bày cuộc đời và sự nghiệp của các ông trong quá trình lãnh đạo
- Trình bày những mốc lịch sử quan trọng những dấu ấn đặc biệt, nhữngcống hiến mà các Tổng bí thư đã làm qua các nhiệm kỳ của mình
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Tiểu luận dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tuân thủ nguyên tắc giữalôgíc và lịch sử trong nguyên cứu hệ thống của triết học Đồng thời tiểu luậncũng thường sử dụng các biện pháp cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, diễn dịch
và quy nạp, so sánh và chứng minh, khái quát hóa để làm sáng tỏ vấn đề củatiểu luận này
5 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài này có những ý nghĩa cơ bản sau:
- Góp phần làm sáng tỏ những mốc quan trọng trong cuộc đời và sựnghiệp, cũng như những thành quả đạt đượccủa các ông Đồng thời qua đó đểthấy được, nhận thức dược về vai trò, nhiệm vụ cần thiết của Đảng cộng sảnViệt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động vàcủa cả dân tộc, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay
Trang 5- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai nghiên cứu
về cuộc đời và quá trình hoạt động của các tổng bí thư, cũng như nghiên cứu
về lịch sử Đảng
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài kiệu tham khảo, tiểu luận được kếtcấu phần nội dung trong phần nội dung được chi làm 12 tiết
Trang 6Trần Phú (1-5-1904 – 6-9-1931) Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nhiệm kỳ tháng 10-1930 – 9-1931
Trang 71.Trần Phú
* Cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904 tại thành An Thổ, nay thuộc xã AnDân, huyện Tuy An, nơi cha ông là Trần Văn Phổ làm giáo thụ Nguyên quán
ở làng Tùng Sinh, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh LàTổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên - sau đổi tên thành ĐảngCộng sản Việt Nam
Năm 4 tuổi, đồng chí Trần Phú mồ côi cha Sáu tuổi, đồng chí mồ côi
cả cha và mẹ Tuổi thơ của đồng chí trĩu nặng thương đau Là người có tríthông minh, có ý thức tự lập, vượt khó để vươn lên trong học tập, ngay từ khicòn ngồi trên ghế nhà trường đồng chí luôn luôn là học sinh giỏi Nhờ anh,chị và họ hàng ruột thịt chu cấp, đồng chí Trần Phú tiếp tục vào học ở TrườngQuốc học Huế, một ngôi trường danh tiếng
Năm 1922, đỗ đầu kỳ thi Thành chung ở Trường Quốc học Huế, đồngchí được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh(Nghệ An)
Giữa năm 1925, đồng chí gia nhập Hội Phục Việt (sau đổi tên thànhHội Hưng Nam và Tân Việt Cách mạng Đảng), tổ chức của những trí thứcyêu nước
Năm 1926, đồng chí tham gia: phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháptrả lại tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan ChuTrinh, mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho công nhân và nông dân
Tháng 7/1926, Hội Phục Việt cử đồng chí và một số hội viên sangQuảng Châu (Trung Quốc) để đề nghị với Nguyễn Ái Quốc cho Hội hợp nhấtvới Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí gặp Nguyễn Ái Quốc,được tham gia lớp huấn luyện chính trị khóa 2 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốctrực tiếp giảng dạy
Trang 8Tháng 10/1926, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Thanh niên Cáchmạng, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kết nạp vào Cộng sản Đoàn Kết thúckhóa học, đồng chí về nước hoạt động, nhưng bị địch truy lùng ráo riết Đồngchí trở lại Quảng Châu, làm việc tại Tổng bộ Thanh niên Cuối tháng01/1927, đồng chí được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Liên Xô họcTrường đại học Phương Đông.
Đầu tháng 11/1929, sau khi tốt nghiệp Đại học Phương Đông, đồngchí nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, bí mật lên tàu đi Lêningrát (nay làthành phố Xanh Pêtécbua thuộc Liên bang Nga) bắt đầu hành trình về nướchoạt động
Ngày 08/02/1930, đồng chí về đến Sài Gòn Ít ngày sau đồng chí sangHồng Kông (Trung Quốc) gặp Nguyễn Ái Quốc Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đãgiới thiệu đồng chí Trần Phú về tham gia hoạt động trong Ban Chấp uỷ lâmthời
Tháng 4/1930, đồng chí về đến Hải Phòng Tháng 7/1930 đồng chíđược bổ sung vào Ban Chấp uỷ lâm thời và được giao nhiệm vụ dự thảo Luậncương chính trị của Đảng
Tháng 10/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) Hội nghị lần thứ nhấtBan Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận và nhất trí thông qua Luậncương chính trị do đồng chí Trần Phú dự thảo Hội nghị đã quyết định đổi tênĐảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Tại Hội nghịnày, đồng chí Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng
Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã trực tiếp chủ trì:Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng tháng 12/1930, Hội nghị Thường vụTrung ương Đảng tháng 1/1931 và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngĐảng lần thứ hai tại Sài Gòn tháng 3/1931 Dưới sự chủ trì của đồng chí, cácquyết nghị của Trung ương giai đoạn này đã góp phần đưa phong trào cáchmạng Đông Dương phát triển lên một tầm cao mới
Trang 9Do có kẻ phản bội khai báo, ngày 18/ 4/1931, đồng chí đã bị địch bắttại số nhà 66, đường Sămpanhơ (nay là đường Lý Chính Thắng, thành phố HồChí Minh) Biết đồng chí là lãnh đạo cao cấp của Đảng, thực dân Pháp và bọntay sai đã đưa đồng chí về giam giữ ở Khám lớn Sài Gòn Trước những đòntra tấn dã man và chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, sức khỏe của đồng chígiảm sút nhanh chóng, bệnh tình của đồng chí ngày một trầm trọng Ngày06/9/1931, đồng chí đã trút hơi thở cuối cùng tại Nhà thương Chợ Quán, SàiGòn.
