Bài giảng Lý thuyết thống kê - Bài 7: Chỉ số giới thiệu về khái niệm, đặc điểm, tác dụng của chỉ số trong phân tích. Bên cạnh đó, nội dung của bài còn đề cập đến phương pháp tính một số loại chỉ số thông dụng và sử dụng phương pháp chỉ số để phân tích sự biến động của hiện tượng theo sự ảnh hưởng của các nhân tố. Sinh viên cần hiểu rõ được đặc trưng của phương pháp chỉ số cũng như mục đích sử dụng phương pháp chỉ số để phân tích cho hiện tượng nào, trong các điều kiện về thời gian hay không gian để vận dụng cho phù hợp.
Trang 1Bài 7: Chỉ số
Hướng dẫn học
Bài này giới thiệu về khái niệm, đặc điểm, tác dụng của chỉ số trong phân tích Bên cạnh
đó, nội dung của bài còn đề cập đến phương pháp tính một số loại chỉ số thông dụng và
sử dụng phương pháp chỉ số để phân tích sự biến động của hiện tượng theo sự ảnh hưởng của các nhân tố Sinh viên cần hiểu rõ được đặc trưng của phương pháp chỉ số cũng như mục đích sử dụng phương pháp chỉ số để phân tích cho hiện tượng nào, trong các điều kiện về thời gian hay không gian để vận dụng cho phù hợp
Để học tốt bài này,học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu: Giáo trình Lý thuyết Thống kê, PGS TS Trần Thị Kim Thu chủ biên, NXB Đại học KTQD
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Bài này sẽ giới thiệu những vấn đề chung về phương pháp chỉ số bao gồm: khái niệm, phân loại, đặc điểm và tác dụng của phương pháp chỉ số Trên cơ sở đó, nội dung của bài còn đề cập tới phương pháp tính hai loại chỉ số thông dụng hiện nay là chỉ số phát triển và chỉ số không gian nhằm cho thấy sự biến động của hiện tượng qua thời gian và qua không gian Một trong những tác dụng không thể không nhắc tới của phương pháp chỉ số là khả năng phân tích sự biến động của hiện tượng chung qua thời gian do ảnh hưởng bởi các nhân tố cấu thành Tác dụng này sẽ được làm rõ thông qua phương pháp phân tích hiện tượng bằng hệ thống chỉ số bao gồm ba mô hình cơ bản là: hệ thống chỉ số tổng hợp, hệ thống chỉ số của chỉ tiêu bình quân và hệ thống chỉ số của tổng lượng biến tiêu thức
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
Trình bày được khái niệm, đặc điểm và tác dụng của phương pháp chỉ số
Nhận diện được các loại chỉ số theo các tiêu thức phân loại khác nhau
Áp dụng được các công thức tính chỉ số cho các chỉ tiêu khác nhau với điều kiện tài liệu khác nhau trong thực tế
Vận dụng được các mô hình hệ thống chỉ số để phân tích sự biến động của hiện tượng
cụ thể do ảnh hưởng bởi các nhân tố cấu thành
Trang 2Bài 7: Chỉ số
Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động chung
Giám đốc doanh nghiệp nghi ngờ rằng có sự sai sót trong số liệu báo cáo của phòng lao động tiền lương Theo đó, số liệu thực tế về năng suất lao động của công nhân các phân xưởng nhìn chung không tăng, thậm chí có nhiều phân xưởng năng suất lao động của công nhân còn giảm xuống Thế nhưng, khi báo cáo tình hình chung của doanh nghiệp, số liệu của phòng lao động tiền lương lại cho thấy năng suất lao động bình quân của công nhân trong toàn doanh nghiệp tăng lên 5,4% - điều này có vẻ mâu thuẫn với thực tế Nếu bạn là nhân viên phòng lao động tiền lương và phải giải trình cho giám đốc về điều này bạn sẽ phải làm gì? Các số liệu về năng suất lao động của công nhân sẽ được bạn tổng hợp và phân tích để chứng minh được điều đó
