1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty TNHH MTV Dịch vụ khảo sát và Công trình ngầm PTSC GvàS

124 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty TNHH MTV Dịch vụ khảo sát và Công trình ngầm PTSC GvàS Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty TNHH MTV Dịch vụ khảo sát và Công trình ngầm PTSC GvàS luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 2

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN DANH NGUYÊN

Hà Nội – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát

biển của Công ty TNHH MTV Dịch vụ Khảo sát và Công trình ngầm PTSC (PTSC G&S)” đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của

Thầy giáo TS Nguyễn Danh Nguyên

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Phạm Xuân Nhân

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 4

KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 4

1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 4

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh của doanh nghiệp 4

1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh (NLCT) của Doanh nghiệp 5

1.1.3 Phân loại cạnh tranh 7

1.1.4 Các công cụ cơ bản của cạnh tranh 8

1.1.5 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp 9

1.2 Vai trò của cạnh tranh 11

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 13

1.3.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp: 14

1.3.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 20

1.4 Các công cụ phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 27

1.4.1 Mô hình phân tích năm áp lực của Michael E Porter 27

1.4.2 Mô hình PEST 31

1.4.3 Mô hình phân tích SWOT 33

1.5 Một số kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp 35

CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ KHẢO SÁT BIỂN CỦA CÔNG TY PTSC G&S 42

2.1 Giới thiệu về Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam và Công ty TNHH MTV Dịch vụ Khảo sát và Công trình ngầm PTSC 42

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển 42 2.1.2 Vị trí của Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam

Trang 5

ngầm PTSC (PTSC G&S) 44

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011-2014 48

2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty PTSC G&S trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ khảo sát biển 50

2.2.1 Phân tích các yếu tố bên trong: 50

2.2.2 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty PTSC G&S trong lĩnh vực khảo sát biển 68

2.2.3 Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ khảo sát biển của PTSC G&S 92

CHƯƠNG 3CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KHẢO SÁT BIỂN CỦA CÔNG TY PTSC G&S TRONG GIAI ĐOẠN 2015-2020 98

3.1 Định hướng phát triển dịch vụ khảo sát biển Công ty PTSC G&S trong giai đoạn 2015-2020 98

3.1.1 Mục tiêu chung 98

3.1.2 Mục tiêu cụ thể: 98

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực khảo sát biển của Công ty PTSC G&S giai đoạn 2015-2020 100

3.2.1 Giải pháp Marketing và phát triển thị trường 100

3.2.2 Giải pháp hợp tác, đầu tư phương tiện, thiết bị : 103

3.2.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 107

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

1 Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Tập đoàn

2 Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam Tổng Công ty

6 Thiết bị lặn biển điều khiển từ xa (Remotely Operated

7 Loại hình công ty điều hành khai thác (Production

8

Công ty điều hành chung được thành lập dựa trên hợp

đồngđiều hành chung giữa Tập đoàn và công ty dầu khí

nước ngoài (Joint Operating Company)

JOC

9

Loại hình công ty thành lập dựa trên hợp đồng hợp tác phân

chia sản phẩm giữa Tập đoàn và công ty dầu khí nước ngoài

(Production Sharing Contract)

PSC

12 Hiệp hội nhà xây dựng hàng hải quốc tế(International

14 Tàu chứa xử lý và xuất dầu thô(Floating Production Storage

Trang 7

Bảng 1.1 Ma trận SWOT 34

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011-2014 48

Bảng 2 2 Danh sách tàu khảo sát địa chấn 2D, 3D 50

52

Bảng 2.4 Đặc tính kỹ thuật của tàu khảo sát ĐVL PTSC Researcher 56

Bảng 2.5 Đặc tính kỹ thuật của tàu khảo sát ĐCCT PTSC Surveyror 60

Bảng 2.6 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của 66

Bảng 2.7 Dự báo kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2015-2018 69

Bảng 2 8 Nhu cầu thu nổ địa chấn và khoan thăm dò thẩm lượng trong nước 79

Bảng 2.9 Danh sách khách hàng chính Công ty PTSC G&S 80

Bảng 2.10 Năng lực thực hiện dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh của PTSC G&S 85 Bảng 2.11 Tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của của dịch vụ khảo sát biển tại PTSC G&S 93

Bảng 3.1 Kế hoạch đầu tư phương tiện, thiết bị phục vụ khảo sát ĐVL&ĐCCT 106

Trang 8

Hình 1 1 Mô hình năm áp lực của Micheal E Porter 28

Hình 1.2 Mô hình phân tích SWOT 33

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Công ty PTSC G&S 46

Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện doanh thu dịch vụ sản xuất kinh doanh và tỷ trọng của doanh thu dịch vụ khảo sát biển trong giai đoạn 2011-2014 của PTSC G&S 49

Hình 2.3 Tàu khảo sát địa chấn 2D Bình Minh 02 52

Hình 2.4 Tàu khảo sát ĐVL PTSC Researcher 55

Hình 2 5 Tàu khảo sát ĐCCT PTSC Surveyor 60

Hình 2.6 Cơ cấu lao động theo trình độ 63

Hình 2.7 Bản đồ phân lô dầu khí Việt Nam 78

Hình 2.8 Thị phần cung cấp dịch vụ khảo sát ĐCCT&ĐVL 84

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn:

Trong điều kiện hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới như hiện nay, để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty, Tập đoàn xuyên quốc gia Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau và không ngừng phát triển để giành được những ưu thế tương đối so với các đối thủ Do vậy, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Công ty TNHH MTV Dịch vụ Khảo sát và Công trình ngầm (PTSC G&S) là đơn vị thành viên của Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) được thành lập vào năm 2010 trên cơ sở sáp nhập bộ phận khảo sát của Công ty Tàu Dịch vụ Dầu khí PTSC và bộ phận khảo sát công trình ngầm ROV của Công ty Dịch vụ Khai thác Dầu khí PTSC Việc thành lập Công ty chuyên cung cấp dịch vụ khảo sát và công trình ngầm giúp Tổng Công ty PTSC phát triển nhanh, mạnh và có chiều sâu đối với loại hình dịch vụ dịch vụ khảo sát biển, nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ, cũng như tính cạnh tranh trên thị trường Kể từ khi thành lập, Công ty PTSC G&S luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao và chiếm lĩnh hầu hết thị trường khảo sát biển tại Việt Nam và dần khẳng định năng lực, uy tín của Công ty đối với thị trường khu vực Tuy nhiên, cùng với sự mở cửa của nền kinh tế Việt Nam, thời gian gần đây một số Công ty khảo sát trong khu vực

có thế mạnh trong việc sở hữu các tàu và trang thiết bị khảo sát hiện đại, có kỹ thuật cao đã tìm mọi cáchđể được vào cung cấp dịch vụ khảo sát tại thị trường Việt Nam Việc này đưa PTSC G&S đứng trước áp lực cạnh tranh rất lớn và gây khó khăn cho PTSC G&S trong việc giữ vững và phát triển thị phần dịch vụ khảo sát tại Việt Nam

Xuất phát từ thực trạng này, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty TNHH MTV Dịch vụ Khảo sát và Công trình ngầm PTSC (PTSC G&S)” với mong muốn trên cơ sở những phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty sẽ đưa ra

Trang 11

các giải pháp hiệu quả để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, giữ vững, phát triển thị phần tại thị trường Việt Nam, mở rộng cung cấp dịch vụ tại thị trường nước ngoài phù hợp với chiến lược phát triển của Tổng Công ty PTSC đến năm 2015, định hướng đến năm 2025

2 Mục tiêu của luận văn

Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, phân tích thực tiễn và xu hướng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam nói chung và Công

ty PTSC G&S nói riêng, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty PTSC G&S trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực khảo sát biển của Công ty PTSC G&S nhằm giữ vững vị thế tại thị trường trong nước, phấn đấu mở rộng ra thị trường khu vực

3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty PTSC G&S

- Phạm vi nghiên cứu: Lĩnh vực hoạt động của Công ty PTSC G&S khá rộng, chuyên cung cấp các dịch vụ khảo sát như khảo sát địa chấn biển, khảo sát địa vât lý biển, khảo sát đia chất công trình biển, khảo sát công trình ngầm bằng ROV, Trong phạm vi đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu chủ yếu về năng lực cạnh tranh của Công ty PTSC G&S đối với nhóm các dịch vụ khảo sát biển (địa chấn biển, địa vât lý biển, đia chất công trình biển)

- Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung phân tích hoạt động kinh doanh của Công ty PTSC G&S kể từ thời điểm thành lập 9/9/2010 đến nay và đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh dịch vụ khảo sát biển của Công ty PTSC G&S trong giai đoạn 2015 - 2020

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thu thập số liệu, thông tin từ nguồn thông tin thứ cấp, phân tích tổng hợp các báo cáo của Công ty PTSC G&S kết hợp với tham khảo thông tin từ sách, báo, internet và phương pháp xử lý dữ liệu thu được thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu, phương pháp thống kê, phương pháp so

Trang 12

sánh, dự báo Bên cạnh đó, Luận văn sử dụng các công cụ phân tích môi trường kinh doanh để thấy được cơ hội cũng như thách thức đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp không bị động, phản ứng linh hoạt với sư thay đổi của môi trường, tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức để có thể phát triển bền vững

5 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ khảo sát biển của Công ty PTSC G&S

Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranhtrong lĩnh vực khảo sát biển của Công ty PTSC G&S trong giai đoạn 2015-2020

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá và

là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trườn Tuy nhiên do cách tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh:

Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển cho rằng cạnh tranh là quá trình

bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình

Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành

không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực hiện lợi ích kinh

tế và mục tiêu đã định của bản thân Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh

tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận Áp lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại tất sẽ

bị đào thải

Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh được xem là sự

ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất

Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay đổi

Trang 14

mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp

vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăng doanh lợi

Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hoá giá trị hàng hoá thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, Ông cũng đã

đề cập cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu của hàng hoá Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung

Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường

1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh (NLCT) của Doanh nghiệp

Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế(OECD):Năng lực cạnh tranh là khả

năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng

của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ

Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp

có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Poter: Năng lực cạnh tranh của công ty

có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay

Trang 15

sản phẩm thay thế) của công ty đó Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế

Theo Humbert Lesca: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp

Hoặc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn được định nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất

Những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải

có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng hiện nay các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh

Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì không chỉ đơn thuần đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà điều quan trọng là phải đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế

Trang 16

này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể

là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác

Tóm lại:Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, thực lực của doanh

nghiệp trong việc cạnh tranh, giành giật và chiếm lĩnh thị trường trong môi trường cạnh tranh và điều kiện kinh tế quốc tế

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp biểu hiện bằng các yếu tố chính bản thân doanh nghiệp như: nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, thương hiệu, nhãn hiệu, trình độ tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh, hoạt động nghiên cứu thị trường và Marketing, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp

1.1.3 Phân loại cạnh tranh

Theo các tác giả Micheal Porter, Phiilip Kotler, Lê Thế Giới, Nguyễn Văn Nghiến, cạnh tranh có thể được phân loại thành nhiều hình thức khác nhau tùy theo nhiều tiêu chí khác nhau:

(i) Căn cứ vào phạm vi hoạt động ngành kinh tế:

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của một loại sản phẩm, dịch vụ

- Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau

(ii) Căn cứ vào tính pháp lý của cạnh tranh: gồm có hai loại cạnh tranh hợp pháp và cạnh tranh bất hợp pháp

(iii) Căn cứ vào tính chất, mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế:

- Cạnh tranh tự do: cạnh tranh trong một thị trường hoàn toàn tự do, không có

sự điều tiết của Nhà nước và pháp luật;

- Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước: cạnh tranh được định hướng, được bảo vệ và giới hạn bởi các thể chế, chính sách và pháp luật

Trang 17

(iv) Căn cứ vào mục đích, phương thức cạnh tranh: cạnh tranh được phân loại thành hai loại: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

(v) Căn cứ theo chiến lược cạnh tranh: cạnh tranh trực diện và cạnh tranh không trực diện

(vi) Căn cứ vào hình thái cạnh tranh:

- Cạnh tranh hoàn hảo: cạnh tranh tự do, nhiều doanh nghiệp với quy mô khác nhau tham gia thị trường với sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất, quy cách, chủng loại, mẫu mã

- Cạnh tranh không hoàn hảo: độc quyền sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tập trung vào một hay một vài tập đoàn thống trị như lĩnh vực ôtô, thiết bị viễn thông,…

(vii) Căn cứ vào phạm vi địa lý:

- Cạnh tranh trên phạm vi từng quốc gia

- Cạnh tranh trên phạm vi quốc tế

1.1.4 Các công cụ cơ bản của cạnh tranh

Kinh doanh không thể tránh khỏi sự cạnh tranh mà bản chất của cạnh tranh trong kinh doanh là phải tạo ra được ưu thế so với các đối thủ Do vậy các doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc, lựa chọn và áp dụng khéo léo các công cụ cạnh tranh Có các công cụ cạnh tranh sau:

Cạnh tranh thông qua giá cả:Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh

tế quốc tế, các doanh nghiệp đều cố gắng đưa ra một mức giá thấp hơn so với giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm “kéo” khách hàng, từ đó tiêu thụ được nhiều hàng hóa hơn, nắm giữ được thị phần lớn hơn Tuy nhiên để có thể theo đuổi được chiến lược cạnh tranh này phải là những doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh nội tại hay khả năng làm chủ chi phí dựa vào tính kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả hoạt động, liên kết theo ngành dọc

Cạnh tranh thông qua sản phẩm:Khi mức sống được nâng cao thì cạnh tranh bằng giá cả không còn hiệu quả mà chất lượng sản phẩm mới là mấu chốt Hơn nữa với thực tế khoa học, công nghệ và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ cũng như sự lớn

Trang 18

mạnh và bành trướng của các tập đoàn, công ty đa quốc gia thì cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm càng trở nên khốc liệt

Hình thức cạnh tranh qua sản phẩm có thể tận dụng tối đa lợi thế cạnh bên ngoài như: tính độc đáo, mẫu mã, mức độ hoàn thiện của sản phẩm,…

Cạnh tranh thông qua mạng lưới kênh phân phối:Để có được uy tín, lòng tin của khách hàng cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhanh nhất thì việc thiết lập màng lưới kênh phân phối hợp lý, hiệu quả sẽ là một “chất xúc tác” cạnh tranh cho doanh nghiệp

Cạnh tranh thông qua hoạt động xúc tiến quảng cáo:Quảng cáo là nghệ thuật thu hút khách hàng, là công cụ để giới thiệu, quảng bá rộng rãi sản phẩm giúp doanh nghiệp nâng cao năng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh thông qua dịch vụ bán hàng:Đây được xem là phương thức cạnh tranh đang được sử dụng phổ biến nhất và hiệu quả nhất trên thị trường quốc tế Tùy loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn thời điểm thực hiện công việc này: trước, trong và sau khi bán hàng

1.1.5 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang thúc đẩy mạnh mẽ, sâu sắc quá trình chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế, lực lượng sản xuất lớn mạnh đang được quốc tế hoá Công nghệ thông tin làm cho nền kinh tế thế giới gắn bó, ràng buộc lẫn nhau dẫn tới không một quốc gia nào, một nền kinh tế, dân tộc nào muốn phát triển mà có thể tách rời khỏi hệ thống kinh tế thế giới, không hoà nhập vào sự vận động chung của nền kinh tế thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của nước mình với kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế song phương và đa phương, chấp nhận tuân thủ những quy định chung được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên của tổ chức Trong quá trình hội nhập, các nước tham gia đều phải tuân theo những luật chơi chung khá phức tạp được thể hiện trong nhiều điều ước quốc tế:

Một là: Khái niệm thương mại đã được mở rộng, không chỉ gồm thương mại

các hàng hoá và dịch vụ thông thường mà còn bao gồm cả các lĩnh vực đầu tư bản

Trang 19

quyền, tư vấn, sở hữu trí tuệ Nói cách khác các hàng hoá được buôn bán hiện nay không chỉ bao gồm phần cứng mà còn cả phần mềm, trong đó phần mềm ngày càng quan trọng hơn

Hai là: Khi gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, các quốc gia đều phải giảm

thiểu, thậm chí xoá bỏ hàng rào thuế quan Ví dụ trong khuôn khổ AFTA, các nước thành viên cam kết cắt giảm thuế quan xuống mức từ 0 đến 5% theo một lộ trình nhất định Trong khuôn khổ WTO các nước công nghiệp phát triển phải giảm thuếxuất nhập khẩu hàng công nghiệp xuống 3 đến 4%, hàng nông sản chỉ còn 6% Các nước đang phát triển được duy trì mức thuế suất cao hơn, khoảng 10 đến 12%

Ba là: Giảm dần tiến tới xoá bỏ hàng rào phi thuế quan Chỉ được áp dụng một

số biện pháp hạn chế để bảo vệ môi trường, vệ sinh, bản sắc văn hoá, an ninh Ngày nay, khi chất xám chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong sản phẩm, việc bảo hộ bản quyền sở hữu trí tuệ, nhãn mác sản phẩm được quy định rất chặt chẽ

Bốn là: Nhà Nước không được bao cấp cho doanh nghiệp, chỉ đối với nông sản

thì được phép bao cấp ở một số khâu hỗ trợ sản xuất

Năm là: Mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh,

tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp trong và ngoài nước Hệ thống luật pháp

về kinh tế - thương mại phải rõ ràng công khai

Sáu là: Các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế

hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường được hưởng một số ưu đãi về cam kết và thời gian thực hiện

Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và sự phát triển của doanh nghiệp có sự tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau:

- Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp phát triển và hội nhập Nó

sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển của doanh nghiệp bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của doanh nghiệp Nó còn giúp doanh nghiệp hội nhập kinh tế thuận lợi cả về chiều rộng và chiều sâu một cách chủ động

- Khi doanh nghiệp đứng vững và phát triển sẽ tạo điều kiện ngược lại để doanh nghiệp nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình Bởi những thành tựu

Trang 20

của sự phát triển sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội kinh doanh, có đủ khả năng về nguồn lực để tiếp cận những tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ mới, về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh

Trong giai đoạn hiện nay vấn đề có tính chất quyết định là mỗi doanh nghiệp phải luôn phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để sẵn sàng nắm lấy cơ hội và đủ khả năng đối mặt với các thách thức trong quá trình hội nhập để tồn tại và phát triển bền vững

1.2 Vai trò của cạnh tranh

Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường quốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm của mình và từ đó

có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận

Khi sản xuất kinh doanh một hàng hoá nào đó, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được, được xác định như sau:

Pr = P.Q - C.Q

Trong đó: + Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp

+ P: Giá bán hàng hoá

+ Q: Lượng hàng hoá bán được + C: Chi phí một đơn vị hàng hoá

Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như: tăng giá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những việc này doanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và tốn ít chi phí nhất Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những chiến lược Marketing thích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt được

Trang 21

sự có mặt của những hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch

Bên cạnh đó, cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nước Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nước được phát triển, năng suất lao động được nâng cao Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có chất lượng tốt, giá rẻ

Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắt hơn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế Hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo

ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và giá thành

Để đạt được điều này các doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước mình để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa

Trang 22

học công nghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực sẽ được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nước sẽ không ngừng được cải thiện

Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội Cạnh tranh tạo ra môi trường tốt cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi, có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không có khả năng cạnh tranh, có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm lực của mình Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua

lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển

Tóm lại: Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia

cũng như của từng doanh nghiệp

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các yêu cầu của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh

Trang 23

Để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ta phải đánh giá tổng thể tất cả các mặt sau:

1.3.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp:

1.3.1.1 Nguồn lực tài chính

Vốn là nguồn lực mà doanh nghiệp cần có trước tiên vì không có vốn không thể thành lập được doanh nghiệp và không thể tiến hành hoạt động được Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào luôn đảm bảo huy động được vốn trong những trường hợp cần thiết, doanh nghiệp đó phải sử dụng đồng vốn có hiệu quả và hạch toán chi phí một cách rõ ràng Như vậy doanh nghiệp cần đa dạng nguồn cung vốn bởi nếu thiếu vốn thì hạn chế rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp như đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, hạn chế đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, công nhân, nghiên cứu thị trường…

Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh, yếu như thế nào Trong tiêu chí này có các nhóm chỉ tiêu chủ yếu:

Tổng nợ phải trả

Hệ số nợ =

Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này phản ảnh tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, hệ số nàycàng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càng ít phụ thuộc vào nguồn vay từ bên ngoài

Tỷ lệ này cần duy trì ở mức trung bình của ngành là hợp lý

Vốn chủ sở hữu

Hệ số vốn chủ sở hữu = = 1- Hệ số nợ

Tổng vốn

Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số vốn của doanh nghiệp thì phần vốn góp của chủ sở hữu là bao nhiêu

Trang 24

Hệ số nợ, hệ số vốn chủ sở hữu là hai tỷ số quan trọng nhất phản ánh cơ cấu nguồn vốn Qua việc nghiên cứu hai chỉ tiêu này ta thấy được mức độ độc lập hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đôí với vốn kinh doanh của mình Hệ số vốn chủ

sở hữu (hay còn gọi là Tỷ suất tự tài trợ) càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức

ép của các khoản nợ vay Nhưng khi hệ số nợ cao thì doanh nghiệp lại có lợi ích vì được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư một lượng nhỏ và các nhà tài chính sử dụng nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợi nhuận.Qua đó ta thấy được việc phân tích các hệ số kết cấu nguồn vốn là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúp cho người quản lý doanh nghiệp đánh gía được tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó có quyết định đúng đắn có nên tiếp tục đầu tư hay thu hẹp đầu tư, đồng thời có kế hoạch cho việc tổ chức huy động và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh

(Tổng tài sản lưu động – Hàng tồn kho)

Hệ số thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn vì doanh nghiệp dễ dàng chuyển từ tài sản lưu động thành tiền mặt Hệ số này >1 thì được đánh giá là an toàn vì doanh nghiệp có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần đến các nguồn thu của doanh nghiệp

Tổng tài sản lưu động

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =

Trang 25

hoặc trung bình ngành để đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế)

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = 100%x

Tổng doanh thu

Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ giữa tổng mức lợi nhuận đạt được trong kỳ với tổng doanh thu trong kỳ Chỉ tiêu này phản ảnh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy cứ một đồng doanh thu thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.Tuy nhiên, tỷ suất này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của doanh nghiệp, người ta so sánh tỷ suất này của doanh nghiệp với tỷ suất bình quân của toàn ngành

Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu(ROE)= 100% x

Tổng vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận Tỷ suất này phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của doanh nghiệp Để phân tích và đánh giá chỉ tiêu này cần so sánh tỷ suất này với tỷ suất bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ suất của doanh nghiệp tương đương trong cùng ngành

Doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động hiệu quả và có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Các tiêu chí trên tốt sẽ giúp doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh so với các đối thủ của mình

1.3.1.2 Nguồn lực con người

Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm thành công Kenichi Ohmae đã đặt con người lên vị trí số một trên cả vồn và tài sản khi đánh giá sức mạnh của một doanh nghiệp Nguồn lực con người là yếu tố quyết định

ưu thế cạnh tranh đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại để cung ứng các dịch vụ cho khách hàng hiệu quả nhất

Trang 26

Nguồn lực về con người được thể hiện qua số lượng và chất lượng lao động của doanh nghiệp như trình độ học vấn, trình độ tay nghề, sức khỏe, văn hóa lao động…Doanh nghiệp có được tiềm lực về con người như có được đội ngũ lao động trung thành, trình độ chuyên môn cao…từ đó năng suất lao động cao, cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường

1.3.1.3 Thương hiệu, nhãn hiệu

Thương hiệu, nhãn hiệu được coi là sức mạnh vô hình của doanh nghiệp Nhãn hiệu có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nhãn hiệu của doanh nghiệp có thể trải qua các thứ bậc đó là: nhãn hiệu bị loại bỏ, nhãn hiệu không được chấp nhận, chấp nhận nhãn hiệu, nhãn hiệu ưa thích

và nhãn hiệu nổi tiếng Nhãn hiệu ở thứ bậc càng cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩm càng cao, doanh nghiệp càng có lợi thế cạnh tranh cao hơn đối thủ

Một doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh đã có nhãn hiệu sản phẩm của mình nhưng để có được thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp là việc làm lâu dài và liên tục không thể một sớm một chiều Một thương hiệu được người tiêu dùng chấp nhận và yêu mếm là cả một thành công rực rỡ của doanh nghiệp Đây là một lợi thế cạnh tranh lớn mà các đối thủ khác khó lòng có được Một khách hàng

đã quen dùng một loại thương hiệu nào đó thì rất khó làm cho họ rời bỏ nó Thương hiệu doanh nghiệp được tạo nên bởi nhiều yếu tố như uy tín doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, hình ảnh nhà lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp…Vì vậy mà có rất ít doanh nghiệp trên thương trường có được lợi thế cạnh tranh từ thương hiệu sản phẩm hay thương hiệu doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có được lợi thế này đã giành được năng lực cạnh tranh cao vượt trội hơn các đối thủ khác

1.3.1.4 Trình độ tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trình độ tổ chức quản lý là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên tính cạnh tranh cao của sản phẩm Muốn tổ chức và quản lý tốt thì trước hết doanh nghiệp phải có ban lãnh đạo giỏi vừa có tâm, có tầm và có tài Ban lãnh đạo của một

Trang 27

tổ chức có vai trò rất quan trọng, là bộ phận điều hành, nắm toàn bộ nguồn lực của

tổ chức, vạch ra đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt động, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động của các phòng, ban để đưa hoạt động của

tổ chức do mình quản lý đạt hiệu quả cao nhất Ban lãnh đạo có vai trò rất quan trọng như vậy, nên phải chọn lựa người lãnh đạo, người đứng đầu ban lãnh đạo đảm bảo đủ các tiêu chuẩn để có thể điều hành quản lý doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao Nhìn chung người lãnh đạo giỏi là người có kỹ năng chuyên môn, kỹ năng

về quan hệ với con người, hiểu con người và biết thu phục lòng người, có kỹ năng nhận thức chiến lược, tức là nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường kinh doanh để

dự báo và xây dựng chiến lược thích ứng

Để tổ chức quản lý tốt thì vấn đề thứ hai mà doanh nghiệp cần phải có là một phương pháp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tốt Đó là phương pháp quản lý hiện đại mà các phương pháp đó đã được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo chất lượng…

Ngoài ra để tổ chức quản lý tốt hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có hệ thống tổ chức gọn nhẹ Hệ thống tổ chức gọn nhẹ là hệ thống tổ chức

ít cấp, linh hoạt, dễ thay đổi khi môi trường kinh doanh thay đổi, quyền lực được phân chia để mệnh lệnh truyền đạt được nhanh chóng, góp phần tạo ra năng suất cao

Mặt khác, doanh nghiệp cần có văn hóa doanh nghiệp tốt, vững mạnh và có bản sắc, cố kết được các thành viên trong tổ chức nhìn về một hướng, tạo ra một tập thể mạnh Nghĩa là có cam kết chất lượng minh bạch giữa doanh nghiệp và xã hội, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh phải theo pháp luật, có lương tâm và đạo đức trong kinh doanh, làm kinh tế giỏi và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, môi trường bên trong và bên ngoài phải xanh, sạch, đẹp…

1.3.1.5 Hoạt động nghiên cứu thị trường và Marketing

Nghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng Để kinh doanh thành công, doanh nghiệp phải thực hiện nghiên cứu thị trường để lựa chọn thị

Trang 28

trường mục tiêu Nếu thực hiện việc nghiên cứu thị trường một cách có bài bản giúp doanh nghiệp giảm thiểu được các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, giảm được các chi phí không cần thiết, đưa ra được các quyết định về bán cái gì, tập trung vào ai, khuyến mại và định giá sản phẩm như thế nào, sử dụng những nhà cung cấp nào, sẽ gặp khó khăn gì về pháp luật thủ tục hành chính và làm thế nào để xác định những

cơ hội mới hoặc những lỗ hổng trên thị trường Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân, vật lực

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay hoạt động Marketing trở nên vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiêp Marketing tốt là thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng, đảm bảo được cung cấp sản phẩm dịch vụ ổng định với chất lượng theo yêu cầu, giá cả phù hợp giúp doanh nghiệp dành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn Marketing giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được khách hàng, xác định được đối thủ cạnh tranh của mình là ai, khuyếch trương được hình ảnh uy tín của doanh nghiệp mình trên thị trường Hoạt động Marketing của doanh nghiệp càng có chất lượng và ở phạm vi rộng bao nhiêu doanh nghiệp càng có thể tạo ra các lợi thế chiến thắng đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu

1.3.1.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ

Công nghệ là phương pháp, là bí mật, là công thức tạo sản phẩm Để sử dụng công nghệ có hiệu quả doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ thích hợp để tạo ra các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường; phải đào tạo công nhân có đủ trình độ

để điều khiển và kiểm soát công nghệ, nếu không thì công nghệ hiện đại mà sử dụng lại không hiệu quả Để đánh giá về công nghệ của doanh nghiệp ta cần đánh giá nội dung sau:

Thứ nhất: Chi phí cho nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ mới

Sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng hoá của

họ thấp hơn giá cả trung bình trên thị trường Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanh

Trang 29

nghiệp phải tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hàng hoá Muốn vậy các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến công nghệ Thực

tế đã chứng minh các doanh nghiệp muốn tồn tại và cạnh tranh được trên thị trường cần có dây chuyền công nghệ mới Do đó doanh nghiệp càng quan tâm, đầu tư nhiều cho nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng tăng

Thứ hai: Mức độ hiện đại của công nghệ

Để có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải trang bị những công nghệ hiện đại đó là những công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, không gây ô nhiễm môi trường Công nghệ của công ty càng hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phẩm tốt do đó làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng và qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

1.3.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

1.3.2.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô chính là môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phức tạp ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Môi trường vĩ mô đó chính là tổng thể các nhân tố cơ bản: Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị và pháp luật, nhân tố xã hội, nhân tố khoa học công nghệ và thông tin Mỗi nhân tố này tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chúng có thể là cơ hội hoặc thách thức đối với doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần phải có sự am hiểu về các nhân tố trên và đưa ra cách ứng xử cho phù họp đối với những đòi hỏi; những biến động của chúng.Đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế thì vấn đề này cần được coi trọng

a Nhân tố kinh tế:

Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Một nền kinh tế tăng trưởng sẽ

Trang 30

tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, nhu cầu dân cư sẽ tăng lên đồng nghĩa với một tương lai sáng sủa, điều này cũng có nghĩa là tốc dộ tích luỹ vốn đầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên, mức độ hấp dẫn đầu tư và ngoài cũng sẽ tăng lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Thị trường được mở rộng đây chính là cơ hội tố cho những doanh nghiệp biết tận dụng thời cơ, biết tự hoàn thiện mình, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh thị trường Nhưng nó cũng chính là thách thức đối với những doanh nghiệp không có mục tiêu rõ ràng, không có chiến lược hợp lý

Các yếu tố của nhân tố kinh tế như tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cũng tác động đến khả năng tài chính của doanh nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng

Kinh tế tăng trưởng càng cao dẫn đến sự bùng nổ chi tiêu của khách hàng, vì thế đem lại khuynh hướng thoải mái hơn về sức ép cạnh tranh trong một ngành Điều này có thể cho các công ty cơ hội để bành trướng giành được thị phần lớn hơn

và thu được lợi nhuận cao hơn Ngược lại, suy giảm kinh tế sẽ dẫn đến sự giảm chi tiêu của người tiêu dùng, làm tăng sức ép cạnh tranh và thường gây ra các cuộc chiến tranh giá trong các ngành bão hoà

- Tỷ lệ lạm phát

Lạm phát có thể làm giảm tính ổn định của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm hơn, lãi suất cao hơn, dịch chuyển hối đoái không ổn định Tỷ lệ lạm phát tăng là mối đe doạ lớn đối với công ty: việc lập kế hoạch đầu tư trở nên mạo hiểm, gây khó khăn cho các dự kiến về tương lai, khó xác định giá cả cho các mặt hàng mà công ty kinh doanh Sự không chắc chắn làm cho công ty không dám đầu tư, làm giảm các hoạt động kinh tế đẩy nền kinh tế tới chỗ đình trệ

- Tỷ giá hối đoái

Sự dịch chuyển tỷ giá có tác động trực tiếp lên tính cạnh tranh của các công ty trong thị trường toàn cầu Khi đồng nội tệ trở nên mất giá so với các đồng tiền khác thì sản phẩm của doanh nghiệp làm trong nước sẽ rẻ hơn sản phẩm ở nước ngoài, doanh nghiệp có ưu thế về giá, từ đó làm giảm mối đe doạ từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, tạo động lực giúp doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa Tuy

Trang 31

nhiên nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu thì gặp khó khăn do phải chi trả mức nội tệ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp Và ngược lại nếu đồng nội tệ tăng giá cao so với đồng tiền nước ngoài, hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thiếu tính cạnh tranh về giá cả, gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp

- Lãi suất:

Các doanh nghiệp thường xuyên phải sử dụng tới nguồn vốn của ngân hàng cho hoạt động sản xuất kinh doanh do vậy lãi suất Ngân hàng ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Khi vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng dẫn tới giá thành sản phẩm tăng lên, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm so với các đối thủ của mình, đặc biệt các đối thủ có tiềm lực về vốn

b Nhân tố chính trị, luật pháp và quản lý của nhà nước về kinh tế

Chính trị và luật pháp là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu bởi các doanh nghiệp này hoạt động trên thị trường quốc tế với lợi thế trong cạnh tranh là lợi thế so sánh giữa các nước Chính trị ổn định, luật pháp đồng

bộ rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh

và cạnh tranh có hiệu quả

Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có một nền kinh tế ổn định, phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh Luật pháp tác động điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế Mỗi thị trường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Đặc biệt đối với từng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan

hệ giữa các chính phủ, các hiệp định kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia Sự khác biệt này

có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp những điều này

sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế hoạch chiến lược phát triển,

Trang 32

loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường Để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài doanh nghiệp cần tìm hiểu thật kỹ các quy định bắt buộc của nước sở tại để đảm bảo thành công, nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế

c Nhân tố xã hội

Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian nên đôi khi khó nhận biết nhưng lại quy định các đặc tính của thị trường mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó cho dù có muốn sống hay không Nhân tố xã hội bao gồm lối sống, phong tục, tập quán, thái độ tiêu dùng, trình độ dân trí, ngôn ngữ, tôn giáo, thẩm mỹ Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ về sản phẩm, dịch vụ, chúng là những điều mà không

ai có thể đi ngược lại được nếu muốn tồn tại trong thị trường đó Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ các yếu tố xã hội tại thị trường mới cũng như thị trường truyền thống để từ đó tiến hành phân đoạn thị trường, đưa ra được những giải pháp riêng Đáp ứng thị trường tốt nhất yêu cầu của thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

d Nhân tố khoa học kỹ thuật công nghệ và thông tin

Nhóm nhân tố này đóng vai trò ngày càng quan trọng mang tính chất quyết định đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về phương diện chất lượng và giá cả Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi phí của doanh nghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao Thông tin cũng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bởi để cạnh tranh thành công bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh, và biết cách xử lý có hiệu quả những thông tin thu thập được Khoa học

kỹ thuật công nghệ giúp doanh nghiệp trong quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin một cách nhanh chóng và chính xác; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bảo vệ môi trường và nâng cao uy tín của doanh nghiệp Áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại giúp doanh nghiệp có lợi thế vượt trội so với đối thủ của

Trang 33

mình, điều này còn đặc biệt quan trọng với những doanh nghiệp muốn xuất khẩu hàng hoá của mình sang các nước có nền kinh tế phát triển hơn

Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô luôn luôn biến động không ngừng theo chiều hướng có lợi hoặc bất lợi đối với các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp linh hoạt, phản ứng kịp thời với sự thay đổi của môi trường thì sẽ tận dụng được cơ hội, hạn chế thách thức, không ngừng vươn lên, lấn át các đối thủ của mình

1.3.2.2 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô

Môi trường vi mô (hay còn gọi là môi trường ngành) là môi trường bao gồm các doanh nghiệp trong đó cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh Sự tác động của môi trường vi mô ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận

Môi trường vi mô bao gồm năm nhân tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ tiềm ẩn và các sản phẩm, dịch vụ thay thế Đó chính là các nhân tố thuộc mô hình 5 áp lực của Michael Porter

a Đối thủ cạnh tranh:

Cạnh tranh giữa các Công ty trong một ngành công nghiệp được xem là vấn đề cốt lõi nhất của phân tích cạnh tranh Các hãng trong ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả, sự khác biệt về sản phẩm, hoặc sự đổi mới sản phẩm của các hãng hiện đang cùng tồn tại trong thị trường Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần như cân bằng nhau, khi tăng trưởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngày càng tăng, khi các đối thủ cạnh tranh có chiến lược đa dạng

Có một điều thuận lợi và cũng là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngành là khả năng nắm bắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất - kinh doanh, hoặc các thông tin về thị trường Các doanh nghiệp sẽ có khả năng cạnh tranh cao nếu có sự nhạy bén, kịp thời và ngược lại có thể mất lợi thế cạnh tranh bất cứ lúc nào nếu họ

tỏ ra thiếu thận trọng và nhạy bén

Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (trừ các doanh nghiệp ở nước sở tại) khi cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trường nước ngoài sẽ có một phần bất lợi như nhau do các quy định hạn chế của Chính phủ nước sở tại Chính vì thế,

Trang 34

doanh nghiệp nào mạnh về tài chính hoặc khoa học kỹ thuật hoặc trên cả hai phương diện sẽ có được lợi thế rất lớn Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, doanh nghiệp khi tham gia thị trường nước ngoài cần có sự trợ giúp của các doanh nghiệp khác trong cùng quốc gia để có thêm khả năng chống đỡ trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc quốc gia khác Lúc đó có thể coi sự cạnh tranh trong ngành là sự cạnh tranh giữa các quốc gia

Sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp làm cho giá cả các yếu tố đầu ra và những yếu tố đầu vào biến động theo các xu hướng khác nhau Tình hình này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đưa ra thị trường những sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp

b Khách hàng:

Khách hang (người mua) có quyền thương lượng với doanh nghiệp (người bán) thông qua sức ép giảm giá, giảm khối lượng hàng mua từ doanh nghiệp, hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá

Quyền lực thương lượng của khách hàng sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trường, hoặc khi doanh nghiệp thiếu khá nhiều thông tin về thị trường (đầu vào và đầu ra) Các doanh nghiệp khác sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để tung ra thị trường những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăng hơn và bằng những phương thức dịch vụ độc đáo hơn

c Nhà cung cấp:

Nhà cung cấp là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh cung cấp các yếu tố đầu vào như nguyên, nhiên vật liệu, thiết bị, vật tư, dịch vụ cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh Để quyết định mua các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp cần xác định rõ đặc điểm của chúng, tìm kiếm nguồn cung cấp, chất lượng và lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất về chất lượng, uy tín giao hàng, độ tin cậy và đảm bảo giá hạ

Trang 35

Những biến đổi trong môi trường cung cấp có thể tác động quan trọng đến hoạt động marketing của doanh nghiệp Các nhà quản trị marketing cần theo dõi các thay đổi về giá cả của những cơ sở cung cấp chính yếu của mình Việc tăng giá phí cung cấp có thể buộc phải tăng giá cả, điều sẽ làm giảm sút sức canh tranh, doanh số dự liệu của doanh nghiệp Các nhà quản trị marketing cần phải quan tâm đến mức độ có thể đáp ứng của các nhà cung cấp về nhu cầu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Sự khan hiếm nguồn cung cấp sẽ ảnh hưởng đến tính đều đặn trong kinh doanh, và

do vậy ảnh hưởng đến khả năng phục vụ khách hàng của doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp thích mua từ nhiều nguồn cung cấp để tránh lệ thuộc vào một nhà cung ứng có thể dễ dàng nâng giá và cung cấp hạn chế Doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp chủ yếu Trong những thời kỳ khan hiếm, doanh nghiệp cũng cần phải làm marketing đối với các nhà cung cấp để mua được các yếu tố đầu vào cần thiết

Nhà cung cấp có thể chi phối đến doanh nghiệp là do sự thống trị hoặc khả năng độc quyền của một số ít nhà cung cấp Nhà cung cấp có thể đe doạ tới nhà sản xuất, doanh nghiệp do tầm quan trọng của sản phẩm được cung ứng, do đặc tính khác biệt hoá cao độ củanhà cung cấp với nhà sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phầm

mà nhà sản xuất, doanh nghiệp phải chấp nhận và tiến hành, do liên kết của những nhà cung cấp gây ra

Trong buôn bán quốc tế, nhà cung cấp có vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật liệu Khi doanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung cấp quốc tế có vị trí càng quan trọng Mặc dù có thể có cạnh tranh giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất thì quyền lực thương lượng của nhà cung cấp bị hạn chế vẫn không đáng kể Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trước khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải biến được quyền lực thương lượng của nhà cung ứng thành quyền lực của mình

d Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:

Trang 36

Là sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới hoặc sẽ tham gia vào thị trường vàhọ

có khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường (thị phần) của các doanh nghiệp khác Bên cạnh việc phân tích những đối thủ hiện tại, cần thiết phải phân tích

và dự báo những mối đe dọa cạnh tranh trong tương lại

e Sản phẩm và dịch vụ thay thế:

Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu hướng

sử dụng sản phẩm và dịch vụ thay thế Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị trường của doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranh đưa ra thị trường những sản phẩm thay thế có khả năng biệt hoá cao độ so với sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi về dịch vụ hay các điều kiện về tài chính

Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp, thì mối đe doạ đối với doanh nghiệp càng lớn Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, số lượng hàng bán

và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu có ít sản phẩm tương ứng sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tăng giá và tăng thêm lợi nhuận

1.4 Các công cụ phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Có rất nhiều tiêu chí hay mô hình phân tích để có thể phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tuy nhiên tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngành, từng doanh nghiệp cũng như tùy theo mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có thể có những cách đánh giá về năng lực cạnh tranh khác nhau Có nhiều mô hình được sử dụng để phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên có ba mô hình phân tích được sử dụng khá phổ biến trong kinh tế đó là Mô hình 5 áp lực của Michael E Porter , Mô hình PEST và Mô hình phân tích SWOT

1.4.1 Mô hình phân tích năm áp lực của Michael E Porter

Theo Michael E Porter, điểm cốt yếu khi xây dựng chiến lược cạnh tranh là phải biết xem xét một doanh nghiệp trong tương quan với môi trường hoạt động của doanh nghiệp đó Ông đã đưa ra một kỹ thuật phân tích sâu hơn tính chất động của môi trường cạnh tranh, với mục đích đưa ra những vận dụng chiến lược đặc biệt thích ứng cho từng trường hợp cụ thể

Trang 37

Tình hình cạnh tranh ở một ngành nghề tùy thuộc vào 05 yếu tố cạnh tranh cơ bản được trình bày ở Hình 1.1

Hình 1 1 Mô hình năm áp lực của Micheal E Porter

[Nguồn: Micheal E Porter, Chiến lược cạnh tranh, 1996]

Tất cả năm yếu tố cạnh tranh nói trên cùng nhau quyết định mức độ cạnh tranh

và khả năng kiếm lợi nhuận của một ngành nghề, và yếu tố nào có mức độ tác động lớn nhất sẽ nắm quyền kiểm soát và đóng vai trò then chốt từ quan điểm của việc xây dựng, hình thành chiến lược đến việc triển khai, thực hiện chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh

Yếu tố 1 Nguy cơ đe dọa của người mới nhập ngành

Người mới nhập ngành ở đây không đơn thuần là những công ty mới hoàn toàn

mà còn có những công ty đa dạng hóa các mặt hàng của mình thông qua hình thức mua lại một công ty khác để xâm nhập một ngành nghề từ những thị trường khác Mối đe dọa xâm nhập ngành nghề tùy thuộc ở những rào cản xâm nhập hiện có,

ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG

SẢN PHẨM THAY THẾ

NHÀ

CUNG CẤP

ĐỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG NGÀNH

Đe dọa của người nhập mới

Trang 38

cùng với những phản ứng từ những doanh nghiệp đang cạnh tranh nhau mà một doanh nghiệp sắp xâm nhập có thể tiên lượng

Để hạn chế áp lực cạnh tranh từ mối đe dọa này, các nhà quản lý thường dựng lên các “hàng rào gia nhập” như:

- Mở rộng sản xuất để giảm chi phí (tính kinh tế nhờ quy mô);

Yếu tố 2 Sức ép của những sản phẩm thay thế

Các doanh nghiệp ở cùng lĩnh vực ngành nghề đều có cạnh tranh với những ngành nghề sản xuất các sản phẩm thay thế Những sản phẩm thay thế làm giảm mức lợi nhuận tiềm ẩn của một ngành nghề bằng cách áp đặt một mức trần đối với những mức giá mà những doanh nghiệp trong ngành nghề đó có thể đưa ra trong phạm vi có thể thu được lợi nhuận

Để đánh giá sức ép này người ta thường sử dụng chỉ tiêu thời gian của một vòng đời công nghệ Nếu vòng đời công nghệ càng ngắn thì sức ép cạnh tranh của các sản phẩm thay thế càng lớn

Yếu tố 3 Quyền lực thương thuyết của khách hàng

Khách hàng luôn cố gắng để mua với giá rẻ, đòi hỏi một dịch vụ tốt hơn hoặc mức chất lượng cao hơn.Hành động này làm giảm lợi nhuận của ngành và kết quả

đó phụ thuộc vào quyền lực thương thuyết của khách hàng Một nhóm người mua sẽ

có một sức mạnh đối với một ngành nghề nếu có những điều kiệnsau:

Mua với khối lượng hàng hóa lớn so với doanh số của người bán

Số lượng mua chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng phí tổn người mua bỏ ra Sản phẩm thuộc loại hàng chuẩn hoặc không có tính dị biệt

Có thể rút ra khỏi thị trường

Sản phẩm không ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm/dịch vụ của người mua

Trang 39

Người mua có đủ thông tin

Yếu tố 4 Quyền lực của nhà cung cấp

Có thể có sự cạnh tranh giữa nhà cung cấp với doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất nhưng quyền lực của nhà cung cấp bị hạn chế không đáng kể Vì nhà cung cấp hoàn toàn có thể đạt được sự cạnh tranh tốt nhất khi hội tụ được một số điều kiện sau:

- Tầm quan trọng của sản phẩm được cung ứng

- Liên kết của những người cung ứng tạo nên

- Đặc tính khác biệt hóa cao độ của nhà cung cấp với người sản xuất

Để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trước những biến động bất lợi của chi phí đầu vào, sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp cần khôn khéo chuyển quyền lực thương lượng của nhà cung cấp thành quyền lực của mình

Yếu tố 5 Cạnh tranh giữa các đối thủ cùng ngành

Trong một ngành sản xuất, các doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau về chất lượng sản phẩm, giá cả, tiến độ… Sự đối đầu giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành hay mật độ cạnh tranh là kết quả của một số yếu tố có tương tác qua lại với:

- Số lượng đối thủ cạnh tranh nhau quá nhiều hoặc đã cân bằng nhau

- Tăng trưởng của ngành thấp

- Chi phí cố định hoặc lưu trữ, bảo quản cao

- Thiếu sự khác biệt hóa hoặc chi phí chuyển dịch thấp

- Công suất tăng mạnh (tăng năng lực sản xuất)

- Thách thức chiến lược từ các đối thủ cạnh tranh

- Hàng rào chi phí rút khỏi ngành cao

Nếu phân tích theo cách này ta chỉ có bức tranh hẹp về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp (vì không xét đến môi trường vĩ mô), mà trong môi trường đó doanh nghiệp phát huy được sức mạnh cạnh tranh của mình đến mức độ nào là hoàn toàn phụ thuộc vào cách mà doanh nghiệp thích ứng với môi trường vi mô ra sao

Trang 40

1.4.2 Mô hình PEST

Trong khi mô hình 5 áp lực của Micheal E Porter đi sâu vào việc phân tích các yếu tố trong môi trường ngành kinh doanh thì PEST lại nghiên cứu các tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ mô Các yếu tố đó là:

sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp

1.3.2.3 Yếu tố Thể chế- Luật pháp

Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp

sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó

- Sự bình ổn: Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó

- Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp

- Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá

- Chính sách: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp,

nó có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp Như các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng

Ngày đăng: 03/03/2021, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. GS. Mai Hữu Khuê, TS. Nguyễn Hữu Quỳnh, Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học, NXB Từ điển Bách khoa, 2001 Khác
5. PGS.TS Lê Thế Giới, Quản trị chiến lƣợc, NXB Thống kê, 2007 Khác
6. Philip Kotler, Quản trị Marketing, NXB Thống kê, 2003 Khác
7. TS. Nguyễn Văn Nghiến, Quản lý chiến lƣợc, NXB Khoa học Kỹ thuật, 2003 Khác
8. PGS.TS. Phan Thị Ngọc Thuận, Chiến lƣợc kinh doanh và kế hoạch hóa nội bộ doanh nghiệp, NXB Khoa học Kỹ thuật, 2005 Khác
9. GS.TS. Phạm Quang Trung, Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, 2012 Khác
10. Tạp chí điện tử ngành dầu khí www.petrotime.vn Khác
11. Website Bộ Công thương (www.moit.gov.vn),Website Tổng cục Thống kê (www.gso.gov.vn) Khác
12. Các website Tổng Công ty PTSC (wwww.ptsc.com.vn), Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (www.pvn.vn) và Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (www.pvep.com.vn) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w