Để tỏ lòng biết ơn công lao to lớn của đồng chí Trần Phú đối với sựnghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, ngày 12/1/1999 Đảng và Nhà nướcquyết định tổ chức trọng thể Lễ truy điệu đồng chí Trần Phú tại thành phố HồChí Minh Thể theo nguyện vọng của gia quyến và gia tộc của đồng chí TrầnPhú, Đảng và Nhà nước tổ chức di dời hài cốt của đồng chí về an táng tại núiQuần Hội, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
* Một số Tác phẩm
- Tên tuổi của Trần Phú gắn liền với dự thảo Luận cương chính trịcủa Đảng năm 1930 Luận cương đã chỉ rõ con đường của cách mạng ViệtNam Luận cương là sự đóng góp của trí tuệ tập thể, song đóng góp trực tiếpnhất thuộc về đồng chí Trần Phú Luận cương chính trị là một nỗ lực trongviệc tiếp thu, vận dụng đường lối cách mạng thuộc địa và nửa thuộc địa củaQuốc tế Cộng sản vào tình hình Đông Dương
* Đánh giá
Đồng chí Trần Phú giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng được hơn 5tháng, một thời gian không dài, Trần Phú đã có những đóng góp to lớn trongviệc xây đựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đồng chí Trần Phú làngười cộng sản mẫu mực, nêu tấm gương kiên cường, bất khuất trước kẻ thùcống hiến hết mình cho Đảng, cho đất nước và nhân dân thật lớn lao Đồngchí sống giản dị, đạm bạc Tuy trong người mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo,
Trang 10nhưng bất chấp ốm đau, đồng chí luôn tranh thủ mọi thời gian, sức lực cốnghiến cho Đảng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, Trưởng Ban Công vận Trungương, đồng chí Trần Phú đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựngĐảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tranh thủ mọi điều kiện để trang bị lýluận Mác - Lênin cho cán bộ, đảng viên Đồng chí cùng Ban Thường vụTrung ương Đảng quyết định ra tờ báo Cờ Vô sản, cơ quan ngôn luận Trungương của Đảng;Tạp chí Cộng sản, cơ quan lý luận của Đảng; chỉ đạo lập HộiPhản đế đồng minh, chỉnh đốn Nông hội đỏ, chống chính sách khủng bốtrắng, chống âm mưu thâm độc của kẻ thù buộc nông dân ra đầu thú
Giữa lúc phong trào cách mạng nước ta đang có những bước phát triểnmới, Trung ương Đảng đang triển khai nhiều chủ trương quan trọng, do có kẻphản bội khai báo, đồng chí Trần Phú đã bị địch bắt 8 giờ sáng ngày18/4/1931 Bọn giặc đưa đồng chí về giam tại Khám lớn - Sài Gòn Biết đồngchí là lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, kẻ thù đã dùng mọi cực hình để tra tấn,song chúng đã phải lùi bước trước tinh thần gang thép của đồng chí Trướcnhững hành động tra tấn dã man hoặc thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, đồng chí
luôn chủ động tiến công: “Tôi biết nhiều người là để làm việc cho Đảng tôi, nước tôi, chứ không phải khai cho các ông bắt bớ” Tại bốt Catina, kẻ thù hèn
hạ cắt gan bàn chân của đồng chí, rồi nhét bông vào tẩm xăng đốt, đồng chívẫn kiên quyết, nửa lời không nói Trong lao tù, đồng chí Trần Phú đã cùngvới các đồng chí khác tổ chức nhiều cuộc đấu tranh tuyệt thực để lên án chế
độ nhà tù dã man, vô nhân đạo Đồng chí luôn luôn bình tĩnh, sáng suốttruyền niềm tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng đến các đồng chí cùng bịgiam; tranh thủ mọi cơ hội để liên hệ, dặn dò mọi người phải giữ gìn bí mậtcủa Đảng và không ngừng học tập, để sau này tiếp tục làm cách mạng
Ba tháng bị địch giam cầm, tra tấn dã man, sức khỏe của đồng chí bịgiảm sút rất nhanh, căn bệnh cũ tái phát, phút lâm chung đồng chí nắm tay
Trang 11một đồng chí bạn tù cùng nằm ở nhà thương dặn lại: “Trước sau tôi chỉ mong anh chị em hãy giữ vững chí khí chiến đấu” Đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư
đầu tiên của Đảng ta đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6/9/1931 ở nhàthương Chợ Quán, Sài Gòn trên tay bạn bè đồng chí của mình Năm ấy đồngchí mới bước vào tuổi 27, độ tuổi tài năng đang phát triển để cống hiến chocách mạng Cuộc đời của Tổng Bí thư Trần Phú tuy ngắn ngủi, nhưng đã kịphoàn thành nhiều việc lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
Tổng Bí thư Trần Phú mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng ta vàphong trào cách mạng của nhân dân ta, đối với phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế giai đoạn đó Trong bài tưởng nhớ đồng chí Trần Phú năm 1932
lưu trữ tại Hồ sơ Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng, niềm tin và phẩm chất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc sẽ mãi mãi là tấm gương bất diệt cho những người cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt là những người cộng sản ở Đông Dương”.Hồ Chủ tịch trong bài Đạo đức cách mạng, đăng trên Tạp chí Cộng sản tháng 12/1958 đã viết:
“Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: "Là một người rất thông minh,hăng hái và cần cù, Đồng chí Trần Phú đã làm được nhiều việc quan trọngcho Đảng" Trong bài tưởng nhớ Đồng chí Trần Phú năm 1932 lưu trữ tại Hồ
sơ Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: "Sự nghiệp cách mạng, niềm tin và phẩmchất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc sẽ mãi mãi làtấm giương bất diệt cho những người cộng sản trên toàn thế giới, đặc biệt lànhững người cộng sản Đông Dương"
Trang 13Lê Hồng Phong(1902-1942) Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nhiệm kỳ tháng 3-1935 – 1936
2 Lê Hồng Phong
* Cuộc đời và sự nghiệp
Ông tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 trong một gia đình
nghèo thuộc xóm Đông Cửa, thôn Đông Thông, tổng Thông Lạng, nay là xã
Trang 14Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Từ nhỏ cuộc sống ông đãbập bênh nhiều khó khăn.
Khi trưởng thành, ông đi làm công cho một hãng buôn ở Vinh, rồi làmcông nhân nhà máy diêm Bến Thủy và bị đuổi việc vì đã vận động công nhân
đấu tranh Cha của anh là ông Lê Huy Quán, mẹ là bà Phan Thị San Lê Huy
Doãn sinh ra và lớn lên trên một vùng đất mang đậm dấu ấn lịch sử của mộttruyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất trong cuộc đấu tranh chống ápbức, chống ngoại xâm hàng nghìn năm lịch sử Những truyền thống lịch sử đó
đã ảnh hưởng sâu sắc tới tí 2nh cách con người, tình cảm ước mơ và bướcđường phát triển đi lên của Lê Huy Doãn Lớn lên, anh đi làm thư ký cho mộthiệu buôn, sau đó, anh vào làm thợ nhà máy diêm Vinh Chính tại đây, anhđược giác ngộ cách mạng, anh đã vận động mọi người chống lại bọn chủ vàcai ký bằng hình thức tập hợp mọi người đưa ra yêu sách đòi những quyền lợitối thiểu hàng ngày cho cuộc sống
Phần mộ của đồng chí Lê Hồng Phong nằm trên một ngọn đồi cátdưới chân núi chúa, cách ngôi mộ của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh không
xa Cuộc đời đồng chí Lê Hồng Phong là một tấm gương sáng ngời về khíphách đấu tranh, tấm lòng quả cảm, một tấm lòng hy sinh rộng lớn, quên đicái riêng để vun đắp cho cái chung, vun đắp cho sự nghiệp cách mạng, làm vẻvang cho một thế hệ người Việt Nam Yêu nước Xin mượn câu danh ngôn củanhà văn Xô Viết nổi tiếng Nhicôlai Oátxtơrốpxki, kết thành muôn vạn bônghoa tươi thắm tượng trưng cho các thế hệ sau đã và đang tiếp bước xây dựngmột nước Việt Nam dân chủ, giàu đẹp dâng lên hương hồn đồng chí Lê Hồng
Phong kính mến: “Cái quý nhất của con người là đời sống Đời người ta chỉ sống có một lần Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng
đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng tất cả đời ta, tất cả sức
Trang 15ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”.