1 Số liệu về năng suất lao động của công nhân trong toàn doanh nghiệp được bạn tổng hợp và tính toán như thế nào?
2 Mô hình hệ thống chỉ số nào là phù hợp nhất để sử dụng phân tích?
3 Kiến nghị nào có thể đưa ra đối với ban giám đốc nhằm cải thiện tình hình hiện tại?
Trang 3Bài 7: Chỉ số
Chỉ số trong thống kê là số tương đối phản ánh quan hệ so sánh giữa hai mức độ của
cùng một hiện tượng nghiên cứu Hai mức độ đó có thể khác nhau theo thời gian, theo không gian hoặc là một giá trị thực tế so với kế hoạch, (mục tiêu) Đơn vị tính của chỉ
Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau, chỉ số được chia thành các loại sau đây:
Theo phạm vi tính toán, ta có chỉ số đơn (hay chỉ số cá thể) và chỉ số tổng hợp (chỉ
số chung)
Chỉ số đơn phản ánh biến động của từng phần tử, từng đơn vị cá biệt
Chỉ số tổng hợp phản ánh biến động chung của các đơn vị, phần tử
Theo đặc điểm thiết lập quan hệ so sánh, ta có chỉ số phát triển, chỉ số không gian
và chỉ số kế hoạch (nhiệm vụ kế hoạch và thực hiện kế hoạch)
Chỉ số phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng ở hai
thời gian khác nhau
Chỉ số không gian phản ánh quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng ở hai
không gian khác nhau
Chỉ số kế hoạch phản ánh quan hệ so sánh giữa các mức độ thực tế và kế hoạch
của chỉ tiêu nghiên cứu
Theo nội dung của chỉ tiêu nghiên cứu, ta có chỉ số của chỉ tiêu số (khối) lượng và chỉ số của chỉ tiêu chất lượng
Chỉ số của chỉ tiêu chất lượng phản ánh biến động của một chỉ tiêu chất lượng nào
đó như: giá bán, giá thành, năng suất lao động
Chỉ số của chỉ tiêu số lượng phản ánh biến động của một chỉ tiêu số lượng nào đó
như: lượng hàng hóa tiêu thụ, sản lượng, quy mô lao động
Phương pháp chỉ số có hai đặc điểm sau:
Thứ nhất, khi so sánh các mức độ của một hiện tượng gồm nhiều đơn vị hay phần tử
có tính chất khác nhau, trước hết phải chuyển chúng về dạng giống nhau để có thể trực tiếp cộng được với nhau, dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa nhân tố nghiên cứu với các nhân tố khác
Thứ hai, khi có nhiều nhân tố tham gia vào việc tính toán chỉ số, việc phân tích biến
động của một nhân tố được đặt trong điều kiện giả định các nhân tố khác không thay đổi và giữ vai trò quyền số
Trang 4Bài 7: Chỉ số
Phương pháp chỉ số có nhiều tác dụng trong đời sống kinh tế xã hội Cụ thể:
Phản ánh biến động của hiện tượng theo thời gian
Phản ánh biến động của hiện tượng qua các không gian khác nhau
Phản ánh nhiệm vụ kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch đối với các chỉ tiêu
nghiên cứu
Phân tích vai trò và ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với biến động
chung của hiện tượng nghiên cứu
7.2 Phương pháp tính chỉ số
7.2.1 Chỉ số phát triển
Chỉ số phát triển là số tương đối phản ánh quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện
tượng nghiên cứu ở hai thời gian khác nhau
Ví dụ sau đây minh họa cho phương pháp luận thiết lập và phân tích chỉ số thống kê
Ví dụ 1 Có tài liệu về tình hình tiêu thụ 3 mặt hàng của doanh nghiệp X như sau:
q - Lượng hàng hóa tiêu thụ
D = ∑pq - Doanh thu trong kỳ
i - Chỉ số đơn
I - Chỉ số tổng hợp Theo ví dụ trên, chúng ta tính các loại chỉ số sau đây:
