Như chúng ta đã biết nền kinh tế thị trường là nền kinh tế với khối lượng hàng hóa rất đa dạng và phong phú, người mua đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế, họ có quyền quyết định mua cái gì? Mua ở đâu? Và mua của ai? Do đó, vấn đề quan trọng nhất đối với các nhà sản xuất là sản phẩm của họ sản xuất ra đến được với người tiêu dùng bằng cách nào hiệu quả nhất. Và một trong các cách đó là thông qua hoạt động trung gian thương mại với hình thức phổ biến nhất là đại lý thương mại.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ TRUNG GIAN THƯƠNG
MẠI
BÀI TẬP NHÓMCHỦ ĐỀ: PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI
Trang 2VĂN BẢN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1 Văn bản luật trực tiếp điều chỉnh và nghị định hướng dẫn
- Luật thương mại 2005 được ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2005 và cóhiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2006;
- Nghị định 187/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật thương mại
về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, giacông và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài;
- Thông tư 04/2014/TT-BCT hướng dẫn Nghị định 187/2013/NĐ-CPhướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và hoạtđộng đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
- Thông tư 04/2015/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện Nghị định187/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoáquốc tế và hoạt động đại lý, mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nướcngoài trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản;
- Quyết định 1786/QĐ-BNN-CB năm 2015 bãi bỏ một số điều Thông tư04/2015/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫnthực hiện Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thươngmại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và hoạt động đại lý, mua, bán, giacông và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp, lâmnghiệp và thủy sản
2 Văn bản Luật có liên quan
- Bộ luật dân sự 2015 được ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015 và cóhiệu lực thi hành ngày 1 tháng 1 năm 2017;
Trang 3- Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 và
có hiệu lực thi hành ngày 1 tháng 7 năm 2015
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I NỘI DUNG LÝ THUYẾT VỀ ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
1 Khái quát về đại lý thương mại 2
1.1 Lịch sử hình thành đại lý thương mại 2
1.2 Khái niệm đại lý thương mại 3
1.3 Đặc điểm của đại lý thương mại 4
1.4 Vai trò của đại lý thương mại 6
2 Hợp đồng đại lý thương mại 7
2.1 Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại 7
2.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại 8
2.3 Nội dung của hợp đồng đại lý thương mại 10
2.4 Thanh toán trong hợp đồng đại lý 12
3 Thời hạn đại lý 13
4 Các hình thức đại lý thương mại 15
PHẦN KẾT LUẬN 18
PHẦN II VỤ VIỆC THỰC TẾ VỀ ĐẠI LÝ THƯƠNG MẠI: BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ VIỆC LÀM ĐẠI LÝ ĐỘC QUYỀN 19
1 Nội dung vụ việc 19
2 Ưu điểm 21
3 Hạn chế 23
4 Bài học kinh nghiệm 24
PHẦN III PHỤ LỤC 25
PHỤ LỤC I: MẪU HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ 25
PHỤ LỤC II: MẪU HỢP ĐỒNG ĐẠI LÝ CỤ THỂ 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 5đó, vấn đề quan trọng nhất đối với các nhà sản xuất là sản phẩm của họ sản xuất
ra đến được với người tiêu dùng bằng cách nào hiệu quả nhất Và một trong cáccách đó là thông qua hoạt động trung gian thương mại với hình thức phổ biếnnhất là đại lý thương mại