* Quá trình hoạt động cách mạng
Năm 22 tuổi, anh được tổ chức gởi sang Xiêm rồi đi Trung Quốc cùngPhạm Hồng Thái để liên lạc với cách mạng Anh được kết nạp và trở thànhthành viên của tổ chức Tâm Tâm Xã, rồi từ đó anh gia nhập Cộng Sản Đoàn,chính là nòng cốt của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội Anhđược gởi tới trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), rồi trường KhôngQuân Liên Xô để được đào tạo thành cán bộ quân sự cho cách mạng Anh họctiếp ở trường đại học Stalin, chuyên nghiên cứu lý luận cách mạng
Tháng 1 năm 1924, ông cùng Phạm Hồng Thái sang Thái Lan, sau đó
đi qua Hồng Kông, Trung Quốc tham gia Tâm Tâm Xã (còn gọi là Tân ViệtThanh niên Đoàn) Ông là một trong 9 hội viên hạt nhân của tổ chức ViệtNam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (còn gọi là Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên)
Cũng trong nam này ông học Trường Quân sự Hoàng Phố Tháng 2năm 1926, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc Và cuối năm đó, ông tốtnghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố
Từ tháng 10 năm 1926 đến tháng 10 năm 1927, ông sang học trường
Lý luận Quân sự tại Leningrad (Liên Xô) Từ tháng 12 năm 1927 đến tháng
11 năm 1928, ông học trường Không quân số 2 ở Borisoglebsk (Liên Xô)
Từ tháng 12 năm 1928, ông theo học trường Đại học Lao động Cộngsản phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Moskva (Liên Xô) với bí danhLitvinov Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia Hồng quân Liên Xô với cấp bậcTrung tá
Cuối năm 1931, với tên là Vương Nhật Dân, ông về Trung Quốc hoạtđộng
Trang 16Năm 1932, ông tìm cách liên lạc với tổ chức Đảng cộng sản ở trongnước nhằm khôi phục phong trào và thảo chương trình hành động của đảngtrong tình hình đảng bị tổn thất nặng nề trước đó.
Năm 1934, ông thành lập Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng tại MaCao, chính ông làm Bí thư Ngày 14 tháng 6 năm 1934, ông triệu tập Hội nghịBan Chỉ huy Hải ngoại và đại biểu các đảng bộ trong nước bàn kế hoạch triệutập Đại hội lần thứ nhất của Đảng
Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội I của Đảng ở Ma Cao, ông được bầulàm Tổng Bí thư Tháng 7 tháng 1935, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ra dựĐại hội VII Quốc tế Cộng sản ở Moskva Đại hội công nhận Đảng là Chi bộchính thức của Quốc tế Cộng sản và bầu ông làm Ủy viên Ban Chấp hành củaQuốc tế Cộng sản
Tháng 1 năm 1936, ông tới Trung Quốc và triệu tập Hội nghị Trungương Đảng tại Thượng Hải (tháng 7 năm 1936) Cuối năm 1937, Lê HồngPhong về nước, hoạt động ở Sài Gòn – Chợ Lớn với thẻ căn cước mang tên
La Anh, một thương nhân Trung Quốc Đồng chí bị thực dân Pháp bắt ngày22/6/1939, địch tra tấn rất dã man, nhưng không khai thác được gì, chúng lậpmưu giết Lê Hồng Phong bằng cách: khi biết Lê Hồng Phong và Nguyễn ThịMinh Khai là vợ chồng, chúng đưa đồng chí Minh Khai đến để hai người gặpmặt, qua đó có cớ để kết án tử hình Lê Hồng Phong Biết rõ âm mưu của kẻthù nên 2 đồng chí đã kịp thời đối phó Không có chứng cứ buộc tội anh,chúng kết án Lê Hồng Phong 5 năm tù giam với lời buộc tội vu vơ là chịutrách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và đày ra Côn Đảo
Nhà tù Côn Đảo khi đó có 3 trại giam chính là Banh I, Banh II, BanhIII và nhiều trại giam phụ Số lượng tù nhân lên đến hơn 2000 người, đa số là
tù chính trị Lớp tù nhân ra sau khởi nghĩa Nam Kỳ đa số bị giam cầm trongBanh II và Banh III Ở Côn Đảo, Lê Hồng Phong bị cầm cố ở xà lim SởMuối Mục đích là cô lập Lê Hồng Phong với tổ chức tù chính trị Côn Đảo
Trang 17Tuy nhiên, qua hệ thống cơ sở tù chính trị làm khổ sai và bồi bếp, tổ chứcĐảng ở Côn Đảo đã liên lạc được với đồng chí Lê Hồng Phong Thông quacác đầu mối liên lạc, Lê Hồng Phong đã truyền đạt lại tinh thần văn kiện Đạihội VII của Quốc Tế Cộng Sản (7-1935) cho các đồng chí có trách nhiệm,trên cơ sở của văn kiện đó, Đảo ủy Côn Đảo đã phân tích rõ thế yếu của chủnghĩa phát xít và giáo dục rộng rãi cho cán bộ, đảng viên lòng tin yêu tấtthắng vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Liên Xô, vào các lựclượng tiến bộ chống chủ nghĩa phát xít
Chế độ cầm cố khắc nghiệt, bên cạnh những cuộc đánh đập bằng dùicui, roi gân bò… mà nhà tù nào ở Việt Nam cũng có, nhưng ở đây với mức độcao hơn Bọn giặc bắt tù nhân lao động rất nặng nhọc, phải xay lúa,vác gỗ,vác đá, mò san hô dưới những trận mưa roi Nhiều đồng chí kiệt sức ngã dúi,chúng giẫm chết luôn Bữa ăn hằng ngày là gạo mốc và cá khô mục, đây làmột loại cơm xám như đất và bị trộn nhiều cát, khó ăn phải đổ nước vàongoáy cho cát đọng lại rồi hớt lấy cơm ăn Cá khô mục thì nát như cám, đennhư bùn và đắng
Do bị cầm cố khắc nghiệt và chế độ ăn uống tồi tệ, Lê Hồng Phong bịbệnh khá nặng, được chuyển về Banh II, bị cầm cố tại dãy xà lim Banh II ỞCôn Đảo, căn bệnh đáng sợ và phổ biến nhất là kiết lỵ và ghẻ hờm (ghẻ hầm),nhưng bất cứ bệnh gì, thầy thuốc nhà tù cũng chỉ cho 2 thứ thuốc là nước vôi
và bột than Chỉ trường hợp cấp cứu mới được đưa vào nhà thương và đượctiêm một hai ống thuốc hồi sức Thật ra, những tù nhân bị bệnh chẳng đượcchạy chữa gì cả Họ bị tập trung về một nơi và lần lượt chết ở đây Tất cả tùnhân bị bệnh vẫn bị xiềng xích, cầm cố, các yêu sách đưa ra đều được trả lờibằng roi vọt và dùi cui
Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940), thực dân Pháp vừa điêncuồng khủng bố trả thù vừa nơm nớp lo sợ, sợ ngay cả những người tù đang
bị xiềng xích, cầm cố Chúng canh gác và khám xét rất kỹ, thấy một mẩu giấy
Trang 18vụn là quy vào tội “liên lạc”, “hoạt động chính trị ”, thấy tù nhân tụ tập sinhhoạt là vu cáo “âm mưu bạo động” và đàn áp, đánh đập rất dã man Có lầnchúng đánh vào đầu đồng chí Lê Hồng Phong ngay bữa ăn, máu chan đỏ bátcơm Đồng chí vẫn ngồi ăn Việc này, làm cho bọn cai tù chùn tay trước tội ác
do chúng gây ra và cũng là để có sức đấu tranh
Trong thời gian bị giam cầm trên Côn Đảo, đồng chí Lê Hồng Phong
