1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SƠ LƯỢC NHẬN THỨC VỀ THÀNH PHẦN KINH TẾ THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI VÀ SAU ĐỔI MỚI (1986) QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI VI, VII, VIII

24 2,1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sơ lược nhận thức về thành phần kinh tế thời kỳ trước đổi mới và sau đổi mới (1986) qua các kỳ đại hội VI, VII, VIII
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn trung thành và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước. Song cũng có lúc chúng ta phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm, trong đó có vấn đề sở hữu. Đó là nhận thức cho rằng, có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. đã tuyệt đối hóa mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, nên đã đẩy nhanh quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa để xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác nhằm xác lập chế độ công hữu dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đối với sở hữu tập thể, mọi tư liệu sản xuất của người lao động từ cái cày, cái cuốc, con trâu đến ruộng đất đều bị tập thể hóa. Từ đó quá trình sản xuất và phân phối đều do ban quản trị điều hành. Thế nhưng toàn bộ tài sản được tập thể hóa cũng không phải là của xã viên mà cũng không phải của ban quản trị, cũng không phải của nhà nước. Nó chẳng của ai cả, vô hình trung đã trở thành không có chủ đích thực. Quy mô của hợp tác xã càng lớn thì tính vô chủ đối với tư liệu sản xuất càng cao. Do đó phát sinh tình trạng lãng phí, tham ô khá phổ biến. Từ đó dẫn đến hiệu quả kinh tế ngày càng giảm sút và người xã viên không gắn bó cùng hợp tác xã. Đối với sở hữu toàn dân, loại sở hữu này cũng dẫn đến tình trạng vô chủ vì người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh chỉ là người làm công ăn lương. Còn giám đốc tuy do nhà nước bổ nhiệm nhưng họ cũng là người hưởng lương như người lao động. Quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm do Ủy ban Kế hoạch nhà nước quyết định. Ở đây, kế hoạch: nhà nước giao; vốn: nhà nước cấp; giá: nhà nước định; lãi: nhà nước thu; lỗ: nhà nước bù. Đây chính là cơ sở kinh tế xã hội làm phát sinh tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham ô, móc ngoặc. Thực chất của chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể ở nước ta là như vậy, nhưng chúng ta lại lầm tưởng đó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và đã cố gắng bảo vệ nó.

Trang 1

PHẦN I SƠ LƯỢC NHẬN THỨC VỀ THÀNH PHẦN KINH TẾ THỜI KỲ

TRƯỚC ĐỔI MỚI VÀ SAU ĐỔI MỚI (1986) QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI VI, VII, VIII.

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn trungthành và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đấtnước Song cũng có lúc chúng ta phạm phải một số sai lầm, khuyết điểm, trong đó có vấn

đề sở hữu Đó là nhận thức cho rằng, có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan

hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu đã tuyệt đốihóa mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, nên đã đẩy nhanh quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa

để xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác nhằm xác lập chế độcông hữu dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể

Đối với sở hữu tập thể, mọi tư liệu sản xuất của người lao động từ cái cày, cáicuốc, con trâu đến ruộng đất đều bị tập thể hóa Từ đó quá trình sản xuất và phân phốiđều do ban quản trị điều hành Thế nhưng toàn bộ tài sản được tập thể hóa cũng khôngphải là của xã viên mà cũng không phải của ban quản trị, cũng không phải của nhà nước

Nó chẳng của ai cả, vô hình trung đã trở thành không có chủ đích thực Quy mô của hợptác xã càng lớn thì tính vô chủ đối với tư liệu sản xuất càng cao Do đó phát sinh tìnhtrạng lãng phí, tham ô khá phổ biến Từ đó dẫn đến hiệu quả kinh tế ngày càng giảm sút

và người xã viên không gắn bó cùng hợp tác xã

Đối với sở hữu toàn dân, loại sở hữu này cũng dẫn đến tình trạng vô chủ vì ngườilao động trong các doanh nghiệp quốc doanh chỉ là người làm công ăn lương Còn giámđốc tuy do nhà nước bổ nhiệm nhưng họ cũng là người hưởng lương như người lao động.Quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm do Ủy ban Kế hoạch nhà nước quyết định Ởđây, kế hoạch: nhà nước giao; vốn: nhà nước cấp; giá: nhà nước định; lãi: nhà nước thu;lỗ: nhà nước bù