7.2.1.1 Chỉ số đơn
Chỉ số đơn của chỉ tiêu chất lượng (lấy giá bán p làm ví dụ)
Công thức tính:
1 p 0
pip
Với ví dụ 1, kết quả tính chỉ số đơn về giá như sau:
Chỉ số đơn về giá Mặt hàng A Mặt hàng B Mặt hàng C
Trang 5Với ví dụ 1, kết quả tính chỉ số đơn về lượng hàng hóa tiêu thụ như sau:
Chỉ số đơn về lượng hàng hóa tiêu thụ
Mặt hàng A Mặt hàng B Mặt hàng C
Như vậy qua hai kỳ, lượng tiêu thụ của mặt hàng A và B tăng lên lần lượt là 0,1 lần (hay 10%) và 0,191 lần (hay 19,1%), còn lượng tiêu thụ mặt hàng C giảm 0,231 lần (hay 23,1%)
7.2.1.2 Chỉ số tổng hợp
Chỉ số tổng hợp của chỉ tiêu chất lượng (lấy giá p làm ví dụ)
Chỉ số tổng hợp phản ánh biến động chung của nhiều đơn vị hoặc phần tử cá biệt
Ta không thể tính chỉ số tổng hợp bằng công thức trung bình cộng giản đơn của các chỉ số cá thể, điều này là không có ý nghĩa vì bản thân các chỉ số đơn là số tương đối khác gốc so sánh Mặt khác, khi tính bình quân cộng giản đơn cũng sẽ
bỏ qua vai trò quyền số của các nhân tố còn lại trong mối liên hệ với nhân tố cần nghiên cứu Vì vậy, chỉ số tổng hợp của chỉ tiêu chất lượng (lấy giá bán làm ví dụ)
có thể khắc phục được những hạn chế trên của chỉ số đơn và được tính theo công thức sau:
1 p
0
p qI
p q
Trong đó: q giữ vai trò quyền số
Tùy điều kiện cụ thể, với quyền số cố định ở các thời gian khác nhau mà chỉ số tổng hợp về giá được chia thành các loại sau:
o Chỉ số tổng hợp về giá của Laspeyres (quyền số cố định ở kỳ gốc)
Công thức tính:
1 0 L
p
0 0
p qI
p
0 0
p qI
Trang 6L p
p q i p qI
Nếu đặt 0 0 0
0 0
p qd
p
0 1
p qI
p
0 1
p qI
Trong trường hợp dữ liệu đã xác định được chỉ số đơn về giá và doanh thu (D) của từng mặt hàng ở kỳ nghiên cứu thì chỉ số tổng hợp về giá của Paasche được tính theo công thức sau:
P p
1 1
0 1
p
p q p qI
Nếu đặt 1 1
1
1 1
p qd
p q
thì chỉ số tổng hợp về giá của Paasche được xác định
như sau:
Trang 7Bài 7: Chỉ số
P p
1 p
1I
di
o Chỉ số tổng hợp về giá của Fisher là trung bình nhân của hai chỉ số tổng hợp
về giá của Laspeyres và Paasche
0
pqI
pq
Trong đó: p giữ vai trò quyền số
Tùy theo điều kiện cụ thể, với quyền số cố định ở các thời gian khác nhau mà chỉ
số tổng hợp về lượng được chia thành các loại sau:
o Chỉ số tổng hợp về lượng của Laspeyres (quyền số cố định ở kỳ gốc)
Công thức tính:
0 1 L
q
0 0
p qI
q
0 0
p qI
Trong trường hợp dữ liệu đã xác định được chỉ số đơn về lượng và doanh thu (D) của từng mặt hàng ở kỳ gốc thì chỉ số tổng hợp về lượng của Laspeyres được tính theo công thức sau:
Trang 8Bài 7: Chỉ số
L q
p q i p qI
Nếu đặt 0 0
0
0 0
p qd
q
1 0
p qI
p q
Với ví dụ 1, chỉ số tổng hợp về lượng của Paasche phản ánh biến động chung
về lượng tiêu thụ 3 mặt hàng được xác định như sau:
1 1 P
q
1 0
p qI
Trong trường hợp dữ liệu đã xác định được chỉ số đơn về lượng và mức doanh thu (D) của từng mặt hàng ở kỳ nghiên cứu thì chỉ số tổng hợp về lượng của Paasche được tính theo công thức sau:
P q
1 1
1 0
q
p q p qI
Nếu đặt 1 1
1
1 1
p qd
1 q
1I
di
Trang 9o Chỉ số tổng hợp về lượng của Fisher là trung bình nhân của hai chỉ số tổng hợp về lượng của Laspeyres và Paasche
hàng (triệu đồng/ sản Giá bán
phẩm)
Lượng hàng hóa tiêu thụ (sản phẩm)
Giá bán (triệu đồng/ sản phẩm)