đã giới thiệu những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởLiên Xô, để củng cố niềm tin tất thắng cho mọi người Tin tưởng vào thắnglợi của cách mạng, đồng chí đã làm bài thơ vẽ nên viễn cảnh đất nước đượcgiải phóng, “Địa ngục trần gian” Côn Đảo bị xoá bỏ Lê Hồng Phong còn dạycho anh em bài "Cô gái Nga" mà đồng chí đã sáng tác trong thời gian học ởLiên Xô Cùng giam chung dãy xà lim với ông còn có một số nhà yêu nướcnhư Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn Thảo… Và cũng chính tạiđây đã diễn ra những buổi tranh luận sôi nổi về triết lý đạo giáo
Đồng chí Lê Hồng Phong nêu cao quan điểm duy vận biện chứng về
vũ trụ và về xã hội loài người, trình bày quan niệm về tôn giáo, về giai cấp, vềvai trò quyết định của con người trong lịch sử và trong những hoàn cảnh lịch
sử cụ thể Và cuối cùng, đồng chí hướng về thực tại, về nhiệm vụ giải phóngdân tộc của mỗi người dân Việt Nam, về yêu cầu đoàn kết đấu tranh chốngchế độ hà khắc trong nhà tù Côn Đảo Chi bộ Đảo ủy vẫn tích cực chỉ đạochống khủng bố, bảo vệ sức khỏe cho tù nhân Chi bộ chỉ thị cho tất cả trạigiam, các cơ sở tù: “bằng mọi giá phải bảo vệ mạng sống của tù nhân, bảo vệcán bộ của Đảng”
Thông qua mạng lưới cơ sở là những Đảng viên làm việc ở nhà bếp,các sở tù ngoài, chi bộ đã liên lạc với các đoàn tù mới ra, nắm bắt tin tức tìnhhình và thông báo tình hình trên đảo, phổ biến kinh nghiệm đấu tranh chốngkhủng bố trong tù Những đồng chí nào được đưa ra ngoài làm khổ sai đãtranh thủ gài bẫy bắt chim, bắt rắn mối về góp cho ban cứu tế để nấu cháo cho
Trang 19những người yếu, người bệnh Những nỗ lực của ban cứu tế Hội tù nhân Đảo
ủy Côn Đảo đã cứu sống hàng trăm tù chính trị, làm vơi đi một phần đauthương trong thời kỳ khủng bố trắng
Nhằm ngăn cản sự chỉ đạo và ảnh hưởng của đồng chí Lê HồngPhong, tên chúa đảo Bơ-ru-on-nê ra lệnh nhốt riêng đồng chí vào hầm tối vàđánh đập tàn nhẫn Hầm tối là một hầm dài 2m, rộng 1,5m Cửa hầm chỉ cómột lỗ nhỏ, xung quanh hầm có hàng rào sắt Sàn hầm lát bằng ximăng, mùarét lạnh cóng, mùa hè thì nóng bỏng Cuối chỗ nằm có đóng 2 vòng sắt.Người tù bị cùm chân vào đấy suốt ngày Sức khoẻ kém lại bị đánh đập dãman và ở hầm tối trong một thời gian nên “người đồng chí gầy đét, chỉ còn dabọc xương, nước da đồng chí tái nhợt" Tất cả cái tiều tụy ấy lại được phơi radưới manh áo chàm rách mướp, thấm đẫm mồ hôi và bê bết máu… "Gươmđao của kẻ thù có thể chém đứt thép, gang, nhưng nó sẽ oằn đi khi chặt phảidũng khí của người chiến sĩ cộng sản”
Trưa ngày 6/9/1942, trong những giây phút cuối cùng oanh liệt hysinh cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng thiêng liêng của đất nước, đồngchí Lê Hồng Phong đã nhờ các đồng chí thân thương đang bị giam tại nhà tùCôn Đảo chuyển tới Đảng lời nhắn gởi sắt son: Xin chào tất cả các đồng chí.Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, đến giờ phút cuối cùng Lê Hồng Phongvẫn tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng
Phần mộ của đồng chí Lê Hồng Phong nằm trên một ngọn đồi cátdưới chân núi chúa, cách ngôi mộ của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh không
xa Cuộc đời đồng chí Lê Hồng Phong là một tấm gương sáng ngời về khíphách đấu tranh, tấm lòng quả cảm, một tấm lòng hy sinh rộng lớn, quên đicái riêng để vun đắp cho cái chung, vun đắp cho sự nghiệp cách mạng, làm vẻvang cho một thế hệ người Việt Nam Yêu nước
* Mộ số tác phẩm
Trang 20- Về công tác trong ba năm qua và tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương
- Vấn đề phòng thủ Đông Dương
- Thư gửi đồng chí Hà Huy Tập
- Vai trò của giai cấp Vô sản trong cách mạng Đông Dương
- Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản
* Đánh giá
Lê Hồng Phong nhà cách mạng thiên tài, luôn hi sinh thân mình cho
sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là tấm gương sáng ngời về khí phách dấutranh kiên cường cho cách mạng Ngày nay sử sách vẫn còn ghi công của ông
Đồng chí Lê Hồng Phong là người chiến sỹ cộng sản kiên trung trongphong trào cộng sản quốc tế, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và cách mạngViệt Nam… Trước khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6.9.1942, đồng chí đãnhắn lại: “Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, LêHồng Phong vẫn tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng” Lòng tinvững chắc đó, nguyên nhân quan trọng tạo nên những cống hiến to lớn của LêHồng Phong đối với Đảng , đối với nhân dân, mãi mãi là nguồn sức mạnh chocác thế hệ đảng viên trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp vì sự nghiệp cao cảcủa Đảng
Trang 21Hà Huy Tập(24-4-1906 – 28-8-1941) Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhiệm kỳ 1936 – 1938
Trang 223 Hà Huy Tập
* Cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh 24-4-1906 ở làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay là xã CẩmHưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Thân phụ là một nhà nho nghèo HàHuy Tập là con thứ hai, người anh cả tên là Hà Huy Sum (ở quê còn có têngọi là Sâm), sau ông còn 3 em gái, một người có tên là Hà Thị Chuốt mất từhồi nhỏ Còn lại Hà Thị Chước người em gái kề ông Tập lấy chồng ở quê cótên là Nguyễn Đình Cương cũng hoạt động cùng thời với ông Tập là đảngviên Cộng sản thời kỳ 1930-1931 Năm 1923, tốt nghiệp hạng ưu trườngQuốc học Huế Từ năm 1923 đến 1926, ông làm giáo viên tiểu học ở thànhphố Nha Trang
Giữa năm 1926, ông bị trục xuất khỏi Nha Trang và chuyển về dạyhọc ở trường tiểu học Cao Xuân Dục (thành phố Vinh) Ông tham gia HộiPhục Việt (sau đổi là Hội Hưng Nam, tiền thân của Tân Việt Cách mạngĐảng) nên bị sa thải
Tháng 3 năm 1927, ông chuyển vào Sài Gòn hoạt động, kiếm sống vàdạy học ở An Nam học đường tức trường Nguyễn Xích Hồng, đến tháng 1năm 1928 ông lại bị sa thải khỏi An Nam học đường
Tháng 12 năm 1928, ông sang Quảng Châu, Trung Quốc bàn việc hợpnhất với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi hoạtđộng trong Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội
Ngày 19 tháng 7 năm 1929, ông sang Liên Xô, học trường Đại họcLao động Cộng sản phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Moskva với bídanh là Cinichkin (Xi-nhi-trơ-kin)
Cuối năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản toàn liên bang(bôn-sê-vích) (tên gọi lúc đó của Đảng Cộng sản Liên Xô)
Trang 23Năm 1932, ông tốt nghiệp đại học và trở về Việt Nam Trên đường vềông bị Pháp bắt và bị trục xuất sang Bỉ, sau đó trở về Trung Quốc.