Đây chính là cơ sở kinh tế xã hội làm phát sinh tình trạng quan liêu, cửa quyền,tham ô, móc ngoặc Thực chất của chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể

ở nước ta là như vậy, nhưng chúng ta lại lầm tưởng đó là quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa và đã cố gắng bảo vệ nó

Trang 2

Từ tuyệt đối hóa mặt sở hữu về tư liệu sản xuất, chúng ta đi đến tuyệt đối hóa quan

hệ sản xuất, đi ngược lại quy luật kinh tế khách quan là đẩy mạnh việc xây dựng quan hệsản xuất để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Cách làm này đã không tạo đượcđiều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mà trái lại kìm hãm lực lượng sản xuất

Như vậy, với chế độ công hữu hình thức, áp đặt, chúng ta đã nhanh chóng xóa bỏcác hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thực tế là đã triệttiêu động lực kinh tế làm cho nền kinh tế không phát triển, đời sống khó khăn, tiêu cựcphát triển

Chính vì nhận thức chưa đúng như vậy, chúng ta đã nóng vội và có phần duy ý chíkhi xóa bỏ mọi hình thức sở hữu khác và chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu cơ bản là sởhữu nhà nước và sở hữu tập thể Chúng ta cũng không tuân theo quy luật kinh tế kháchquan là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, muốn cho sản xuất phát triển thìquan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất

Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo Từ sau Đại hội VI của Đảng đến nay,quan điểm của Đảng ta về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã cónhiều đổi mới và sáng tạo, phù hợp với sự phát triển của thời đại Trong đó, có những đổimới và sáng tạo về sự chỉ đạo chiến lược vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã thổi luồng gió mới vào đời sống kinh tế ở

nước ta Trong đại hội này, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót trong nhận thức vàchỉ đạo về sở hữu và các thành phần kinh tế, cũng như việc vận dụng quy luật về sự phùhợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Báo cáo chínhtrị Đại hội Đảng lần thứ VI chỉ rõ: Trong nhận thức và trong hành động, chúng ta chưathật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, chưa nắm vững và vận dụng đúng quyluật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất

Trên cơ sở nhận thức lại lý luận và thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã có những nhậnthức mới đúng đắn và khoa học về vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế, từng bướckhơi dậy được động lực hoạt động kinh tế trong các thành phần dân cư; nghĩa là thừa

Trang 3

nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và những thànhphần kinh tế Từ đó thay đổi cơ chế quản lý và cơ chế phân phối, cụ thể là chuyển từ cơchế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, từ cơ chế phân phối bình quân sang cơ chế phân phối theolao động và tài sản đóng góp Đồng thời đã nhận thức rõ hơn về sở hữu qua các quyềnnăng như: quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền thừa kế, quyền chuyển nhượng, quyềnđịnh đoạt, quyền hưởng lợi, nhờ đó khắc phục được tình trạng vô chủ trước đây.

Đại hội Đảng lần thứ VII và chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000, Đảng ta

khẳng định: Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu trong đó có ba hình thức

cơ bản đó là: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Trên cơ sở ba hình thức sởhữu cơ bản này mà hình thành nhiều hình thức tổ chức và nhiều thành phần kinh tế Cụthể có năm thành phần kinh tế:

- Kinh tế quốc doanh;

- Kinh tế hợp tác;

- Kinh tế tư bản tư nhân;

- Kinh tế cá thể, tiểu chủ;

- Kinh tế tư bản Nhà nước

Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược Các thành phần kinh tế tồn tại lâu dài vànằm trong một cơ cấu kinh tế thống nhất

Tổng kết thực tiễn 10 năm đổi mới với những thành công và những hạn chế trongviệc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Đại hội Đảng lần thứ VIII lại có nhận thứcđầy đủ thêm Để phù hợp với thực tiễn phát triển, Đại hội đã thay cụm từ: kinh tế quốcdoanh bằng cụm từ kinh tế nhà nước; kinh tế hợp tác xã thành kinh tế hợp tác mà nòngcốt là hợp tác xã và đưa thành phần kinh tế tư bản nhà nước lên vị trí thứ ba