Lượng hàng hóa tiêu thụ (sản
B
Pi
Trang 10Bài 7: Chỉ số
Chỉ số đơn của chỉ tiêu số lượng (lấy lượng tiêu thụ q làm ví dụ)
Công thức tính:
A q(A / B)
B
qi
B
p QI
p Q
hoặc p(B/ A) B
p(A / B) A
Trong đó, chọn quyền số Q = qA + qB là lượng hàng hóa tiêu thụ của từng mặt hàng
ở cả hai thị trường A và B để đảm bảo tính đồng nhất
Theo ví dụ 2, chỉ số tổng hợp phản ánh biến động về giá bán các mặt hàng giữa hai thị trường A và B được tính như sau:
A p(A / B)
B
p Q 130 (95 105) 180 (115 100)I
Chỉ số tổng hợp của chỉ tiêu số lượng (lấy lượng hàng hóa tiêu thụ làm ví dụ)
Công thức tính:
A q(A / B)
B
pqI
n B
p qI
Trang 11pqI
pq
hoặc q(B/ A) B
q(A / B) A
I
Ipq
B
pq 140,50 95 184,65 115I
140,50 105 184,65 100pq
lần (hay 104,1%) Như vậy, lượng tiêu thụ các mặt hàng thị trường A nhiều hơn thị trường B là 4,1%
7.3 Hệ thống chỉ số
Hệ thống chỉ số là một dãy các chỉ số có liên hệ với nhau, tạo thành một phương trình cân bằng Cấu thành của một hệ thống chỉ số thường bao gồm:
Chỉ số toàn bộ phản ánh sự biến động của hiện tượng chung được cấu thành bởi nhiều nhân tố
Các chỉ số bộ phận (nhân tố) phản ánh biến động của từng nhân tố và mức ảnh hưởng của
nó tới hiện tượng chung Các chỉ số bộ phận thường có quan hệ tích số với nhau
Ví dụ: Doanh thu (D) = ∑pq khi đó ta có ID = Ip × Iq
Chỉ số vế trái là chỉ số toàn bộ, vế phải là các chỉ số bộ phận
Tác dụng của hệ thống chỉ số được xem xét trên hai khía cạnh sau:
Phân tích vai trò và mức ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành hiện tượng chung Mức ảnh hưởng của từng nhân tố có thể được biểu hiện bằng số tương đối hoặc số tuyệt đối
Tính ra chỉ số chưa biết khi đã biết các chỉ số còn lại trong hệ thống
7.3.2 Phương pháp xây dựng
7.3.2.1 Hệ thống chỉ số tổng hợp
Cơ sở hình thành: Xuất phát từ mối liên hệ thực tế của các chỉ tiêu, biểu hiện bằng
các công thức hoặc phương trình kinh tế
Trang 12Bài 7: Chỉ số
Quy tắc xây dựng:
Khi phân tích sự biến động của hiện tượng chung được cấu thành bởi nhiểu nhân tố thì
trước hết phải sắp xếp các nhân tố theo trình tự nhân tố chất lượng xếp trước, nhân tố
số lượng xếp sau theo thứ tự tính chất lượng giảm dần, tính số lượng tăng dần
Để đảm bảo ý nghĩa thực tế trong phân tích thì khi phân tích biến động của chỉ
tiêu chất lượng sử dụng quyền số kỳ nghiên cứu còn khi phân tích sự biến động của của chỉ tiêu số lượng sử dụng quyền số kỳ gốc
Phương pháp phân tích:
Giả sử có chỉ tiêu T = Σxf
Trong đó: x là chỉ tiêu chất lượng
f là chỉ tiêu số lượng Khi đó ta có hệ thống chỉ số phân tích biến động của T do ảnh hưởng bởi x và f như sau:
Trên cơ sở kết quả tính toán cụ thể đó để đánh giá chung sự biến động của chỉ tiêu
T do ảnh hưởng lần lượt bởi các nhân tố x và f
Trở lại ví dụ 1, để phục vụ cho việc phân tích biến động của doanh thu do ảnh hưởng bởi giá và lượng, ta lập bảng tính như sau:
p 0 q 0
(triệu đồng)
p 0 q 1
(triệu đồng)
Trang 13Bài 7: Chỉ số
Phân tích bằng số tương đối:
1,002 = 0,977 × 1,025 100,2% = 97,7% × 102,5%
Tăng (giảm): (+0,2%) (2,3%) (+2,5%)
Phân tích bằng số tuyệt đối:
79550 79400 = (79550 81400) + (81400 79400)
150 = 1850 + 2000 (triệu đồng) Kết quả tính toán cho thấy, tổng doanh thu kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc tăng 0,2%, tương ứng tăng 150 triệu là do ảnh hưởng bởi 2 nhân tố:
o Do biến động chung về giá bán từng mặt hàng giảm 2,3% làm cho tổng doanh thu giảm 1850 triệu đồng
o Do biến động chung lượng tiêu thụ từng mặt hàng tăng 2,5% làm cho tổng doanh thu tăng 2000 triệu đồng
7.3.2.2 Hệ thống chỉ số của chỉ tiêu bình quân
Ta biết số bình quân cộng gia quyền được tính theo công thức:
i i i
x
x =
1 01
x
x 01
0
x
Phân tích bằng số tương đối:
x
I = Ix × Id f
Trang 14Ví dụ 3 Có số liệu thống kê sau đây của một doanh nghiệp:
NSLĐ (sản phẩm/người) Số lao động (người)
1
w L 11200
80L
0 0 0
0
w L 8000
50L
0 1 01
1
w L 10000
80L
Thay số vào hệ thống chỉ số trên, ta có:
140 140 125
160 125 160
Phân tích bằng số tương đối:
Trang 15o Do biến động chung về năng suất lao động từng phân xưởng tăng 12% làm cho năng suất lao động bình quân chung tăng 15 sản phẩm/người
o Do kết cấu lao động thay đổi làm cho năng suất lao động bình quân chung giảm 35 sản phẩm/người
7.3.2.3 Hệ thống chỉ số của tổng lượng biến
Chỉ tiêu tổng lượng biến (hay tổng lượng biến tiêu thức) là chỉ tiêu tổng hợp được cấu thành từ các chỉ tiêu thành phần Trong thực tế chúng ta gặp nhiều chỉ tiêu dạng này, chẳng hạn chỉ tiêu tổng sản lượng, tổng giá trị sản xuất, tổng chi phí sản xuất Nhân
tố ảnh hưởng đến tổng lượng biến có thể biểu diễn dưới dạng khái quát như sau:
T = x f (1)i i xf (2)iTrong đó xi là lượng biến với fi là số đơn vị (tần số) tương ứng
Tùy theo mục đích mà chỉ tiêu được phân tích theo phương trình (1) hoặc (2), khi đó
ta có mô hình hệ thống chỉ số tương ứng, cụ thể:
Mô hình 1: Phân tích sự biến động của T do ảnh hưởng bởi bản thân các lượng
biến xi và tần số tương ứng fi (phân tích cho phương trình 1)
Mô hình 2: Phân tích sự biến động của T do ảnh hưởng bởi chỉ tiêu bình quân
chung và tổng số đơn vị của tổng thể (tổng tần số) (phân tích cho phương trình 2)
Trang 16Bài 7: Chỉ số
o Phân tích bằng số tương đối:
Ixf Ix IfTăng (giảm) (Ixf 100) (Ix100) ( If 100) (%)
o Phân tích bằng số tuyệt đối:
x1f1x0f0 x1f1x0f1 x0f1x0f0 (7.31) Hay: x f (x)x f (xf )f
Trên cơ sở kết quả tính toán cụ thể đó để đánh giá chung sự biến động của chỉ tiêu
T do ảnh hưởng lần lượt bởi các nhân tố cấu thành
Mô hình 3: Phân tích sự biến động của T do ảnh hưởng bởi bản thân các lượng
biến xi, kết cấu của các đơn vị trong tổng thể và và tổng số đơn vị của tổng thể (tổng tần số) (phân tích kết hợp giữa phương trình 2 và hệ thống chỉ số của chỉ tiêu bình quân)
Trên cơ sở kết quả tính toán cụ thể đó để đánh giá chung sự biến động của chỉ tiêu
T do ảnh hưởng lần lượt bởi các nhân tố cấu thành
Trở lại ví dụ 3, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến biến động tổng sản phẩm toàn doanh nghiệp kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc
Phương trình kinh tế phản ánh quan hệ giữa chỉ tiêu tổng lượng biến là tổng sản phẩm toàn doanh nghiệp với các nhân tố là:
T = ∑wiLi (1) = w ∑Li (2)
Từ đó ta có ba hệ thống chỉ số như sau:
Phân tích biến động tổng sản lượng kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc do ảnh hưởng bởi hai
nhân tố: năng suất lao động từng phân xưởng và số lao động từng phân xưởng
IT = Iw IL