Năm 1934, ông tham gia Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng Cộng sảnĐông Dương
Ông trực tiếp chủ trì Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảngtại Ma Cao từ 27 tháng 3 đến 31 tháng 3 năm 1935 Tại Đại hội này, ôngđược bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và có chân trong Ban Thường vụTrung ương
Tháng 3 năm 1935, ông được cử làm Bí thư Ban Chỉ huy Hải ngoạicủa Đảng Cộng sản Đông Dương
Tháng 7 năm 1936, Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng họp Hội nghị lầnthứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương cử ông về nước để lập lại Trung ươngcấp ủy và và giữ chức Tổng Bí thư từ ngày 26 tháng 7 (Chức Tổng Bí thưcủa ông mới được công nhận trong thời gian gần đây, nhưng thời gian ông giữchức vụ này cũng không được ghi thống nhất Có tài liệu ghi ông "lãnh đạoBan chấp hành Trung ương trên cương vị Tổng Bí thư" từ Đại hội lần thứnhất của Đảng, tháng 3 năm 1935.)
Ông trực tiếp chỉ đạo các báo L'Avant garde (Tiền phong) (1937), Dân chúng (1938) của Đảng dưới danh nghĩa "cơ quan lao động và dân
chúng" ở Nam Kỳ
Suốt hai năm, hàng trăm cuộc họp, ba lần Hội nghị ban chấp hànhTrung ương Đảng đã được ông Hà Huy Tập tổ chức và chủ trì giữa những ụrơm Bà Điểm Hàng loạt bài báo, tác phẩm chính luận phân tích và khẳngđịnh quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản đã được ông viết bằng bútmực, bút chì dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu thắp bởi tay những bà mávườn trầu Những kế hoạch khôi phục tổ chức Đảng đã được bàn bạc, chỉ đạothực hiện và thành công trong những mái nhà lá nơi đây
Trang 24Từ 3 tháng 9 đến 5 tháng 9 năm 1937, Hội nghị Trung ương họp ở BàĐiểm, Gia Định, ông báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của đảng từ sau Đại hội
Trước tòa ông tuyên bố: "Tôi chẳng có gì phải hối tiếc Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động."
Ngày 28 tháng 8 năm 1941, ông bị Pháp xử bắn cùng với một số nhàcách mạng khác tại Sở Rác (nay là bệnh viện Hóc Môn, Sài Gòn) (Có tài liệunói là ông và các đồng chí bị xử bắn ở Ngã Ba Giồng, Hóc Môn, Gia Định,hiện nay có khu di tích tại đây.)
Ngày 22 tháng 11 năm 2009, hài cốt của ông được phát hiện tại khuvực Bến Tắm Ngựa thuộc xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh[1] Ngày 1 tháng 12 cùng năm, lễ viếng và truy điệu linh cữu ôngđược tổ chức tại Hội trường Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh, đã cónhiều quan chức lãnh đạo của đảng và hàng trăm đoàn đại biểu từ các nơi đếnchờ viếng Sau đó, linh cữu ông được đưa về an táng tại huyện Cẩm Xuyên,tỉnh Hà Tĩnh,
*Gia đình
Ông Hà Huy Tập có vợ là bà Nguyễn Thị Giáo và con gái duy nhất là
Hà Thị Thúy Hồng, sinh năm 1928 Khoảng 4-5 năm sau khi sinh con, bà
Trang 25Nguyễn Thị Giáo cùng con gái từ quê ở Hà Tĩnh đi vào Sài Gòn sống mộtthời gian rồi xuống Cần Thơ, sau đó lại lên Sài Gòn Sau khi ông bị kết án tửhình, bà Giáo kết duyên với người chồng thứ hai tên là Tạ Phước Lai ở SàiGòn, sinh thêm 3 người em chung mẹ khác cha với bà Hồng, hiện nay đềusống bên Mỹ Bà Giáo mất năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Hồng từ thuở nhỏ được bố dượng coi như con đẻ, cho học xongchương trình Diplome trường Pháp - Việt Sau cách mạng tháng Tám năm
1945, bà theo nghề mẹ làm giáo viên tiểu học tại trường Chi Lăng, rồi xâydựng gia đình với ông Bùi Quang Hiên hơn bà 6 tuổi Đến 1975 đất nướcthống nhất, bà Hồng bước sang tuổi 46 mới biết bố mình là Hà Huy Tập ÔngHiên đã từng hoạt động cách mạng gắn bó với vùng chiến khu D, bị tù đày ởCôn Đảo suốt 10 năm Năm 1965 ra tù, ông về hoạt động ở thành phố, rồi mất
1988 Ông bà có 3 người con đều là gái có tên là Hồng Anh, Hồng Liên vàHồng Vân
*Tác phẩm và bút danh
- Toàn bộ trước tác gồm 14 bài viết và văn kiện, 20 tác phẩm sách báo
trong đó có cuốn Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương bằng
tiếng Pháp, 291 trang, xuất bản đầu năm 1933 (lấy bút danh Hồng Thế Công
(H-T-C)) và Trôtxkit và phản cách mạng (lấy bút danh Thanh Hương) Ngoài
2 bút danh trên, Hà Huy Tập còn có các bút danh khác như Xinhikin,Xinhitrơkin, Sinitchkin, Giodep Marat, Hồng Quy Vít và Nhỏ
- Lịch sử của Tân Việt cách mệnh Đảng (1929);
- Hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương (1931);
- Đảng Cộng sản Đông Dương đứng trước chủ nghĩa cải lương quốcgia (1932);
- Thư gửi Ban biên tập Tạp chí Bôn-sơ-vích (1932);
- Kỷ niệm ba năm ngày Đảng Cộng sản Đông Dương thống nhất(1933),
Trang 26Hơn 20 báo cáo tham luận tại hội thảo của các nhà khoa học, nhànghiên cứu đã nêu bật những công lao, cống hiến to lớn của Cố Tổng bí thư
Hà Huy Tập đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc ta.Báo cáo đề dẫn tại hội thảo, khẳng định: Cố Tổng bí thư Hà Huy Tập là mộttrong những lãnh tụ tiền bối có đóng góp quan trọng trong thời kỳ vận độngthành lập Đảng; có công khôi phục tổ chức Đảng trong giai đoạn khó khănnhất, đặc biệt là từ những năm 1933 - 1936 Đồng chí là cây bút lý luận giàutính chiến đấu, là tấm gương kiên trung bất khuất, hiến dâng trọn đời mìnhcho sự nghiệp cách mạng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân Khẳng địnhđồng chí Hà Huy Tập là một trong những người đi tiên phong trên mặt trận tưtưởng, lý luận của Đảng
Trang 27Nguyễn Văn Cừ (19-7-1912 – 28-8-1941) Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nhiệm kỳ tháng 3-1938 – 1-1940
Trang 284 Nguyễn Văn Cừ
*Cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh trong một gia đình nhà Nho, quê xã Phù Khê, huyện Từ Sơn,tỉnh Bắc Ninh Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạngĐồng chí Hội
Tháng 6 năm 1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộngsản đảng đầu tiên ở Hà Nội Năm 1930, được cử làm Bí thư đặc khu HồngGai – Uông Bí Bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo
Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội Tháng 9năm 1937, được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định) Năm 1938, ông được bầu làm Tổng
bí thư khi mới 26 tuổi
Tháng 6 năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với một