Trang 4

PHẦN 2: PHÂN TÍCH VỀ NHẬN THỨC PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU

THÀNH PHẦN QUA CÁC ĐẠI HỘI IX, X VÀ XI

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

1 Đại hội lần thứ IX của Đảng là đại hội của “ý Đảng lòng dân” về sở hữu và

các thành phần kinh tế Đại hội đã có những bổ sung và phát triển lý luận trước đó về sởhữu và các thành phần kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của đất nước

- Bối cảnh lịch sử: Đại hội IX diễn ra trong bối cảnh nước ta đang đứng trước thời cơvận hội lớn, nhưng cũng không ít khó khăn thử thách Thời cơ lớn từ tình hình thế giớimang lại đó là: sự phát triển nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, củakinh tế tri thức, cũng như quá trình toàn cầu hoá kinh tế Ở trong nước, “thành tựu to lớn

và rất quan trọng của 15 năm đổi mới làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lênnhiều” Những khó khăn thử thách là: “chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung độtdân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố ” diễn ra hàngngày trên thế giới Bốn nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khuvực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, âmmưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch “vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp,đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào”

- Đại hội IX diễn ra từ 19/4 - 22/4/2001 tại Hà Nội với các nội dung về nền kinh tế cơbản:

+ Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách vàthủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sảnxuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau Mọidoanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh theo các hình thức do luật định vàđược pháp luật bảo vệ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặcđan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng

và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa; từng bước hình thành một số tậpđoàn kinh tế mạnh Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vaitrò chủ đạo trong nền kinh tế Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là

Trang 5

công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; tập trung đầu tư cho kếtcấu hạ tầng kinh tế, xã hội và một số cơ sở công nghiệp quan trọng Doanh nghiệp nhànước giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học vàcông nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hànhpháp luật.Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành sản xuất và dịch vụ quantrọng; xây dựng các tổng công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tậpđoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế như dầukhí, điện, than, hàng không, đường sắt, vận tải viễn dương, viễn thông, cơ khí, luyện kim,hoá chất, vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanhnghiệp Chuyển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế công

ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu tráchnhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trướcpháp luật xoá bỏ bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp Thực hiện chủ trương cổphần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn để huy độngthêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn cóhiệu quả Ưu tiên cho người lao động được mua cổ phần và từng bước mở rộng bán cổphần cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Thực hiện việc giao, bán, khoán, chothuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ Sáp nhập, giải thể, phásản những doanh nghiệp không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháptrên.Phấn đấu trong khoảng 5 năm cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới và nâng caohiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; củng cố và hiện đại hoá một bước cáctổng công ty nhà nước.Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng.Chuyển đổi hợp tác xã cũ theo Luật Hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực Phát triển hợp tác

xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch

vụ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ gia đình,chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung cấp dịch vụ, vật tư và tiêuthụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại Mở rộng các hình thức kinh tế hỗn

Trang 6

hợp, liên kết, liên doanh giữa hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh

tế Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và quản lý, mở rộng thịtrường, ứng dụng công nghệ mới, phát triển vốn tập thể, giải quyết nợ tồn đọng của hợptác xã cũ Kinh tế cá thể và tiểu chủ ở nông thôn và thành thị được Nhà nước tạo điềukiện để phát triển.Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế vềquy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm; khuyếnkhích hợp tác, liên doanh với nhau và với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành doanhnghiệp cổ phần và bán cổ phần cho ngườỉ lao động Kinh tế tư bản nhà nước dưới cáchình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoàinước ngày càng phát triển đa dạng Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận củanền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinhdoanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựngkết cấu hạ tầng

Về sở hữu: Đây là vấn đề cơ bản và quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng Sở hữu về tư liệu sản xuất là yếu

tố hàng đầu quyết định các mối quan hệ sản xuất, quyết định chế độ quản lý và chế độphân phối Vì thế vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất từ xưa đến nay luôn là vấn đề cơ bản vàsâu xa của mọi cuộc cải cách kinh tế cũng như của mọi cuộc cách mạng xã hội

Khi nói đến chế độ sở hữu là nói chung, với hàm nghĩa là cơ sở của chế độ kinh tế.Loài người đã trải qua nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, nhưng tựu trung chỉ có haichế độ sở hữu cơ bản Đó là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân Mỗi chế độ sở hữu lại

có nhiều trình độ và hình thức biểu hiện cụ thể khác nhau chế độ công hữu có các trình

độ và hình thức biểu hiện như: sở hữu công xã, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể… Chế độ

tư hữu cũng có nhiều trình độ và nhiều hình thức như: sở hữu của nông dân cá thể, sở hữucủa người sản xuất hàng hóa nhỏ, sở hữu của địa chủ, sở hữu của nhà tư bản

Hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do đó tất yếucòn đan xen nhiều chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất Tiếp tục phát triển những tư tưởng

của Đại hội VII và Đại hội VIII về sở hữu, Đại hội IX khẳng định thêm một số tư tưởng:

Trang 7

- Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất, chủ yếu từng bước

được xác lập và chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội xây dựng xong về cơ bản.Xây dựng chế độ đó là một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lâu dài qua nhiều bước,nhiều hình thức từ thấp đến cao Phải từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm để xây dựng chế độ

sở hữu công cộng nói riêng và quan hệ sản xuất mới nói chung với bước đi vững chắc

- Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả sản xuất, quan hệ sản xuất theo định

hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhândân, thực hiện công bằng xã hội

Về các thành phần kinh tế: Xuất phát từ thực tiễn những năm trước, Đại hội IX tái

khẳng định quan điểm đổi mới của Đại hội VI, VII, VIII, đồng thời bổ sung một số điểmmới như sau:

- Một là, thay thành phần kinh tế hợp tác bằng thành phần kinh tế tập thể, trong đó

hợp tác xã là nòng cốt

- Hai là, nhận thức rõ hơn thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ trong quá trình phát

triển kinh tế xã hội, nên đưa thành phần kinh tế này lên vị trí thứ ba sau thành phần kinh

tế nhà nước và thành phần kinh tế tập thể nhằm phát huy nội lực để thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Ba là, bổ sung thêm một thành phần kinh tế nữa là kinh tế có vốn đầu tư nước

ngoài

Như vậy ở nước ta có sáu thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thểtrong đó nòng cốt là hợp tác xã; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tưbản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Các thành phần kinh tế có thể có các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp, vừahợp tác vừa cạnh tranh trong cùng một nền kinh tế quốc dân thống nhất Tất cả các thànhphần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước chiếm vai trò chủ đạo Kinh tế nhà nước cùngvới kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân

2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã

xác định: "Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình

Trang 8

thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân(cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài" Đồng thời Đại hội cũng đưa ra chủ trương chung cũng như chủ trương đối vớitừng thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh.

- Thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư,kinh doanh và phát triển mạnh mẽ các loại hình doanh nghiệp

Mọi công dân có quyền tự do đầu tư, kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề, địabàn mà pháp luật không cấm; có quyền bất khả xâm phạm về quyền sở hữu tài sản hợppháp; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội và các nguồn lựcphát triển, trong cung cấp và tiếp nhận thông tin Việc hình thành và phát triển một hệthống doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có sức cạnh tranh cao, có uy tín lớn là mộtnhiệm vụ chiến lược của Nhà nước và toàn xã hội

Nhà nước định hướng, tạo môi trường để các doanh nghiệp phát triển và hoạt động cóhiệu quả theo cơ chế thị trường Hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Xâydựng một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, đa sở hữu, tạo sức mạnh cho đất nướctrong hội nhập kinh tế quốc tế Thu hút ngày càng nhiều tập đoàn kinh tế lớn của cácnước đến đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam

Khuyến khích phát triển mạnh hình thức kinh tế đa sở hữu mà chủ yếu là các doanhnghiệp cổ phần thông qua việc đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và pháttriển các doanh nghiệp cổ phần mới, để hình thức kinh tế này trở thành phổ biến, chiếm

tỉ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế nước ta

Thực hiện chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ có điều kiện, có thời hạn đối với một số ngành,một số sản phẩm quan trọng, thiết yếu, một số mục tiêu, một số địa bàn, doanh nghiệpnhỏ và vừa, không phân biệt thành phần kinh tế và phù hợp với các cam kết quốc tế củanước ta Thực hiện có hiệu quả Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các luật mới đượcban hành, thấu suốt quan điểm đổi mới, bảo đảm thật sự bình đẳng và tạo thêm thuận lợiđối với mọi loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh và đầu tư thuộc mọi thành phần kinh

tế, cả trong và ngoài nước

Trang 9

Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp chủ động xây dựng

và tích cực triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là về đàotạo cán bộ quản trị và đào tạo nghề cho lao động; về cung cấp thông tin, xúc tiếnthương mại, xây dựng thương hiệu, xử lý rủi ro trong kinh doanh, bảo vệ lợi íchchính đáng của các doanh nghiệp Thực sự tôn vinh các doanh nhân có tài và thànhđạt, đóng góp nhiều cho xã hội và Nhà nước

1.2- Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanhnghiệp nhà nước

Khẩn trương hoàn thành một cách vững chắc kế hoạch sắp xếp, đổi mới và phát triểndoanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủyếu là các công ty cổ phần Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổngcông ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành , đa lĩnh vực, trong đó có một số ngànhchính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối

Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công tynhà nước, nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, để vốn nhà nướcđược sử dụng có hiệu quả và ngày càng tăng lên, đồng thời, thu hút mạnh các nguồn lựctrong, ngoài nước để phát triển Thực hiện nguyên tắc thị trường trong việc cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước

Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các tổng công ty, công ty cổ phần hoạt độngtrong những ngành, những lĩnh vực thiết yếu cho việc bảo đảm những cân đối lớn củanền kinh tế; chỉ giữ 100% vốn nhà nước trong các doanh nghiệp hoạt động bảo đảm anninh, quốc phòng và những doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu

mà chưa cổ phần hoá được Chuyển các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang hìnhthức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc nhiều thành viên mà chủ sởhữu là Nhà nước

Đối với những tổng công ty lớn chưa cổ phần hoá toàn bộ tổng công ty, thực hiện cổphần hoá hầu hết các doanh nghiệp thành viên và chuyển các doanh nghiệp thành viêncòn lại sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữuhạn một chủ sở hữu là Nhà nước; đồng thời, chuyển các tổng công ty này sang hoạt

Trang 10

động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Tổ chức lại hội đồng quản trị để thực sự làđại diện trực tiếp của chủ sở hữu tại tổng công ty.

Đặt các doanh nghiệp có vốn nhà nước vào môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳngvới các doanh nghiệp khác để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh Thu hẹp tối đa diệnNhà nước độc quyền kinh doanh, xoá bỏ đặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp Có cơchế giám sát và chính sách điều tiết đối với những doanh nghiệp chưa xoá bỏ được vịthế độc quyền kinh doanh Chỉ thành lập mới doanh nghiệp nhà nước khi hội đủ các điềukiện và trong những lĩnh vực sản xuất, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ thật cần thiếtcho phát triển kinh tế - xã hội và chủ yếu dưới hình thức công ty cổ phần

Xác định rõ quyền tài sản, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, cạnhtranh và chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp Xây dựng cơ chế gắn trách nhiệm, quyềnhạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.Thực hiện quy chế hội đồng quản trị tuyển chọn, ký hợp đồng thuê giám đốc điều hànhdoanh nghiệp

Lành mạnh hoá tình hình tài chính và lao động của doanh nghiệp nhà nước; kiên quyết

xử lý những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ bằng các phương thức thíchhợp

Thực hiện cơ chế Nhà nước đầu tư vốn cho doanh nghiệp thông qua công ty đầu tư tàichính nhà nước; các doanh nghiệp nhà nước huy động thêm vốn trên thị trường, nhất làthị trường chứng khoán để phát triển kinh doanh

Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước làm tốt việc đầu tư vốn cho doanh nghiệpnhà nước và làm đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các công ty, tổng công tynhà nước đã cổ phần hoá và các doanh nghiệp nhà nước độc lập chuyển thành công tytrách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là Nhà nước

Đổi mới tổ chức và quy chế thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanhnghiệp nhà nước gắn với việc thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sởhữu của các bộ, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đối với doanh nghiệp nhà nước.Quy định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý hành chính nhànước và của đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước

Trang 11

- Tiếp tục đổi mới, tạo động lực phát triển có hiệu quả các loại hình kinh tế tập thể

Tiếp tục đổi mới chính sách để khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh hơn các loạihình kinh tế tập thể với những hình thức hợp tác đa dạng, tự nguyện, đáp ứng nhu cầucủa các thành viên, phù hợp với trình độ phát triển của các ngành, nghề, trên các địabàn

Tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trên cơ sở tổng kết các đơn

vị làm tốt để tăng sức hấp dẫn, tạo động lực cho kinh tế tập thể, nhất là đối với nôngnghiệp, tiểu, thủ công nghiệp Đa dạng hoá hình thức sở hữu trong kinh tế tập thể (có sởhữu pháp nhân, thể nhân) Phát triển các loại hình doanh nghiệp trong hợp tác xã và cáchình thức liên hiệp hợp tác xã

Có cơ chế để hợp tác xã có thể phát huy quyền sử dụng tư liệu sản xuất chung tại cơ sở;tách bạch giữa quyền này với quyền sở hữu của các xã viên Khuyến khích huy động cổphần và nguồn vốn góp của xã viên để không ngừng tăng thêm vốn đầu tư phát triển hợptác xã Khuyến khích tăng tài sản và quỹ không chia của hợp tác xã Giải thể hoặcchuyển các hợp tác xã chỉ còn là hình thức sang các loại hình tổ chức sản xuất, kinhdoanh phù hợp với quy định của pháp luật

- Tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tưnhân

Tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh tế tư nhân đầu tư phát triển theo quy địnhpháp luật, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn Xoá bỏ mọi hìnhthức phân biệt đối xử; thực sự bình đẳng, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp, nhất là cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh được tiếp cận các nguồn vốn tại các tổchức tín dụng của Nhà nước, kể cả quỹ hỗ trợ phát triển; được đáp ứng thuận lợi nhucầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh Khuyến khích phát triển các doanhnghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sở hữu với hình thứccông ty cổ phần Tổng kết và có chính sách, giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại pháttriển

Trang 12

Khuyến khích tư nhân mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước, tham gia đầu tư vàocác lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế Khuyến khích các doanhnghiệp tư nhân lớn bán cổ phần cho người lao động.

Bảo vệ tài sản hợp pháp của công dân và doanh nghiệp Loại bỏ các quy định pháp luậtkhông phù hợp về việc khám xét nơi ở và làm việc, tịch thu hoặc tạm giữ tài sản củacông dân và doanh nghiệp Các cơ quan có thẩm quyền phải đền bù thích đáng về cảdanh dự và vật chất cho những quyết định trái pháp luật gây thiệt hại cho công dân vàdoanh nghiệp

- Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tếViệt Nam được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh Tạođiều kiện cho đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùnglãnh thổ phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta

Đa dạng hoá hình thức và cơ chế đầu tư để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tưnước ngoài, gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp, vào các ngành, các lĩnh vực quan trọngcủa nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế, xã hội

Bảo đảm tính thống nhất, ổn định, minh bạch và ngày càng hấp dẫn trong chính sáchđầu tư nước ngoài Đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cải tiến mạnh mẽ thủ tụcđầu tư, thực hiện đúng theo các quy định của Luật Đầu tư và phù hợp với lộ trình thựchiện các cam kết quốc tế của nước ta

- Đổi mới chính sách đầu tư

Đổi mới chính sách và cải thiện môi trường đầu tư, xoá bỏ các hình thức phân biệt đối

xử trong tiếp cận các cơ hội đầu tư để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn

từ các thành phần kinh tế trong nước và thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nướcngoài

Tiếp tục hoàn thiện thể chế để bảo đảm đầu tư của Nhà nước có hiệu quả, khắc phục tìnhtrạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trungcho kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ, y

Ngày đăng: 25/07/2013, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w