1. Trang chủ
  2. » Shoujo Ai

Bao cao thuc dia Ba Be

56 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 12,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hµnh tr×nh c¸c sinh viªn còng ®îc kh¶o s¸t theo tuyÕn nªn cã thÓ nhËn biÕt râ nh÷ng thay ®æi vÒ tù nhiªn ë c¸c miÒn ®i qua: tõ ®ång b»ng qua miÒn trung du ®Õn miÒn nói.. Qu¸ tr×nh [r]

Trang 1

do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành với thời lợng là 2 đơn vị học trình.

Thông qua tiếp xúc và nghiên cứu các đối tợng, các thành phần tự nhiên

để củng cố những kiến thức đã học trong giáo trình lí thuyết, đồng thời củng cố

và nâng cao kĩ năng, kĩ xảo đã học trong giờ thực hành trong phòng

Qua đó thấy đợc mối liên hệ khăng khít và sự tác động qua lại giữa cácthành phần tự nhiên của một vùng lãnh thổ với nhau

Thực hành ngoài trời là bớc đầu để sinh viên làm quen với việc thu thậptài liệu, số liệu trong nghiên cứu các thành phần tự nhiên thông qua một số ph-

ơng pháp cụ thể

Thông qua viết báo cáo thực địa, sinh viên sẽ bớc đầu vận dụng nhữngkiến thức đã học để lí giải qui luật phát sinh, phát triển và biến đổi cũng nh tác

động qua lại giữa các thành phân tự nhiên ở nơi thực địa

Đây chính là điều kiện để phát huy tính độc lập của sinh viên trong họctập và nghiên cứu để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

- Tập sử dụng địa bàn địa chất, thu lợm khoáng vật đá và hóa thạch

- Mô tả vết lộ, ghi nhật kí hành trình, vẽ lát cắt địa chất, địa tầng

b, Thực tập địa mạo:

- Quan sát các dạng địa hình trong khu vực

- Tìm hiểu quan hệ giữa địa hình với các yếu tố tự nhiên

Trang 2

- Vai trò của con ngời đối với quá trình địa mạo.

- Tập xác định hình thái địa hình bằng các biện pháp đơn giản nh ớc lợngkhoảng cách, độ cao, độ sâu…

- Vẽ các dạng địa hình và sơ đồ địa mạo khu vực thực tập

- Quan sát các loại đất điển hình của khu vực

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa dất và các nhân tố hình thành

- Đặc điểm canh tác

- Học cách đào và mô tả phẫu diện đất

- Các phơng pháp đơn giản để xác định dặc điểm của đất: thành phần cơ giới, độchua, độ phì…

g, Thực tập địa thực vật:

- Làm quen với các quần lạc thực vật điển hình

- Xác định mối quan hệ giữa chúng với các điều kiện tự nhiên nh địa hình, thổnhỡng, khí hậu, thủy văn…

- Đánh giá về mặt kinh tế

- Vấn đề sử dụng và bảo vệ thực vật

- Mô tả các quần lạc làm ô tiêu chuẩn, lấy mẫu: ép cây làm lát cắt thực vật theotuyến

3 Biên chế tổ chức

a, Giảng viên:

- Trởng đoàn: Trần Quang Bắc – trởng bộ môn Địa lí

Nguyễn Thị Huyền Trang – giảng viên Địa lí

Trang 3

- Quản lí sinh viên: Nguyễn Đắc Cửu – giảng viên Lịch sử

b, Sinh viên:

- Lớp Địa – Sử 21 với tổng số 37 sinh viên trong đó nam là 10 và nữ là 27

- Biên chế lớp theo các nhóm từ 6 - 8 sinh viên theo 2 cách phân nhóm sau:

+ Phân theo phòng ở: 3 - 6 ngời /phòng tùy theo kinh phí hỗ trợ và điều

kiện thực tiễn của địa phơng, do số lợng nam nữ không đều nên cần có 9 - 11phòng, bao gồm: 2 - 3 phòng cho nam + 5 - 6 phòng cho nữ + 2 phòng cho giáoviên

+ Phân theo nhóm trên thực địa: 6 nhóm, mỗi nhóm có từ 1 - 2 nam sinh

viên ( tối thiểu có 2 nam nếu tính cả giảng viên) đợc phụ trách bởi 1 giảng viênkhoa Xã hội

Mỗi giảng viên địa lí phụ trách hớng dẫn thực tập 3 nhóm theo các nộidung mà trởng bộ môn đã triển khai Bao gồm 4 nhóm có 6 sinh viên và 2 nhóm

có 7 sinh viên

Trang 4

4 Địa điểm và thời gian thực tập

4.1 Thời gian học tập dự kiến: 7 ngày học (2 đơn vị học trình) và 1 ngày đi lại,

Ngày thứ 3: Nghiên cứu khảo sát điều kiện tự nhiên hồ Ba Bể: diện tích, nguồn

gốc hình thành, đặc điểm môi trờng, hớng biến đổi, tiềm năng

Ngày thứ 4: Nghiên cứu khảo sát đặc điểm thổ nhỡng, khí hậu, ảnh hởng của vị

trí địa lí, địa hình đến khí hậu khu vực

Ngày thứ 5: Nghiên cứu khảo sát các dạng địa hình đặc trng: nguồn gốc thành

tạo, đặc điểm địa hình, mối quan hệ với các bộ phận địa hình khu vực xungquanh

Ngày thứ 6: Nghiên cứu đặc điểm hệ sinh thái khu vực Vờn quốc gia Ba Bể: giá

trị kinh tế và khoa học Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên của khu vực

Ngày thứ 7: Tác nghiệp trong nhà: vẽ sơ đồ, lợc đồ, xử lí số liệu, viết thu hoạch Ngày thứ 8: Trả phòng cho nhà nghỉ, 8 h xuất phát từ Ba Bể về trờng CĐSP Bắc

Ninh

4.4 Lịch trình thực hiện:

Do điều kiện thực tế của nhà trờng nên thời gian học tập chỉ rút lại còn 4ngày, bao gồm cả thời gian đi đờng và thời gian học tập Thời gian thực hiện từngày 01/11/2003 đến hết ngày 04/11/2003 Cụ thể nh sau:

Ngày thứ nhất: Xuất phát từ trờng CĐSP Bắc Ninh lúc 5h, đến hồ Ba Bể lúc 15

h Nhận phòng nghỉ tại khu nhà sàn dân tộc thuộc vờn quốc gia Ba Bể, cách trụ

sở chính của vờn khoảng 500 m về phía đông bắc (trên đờng vào) lúc 16 h

- Nghiên cứu khảo sát đặc điểm thổ nhỡng, khí hậu, ảnh hởng của vị trí địa lí,

địa hình đến khí hậu khu vực

Trang 5

* Tối: - Tác nghiệp trong nhà: vẽ sơ đồ, lợc đồ, xử lí số liệu, viết thu hoạch

- Sinh hoạt văn nghệ trong đoàn

Ngày thứ 3:

* Ngày:

- Nghiên cứu khảo sát các dạng địa hình đặc trng: nguồn gốc thành tạo, đặc

điểm địa hình, mối quan hệ với các bộ phận địa hình khu vực xung quanh

- Nghiên cứu đặc điểm hệ sinh thái khu vực Vờn quốc gia Ba Bể: giá trị kinh tế

và khoa học Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên của khu vực

- Nghiên cứu khảo sát các bản sắc văn hóa địa phơng và việc khai thác sử dụng

tự nhiên của dân c nơi đây

* Tối: - Tác nghiệp trong nhà: vẽ sơ đồ, lợc đồ, xử lí số liệu, viết thu hoạch

- Giao lu với chi đoàn thanh niên vờn quốc gia Ba Bể

Ngày thứ 4: Trả phòng cho nhà nghỉ, 8 h xuất phát từ Ba Bể về trờng CĐSP Bắc

Ninh lúc 16 h 45’

5 Hớng dẫn thực hiện

Việc tổ chức cho sinh viên Địa Sử 21 đi khảo sát trên thực địa năm học

2003 đợc tiến hành trong các điều kiện sau:

- Nguồn kinh phí hỗ trợ cho việc học tập còn hạn chế: ngoài việc đợccung cấp phơng tiện đi lại thì mỗi sinh viên chỉ đợc hỗ trợ một phần tiền lu trú là30.000 đ/ngày và tiền vé tham quan các địa điểm, ngoài ra các sinh viên phải tựtúc tiền ăn và các khoản chi phí khác

- Các phơng tiện đo đạc, nghiên cứu, khảo sát trên thực địa không có

- Do địa bàn khảo sát là vờn quốc gia đợc bảo tồn nên không việc khảosát, lấy mẫu đất, đá, thực vật gặp khó khăn

- Các giảng viên không đợc đi tiền trạm và khảo sát thực địa trớc khi đasinh viên đi thực địa

Căn cứ vào tình hình thực tiễn và điều kiện tổ chức thực địa của trờngCĐSP Bắc Ninh, tổ bộ môn Địa lí có những hớng dẫn khảo sát các thành phần tựnhiên trên thực địa nh sau:

- Sinh viên phải có kế hoạch su tầm trớc các tài liệu về vờn quốc gia Ba Bể,tổng hợp và phân tích theo bố cục và các nội dung nh đợc hớng dẫn Cáckết quả nghiên cứu trên cơ sở các tài liệu sẵn có phải đợc hoàn thành trớckhi đi thực địa

- Sinh viên dự kiến trớc những nội dung cần khảo sát, kiểm chứng trên thực

địa Xây dựng sẵn bộ khung báo cáo thực địa mà trong đó đã sẵn có

Trang 6

những thông tin đã su tầm và các chỗ trống để bổ sung thêm các thôngtin, các số liệu, hình vẽ minh họa lấy từ thực tế.

- Khi đi thực địa cần có vở nhật kí để ghi chép theo qui định: trang bên trái

để vẽ các hình vẽ minh họa, trang bên phải dành để ghi những nhận xét có

đợc sau khi quan sát Ngoài ra cần có các phơng tiện học tập tối thiểu nhbút chì để ghi chép trên thực địa, bút mực, máy tính cá nhân, giấy nháp…Sau mỗi ngày đi thực tế ngoài trời, sinh viên cần tổ chức trao đổi thảoluận theo nhóm, xử lí các thông tin về các nội dung khảo sát trong ngày,các cá nhân tự tổng hợp các ý kiến và tự mình bổ sung vào bản báo cáo đãchuẩn bị

- Kết thúc đợt thực địa sinh viên phải hoàn thành báo cáo để giảng viênchấm điểm học phần và lu giữ làm tài liệu học tập cho sinh viên các khóasau

Trang 7

Phần II

Nội dung

Chơng I

tuyến khảo sát - điểm khảo sát và nội dung khảo sát

Vờn quốc gia Ba Bể

Nhiệm vụ của đoàn thực địa đặt ra là nghiên cứu khảo sát theo tuyếntrọng tâm có nghĩa là nghiên cứu khảo sát theo điểm ở một địa phơng, khu vựcnhất định

Sinh viên cần thấy đợc sự khác biệt giữa các đơn vị địa lí tổng hợp tựnhiên lớn nh giữa đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển, giữa thợng lu và hạ

lu Đồng thời cũng phải thấy đợc ảnh hởng của các điều kiện tự nhiên đến cáchoạt động kinh tế và đời sống

Căn cứ vào nhiệm vụ trên, tuyến khảo sát đợc chọn là Bắc Ninh (thị xãBắc Ninh) - Bắc Kạn (Vờn quốc gia Ba Bể) Điểm khảo sát là Vờn quốc gia BaBể

1 Tuyến cắt trên thực địa:

Thị xã Bắc Ninh (Bắc Ninh) - Yên Viên (Đông Anh) - Thái Nguyên - Vờnquốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) Tuyến cắt thực hiện từ miền đồng bằng qua miềntrung du để đến miền núi

2 Chiều dài tuyến cắt:

Theo đờng chim bay từ điểm đầu đến điểm cuối khoảng 145 km; theohành trình khoảng trên 250 km Trong đó:

+ Chặng I dài khoảng 28 km, gồm: Đoạn từ thị xã Bắc Ninh đến thị trấnYên Viên theo quốc lộ 1A dài khoảng 22 km Đoạn từ Yên Viên ra đến quốc lộ

3 dài khoảng 6 km

+ Chặng II dài khoảng 157 km: Đoạn quốc lộ 3 đi qua Thái Nguyên đếnthị xã Bắc Kạn dài khoảng 157 km (thành phố Thái Nguyên đến thị xã Bắc Kạndài 86 km)

+ Chặng III dài khoảng 68 km, gồm: Đoạn thị xã Bắc Kạn đến thị trấnPhủ Thông dài 16 km Đoạn từ Phủ Thông đến thị trấn Chợ Rã của huyện Ba Bểdài 37 km Đoạn từ Chợ Rã vào Trụ sở chính của Vờn quốc gia Ba Bể dài 15 km(đoạn từ đầu Vờn - nơi mua vé tham quan vào trụ sở chính dài 8 km) Đoạn từtrụ sở vờn đến Bến phà Bắc dài 2 km

Trang 8

3 Các điểm khảo sát và nội dung khảo sát:

Trọng tâm: khu trung tâm Vờn quốc gia Ba Bể gồm: tiểu khu mặt hồ vàtiểu khu du lịch Trong đó có chia ra làm hai tuyến khảo sát nhỏ sau:

- Khảo sát trên sông Năng và trên hồ Ba Bể

- Khảo sát tự nhiên, dân c vùng ven hồ

Bao gồm các điểm khảo sát sau:

Chú giải Trụ sở Vờn Quốc gia Bản làng

Trang 9

các điểm khảo sát thuộc vờn quốc gia Ba Bể

(Do Đoàn thực địa trờng CĐSP Bắc Ninh thực hiện tháng 11/2003)

Điểm 1: Chợ Na Nang thuộc Bản Vài, xã Khang Ninh, cách Trụ sở Vờn 5 km trên đờng ra Buốc Lốm

Đây là nơi có thể thấy đợc những nét văn hóa bản địa của ngời Dao,H’Mông và Tày Chợ họp theo phiên vào các ngày mùng 4 và mùng 9 âm lịch,

đây là nơi mua bán các hàng hóa và sản phẩm địa phơng và cũng là nơi hò hẹn,tâm tình của các đôi trai gái Ngày khảo sát là 02/11/2003, tức ngày mùng 9tháng 10 âm lịch (xem thêm băng t liệu để thấy rõ cảnh chợ)

ảnh: Chợ Na Nang.

ảnh: Ngời Dao và ngời H Mông đi chợ.

Ngoài ra cũng có thể thấy đợc cảnh chợ phiên ở Chợ Lèng, xã QuảngKhê, cách Trụ sở Vờn 15 km trên đờng ra bản Pác Ngòi vào các ngày 3, 8 âmlịch hàng tháng Chợ Cốc Lùng, xã Nam Cờng, cách Trụ sở Vờn 5 km trên đờng

đi Chợ Đồn vào các ngày mùng 2 và mùng 7 âm lịch Chợ Bản Tàu, xã Cao Th ợng, cách Trụ sở Vờn 10 km, đi thuyền từ Buốc Lốm qua Động Puông (trênbăng t liệu có thể thấy các thuyền đa ngời đi chợ này và bắt gặp những ngờiH’Mông đi chợ khi nghỉ ở trạm kiểm lâm Đầu Đẳng, bản Tà Kèn, gần thác Đầu

-Đẳng) Chợ này cũng họp vào ngày mùng 4 và mùng 9 âm lịch

Trang 10

Điểm 2: Bản Buốc Lốm (bến phà)

Bến Buốc Lốm là một trong những điểm xuất phát chính cho tuyến hànhtrình bằng thuyền trên sông Năng và trên hồ Ba Bể Buốc Lốm là một bản cổ củangời Tày, nằm kề bên dòng sông Năng và Trụ sở của Vờn khoảng 8 km Dukhách trớc khi vào vờn đều phải qua bản này (nơi mua vé tham quan) Trên con

đờng nhựa chạy xuyên bản có thể nhìn thấy dòng sông Năng nằm kề dới chânnúi đá vôi dựng đứng

ảnh: Sông Năng nhìn từ bản Buốc Lốm ảnh: Vách núi đá vôi ven sông

Buốc Lốm là một vùng đất canh tác nông nghiệp, nhng do vị trí của bảnnằm gần sông nên vào mùa ma, có năm xảy ra những trận lụt lớn Khi đó nớcsông thờng dâng cao bằng mặt đờng, ngập toàn bộ diện tích đất canh tác, gâythất thu cho sản xuất nông nghiệp

Điểm 3: Động Puông

Xuôi dọc theo dòng sông Năng theo hớng từ đông sang tây, tính từ bếnBuốc Lốm mất khoảng 30 phút sẽ tới Động Puông, nơi dòng sông Năng đâmxuyên qua núi Động Puông nằm trên dãy núi đá vôi Lũng Nham, phía bắc củaVờn quốc gia Với độ cao trần động có chỗ lên tới 50 m, Động Puông còn làmột đờng hầm dài hơn 300 m xuyên qua núi tạo thành đờng giao thông chínhcho ngời dân địa phơng đi lại

Trang 11

ảnh: Động Puông và các sinh viên Địa Sử K21 trong ngày 02/11/2003

Tại Động Puông có thể thấy các măng đá, nhũ đá có hình thù kì lạ mọc ra

từ trần và vách động Leo lên trên cao và vào sâu trong động có thể thấy nhữngcột đá rất to nối từ trần động xuống đến mặt đất Trong động là cả một thế giới

động vật trong bóng tối khiến cho Động Puông là một trong những động hấpdẫn và đẹp nhất của Vờn quốc gia Ba Bể

Động Puông cũng là nơi có nhiều dơi nhất ở Ba Bể Theo điều tra của cácnhà khoa học chuyên nghiên cứu về dơi thì ở đây có tới 23 loài và chúng sốngchủ yếu trên vòm động Loài dơi phổ biến nhất là dơi Ngựa Nâu – một loài dơi

ăn quả với số lợng khoảng vài nghìn con Hình ảnh về dơi trong Động Puôngcũng đợc ghi lại trong băng t liệu, tuy nhiên do điều kiện ánh sáng nên hơi khóquan sát, song vẫn có thể nhận thấy một số lợng khá đông những con dơi bámtrên trần động và khi có ánh sáng đèn pin chiếu vào, chúng bay qua, bay lại

Tại Động Puông cũng còn có các chứng tích lịch sử Các nhà khoa họccho rằng tại Động Puông có dấu ấn sinh sống của ngời cổ, song hiện nay vẫn ch-

a đợc khám phá, nghiên cứu cụ thể Nhà Mạc cũng đã ở khu vực Động Puôngvào năm 1686, hiện nay vẫn còn dấu tích là chiến lũy bằng đá ở trên núi LũngNham Để quan sát đợc chiến lũy đá thì du khách cần phải leo lên núi LũngNham nhng đờng lên khá hiểm trở và nguy hiểm

Trang 12

Điểm 4: Sông Năng và rừng ven sông

Sông Năng là một bộ phận của hệ thống thủy vực chảy từ Trung Quốc vàoCao Bằng, qua hồ Ba Bể và đổ xuống sông Lô (Tuyên Quang) Đi trên sôngNăng, đoạn từ Động Puông đến thác Đầu Đẳng ta có thể thấy phong cảnh rừngnhiệt đới trên các dãy núi đá vôi trùng điệp Quan sát kĩ ta cũng có thể thấynhững thay đổi trong phân bố hệ thực vật từ chân núi lên đỉnh núi, các thực vậtchiếm u thế ở mỗi tầng hay sự khác biệt về cảnh quan rừng ở mỗi kiểu sờn núikhi độ dốc và tầng phong hóa trên sờn thay đổi…

ảnh: Sông Năng và thực vật ven sông

Trên đờng đi ta cũng có thể bắt gặp các loài chim bay lợn và kiếm mồitrên sông nh chim bói cá, cò, diệc và vịt trời Đồng thời ta cũng có thể thấy haytrực tiếp gặp gỡ những ngời dân địa phơng trong các sinh hoạt thờng ngày: trồngngô hai bên bờ sông, đánh cá hoặc đang trên đờng đi chợ bằng xuồng hay chèothuyền độc mộc

ảnh: Bản Tà Kèn và cảnh chèo thuyền độc mộc trên sông Năng

Trang 13

Điểm 5: Bản Cám

Bản Cám là một bản nhỏ của ngời Tày trải dài khoảng 1 km ở bờ bắc đoạnngã ba sông Năng gặp hồ Ba Bể Khi xuôi theo dòng sông Năng ta có thể thấybản ở rất gần phía bờ bên phải Một số hoạt động sinh hoạt và sản xuất của dânbản cũng có thể quan sát bằng mắt thờng

Bản Cám nằm trên một thung lũng nhỏ có một con suối nớc sạch trongmát quanh năm chảy ra sông Năng Ngời dân bản Cám thờng sử dụng thuyền

độc mộc – một biểu tợng truyền thống của hồ Ba Bể Thuyền độc mộc đợc đụcchỉ từ thân một cây gỗ to và dù trông rất mỏng manh nhng có thể chở đợc vàingời Theo ngời dân địa phơng cho biết loại gỗ thờng đợc làm thuyền độc mộc là

gỗ cây đinh bởi loại này có độ bền cao, có khi đến vài chục năm

ảnh: Thày, trò trờng CĐSP Bắc Ninh tập chèo thuyền độc mộc trên hồ

Ngời dân nơi đây rất mến khách, đoàn thực địa có lẽ không ai có thể quênhình ảnh các em bé ở bản Cám bên bờ sông khi thấy thuyền qua, chúng vội vàng

đa tay lên vẫy chào mãi Có em chỉ khoảng đôi ba tuổi còn trèo lên một thân cây

đổ, muốn đứng lên thật cao để vẫy chào khách Mất thăng bằng, em ngã xuống

đất nhng lại cố đứng dậy vơn cánh tay nhỏ xíu tiếp tục vẫy chào Một hình ảnhthật đẹp, thể hiện đúng phong cách của ngời dân nơi đây

Điểm 6: Ngã ba sông Năng và hồ Ba Bể

Tại bản Cám, sông Năng hoà nhập cùng dòng nớc chảy chậm ra từ hồ ba

Bể rồi cùng đổ về phía tây (phía thác Đầu Đẳng) Tại vị trí này hồ Ba Bể thu hẹp

nh một dòng sông và nếu đi xuôi theo dòng sông Năng thì rất khó có thể nhận ra

điểm giao nhau này Để phân biệt ta cần chú ý, tại điểm giao nhau ta thấy cómột cây cao to thẳng nằm ngay sát mép nớc, phía sau có một ngôi nhà xây kiên

cố, có biểu trng của lực lợng kiểm lâm (quan sát trên băng t liệu)

Trang 14

ảnh: Thực vật vùng ven hồ

Hoặc vào một vài tháng trong năm, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ sựkhác biệt giữa dòng nớc trong xanh chảy từ hồ ra với dòng nóc đỏ phù sa củasông Năng vào mùa lũ Khi đó tại ngã ba sông xuất hiện một dòng ranh giới trớckhi hai dòng nớc hòa vào nhau Điều này cũng cho thấy nớc hồ Ba Bể cha bị vẩn

đục bởi đất do xói mòn gây ra giống nh nớc trên sông Năng, mặc dù bao quanh

hồ vẫn là các vách núi đá vôi cao, dựng đứng Nguyên nhân có thể do hệ thựcvật trên núi còn nhiều, góp phần tích cực cho việc chống xói mòn

Dọc theo sông Năng ở đoạn này và cả đầu phía bắc của hồ ta có quan sát

đợc nhiều loài cây và phong lan đẹp từ trên núi cao rủ xuống mặt nớc Cảnh tợngphổ biến ta có thể thấy là các cây sung rất to, rễ chùm rất phát triển tạo nhiềukiểu thế rất đẹp nằm ngay sát mép nớc, trên đó có rất nhiều giò phong lan sống

kí gửi trên thân cây (quan sát thêm băng t liệu)

ảnh: Phong lan

Cũng ngay mép nớc ta còn bắt gặp những cây to đã chết nằm rải rác ven

bờ, cho thấy dấu tích của các trận lũ lớn tràn qua đây và cũng chính vì vậy một

số cây to nằm cạnh mép nớc đã đợc Vờn cho xây bó dới chân để bảo vệ, tránh lở

đất làm đổ cây ở trên đoạn sông này ta có thể bắt gặp nhiều loại chim nớc lớn

nh cò và diệc

Điểm 7: Thác Đầu Đẳng

Trang 15

Thác Đầu Đẳng là một khúc gẫy của sông Năng khi đổ nớc xuống vùng

đất phía tây Vờn quốc gia và đi vào địa phận của tỉnh Tuyên Quang Thác trảidài khoảng 1 km, lởm chởm bởi những tảng đá to nằm rải rác trên và dới thác.Vào mùa ma, mực nớc ở thác có thể dâng cao lên tận mép bờ, chảy cuồn cuộnkhiến cho thác thêm hùng vĩ và dữ dội Ngay cả khi đoàn thực địa đến đây vàomùa khô thì sức nớc chảy tại thác vẫn rất mạnh

Thác Đầu Đẳng là một trong những điểm dừng chân khá thú vị trongchuyến du thuyền trên sông Năng, hồ Ba Bể Chính vì vậy mà đoàn thực địa đãdành hẳn 2 giờ đồng hồ để nghiên cứu, khảo sát tại đây Sau khi đặt chân lêntrên bến thuyền, tại trạm kiểm lâm Đầu Đẳng, thuộc bản Tà Kèn, ta phải đi bộthêm khoảng 500 m nữa dọc theo sông về phía tây mới đến thác Trên đờng đi,

ta có thể quan sát các hệ thực vật rừng cũng nh các loại cây trồng của c dân nơi

đây, trong đó nhiều nhất là ngô Ngô ở đây năng suất không cao, bắp nhỏ nhngrất ngọt, bạn có thể nếm thử vị ngọt này qua những bắp ngô luộc còn nóng hổi

do ngời dân địa phơng phục vụ cho các du khách hoặc cũng có thể mua ít nhiều

về làm quà cho những ngời thân

Trang 16

ảnh: Bản Tà Kèn

Tại thác có một số nhà hàng bình dân và một vài cửa hàng nhỏ của bà condân bản, bạn có thể đặt làm cơm trớc khi vào thác để đến lúc ra bạn có thể nghỉngơi tại bản, thởng thức các món ăn mang hơng vị đặc trng nơi đây với nguyênliệu lấy từ các sản vật của hồ Ba Bể, của sông Năng nh các loại cá, hay của núirừng nh các loại rau, củ, măng và phong cách chế biến món ăn khá độc đáo củangời dân địa phơng

Vào những ngày chợ phiên ta còn thấy rõ các hoạt động giao lu, buôn bántấp nập của bà con dân tộc thiểu số sinh sống quanh khu vực thác với bà con bênngoài Vờn Đoàn thực địa may mắn đến đây vào ngày mùng 9 âm lịch, trùng vớilịch họp của một số chợ nên đã trực tiếp chứng kiến các hoạt động này Tại bản

Tà Kèn, đoàn đã nghỉ cùng với một số đồng bào ngời H’Mông, ăn cơm cùng vớinhững ngời lái thuyền dân tộc Tày và Dao Qua tiếp xúc, trao đổi đoàn càngthêm rõ về những nét văn hóa, những phong tục tập quán của ngời dân nơi đây,

từ cách ăn mặc, nói năng, chào hỏi đến cả phong cách khi mời rợu… đều để lạinhững ấn tợng tốt đẹp cho đoàn

Điểm 8: Ao Tiên

Nằm ở góc hồ Pé Lầm, còn gọi là Hồ Ba, phía bắc của hồ Ba Bể, Ao Tiên

là một hồ nớc nhỏ nằm lọt giữa thung lũng của những cánh rừng nguyên sinhtrên các sờn núi dốc thẳng và độc lập với hồ Ba Bể Với 10 phút đi bộ theo con

đờng mòn nhỏ khá lắt léo ta đến đợc với Ao Tiên

Trang 17

ảnh: Đờng vào Ao Tiên

Mặc dù Ao Tiên nằm tách biệt hẳn với hồ Ba Bể nhng mực nớc của AoTiên và hồ Ba Bể vẫn ngang nhau bởi có nhng mạch ngầm thông giữa ao và hồ

do tính chất độc đáo của địa hình Kast Ao Tiên còn là nơi c trú của nhiều loài

động thực vật thủy sinh và là nơi dân bản vẫn thờng lui tới đánh cá Cũng nh nét

đặc trng khác của Vờn quốc gia Ba Bể, Ao Tiên đợc nhắc đến trong truyềnthuyết địa phơng Đó là câu chuyện về ngời thợ săn trong lúc qua Ao Tiên đã bịhút hồn bởi vẻ đẹp kiều diễm của các nàng tiên đang tắm trong ao

ảnh: Cảnh Ao Tiên

Điểm 9: Hồ Ba Bể

Nét độc đáo của Vờn quốc gia Ba Bể chính là hồ Ba Bể huyền thoại Ba

Bể có nghĩa là “Ba hồ”, tiếng Tày gọi là Slam Pé (Pé có nghĩa là hồ) Ba hồ ở

đây nằm theo hớng bắc nam, gần vuông góc với dòng sông Năng, nếu đi từ sôngNăng vào ta sẽ qua lần lợt các hồ là:

- Hồ Pé Lầm, hay còn gọi là hồ Ba, “Lầm” theo giải thích của ngời dân nơi đây

có nghĩa là nhiều gió, có lẽ do hồ nằm gần sông Năng, hồ lại đợc mở rộng nênkhi có gió thổi tạo cảm giác nhiều gió chăng Đi xuôi về phía nam hồ bị thu hẹp

và kéo dài chỉ nh một dòng sông Hồ Pé Lầm là hồ kéo dài nhất nhất trong 3 hồ

- Hồ Pé Lù, hay còn gọi là hồ Hai, là hồ trung tâm, lòng hồ lại đợc mở rộng vàthông với hồ Pé Lèng nên cũng khó phân biệt ranh giới giữa hai hồ “Lù” ở đây

Trang 18

có nghĩa là nguồn nớc cuối cùng, có lẽ ám chỉ nguồn nớc sông Pó Lù chảy vàohồ.

- Hồ Pé Lèng, hay còn gọi là hồ Một là hồ cuối cùng ở phía nam vùng hồ Ba Bể

Hồ nhận nớc của con sông Chợ Lèng “Lèng” có nghĩa là khỏe, hồ khỏe, có lẽnơi đây đã có những tác động mạnh mẽ của dòng nớc về mùa lũ Bởi theo ngờidân địa phơng thì đã có nhiều lần vào mùa lũ các dòng nớc đã tràn về rất mạnh,cuốn trôi về đây các vật liệu xâm thực, các cỏ rác cùng các thân cây và để lại ởvùng cuối hồ, dần dần bồi tụ thành dải đất rộng, nơi mà dân c đang sử dụng đểtrồng trọt các cây lơng thực Đứng ở bản Pác Ngòi ta có thể quan sát cả vùng đấtrộng này

Toàn bộ vùng hồ Ba Bể là một vùng nớc rộng mênh mông trải dài khoảng

8 km, với sức chứa khoảng vài triệu mét khối nớc Trên hồ có những chỗ thắt lại,hay phình ra và vô số các khe suối nhỏ luồn lách qua khe núi chảy xuống hồ.Chính sự hùng vĩ nguyên sơ này đã khiến cho nhiều ngời liên tởng Ba Bể nh mộtHạ Long trên núi Các vách đá vôi dựng đứng và các hang động kích cỡ đa dạngnằm rải rác trong khu vực lòng hồ là những nét độc đáo, gây ấn tợng nhất của

địa hình Ba Bể

ảnh: Hồ Ba Bể nhìn từ đảo Bà Goá và trờng tiểu học Nam Mẫu

Hồ Ba Bể là nơi c ngụ của rất nhiều loài động thực vật quí hiếm mang lạilợi ích kinh tế và nguồn dinh dỡng quan trọng cho bà con sinh sống trong vùng

hồ Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy có tới 87 loài cá sinh sống, trong

đó có nhiều loài quí hiếm nh cá rầm xanh, cá anh vũ và cá chép kính Ngày nào

ta cũng có thể chứng kiến cảnh ngời dân đánh bắt cá bằng những chiếc thuyền

độc mộc truyền thống Các tấm lới dài đợc thả rộng trên mặt hồ và đợc treo lơlửng bằng những chiếc phao làm từ những ống tre bản địa Lới bắt cá rất dài vàrộng nên khá nguy hiểm cho những ngời bơi lội trên hồ Vì thế khi bơi lội trên

hồ cần hết sức thận trọng, đặc biệt là những nơi giữa hồ Để bảo vệ nguồn lợithủy sản và đảm bảo mĩ quan, Vờn quốc gia đã qui định cấm sử dụng các chai n-

Trang 19

ớc làm phao lới đánh cá, cấm sử dụng các loại lới mắt nhỏ hơn 2 cm, cấm dùngxung điện, thuốc nổ để đánh bắt cá…Hồ cũng cha đợc khảo sát cụ thể về nguồnlợi thủy sản nhng theo những ngời dân ở đây thì cá trong hồ hoàn toàn tự nhiênkhông hề đợc nuôi thả và không thể đánh bắt hết đợc cá hồ bởi hồ rộng và sâu,lại thông với sông Năng và các dòng chảy khác Không kể các loài cá quí hiếmthì ngay cả các loại cá thờng cũng có những con đạt trọng lợng rất lớn Ví dụ

nh ngời dân đã từng bắt đợc một con cá mè hoa nặng tới 60 kg, hay bắt đợc rấtnhiều con cá có lẽ có tuổi đời khá cao bởi “chúng đều mọc râu cả” nh cách nóicủa ngời địa phơng

Mực nớc hồ Ba Bể thờng dâng lên rất cao vào mùa lũ lụt (khoảng tháng V

đến tháng IX) Khi đi bằng thuyền trên hồ ta có thể thấy mực nớc dâng cao hàngnăm vẫn còn để lại dấu vết trên những vách đá dựng đứng trên đoạn từ bến chính(bến phà Bắc) tới đảo An Mạ

do dòng họ Ma trụ trì Họ Ma dựng đền trên đảo để thờ cúng cội nguồn, tổ tiên

Đền rất thiêng, vị thế rất đẹp nên đền còn trở thành nơi tổ chức các lễ hội LồngTồng hàng năm Vào những ngày mùng một âm lịch hàng tháng, ngời dân địaphơng thờng lên đảo để thắp hơng cầu tài, cầu lộc và cầu cho gia đình đợc bình

an Rất tiếc do thời gian có hạn, nên đoàn thực địa không có điều kiện lên khảosát trực tiếp trên đảo mà chỉ ghi lại đợc một số hình ảnh về đảo An Mạ khi xuôithuyền trên hồ

Trang 20

ảnh: Đảo An Mạ ảnh: Thuyền độc mộc trên hồ

Điểm 11: Đảo Bà ( Đảo Bà Goá hay Pò Giả Mải)

Vợt qua đảo An Mạ không xa về phía nam, ta có thể nhìn thấy ngay đảo

Bà Góa nhỏ bé nằm giữa một vùng hồ Pé Lèng (hồ Một) rộng lớn, cách bến phàchính hồ Ba Bể khoảng 300 m Theo truyền thuyết đó là nơi xa kia Bà Góa đãsinh sống và đó cũng là cội nguồn của câu chuyện truyền thuyết để lí giải tại sao

có hồ Ba Bể ngày nay

Sau một ngày du thuyền trên sông Năng và trên hồ Ba Bể, đảo Bà là nơidừng chân để thởng ngoạn toàn bộ cảnh quan huyền ảo của hồ Ba Bể Nhất làkhi trời đã chuyển sang chiều, sơng mù dần xuất hiện bao trùm cả vùng hồ,khiến hồ càng thêm huyền ảo Ta có thể lên đảo và tìm hiểu các di tích lịch sử cótrên đảo vì tại đây có một bia đá lớn khắc toàn chữ nho mang niên hiệu Khải

Trang 21

Định ở ngay chân đảo là một bãi tắm lí tởng với làn nớc trong đợc che mát bởinhững bóng râm của các cây cổ thụ mọc trên đảo vơn thân cành ra mặt hồ Tuynhiên hồ cũng rất sâu, theo ngời dân thì chỉ cần ra khỏi bờ vài mét, độ sâu của

hồ có thể lên tới vài chục mét Trên đảo có nhiều khối đá nằm rải rác, hình thùrất đẹp có thể làm nơi ngồi nghỉ, ngắm cảnh xung quanh Đoàn thực địa cũngdành khoảng 1 giờ để nghỉ ngơi thật thoải mái trên đảo trớc khi quay lên bờ ởbến phà chính, kết thúc một ngày làm việc vất vả

Điểm 12: Bản Bó Lù, bản Pác Ngòi và động Na Phòng

Tuyến khảo sát trong ngày làm việc thứ hai là từ Trụ sở Vờn ra bến chính,dùng thuyền vợt qua hồ để đến bản Bó Lù, dọc theo sông Bó Lù đi lên bản CốcTộc vào buổi sáng Cũng do thời gian có hạn nên đoàn không thể tiếp tục hànhtrình đến bàn Tà Han, một bản của ngời H’Mông di c theo đạo Tin Lành, cáchbản Bó Lù khoảng 4 tiếng đi bộ

Lù Tại đây ta có thể nghỉ ngơi, ngủ đêm trong các nhà sàn truyền thống của

ng-ời Tày Qua đó ta có thể cảm nhận cuộc sống của ngng-ời dân địa phơng nơi đây Tacũng có thể có cơ hội xem những điệu múa, những bài hát truyền thống mạng

đậm nét văn hóa và thởng thức các món ăn truyền thống của dân tộc Tày

Trang 22

ảnh: Lên bản Cốc Tộc

ảnh: Lớp mẫu giáo ở bản Bó Lù và trờng tiểu học Nam Mẫu

Trên đờng đi ta còn gặp các trờng học ở tại đây để tìm hiểu sự phát triểncủa ngành giáo dục tại những vùng miền núi Tại bản Bó Lù có một lớp học mẫugiáo nằm ngay giữa bản, còn trên đờng tới bản Pác Ngòi ta còn gặp trờng tiểuhọc Nam Mẫu (Các trờng học này cùng với trờng học ở bản Cám đã đợc ghihình trong băng t liệu)

Trong hai bản ta có thể thấy bản Bó Lù có nhà cửa khang trang hơn vàdịch vụ du lịch, phục vụ khách tham quan rất đợc phát triển, trong khi bản CốcTộc, cuộc sống ngời dân ít thay đổi hơn cũng vẫn làm ruộng, nuôi lợn, dê, chèomảng chở hàng hóa, đi lại trên hồ Điểm chung giữa hai bản là ngời dân đã cónhững cải thiện đáng kể trong chất lợng cuộc sống Họ đã có mạng lới điện kéo

Trang 23

đến từng nhà, có đài cát sét, vô tuyến truyền hình, có xe máy…Theo tìm hiểu thìVờn quốc gia đã đầu t cho hệ thống điện - đờng - trờng - trạm ở các bản trong

địa phận Vờn Tại bản Bó Lù và bản Cốc Tộc, đoàn thực địa còn đợc nghe ngờidân địa phơng kể lại câu chuyện về ông Tài Ngào đã tạo nên Động Puông, thác

Đầu Đẳng, sông Bó Lù và động Na Phòng nh thế nào Địa danh Bó Lù theotruyền thuyết có nghĩa là Năm ngón tay, còn Cốc Tộc có nghĩa là gốc cây tộc –một loại cây có nhiều trong bản

Đi hết bản Pác Ngòi cũng là hết chặng đờng khảo sát trên bộ, đoàn thực

địa không cần quay lại bến chính để đi thuyền mà tiếp tục đi bộ, vợt qua cầutreo sắt Pác Ngòi để theo đờng bộ về bến chính Trên đoạn đờng về, đoàn đi qua

Trang 24

trạm kiểm lâm Pác Ngòi và có thể tiếp tục tìm hiểu các cảnh quan rừng hai bên

đờng

ảnh: Bản Pác Ngòi và cầu treo Pác Ngòi

Điểm 13: Cây sấu nghìn năm

Trên đờng từ bản Bó Lù đi về phía nam để đến bản Pác Ngòi, ở khoảngcách không xa lắm bản Bó Lù, ta có thể đi sâu vào trong rừng rậm khoảng vàitrăm mét để đến đợc với cây sấu nghìn năm tuổi Từ trên đờng nhựa ta rẽ phảixuống cánh rừng bên đờng, rừng ở đây rất rậm rạp, dới đất là các loại dây leo,cây bụi, chằng chịt, xen lẫn cả các loại cây bò dài trên mặt đất lẫn cùng các rễcây to nổi lên trên mặt đất Ngớc nhìn lên trên ta thấy các cây mọc thành nhiềutầng tán, các tán cây có chỗ gần nh khép kín cả bầu trời Đang trong thời tiếtnóng bức, bớc vào đây ta có cảm giác mát lạnh, thật dễ chịu khi đi dới tán lárừng Khi đến cây sấu nghìn năm ta thật sự choáng ngợp trớc kích thớc khổng lồcủa phần rễ cây và cũng khó có thể đoán đợc chính xác chiều cao của cây Câyvơn mình giữa cả một cánh rừng già nguyên sinh

ảnh: Đờng vào cây sấu nghìn năm

Trang 25

ảnh: Dới gốc cây sấu

ảnh: Thân cây sấu

Ra khỏi khu vực cây sấu nghìn năm, trên đờng đi tới bản Pác Ngòi ta còn

có thể thấy rất nhiều cây to, nhiều năm tuổi nh cây sấu 500 tuổi, cây nghiến, câylát, cây thung, cây trơng vân…Dọc hai bên đờng, một bên là núi, một bên là vựcsâu ta còn thấy có rất nhiều chuối rừng và các cây đu đủ mọc ven bờ vực, quả rấtnhiều nhng không thấy ai thu hoạch cả

ảnh: Cây Bò vạt

Bên cạnh các loài cây quí hiếm có bảng hiệu ghi tên còn có rất nhiều loàicây độc đáo mà ngay chính cả ngời dân địa phơng cũng không biết tên chính

Trang 26

xác là gì Tất cả đều thể hiện đây là một khu rừng già nguyên sinh với hệ thựcvật hết sức phong phú.

Ngày đăng: 04/03/2021, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Dợc – Trung Hải. Sổ tay Địa danh Việt Nam. NXB Giáo dục – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Dợc, Trung Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
2. Phùng Ngọc Đĩnh (chủ biên), Nguyễn Văn Âu – Phan Khánh – Hoàng Ngọc Oanh. Thực hành ngoài trời các thành phần tự nhiên (Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng s phạm). NXB Giáo dục – 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành ngoài trời các thành phần tự nhiên
Tác giả: Phùng Ngọc Đĩnh, Nguyễn Văn Âu, Phan Khánh, Hoàng Ngọc Oanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
4. Lê Thông ( chủ biên), Nguyễn Minh Tuệ – Nguyễn Văn Phú. Địa lí kinh tế – xã hội Việt Nam. NXB Giáo dục – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí kinh tế – xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Văn Phú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
5. Lê Thông ( chủ biên), Nguyễn Minh Tuệ – Nguyễn Văn Phú – Lê Huỳnh – Phí Công Việt. Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập hai Các tỉnh vùng Đông Bắc. NXB Giáo dục – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập hai Các tỉnh vùng Đông Bắc
Tác giả: Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Văn Phú, Lê Huỳnh, Phí Công Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Chơng trình đào tạo giáo viên THCS trình độ CĐSP, môn Địa lí. Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành theo Quyết định số 3086/GD-ĐT ngày 27/7/1996 và Quyết định số 3637/GD-ĐT ngày 30/8/1996 của Bộ trởng Bộ Giáo dục và đào tạo. Hà Nội 9-1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chơng trình đào tạo giáo viên THCS trình độ CĐSP, môn Địa lí
Nhà XB: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 1996
3. Vũ Tự Lập. Địa lí tự nhiên Việt Nam. NXB Giáo dục – 1999 Khác
7. Các tài liệu hớng dẫn du lịch do Ban quản lí du lịch Vờn quốc gia Ba Bể phát hành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w