số đảng viên khác Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), thực dân Pháp ghépông vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản
đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách nhiệm tinhthần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình
Ngày 28 tháng 8 năm 1941, bản án được thi hành cùng lúc với một sốđảng viên cộng sản khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ VănTần, Phan Đăng Lưu tại trường bắn Hóc Môn
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng vàcách mạng Việt Nam, tấm gương ngời sáng của một người cộng sản bất tử -
đã dâng hiến cuộc đời cho độc lập của Tổ quốc, cho tự do dân tộc, cho lýtưởng quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam
Người chiến sĩ cộng sản kiên cường Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh
ra trong một gia đình trí thức yêu nước ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh BắcNinh và là hậu duệ đời thứ 17 của nhà chính trị, ngoại giao, nhà thơ, danhnhân văn hóa thế giới - Nguyễn Trãi
Trang 29Mang trong mình dòng máu yêu nước, văn hoá truyền thống của giađình; được nuôi dưỡng trong một không gian đặc trưng của văn hóa ViệtNam; lớn lên trong phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược, năm
1927, khi còn đang theo học ở trường Bưởi (Hà Nội), Nguyễn Văn Cừ đã bắtđầu tham gia các hoạt động yêu nước
Đầu năm 1928, Nguyễn Văn Cừ đã trở thành hội viên của Hội ViệtNam cách mạng thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Lấy cớ cáchoạt động yêu nước của Nguyễn Văn Cừ là “hành vi chống đối”, tháng 5-
1928, nhà trường thực dân đã buộc anh phải thôi học
Tháng 8-1928, thực hiện chủ trương “vô sản hóa” của Kỳ hội Bắc kỳcủa Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, Nguyễn Văn Cừ được đi “vô sảnhóa” ở vùng mỏ than Đông Bắc Nhiệt huyết cách mạng, năng lực tổ chứcphong trào, khả năng tuyên truyền cách mạng trong giai cấp công nhân củaNguyễn Văn Cừ sớm được thể hiện và đồng chí đã nhanh chóng trưởng thành
từ phong trào của giai cấp công nhân Chỉ sau một năm “vô sản hoá”, năm
1929, ở tuổi 17, Nguyễn Văn Cừ đã trở thành người trực tiếp chỉ đạo phongtrào công nhân, phong trào cộng sản ở khu vực có số lượng công nhân tậptrung lớn nhất nước ta Tháng 6-1929, đồng chí trở thành một trong nhữngđảng viên đầu tiên của Đông Dương cộng sản Đảng
Tháng 2-1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức cộngsản và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ trở thành đảngviên lớp đầu tiên của Đảng Cuối tháng 2-1930, đồng chí thành lập chi bộĐảng Cộng sản Việt Nam ở mỏ Mạo Khê - chi bộ đầu tiên của Đảng ta ởvùng mỏ Quảng Ninh Sau đó, tháng 4-1930, dưới sự chỉ đạo của đồng chí,các chi bộ đảng ở Uông Bí, Vàng Danh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông lần lượt
ra đời Với những hoạt động không mệt mỏi của đồng chí Nguyễn Văn Cừ,ngay từ những ngày tháng đầu mới thành lập, Đảng ta đã đứng vững ở nơi tập
Trang 30trung đông đảo nhất đội ngũ công nhân của nước ta Lúc này, đồng chí mới 18tuổi
Tháng 2-1931, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt và giamcầm ở các nhà tù Hòn Gai, Hoả Lò rồi lưu đày đi Côn Đảo Sau gần 6 năm bịđày ải trong ngục tù đế quốc, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp, nhờkết quả đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 11-1936,đồng chí được trả tự do và lại lao ngay vào hoạt động cho Đảng Cùng với cácđồng chí Lương Khánh Thiện, Tô Hiệu, Đặng Xuân Khu, Hạ Bá Cang ,Nguyễn Văn Cừ đã tập trung vào công tác khôi phục cơ sở Đảng, khôi phục
và đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân và đã thành công trong việclập lại Xứ ủy Bắc kỳ và trở thành Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ (3-1937)
Các hoạt động của đồng chí đã góp phần vào việc sửa chữa nhữngkhuyết điểm của Đảng về tổ chức, lề lối làm việc của thời kỳ trước, củng cố,xây dựng và tổ chức lại các hoạt động của Đảng cho phù hợp với tình hìnhmới, chống lại tư tưởng cô độc hẹp hòi trong công tác của đảng viên, đáp ứng
sự phát triển của phong trào cách mạng
Năng lực của đồng chí Nguyễn Văn Cừ được Đảng ta khẳng địnhtrong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp từ ngày 25-8 đến 4-9-1937.Đồng chí đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào BanThường vụ Trung ương Đảng Sáu tháng sau đó, với phẩm chất, trí tuệ và tàinăng tổ chức đã được thể hiện của mình, Hội nghị Ban Chấp hành Trungương, họp từ ngày 29 đến 30-3-1938, đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làmTổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương Tronglịch sử Đảng ta, Nguyễn Văn Cừ là người giữ cương vị Tổng Bí thư ở độ tuổitrẻ nhất - khi đó đồng chí 26 tuổi
Với sự lãnh đạo đúng đắn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Đảng ta
đã lãnh đạo phong trào cách mạng có những bước phát triển mạnh mẽ Hoảng
Trang 31sợ trước sự phát triển của phong trào cách mạng nước ta, thực dân Pháp tiếnhành khủng bố dã man Ngày 17-1-1940, thực dân Pháp đã bắt Tổng Bí ThưNguyễn Văn Cừ và ngày 26-8-1941, chúng đã hành quyết đồng chí Tổng Bíthư Nguyễn Văn Cừ đã anh dũng hy sinh cho lý tưởng của Đảng - vì độc lậpcủa Tổ quốc và tự do cho dân tộc Việt Nam khi mới 29 tuổi
Nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng ta Không phải ngẫu nhiên và càng
không phải do tình thế cán bộ lúc bấy giờ mà Hội nghị Ban Chấp hành Trungương Đảng, tháng 3-1938, trao trách nhiệm chính trị lớn nhất trước Đảng vàdân tộc cho đồng chí Nguyễn Văn Cừ Cùng với tài năng tổ chức và chỉ đạohoạt động thực tiễn, đồng chí đã thể hiện là một trí tuệ kiệt xuất trong việccùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoạch định những chủ trương, chínhsách mới rất sáng tạo, khắc phục được những nhược điểm trước đó, đưaphong trào cách mạng tiến lên, đáp ứng được sự phát triển mới của tình hìnhtrong nước và quốc tế
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3-1938, Nguyễn Văn
Cừ đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng xây dựng Nghị quyết kiểmđiểm các công tác, vạch ra nhiệm vụ của Đảng trong thời kỳ mới, xác định