Trong những năm gần đây, hoạt động đại lý thương mại đang diễn ra phổbiến và ngày càng gia tăng vì những lợi ích mà nó mang lại như tiết kiệm chiphí giới thiệu sản phẩm, mang lại hiệu quả lớn cho thương nhân trong quá trìnhphân phối, tiêu thụ; thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa Vì vậy, các nhà sảnxuất thường phát triển mạng lưới buôn bán thông qua hệ thống các đại lý Cácđại lý này sẽ là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng
Đại lý thương mại với vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế, được phápluật chú trọng điều chỉnh Vậy, pháp luật điều chỉnh như thế nào về hoạt độngnày và thực tiễn hoạt động đại lý thương mại biểu hiện như thế nào Trong phạm
vi nghiên cứu của bài viết, Nhóm 5 sẽ giới thiệu khái quát về lịch sử hình thànhđại lý thương mại, những nội dung chính của pháp luật điều chỉnh hoạt động đại
lý thương mại
Trang 6
PHẦN NỘI DUNG
1 Khái quát về đại lý thương mại
1.1 Lịch sử hình thành đại lý thương mại
Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975), hoạt động đại
lý mua bán hàng hóa được áp dụng như một biện pháp để cải tạo xã hội chủnghĩa đối với thương nghiệp tư nhân ở phía Nam và được quy định trong quyếtđịnh số 100/QĐ-CP ngày 12/04/1977 của Hội đồng Chính phủ Ngay sau đó,hoạt động này cũng được sử dụng như một biện pháp để quản lý thị trường, thựchiện sự phân công và hợp tác giữa các cơ sở kinh tế quốc doanh với nhau hoặcvới tổ chức kinh tế tập thể hoặc với một số nhà tư sản thương nghiệp Những cơ
sở này làm đại lý bán lẻ hàng hóa cho thương nghiệp quốc doanh được quy định
cụ thể trong Quyết định 312/CP ngày 01/10/1980 của Hội đồng Chính phủ vềtăng cường quản lý thị trường và Nghị quyết số 188-HĐBT ngày 23/11/1982của Hội đồng Bộ Trưởng về tăng cường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và quản
lý thị trường cũng đã quy định về hoạt động này, trong các lĩnh vực vận tải biển,môi giới hàng hải, đại lý tàu biển, môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm như: Đại
lý tàu biển Việt Nam, Công ty vận tải và thuê tàu Vietfracht, Tổng công ty bảohiểm Việt Nam cũng đã được thành lập
Trải qua quá trình vận động và phát triển, những quy định về hoạt động đại
lý thương mại đã được ghi nhận trong Luật thương mại số 58/L-CTN ngày10/05/1997 Tuy nhiên, nhiều dịch vụ đại lý như đại lý bảo hiểm, đại lý chứngkhoán… lại không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này Do đó, sau khi Luậtthương mại năm 1997 được thông qua, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã banhành văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, trong đó có các văn bản quy định cụthể về đại lý thương mại như: Nghị định số 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày
Trang 731/7/1998 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất nhậpkhẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với người nước ngoài; Nghị định số44/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/08/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 57/1998/NĐ-CP; Thông tư số 18/1998/TT-BTM ngày28/08/1998 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 57/1998/NĐ-CP
Sau 7 năm thi hành, Luật thương mại năm 1997 đã bộc lộ nhiều bất cập vàhạn chế cần phải được sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện phát triển cho các hoạtđộng thương mại trong nước cũng như quốc tế Chính vì vậy, ngày 14/06/2005,Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật thương mại mới có hiệu lựcthi hành từ ngày 01/01/2006 để thay thế cho Luật thương mại năm 1997 Luậtthương mại năm 2005 đã có nhiều điểm bổ sung và quy định cụ thể hơn về hoạtđộng đại lý thương mại
1.2 Khái niệm đại lý thương mại
Ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ đại lý đã được sử dụng trong phápluật thương mại Chẳng hạn, Điều L134-1 Bộ luật thương mại Pháp được dịch:
“Đại lí thương mại là một bên được uỷ quyền và chịu trách nhiệm thườngxuyên, với tính chất hoạt động nghề nghiệp độc lập và không bị ràng buộc bởimột hợp đồng dịch vụ, các hoạt động đàm phán và nếu có thể, giao kết hợp đồngmua, bán, thuê hoặc cung ứng dịch vụ với danh nghĩa và vì lợi ích của người sảnxuất, người hoạt động công nghiệp, thương nhân hoặc các đại lí thương mạikhác Đại lí thương mại có thể là thể nhân hoặc pháp nhân” Điều 46 Bộ luậtthương mại Nhật Bản thì quy định: “Một người đại lí thương mại là một ngườikhông phải là người làm công mà thường hoạt động trên danh nghĩa của mộtthương gia nhất định như một người đại lí hoặc trung gian trong các việc giaodịch mua bán nằm trong loại hình kinh doanh của thương gia đó”
“Đại lý” là từ Hán - Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán Trong tiếng Hán “đại”
có nghĩa là “thay thế”, “lý” có nghĩa là “quản lý, thu xếp, xử lý” Từ điển tiếngViệt giải thích các hoạt động, trong đó một người thay mặt người khác để làm
Trang 8một việc được gọi là đại lý Theo từ điển bách khoa Việt Nam, trong kinh tếthuật ngữ này được dùng như là một hành vi thương mại, theo đó bên giao đại lý(thường là một doanh nghiệp, công ty có sản phẩm, dịch vụ cần bán) và bên đại
lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua hoặc bán hàng cho bên giaođại lý để hưởng thù lao
Ở Việt Nam, khái niệm “đại lý thương mại” mới được ghi nhận tại Điều
166 Luật thương mại 2005 quy định: “Đại lý thương mại là hoạt động thươngmại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danhchính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ củabên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” Định nghĩa đại lý thương mạitheo Luật thương mại năm 2005 đã thể hiện rõ đại lý thương mại là hoạt độngdịch vụ thương mại theo đó bên giao đại lý không trực tiếp thực hiện mà ủyquyền cho bên đại lý thay mặt mình mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ
1.3 Đặc điểm của đại lý thương mại
Đại lý thương mại có các đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, chủ thể của đại lý thương mại phải là thương nhân.
Theo Điều 167 Luật thương mại 2005 có quy định: “Bên giao đại lý làthương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lýmua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch
vụ Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền muahàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ”
Như vậy, trong quan hệ đại lý thương mại, bên đại lý và bên giao đại lý đềuphải là thương nhân Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hóa, giao tiềnhoặc ủy quyền cung ứng dịch vụ cho thương nhân khác - thương nhân này gọi làbên đại lý Giống như bên giao đại lý, bên đại lý cũng phải là thương nhân, cóđăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với loại hàng hóa được giao hoặc loạidịch vụ được ủy quyền bởi bên giao đại lý
Trang 9Có thể thấy rằng, điều kiện về chủ thể của hoạt động đại lý thương mạikhắt khe hơn so với chủ thể mua bán hàng hóa Theo đó, cả hai bên chủ thể củahoạt động này đều phải là thương nhân Trong khi chủ thể của hoạt động muabán hàng hóa có thể: hai bên đều là thương nhân hoặc chỉ một bên là thươngnhân.
Hai là, mục đích thực hiện hoạt động đại lý.
Bên giao đại lý được thụ hưởng lợi nhuận từ việc sử dụng dịch vụ đại lý,
đó là bán được hàng hóa, cung ứng được dịch vụ thương mại không dựa trênviệc sử dụng nhân lực, vật lực của mình mà thông qua hệ thống đại lý
Trong khi đó, bên đại lý thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ cho khách hàng để hưởng khoản thù lao đại lý Khoản tiền này chính là thùlao dịch vụ mà bên giao đại lý phải thanh toán cho bên đại lý
Ba là, nội dung của hoạt động đại lý thương mại.
Trong hoạt động đại lý thương mại tồn tại hai loại quan hệ: Quan hệ hợpđồng đại lý giữa bên giao đại lý và bên đại lý; Quan hệ hợp đồng mua bán hànghóa hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ giữa bên đại lý và bên thứ ba - kháchhàng
Trong quan hệ hợp đồng đại lý thương mại, bên đại lý chỉ là bên được bêngiao đại lý trao cho quyền định đoạt hàng hóa hoặc ủy quyền cung ứng dịch vụcho khách hàng Theo Điều 170 Luật thương mại 2005 thì bên giao đại lý là chủ
sở hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao cho bên đại lý Bên giao đại lý khôngchuyển quyền sở hữu hàng hóa (trong trường hợp đại lý bán) hoặc tiền hàng hóa(trong trường hợp đại lý mua) Cơ sở để bên đại lý bán hoặc mua hàng hóa,cung ứng dịch vụ cho khách hàng là ủy quyền mua bán hàng hóa hoặc ủy quyềncung ứng dịch vụ của bên giao đại lý Để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lýđược quyền lựa chọn khách hàng để giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặchợp đồng cung ứng dịch vụ theo những nội dung cụ thể mà bên giao đại lý và
Trang 10bên đại lý đã thỏa thuận trong hợp đồng đại lý thương mại Khi giao kết hợpđồng với khách hàng, bên đại lý nhân danh chính mình chứ không phải nhândanh bên giao đại lý, do đó, hợp đồng được bên đại lý ký với khách hàng sẽ làmphát sinh quyền và nghĩa vụ cho bên đại lý với khách hàng mà không phải làbên giao đại lý.
Bốn là, Quan hệ đại lý thương mại phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại lý.
Theo Điều 168 Luật thương mại 2005 thì quy định rằng hợp đồng đại lýphải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tươngđương Như vậy, hợp đồng đại lý thương mại không cho phép hình thức bằng lờinói hoặc bằng hành vi vì những hình thức này dễ mang lại rủi ro cho các bêntham gia hợp đồng so với hình thức bằng văn bản Khi phát sinh tranh chấp,hình thức văn bản cũng là cơ sở xác thực để cơ quan tố tụng giải quyết thuậnlợi, đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
1.4 Vai trò của đại lý thương mại
Thứ nhất, đại lý thương mại góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển nói chung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng Đại lý thương mại phát triển làm cho khối lượng hàng hóa lưu thông
trên thị trường tăng lên, giao lưu kinh tế giữa các vùng trong một nước cũng nhưgiữa các nước với nhau được đẩy mạnh góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế củađất nước Hơn nữa, thông qua các đại lý thương mại mà người sản xuất có thểthiết lập một hệ thống phân phối hàng hóa đa dạng cũng như giúp thương nhânnắm bắt được những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường trong nước, thịtrường ngoài nước một cách kịp thời Từ đó, đánh giá chính xác nhu cầu thịtrường và tiến hành các hoạt động kinh doanh theo nhu cầu của thị trường, trên
cơ sở đó mà mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, nâng cao hiệu quả và sứccạnh tranh của nền kinh tế
Trang 11Thứ hai, hoạt động đại lý thương mại mang lại hiệu quả lớn cho thương nhân trong quá trình phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ở thị trường trong nước, mở rộng ở thị trường nước ngoài Tiêu thụ sản phẩm là một khâu hết sức
quan trọng trong quá trình kinh doanh Để sản xuất kinh doanh phát triển,thương nhân phải biết lựa chọn phương thức phân phối, tiêu thụ sản phẩm, hànghóa phù hợp, trong đó việc sử dụng các đại lý thương mại được xem là một cáchthức tiếp thị sản phẩm có hiệu quả nhất Việc liên kết các đại lý thương mại giúpcho nhà sản xuất chuyên tâm vào sản xuất Bởi để đảm bảo hiệu quả của hoạtđộng sản xuất kinh doanh, các khâu trong quá trình sản xuất phân phối cần phảiđược chuyên môn hóa lao động Công việc của các nhà sản xuất là tạo ra sảnphẩm và nếu họ càng dành nhiều thời gian và tâm huyết cho quá trình sản xuấtthì họ càng giỏi và chuyên nghiệp Nếu nhà sản xuất phải dành thời gian và cácnguồn lực cho cả việc sản xuất và phân phối, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa thì cảhai việc sẽ bị ảnh hưởng và không đạt hiệu quả cao Do đó, nếu nhà sản xuấtdành nhiều thời gian và năng lực vào sản xuất các đại lý thương mại tập trung,vào việc phân phối lưu thông sản phẩm hàng hóa thì hoạt động kinh doanh của
cả hai bên đều đạt hiệu quả
Thứ ba, hoạt động đại lý thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng Khách hàng có thể tiếp cận dễ dàng thuận tiện và nhanh chóng với các sản
phẩm chính hãng qua mạng lưới đại lý có mặt tại nhiều nơi Người tiêu dùng,nhất là người tiêu dùng ở những nơi có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn đượctiếp cận được với hàng hoá và dịch vụ một cách tốt nhất như có thể yên tâm vềchất lượng sản phẩm hàng hóa, giá cả khi mua hàng,… tại các đại lý
2 Hợp đồng đại lý thương mại
2.1 Khái niệm hợp đồng đại lý thương mại
Luật thương mại 2005 không đưa ra quy định thế nào là hợp đồng đại lýthương mại mà chỉ có khái niệm đại lý thương mại “Đại lý thương mại là hoạtđộng thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại
Trang 12lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứngdịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao” Điều 385 Bộ luậtdân sự 2015 đã quy định: “ Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, từ các địnhnghĩa ở trên, dựa vào luật chung và luật chuyện ngành thì chúng ta có thể đưa rađịnh nghĩa về hợp đồng đại lý thương mại như sau: “Hợp đồng đại lý thươngmại là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một bên (bên đại lý) nhân danhchính mình để thực hiện việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho bênkia (bên giao đại lý) để hưởng thù lao”.
2.2 Đặc điểm của hợp đồng đại lý thương mại
2.2.1 Chủ thể của hợp đồng đại lý thương mại
Theo Điều 167 Luật Thương mại 2005 thì chủ thể của hợp đồng đại lý bao gồm:Bên giao đại lý: Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hóa cho đại lýbán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân ủy quyền thựchiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ
Bên đại lý: là thương nhân, nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền muahàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ
Như vậy, chủ thể của hợp đồng đại lý phải đảm bảo điều kiện là thươngnhân
2.2.2 Đối tượng của hợp đồng đại lý thương mại
Đối tượng của hợp đồng đại lý thương mại là công việc mua bán hàng hóa
và cung ứng dịch vụ của bên đại lý cho bên giao đại lý Khi thực hiện hoạt độngđại lý, bên giao đại lý chỉ giao hàng hóa cho bên đại lý bán hàng, giao tiền chođại lý mua hàng hoặc là ủy quyền cung cấp dịch vụ cho bên đại lý Như vậy,quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ vẫn thuộc về bên giao đại lý, chứ không phảibên đại lý Khi bên đại lý giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, cung
Trang 13ứng dịch vụ với khách hàng thì khi đó quyền sở hữu mới được chuyển từ bêngiao đại lý sang khách hàng.
2.2.3 Hình thức của hợp đồng đại lý
Theo Điều 168 Luật thương mại 2005 quy định: Hợp đồng đại lý được xáclập dưới hình thức bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lýtương đương
Hình thức hợp đồng bằng văn bản là hình thức thể hiện hợp đồng mangtính pháp lý và chính xác cao Các bên tham gia hợp đồng cùng nhau ký kết mộthợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận Quantrọng hơn cả là trong văn bản cần có đủ chữ ký của tất cả các bên, mỗi bên thamgia hợp đồng sẽ được giữ một bản để thực hiện những gì đã thỏa thuận tronghợp đồng
Ngoài ra, hình thức của hợp đồng đại lý còn có các hình thức khác có giátrị tương đương Căn cứ theo khoản 15, Điều 3 Luật thương mại 2005 có quyđịnh rằng: Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo,telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.Như vậy, các bên của hợp đồng đại lý có thể giao kết hợp đồng thông qua cácphương tiện điện tử như email, máy fax, Khi giao kết bằng hình thức này sẽgiúp cho các bên rút ngắn được thời gian, khoảng cách địa lý cũng như thủ tụcnhanh gọn và đạt hiệu quả Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng pháp luật thì phầnlớn các hợp đồng đại lý đều được giao kết bằng hình thức văn bản, nhằm thểhiện rõ thỏa thuận của bên đại lý và bên giao đại lý, cũng như là cơ sở pháp lýthực tế để giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra
2.2.4 Nội dung của hợp đồng đại lý thương mại
Trang 14Luật thương mại 2005 không có quy định nào về nội dung hay các điềukhoản mà các bên cần phải thỏa thuận trong hợp đồng Việc thỏa thuận nhữngnội dung trong hợp đồng thì dựa vào ý chí của các bên Song để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như tránh trường hợp xảy ra tranh chấp,các bên cần phải thỏa thuận về một số điều khoản trong hợp đồng đại lý thươngmại Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận về hàng hóa hoặc dịch vụ đại lý, hìnhthức đại lý, thù lao đại lý, thời hạn đại lý, biện pháp bảo đảm thực hiện hợpđồng, chế tài do vi phạm hợp đồng,…Và một điều khoản quan trọng không thểthiếu là quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng để ràng buộctrách nhiệm pháp lý khi các bên thực hiện hợp đồng Như vậy, nội dung hợpđồng đại lý thương mại là những thỏa thuận của các bên được ghi nhận bằng cácđiều khoản trong hợp đồng và tránh trường hợp xảy ra tranh chấp (nếu có)
2.3 Nội dung của hợp đồng đại lý thương mại
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của Bên giao đại lý
a) Quyền của bên giao đại lý (Điều 172 Luật thương mại 2005):
- Ấn định giá mua, giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ đại lý chokhách hàng;
- Ấn định giá giao đại lý;
- Yêu cầu bên đại lý thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định của phápluật;
- Yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàng theo hợp đồng đại lý;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên đại lý
b) Nghĩa vụ của bên giao đại lý (Điều 173 Luật thương mại 2005):
- Hướng dẫn, cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho bên đại lý thực hiệnhợp đồng đại lý;
Trang 15- Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa,chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ;
- Trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên đại lý;
- Hoàn trả cho bên đại lý tài sản của bên đại lý dùng để bảo đảm (nếu có)khi kết thúc hợp đồng đại lý;
- Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên đại lý,nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mìnhgây ra
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ của Bên đại lý
a) Quyền của bên đại lý (Điều 174 Luật thương mại 2005):
- Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ trườnghợp quy định tại khoản 7, Điều 175 của Luật thương mại 2005;
- Yêu cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý; nhận lạitài sản dùng để bảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;
- Yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn, cung cấp thông tin và các điều kiệnkhác có liên quan để thực hiện hợp đồng đại lý;
- Quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng đối vớiđại lý bao tiêu;
- Hưởng thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại lýmang lại
b) Nghĩa vụ của bên đại lý (Điều 175 Luật thương mại 2005):
- Mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng theo giá hàng hóa,giá cung ứng dịch vụ do bên giao đại lý ấn định;
- Thực hiện đúng các thỏa thuận về giao nhận tiền, hàng với bên giao đạilý;
Trang 16- Thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quyđịnh của pháp luật;
- Thanh toán cho bên giao đại lý tiền bán hàng đối với đại lý bán; giaohàng mua đối với đại lý mua; tiền cung ứng dịch vụ đối với đại lý cung ứng dịchvụ;
- Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi giaođối với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lýmua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ trong trườnghợp có lỗi do mình gây ra;
- Chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao đại lý và báo cáo tình hình hoạtđộng đại lý với bên giao đại lý
- Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ được giaokết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch
vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó
2.4 Thanh toán trong hợp đồng đại lý
* Khi các bên của hợp đồng đại lý có thỏa thuận về việc thanh toán:
Căn cứ theo Điều 176 Luật thương mại 2005, các bên của hợp đồng đại lý
có quyền thỏa thuận về việc thanh toán trong hợp đồng đại lý trong quá trìnhthỏa thuận và ký kết hợp đồng đại lý Đối với điều khoản về thanh toán trongnội dung hợp đồng đại lý, bên giao đại lý và bên đại lý có thể thỏa thuận một sốnội dung sau:
+ Cách thức thanh toán: bằng tiền mặt, chuyển khoản,…;
+ Thời điểm thanh toán;
+ Địa điểm thanh toán;
+ Mức lãi suất khi chậm thanh toán;
+ Trường hợp được gia hạn thời hạn thanh toán;
Trang 17+ Nghĩa vụ báo trước khi chậm thanh toán và việc xin gia hạn thời hạnthanh toán.
Như vậy, khi giao kết hợp đồng đại lý, các bên cần thỏa thuận một cách rõràng, cụ thể, chi tiết và chặt chẽ về nghĩa vụ thanh toán để đảm bảo quyền lợicủa bên tham gia vào quan hệ đại lý thương mại Mặt khác, tránh trường hợpcác bên lợi dụng việc pháp luật còn quy định chung chung về điều khoản thanhtoán để kéo dài thời hạn thanh toán, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền vàlợi ích hợp pháp của bên còn lại
* Khi các bên của hợp đồng đại lý không có thỏa thuận về việc thanh toán:
Căn cứ vào Điều 176 Luật thương mại 2005, trong trường hợp các bên củahợp đồng đại lý không thỏa thuận điều khoản thanh toán trong hợp đồng đại lý
mà các bên đã ký kết thì việc thanh toán được thực hiện như sau: “Việc thanhtoán tiền hàng, tiền cung ứng dịch vụ và thù lao đại lý được thực hiện theo từngđợt sau khi bên đại lý hoàn thành việc mua, bán một khối lượng hàng hoá hoặccung ứng một khối lượng dịch vụ nhất định”
Như vậy, Luật thương mại 2005 cũng đã có quy định về việc thanh toáncủa các bên khi ký kết, thực hiện hợp đồng đại lý trong trường hợp các bênkhông thỏa thuận về vấn đề này Tuy vậy, những quy định này còn khá chung,chưa rõ ràng, cụ thể về các vấn đề trong việc thanh toán như: chưa đề cập tớicách thức thanh toán, thời hạn thanh toán nếu xảy ra tranh chấp thì sẽ lúngtúng, khó khăn trong tìm hiểu, xác nhận thông tin và giải quyết vấn đề
3 Thời hạn đại lý
3.1 Khái niệm
Theo Điều 144 Bộ luật Dân sự 2015: “Thời hạn là một khoảng thời gianđược xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác” Như vậy, thời hạn đại lý làmột khoảng thời gian xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác và trong
Trang 18khoảng thời gian đó, các bên tham gia quan hệ đại lý có các quyền và nghĩa vụvới nhau.
3.2 Nội dung của thời hạn đại lý
Nội dung của thời hạn đại lý được quy định cụ thể tại Điều 177 Luật thương mại
2005 như sau:
Trường hợp một, nếu các bên tham gia quan hệ đại lý có thỏa thuận về thời
hạn đại lý thì thời hạn đại lý được xác định, thực hiện và chấm dứt theo sự thỏathuận đó
Ví dụ: Doanh nghiệp A (Bên giao đại lý) và Doanh nghiệp B (Bên đại lý)
ký kết hợp đồng đại lý Trong hợp đồng có điều khoản: “Hợp đồng đại lý cóhiệu lực từ ngày 1/7/2016 đến ngày 1/7/2018” Như vậy, theo hợp đồng này thìthời hạn đại lý là 2 năm, và thời điểm chấm dứt quan hệ đại lý giữa 2 doanhnghiệp là ngày 1/7/2018
Trường hợp hai, nếu các bên tham gia quan hệ đại lý không có thỏa thuận
về thời hạn đại lý trong hợp đồng đại lý thì thời hạn đại lý sẽ chấm dứt theo quyđịnh của pháp luật, cụ thể như sau: “Thời hạn đại lý chấm dứt sau một thời gianhợp lý nhưng không sớm hơn 60 ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báobằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý”
Ví dụ: Doanh nghiệp A (Bên giao đại lý) và Doanh nghiệp B (Bên đại lý)
ký kết hợp đồng đại lý Trong hợp đồng, hai bên không thỏa thuận về thời hạnđại lý Ngày 1/7/2018, Doanh nghiệp A gửi văn bản thông báo cho doanh nghiệp
B về việc chấm dứt hợp đồng đại lý mà hai bên đã ký kết Như vậy, theo quyđịnh của pháp luật thì thời hạn đại lý sẽ chấm dứt sớm nhất là vào ngày1/9/2018 (tức là 60 ngày kể từ ngày thông báo) hoặc có thể vào một thời điểmhợp lý khác sau ngày 1/9/2018
3.3 Hậu quả pháp lý khi chấm dứt thời hạn đại lý
Trang 19Trường hợp một, nếu các bên có thỏa thuận về việc chấm dứt thời hạn đại
lý thì quyền và nghĩa vụ của các bên khi thời hạn đại lý chấm dứt được thựchiện theo thỏa thuận đó
Trường hợp hai, nếu các bên không có thỏa thuận về việc chấm dứt thời
hạn đại lý thì hậu quả pháp lý sau khi chấm dứt thời hạn đại lý được quy địnhnhư sau:
Nếu Bên giao đại lý là bên thông báo chấm dứt hợp đồng thì bên đại lý cóquyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình
đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó
Nếu Bên đại lý là bên thông báo chấm dứt hợp đồng thì bên đại lý không
có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường
4 Các hình thức đại lý thương mại
Theo quy định tại Điều 169 Luật thương mại 2005 thì có các hình thứcđại lý thương mại sau: Đại lý bao tiêu; Đại lý độc quyền, Tổng đại lý mua bánhàng hóa, cung ứng dịch vụ
4.1 Đại lý bao tiêu
Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bántrọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bêngiao đại lý
Ví dụ: Công ty A ký kết hợp đồng với công ty B Nội dung của hợp đồng
là công ty B phải thực hiện việc bán 1000 thùng sữa do công ty A sản xuất.Công ty A có trách nhiệm giao hàng cho công ty B tại các địa điểm mà công ty
B sẽ tổ chức bán hàng, tuy nhiên 1000 thùng sữa này vẫn thuộc quyền sở hữucủa công ty A và sẽ chuyển giao quyền sở hữu này cho khách hàng khi công ty
B bán được hàng cho khách hàng Công ty B tự trang bị cơ sở vật chất, địa điểmkinh doanh để tiến hành bán các thùng sữa này và nhận thù lao khi thực hiện
Trang 20xong công việc này Khoản thù lao được tính bằng khoản chênh lệch giá giữagiá bán hàng hóa và giá giao đại lý.
Trong ví dụ này có thể xác định được hợp đồng mà hai công ty đã ký kết làhợp đồng đại lý Và hình thức đại lý ở đây là đại lý bao tiêu (Công ty B là đại lýbao tiêu cho công ty A), vì theo nội dung của hợp đồng thì công ty B phải thựchiện việc bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa (1000 thùng sữa) cho phía công
ty A
4.2 Đại lý độc quyền
Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất địnhbên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặccung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định
Ví dụ: Công ty A ký kết hợp đồng với công ty B Nội dung của hợp đồng là
công ty B sẽ bán các mặt hàng bánh, kẹo do công ty A sản xuất trên địa bànthành phố Huế Và tại địa bàn thành phố Huế, công ty A sẽ chỉ giao các mặthàng bánh, kẹo mà mình sản xuất cho duy nhất một công ty để thực hiện việcbán các mặt hàng này là công ty B Công ty A sẽ giao hàng cho công ty B theocác đơn đặt hàng mà công ty B gửi tới và công ty B có trách nhiệm nhân danhchính mình bán các mặt hàng này và sẽ được hưởng thù lao Khoản thù lao nàyđược tính bằng 5% trên giá bán hàng hóa mà bên giao đại lý ấn định
Trong ví dụ này có thể xác định được hợp đồng mà hai công ty đã ký kết làhợp đồng đại lý Và hình thức đại lý ở đây là đại lý độc quyền (Công ty B là đại
lý độc quyền của công ty A tại địa bàn Thành phố Huế), vì theo nội dung hợpđồng thì công ty B là công ty duy nhất được công ty A giao hàng và bán các sảnphẩm của công ty A trên địa bàn thành phố Huế
4.3 Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