“vấn đề lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại” và chỉ rõ rằng “cần đưa hết toàn lực của
Đảng”[7, tr.349 - 350] “dùng hết phương pháp làm thế nào cho thực hiện
được Mặt trận dân chủ, ấy là công cuộc của Đảng ta trong lúc này”[7,
tr.351]
Xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương, một hình thức mặt trậnđoàn kết dân tộc thay thế cho Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế ĐôngDương trước đó, là chủ trương hết sức đúng đắn và kịp thời của Đảng ta vàTổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trước sự vận động nhanh chóng của tình hìnhtrong nước và thế giới Để thực hiện nhiệm vụ này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ
và Đảng ta đã chủ trương phải tiến hành cuộc đấu tranh chống khuynh hướng
Trang 32“tả” đưa ra những khẩu hiệu quá cao, và đề phòng khuynh hướng “hữu” không chú trọng phong trào quần chúng công nông
-Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (3-1938) còn thểhiện những chủ trương cụ thể về công tác quần chúng: củng cố, chỉnh đốncông tác vận động công nhân; đề ra các biện pháp cụ thể đẩy mạnh công tác
vận động nông dân ở ba miền; “xây dựng một đoàn thể thanh niên có tính chất chính trị và quần chúng rộng rãi”[7, tr.356], đẩy mạnh công tác vận
động phụ nữ làm cho phong trào phát triển cả về chiều rộng và bề sâu
Nghị quyết của Hội nghị còn tập trung đề ra những biện pháp cụ thểnhằm củng cố, phát triển đều khắp tổ chức cơ sở Đảng, củng cố cơ quan lãnhđạo các cấp, giải quyết một cách đúng đắn các phương thức hoạt động và mốiquan hệ của các hình thức hoạt động bí mật và công khai, đẩy mạnh công táctuyên truyền, huấn luyện cán bộ và tăng cường chỉ đạo công tác vận độngquần chúng của Đảng trước tình hình mới Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh: đểcủng cố, mở rộng Mặt trận dân chủ Đông Dương và để cho mọi chủ trươngchính sách của Đảng được thực hiện, cần phải triệt để chống lại chủ nghĩa Tơ-rốt-xky, đi sâu vào quần chúng để vạch mặt bọn chống Đảng bằng những lờinói cực tả Mặt khác, Nghị quyết cũng nêu rõ từng nhiệm vụ để củng cố nội
bộ Đảng về tổ chức, giao thông liên lạc, phương thức hoạt động bí mật vàcông khai, công tác tuyên truyền, huấn luyện cán bộ, công tác chỉ đạo quầnchúng Đặc biệt là, Đảng phải kiên quyết tiến hành cuộc đấu tranh chống
bọn tờ-rốt-kít, “phải tẩy sạch những phần tử tờ-rốt-kít đã lọt vào trong Đảng” và chỉ rõ “muốn tranh đấu chống chủ nghĩa Tơ-rốt-xky phải nghiên cứu sự khác nhau giữa chủ nghĩa Tơ-rốt-xky và chủ nghĩa Mác - Lê-nin”[7,
tr.365]
Không chỉ với nhiệm vụ hoạch định chủ trương, chính sách lớn củaĐảng, trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã lập tức chỉ đạoviệc thực hiện nghị quyết của Đảng Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung
Trang 33ương, đồng chí đã xúc tiến ngay việc thành lập Mặt trận dân chủ ĐôngDương Việc chỉ đạo xuất bản báo Tin tức (ở Hà Nội) và báo Dân chúng (ởSài Gòn) cũng như lãnh đạo Đảng tham gia đấu tranh nghị trường ở thời kỳnày là những quyết định sáng suốt, kiên quyết của đồng chí Nguyễn Văn Cừ
đã góp phần quan trọng trong việc giác ngộ chính trị, giáo dục đảng viên, tậphợp lực lượng quần chúng trong Mặt trận dân chủ Đông Dương, chống lạibọn tờ-rốt-kít và khắc phục tình trạng bất đồng ý kiến xuất hiện trong Đảnglúc đó Chính Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã trực tiếp tham gia vào cuộc bútchiến phê phán những sai lầm “tả” khuynh về quan điểm chính trị, sai lầm vềnguyên tắc tổ chức, về phê bình và tự phê bình, về đoàn kết trong Đảng, đồngthời xác định rõ những vấn đề chiến lược, sách lược của Đảng Những bài báo
và đặc biệt là tác phẩm Tự chỉ trích do chính Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừviết (tháng 7-1939) thể hiện sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin và những vấn đề chiến lược, chỉ đạo chiến lược trong phong trào cáchmạng Đây là một tác phẩm tổng kết thực tiễn sâu sắc, đóng góp quý báu vàokho tàng lý luận của Đảng ta
Cần nói rõ rằng, đóng góp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào nội dungNghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 3-1938 cũng như những vấn đề
nêu ra trong tác phẩm Tự chỉ trích hoàn toàn sát đúng với nội dung trong thư
của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi cho Đảng ta vào cuối tháng 7-1939 Điều
này thể hiện trí tuệ sáng tạo, sự già dặn chính trị của Tổng Bí thư trẻ tuổi
Nguyễn Văn Cừ
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Văn
Cừ, thắng lợi của phong trào Mặt trận dân chủ đã biến những chủ trương củaĐảng thành hiện thực và không chỉ dừng lại ở việc giành được những quyềndân chủ, dân sinh tối thiểu mà chính là ở chỗ, đã làm rực cháy lên ngọn lửatinh thần dân tộc và đoàn kết dân tộc dưới những hình thức mới, phương phápmới Qua hoạt động thực tiễn từ phong trào, Đảng ta có thêm nhiều kinh
Trang 34nghiệm trong chỉ đạo chiến lược, trong tìm tòi sáng tạo các hình thức, biệnpháp đấu tranh và đồng thời còn đào tạo được nhiều nhà lãnh đạo xuất sắc choĐảng như các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn,
Từ tháng 10-1938, một năm trước chiến tranh thế giới lần thứ haibùng nổ, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với thờicuộc, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đãnhận định rất chính xác về tình hình thế giới trước ngọn lửa chiến tranh củachủ nghĩa phát-xít và những dự báo về sự thất bại của chính sách ngoại giaothoả hiệp của các nước đế quốc với chủ nghĩa phát-xít và những chính sách
hy sinh quyền lợi của dân tộc khác cho chủ nghĩa phát-xít là chính sách phảnđộng tất yếu sẽ phải trả giá đắt là hoàn toàn chính xác Dự báo chiến lược đó
đã chuẩn bị cho Đảng ta có sự chuyển hướng chiến lược nhanh chóng và đúngđắn trước sự vận động vô cùng nhanh chóng của tình hình thế giới Tháng 6-
1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ viết: “Người cộng sản chẳng bao giờ hô hào những chuyện cao xa viển vông cho sướng miệng, nhưng căn cứ vào sự thực, đồng thời nắm lấy sự đi tới (le devenir) của sự vật, hiểu thấu luật tiến hóa của xã hội (để) khi tình thế thay đổi thì chính sách sẽ thay đổi”[7, tr 633].
Chính vì vậy, sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1-9-1939),ngày 8-9-1939, tại Hội nghị Xứ ủy Bắc kỳ, với nhãn quan chính trị nhạy bén
và tầm nhìn chiến lược, là người có trách nhiệm cao nhất của Đảng, Tổng Bíthư Nguyễn Văn Cừ đã chủ trì ngay việc tiến hành phân tích tình hình chuẩn
bị cho Đảng về chiến lược và phương pháp cách mạng phù hợp với tình hìnhmới Từ Hội nghị Xứ ủy Bắc Kỳ đến quyết định tổ chức Hội nghị toàn thểBan Chấp hành Trung ương (các ngày 6, 7, 8 tháng 11-1939), hai tháng sauchiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ và BanChấp hành Trung ương đã nhanh chóng quyết định chuyển hướng chiến lược
và phương pháp cách mạng của Đảng Sau khi phân tích tình hình, Hội nghị
chỉ rõ: “Căn cứ vào những sự biến đổi trên quốc tế và trong Xứ và sự biến
Trang 35chuyển mới của phong trào cách mạng thế giới và Đông Dương, Đảng ta phải thay đổi chính sách” [7, tr 537], và xác định “Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không còn thích hợp nữa Ngày nay phải thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập”[7, tr 537] Nghị quyết của Hội nghị khẳng định: “Cuộc cách mệnh giải phóng các dân tộc của Mặt trận phản đế là một kiểu của cách mạng tư sản dân quyền Song đứng trong tình thế khác ít nhiều so với tình thế năm 1930 - 1931, chiến lược cách mệnh tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế Trái lại không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa - cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được, nhưng
nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh đổ đế quốc”[7, tr 538] Đảng ta cho rằng,
“đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”[7, tr 539]
Để tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, Đảng chủ trương tạm gác
khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế
quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống nặng lãi vàtạm gác khẩu hiệu lập chính quyền xô-viết công nông binh, thay bằng thànhlập chính quyền cộng hòa dân chủ Hội nghị cũng quyết định thay đổiphương pháp cách mạng hướng vào “dự bị những điều kiện bước tới bạo độnglàm cách mệnh giải phóng dân tộc”[7, tr.552, ], chuyển từ thời kỳ đấu tranhcho dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ đế quốc và tay sai, từ
Trang 36hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và khởi nghĩa võtrang Về xây dựng Đảng, Hội nghị nhấn mạnh: “Trong thời giờ nghiêm trọngnày, trong lúc phong trào cách mệnh đương sắp phát triển hết sức to rộng vàsắp bước vào thời kì quyết liệt thì Đảng ta nhất định phải thống nhất ý chí lạithành một ý chí duy nhất, một mà thôi”[7, tr556, ]
Rõ ràng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ,Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương (tháng 11-1939) đã
quyết định những vấn đề cực kỳ quan trọng trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, mà nội dung trọng yếu là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc - giai cấp, giai cấp - dân tộc, vấn đề xây dựng Đảng, Mặt trận
và phương pháp cách mạng trong tình hình lịch sử mới Đây là những quyết định hoàn toàn chính xác, kịp thời và phù hợp với sự biến đổi của tình hình
quốc tế và trong nước
Quyết định chiến lược trên đây đã được Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương lần thứ 7 (11-1940) và sau đó là Hội nghị Ban Chấp hành Trungương lần thứ 8 (5-1941), do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, khẳng định làchính xác và đúng đắn Đây là quyết định đặt cơ sở quan trọng để Đảng ta
hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược cách mạng ở Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 8 (51941), đưa tới cao trào giải phóng dân tộc 1941
-1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
Như vậy, với 20 tháng, trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng, đồngchí Nguyễn Văn Cừ đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng trong việc chỉđạo và chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng; trong xây dựng củng
cố Đảng cả về tư tưởng, tổ chức và phương thức hoạt động, trong xây dựngMặt trận dân tộc thống nhất trong những điều kiện lịch sử khác nhau Những
đóng góp ấy thể hiện trí tuệ sáng tạo với tư duy chiến lược của nhà lãnh đạo
kiệt xuất của Đảng ta - Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ
Trang 37Phẩm chất chính trị kiên định của một trí tuệ sáng tạo Tham gia cáchmạng và là Tổng Bí thư của Đảng trong những thời đoạn biến động to lớnnhất của lịch sử nhân loại và dân tộc, trước và lúc bùng nổ chiến tranh thếgiới lần thứ hai, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã đem hết sức lực, trí tuệ để cốnghiến cho Đảng và cách mạng Trước những vận động phức tạp của tình hìnhtrong nước và quốc tế, là người hoạch định và quyết định chiến lược mớitrong cách mạng giải phóng dân tộc đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức thựcthi đường lối ấy, đồng chí Nguyễn Văn Cừ luôn khẳng định bản lĩnh chính trịkiên định và trí tuệ khoa học sáng tạo của người lãnh đạo cao nhất của Đảng
Cùng với các Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngtháng 3-1938 và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939, tác
phẩm Tự chỉ trích của đồng chí Nguyễn Văn Cừ thể hiện rõ những phẩm chất
đó Tác phẩm này không chỉ thể hiện sự sắc sảo về chính trị, lý luận mà còn lànhững chỉ dẫn cho chúng ta về tính đảng, tính nguyên tắc, tính kiên định cáchmạng, về đạo đức cộng sản trong phê bình và tự phê bình
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết: “Người cộng sản có bổn phận nói
sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi
họ hay phỉnh họ”[7, tr 644 ] Và dầu cho có sai lầm, có thất bại thì “phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật”[7, tr 627] “Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan
mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”7, [tr 625] Đồng chí cho rằng, Đảng “có bổn phận phải phân tích xác thực hoàn cảnh, không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc chí tự mãn, để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”[7, tr 620 ] Do đó, đồng chí yêu cầu Đảng phải: “Công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu thoả hiệp, như thế không phải làm yếu
Trang 38624-Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất mạnh mẽ”[7, tr 624] Theo đồng chí, đó là sự tự chỉ trích bôn-sê-vích và làm như vậy “không sợ địch nhân lợi dụng, chửi rủa vu cáo Đảng, không sợ “nối giáo cho giặc” Trái lại, nếu
“đóng kín cửa bảo nhau”, giữ cái vỏ thống nhất mà bề trong thì hổ lốn một cục, đầy rẫy bọn hoạt đầu, đó mới chính là để cho quân thù chửi rủa; hơn nữa, đó tỏ ra không phải một đảng tiền phong cách mạng, mà là một đảng hoạt đầu cải lương”[7, tr 624].
Theo những nguyên tắc lê-nin-nít trong xây dựng đảng, đồng chí
Nguyễn Văn Cừ cho rằng “bao giờ sự chỉ trích cũng là tự chỉ trích bônsêvích, nghĩa là để huấn luyện quần chúng và giúp đảng viên tự huấn luyện, để làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Đảng, để cho Đảng được càng thống nhất và củng cố, để đưa phong trào phát triển lên, đưa cách mạng tới thắng lợi; chớ không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng -
dù cho đúng - đối chọi với Đảng, vin vào một vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi, lộn xộn trong quần chúng, gây mầm bè phái, chia rẽ trong hàng ngũ Đảng”[7, tr 623-624] Và,
sự chỉ trích của người cách mệnh phải là để tìm tòi những lầm lỗi của mình,
nghiên cứu phương pháp để sửa đổi, để tiến lên và phải “đứng về lợi ích về công cuộc của dân chúng mà chỉ trích những khuyết điểm, những chỗ lừng chừng hoặc hèn nhát để đẩy phong trào phát triển mạnh mẽ rộng rãi hơn”[7,
tr 640] Đồng chí khẳng định: “mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích, nhưng phải có nguyên tắc”[7, tr 623-624 ] Đó chính là những
nguyên tắc trọng yếu nhất để xây dựng đảng vững mạnh
Trong lời kết của tác phẩm Tự chỉ trích viết cách đây 68 năm, Tổng Bí
thư Nguyễn Văn Cừ như đã để lại di huấn cho Đảng ta: “Chúng ta đã phải chiến thắng những xu hướng sai lầm trong hàng ngũ: xu hướng “tả khuynh”,
cô độc nó muốn làm Đảng co bé, rút hẹp bởi biệt phái, cách xa quần chúng,
và xu hướng thoả hiệp hữu khuynh, lung lay trước những tình hình nghiêm
Trang 39trọng nhãng quên hoặc che lấp sự tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lăm
le rời bỏ những nguyên tắc cách mệnh”[7, tr 645]
Sự sáng tạo, tài năng, phẩm chất chính trị kiên cường, đức hy sinh và
những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã để lại cho chúng
ta một tấm gương sáng của nhà lãnh đạo kiệt xuất và mẫu mực của Đảng
Trang 40Trường Chinh(1907 - 1988)
Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương