1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về QUẢNG cáo THƯƠNG mại lý LUẬN và THỰC TIỄN HOÀN THIỆN

70 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau này,”Advertise” được các nhà dịch giả giải nghĩa là gây sự chú ý ở người khác.1 Theo điều 102 Luật thương mại 2005 “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến của thương nhân để giớ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOÀN THIỆN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:

Lớp: Luật Thương mại 02 - K31

Cần Thơ, 4/2009

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI … 3

1.1 Những khái niệm chung ……… 3

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển ……… 4

1.3 Vai trò của quảng cáo thương mại ……… 7

1.4 Chức năng của quảng cáo thương mại……… 9

1.5 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động quảng cáo……… 10

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI … 12

2.1 Chủ thể tham gia quảng cáo……… 12

2.1.1 Người quảng cáo……… 12

2.1.2 Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo……… 16

2.1.3 Người phát hành quảng cáo……… 20

2.1.4 Người cho thuê phương tiện quảng cáo……… 21

2.2 Hàng hóa dịch vụ quảng cáo thương mại……… 21

2.3 Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại……… 24

2.3.1 Sản phẩm quảng cáo thương mại……… 24

2.3.2 Phương tiện quảng cáo thương mại……… 26

2.3.2.1 Các phương tiện thông tin đại chúng ( Báo chí)………… 27

2.3.2.2 Các phương tiện truyền tin (mạng intrentet, điện thoại di động) 31 2.3.2.3 Các loại xuất sản phẩm ……… 33

Trang 5

2.3.2.4 Quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, màn hình, băng-rôn, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, vật thể di động khác và các hình thức

tương tự……… 33

2.3.2.5 Quảng cáo trên các phương tiện khác……… 35

2.4 Điều Kiện Thủ Tục, Thẩm Quyền Cấp phép……… 37

2.5 Các hoạt động quảng cáo bị cấm……… 40

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI ……… 44

3.1 Thực tiễn về quảng cáo thương mại……… 44

3.2 Hướng hoàn thiện về pháp luật quảng cáo thương mại……… 52

3.3 Một số điểm mới của luật quảng cáo trong dự thảo luật quảng cáo năm 2010 để hoàn thiện pháp luật quảng cáo Việt Nam……… 55

KẾT LUẬN……… 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài

Ngày nay, xúc tiến thương mại bằng các hình thức khuyến mại, quảng cáo, trưng bài giới thiệu hàng hóa dịch vụ và hội trợ, triển lãm thương mại đang

là những hoạt động thương mại được thương nhân thực hiện một cách phổ biến

để tìm kiếm và thúc đẩy cơ hội thương mại trong nền kinh tế thị trường Trong

đó, quảng cáo là phương thức tuyên truyền quan trọng, nó như một kênh thông tin đại chúng của doanh nghiệp khi muốn chuyền thông tin ra bên ngoài, tiếp cận khách hàng một cách nhanh chóng Đó cũng là kênh quan trọng để doanh nghiệp

có thể giới thiệu sản phẩm của mình hay đơn giản đó cũng là một chiêu thức để doanh nghiệp nhắc nhở cho đối tượng mà họ muốn nhắc tới về sự duy trì và sự tồn tại, sự phát triển ngày một lớn mạnh của chính mình

Mặc khác, quảng cáo còn là người bạn thân thiết của người tiêu dùng, nó giúp người tiêu dùng tiếp cận với nhiều dòng sản phẩm với nhiều tính năng ưu việt, giúp người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn, đồng thời quảng cáo còn giới thiệu tới người tiêu dùng nhiều sản phẩm mới phục vụ hữu ích hơn cho cuộc sống

Khi đất nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới, khi WTO thực sự hòa nhập vào đời sống kinh tế Việt Nam sẽ kéo theo một làn sống đầu tư mới cho thị trường quảng cáo nước ta Đề đứng vững trên thị trường hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam phải có phương pháp kinh doanh đúng đắn và phù hợp, phải sáng tạo cho từng sản phẩm, phải cho ra đời các sản phẩm quảng cáo có sự hấp dẫn lôi cuốn Khi tham gia tổ chức thương mại quốc tế WTO mọi hoạt động phải theo cam kết mà nước ta đã kí kết, theo đó nước ta sẽ dần dần tháo bỏ rào cản pháp lí với các doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tạo ra sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp Chính điều này đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước nhiều thử thách lớn nhưng đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam tự khẳng định mình Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện nay về xúc tiến thương mại nói chung, quảng cáo nói riêng không tránh khổi thiếu sót và đã tạo

ra nhiều bất cập trong quá trình áp dụng nên cần tiếp tục nghiêm cứu hoàn thiện Những điều nói trên cũng là lí do mà người viết lựa chọn đề tài “Pháp luật về quảng cáo thương mại- thực tiễn và hướng hoàn thiện”

2 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Phạm vi nghiêm cứu của đề tài là các qui định của pháp luật về quảng cáo thương mại Nội dung của đề tài chủ yếu tìm hiểu các qui định của pháp luật về chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo thương mại, sản phẩm,phương tiện quảng cáo thương mại, điều kiện kinh doanh, hợp đồng quảng cáo thương mại, hình thức quảng cáo bị cấm và một số đống góp ý kiến giúp pháp luật quảng cáo hoàn

thiện hơn

Phương pháp nghiêm cứu chủ yếu được sử dụng để làm rõ vấn đề, người viết đã sử dụng các phương pháp như sau: phân tích, so sánh, thống kê… ngoài

ra, còn sử dụng một số phương pháp diễn dịch, quy nạp,…

3.Cấu trúc của đề tài:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung:

ﮦ Chương 1: Khái quát chung về quảng cáo thương mại

ﮦ Chương 2: Quy chế pháp lý về quảng cáo thương mại

ﮦ Chương 3: Thực tiễn và hướng hoàn thiện

- Phần kết luận

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI

1.1 Những khái niệm chung

Ở góc độ ngôn ngữ học quảng cáo có nghĩa là thông báo, thông tin một cách rộng rãi là một hoạt động cần thiết trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội

Quảng cáo theo tiếng Latin là “Adverture” có nghĩa là thu hút lòng người,

là gây sự chú ý và gợi dẫn Sau này khoảng những năm 1300_1475 thuật ngữ này được dịch sang tiếng anh có nghĩa là “advertise” có nghĩa là gây sự chú ý đến một cự kiện nào đó Sau này,”Advertise” được các nhà dịch giả giải nghĩa là gây

sự chú ý ở người khác.(1)

Theo điều 102 Luật thương mại 2005 “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”

Quảng cáo nhằm tăng cường sự nhận thức của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp: giới thiệu sản phẩm mới với các khách hàng, củng cố sức mua đối với sản phẩm đã được ưa chuộng, thúc đẩy hành vi mua hàng, sử dụng dịch

vụ thương mại Đồng thời quảng cáo còn giúp khách hàng hiểu biết về doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ Trong hoạt động kinh doanh thương mại, quảng cáo đươc xem là phương tiện quảng bá sản phẩm nhằm xúc tiến hàng hóa,

là công cụ marketing có hiệu quả cao và là phương tiện giúp tích lũy tài sản vô hình cho doanh nghiệp

Quảng cáo còn là hình thức tuyên truyền, giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, đồng thời quảng cáo còn là những nổ lực nhằm tác động đến hành

vi thoái quen mua hàng của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung ứng những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán Như vậy, quảng cáo không chỉ để bán một sản phẩm nào đó mà nó còn tạo ra thói quen tiêu dung, thói quen sinh hoạt giống nhau Nó kích thích gợi

(1)

Nguyễn Thị Xuân Hương, xúc tiến bán hàng trong kinh doanh thương mại_ nhà xuất bản thống kê

Trang 9

mở “túi tiền” Nó giúp quảng bá thương hiệu, tìm nhà đầu tư, thuyết phục đối tác cùng làm ăn Tương tác mang tính kinh doanh ấy là một phương thức tiếp thị nhằm vào nhóm khách hàng nhất định Cũng có thể làm tăng doanh số bán hàng hoặc chỉ đơn giản là lấy tiếng tốt cho mình

Theo pháp lệnh quảng cáo năm 2001 thì: “quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời” Theo các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay coi quảng cáo thương mại và quảng cáo nói chung là như nhau, chúng tồn tại song song với nhau Vì vậy, thương nhân hoat động quảng cáo thương mại phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quảng cáo thương mại và các văn bản pháp luật về quảng cáo nói chung.(2)

Quảng cáo thương mại được xem là hoạt động giới thiệu hàng hóa và dịch

vụ thương mại của thương nhân thông qua các phương tiện quảng cáo như: các

ấn phẩm, bảng, biển, pano, các phương tiện thông tin đại chúng… nhằm mục đích xúc tiến thương mại, thương nhân còn sử dụng các phương tiện quảng cáo thuộc dạng lưới kinh doanh như: bao bì, quảng cáo thông qua người bán hàng Quảng cáo có ý nghĩa thông tin đến khách hàng về chủng loại, chức năng, giá cả,… của hàng hóa từ đó kích thích mua hàng hóa của người tiêu dùng.(3)

Như vậy, thương nhân có thể cung cấp cho người tiêu dùng khả năng nhận biết, phân biệt hàng hóa dịch vụ, có thể thu hút được khách hàng sử dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty mình thông qua việc nhấn mạnh các đặc điểm và lợi ích

cụ thể của nhản hiệu, hoặc so sánh tính ưu việt của sản phẩm cùng loại Đây là những lợi thế mà thương nhân có thể khai thác, nó có ý nghĩa to lớn trong việc định hướng nhu cầu xã hội.(4)

Trang 10

hình thức quảng cáo là người Ai Cập cổ Ông đã dáng tờ thông báo đầu tiên trên tường thành Thebes vào khoảng 3000 năm trước công nguyên Nội dung quảng cáo của Ông không phải là quảng bá một sản phẩm nào đó mà nó thông báo về việc Ông sẽ thưởng cho người nào tìm thấy một nô lệ của Ông đã bỏ trốn

Trong thời kì chiếm hữu nô lệ quảng cáo bằng miệng bắt đầu xuất hiện, người thực hiện các quảng cáo này là chủ nô Khi bán các nô lệ họ thường quảng

bá về các nô lệ: “chúng có đôi mắt rất to, mắt rất tinh, hai tay và hai mắt nhanh nhẹn”

Vài thế kỷ sau tờ thông báo đầu tiên, ở Hi Lạp hình thức thông báo này trở nên rất phổ biến, các thông tin dành cho công chúng được vẽ lên các bảng gổ trưng bày ở quảng trường thành Phố

Ở châu Âu, thời kỳ Trung Cổ tờ báo viết tay “Acdirum-chuyện hằng ngày” được coi là tờ báo đầu tiên trên thế giới có đăng quảng cáo Trong nội dung của tờ báo này thường có những thông báo về việc cưới hỏi, tang gia, hợp mặt… của những gia đình giàu có lúc bấy giờ ở La Mã

Nếu các bảng quảng cáo ra đời và phát triển nhanh sau sự ra đời của phương pháp in ( bức áp phích đầu tiên do Caton, người Anh in từ năm 1477) thì họa sĩ người Pháp J.Cheret (1835_1932) lại là người phát minh ra hình thức quảng cáo hiện đại Đó là tờ quảng cáo cho một cuộc biểu diển năm 1867, gồm một câu ngắn gọn và một câu màu mè gây ấn tượng mạnh Tuy nhiên, họa sĩ người Itali L.Cappiello (1785_1942) mới là người đầu tiên thực sự đề cập đến Áp Phích quảng cáo với tấm biển quảng cáo kẹo chocolate “klaus” của Ông năm

1903

Ở Việt Nam quảng cáo thương mại hình thành và phát triển theo từng thời

kì Thời kì thực hiện cơ chế hóa tập trung các thành phần thương mại tư bản tư doanh và thương mại cá thể bị xóa bỏ, thành phần chủ yếu là thương mại quốc doanh và tập thể Hoạt dộng kinh doanh được thực hiện theo chỉ tiêu kế hoạch

Đo đó, sản xuất bị kèm hãm khiến cung và cầu bị mất cân đối nghiêm trọng, sản phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ chính sách phân phối của nhà nước Trong giai đoạn này không xuất hiện khái niệm cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Vì vậy, mọi hoạt động xúc tiến thương mại hầu như không được thực hiện, do đó hoạt động xúc tiến thương mại chỉ dừng lại ở các hình thức đơn giản như: treo biển, dáng áp phích hoặc tờ rơi… chi phí cho hoạt động thương mại là rất thấp Trong

Trang 11

điều kiện này các công ty chuyên kinh doanh dịch vụ quảng cáo hầu như không

có hoạt động

Đại hội VI, đánh dấu bước ngoặc trong đổi mới chính sách và cơ chế quản

lí chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nền kinh tế Việt Nam dần dần khôi phục và phát triển Từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với quan điểm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Điều này tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, đầu tư vào sản xuất kinh doanh góp phần đưa Việt Nam vào giai đoạn phát triển mới, giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nền kinh tế mở đã khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Vì thế, hàng hóa dịch vụ ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường, chấm dứt thời kì khan hiếm, thiếu hục hàng hóa Hàng hóa dịch

vụ đã ngày càng đáp ứng được nhu cầu của người dân

Sau một thời gian thực hiện chính sách mở cửa họat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra sôi động, nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng, cùng kinh doanh một loại dịch vụ Chính yếu tố này đã làm xuất hiện sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp Họ luôn nghĩ phải làm như thế nào để hàng hóa, dịch vụ của mình được nhiều người biết đến và sử dụng chúng Đặc biệt, ngày 01/01/2007 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO thì sự cạnh tranh càng cao, không những giữa hàng hóa dịch vụ trong nước mà cả với hàng hóa dịch vụ nước ngoài

Khi xuất hiện sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp họ sẽ tìm cách quảng

bá cho sản phẩm của mình chính vì thế họ tìm đến quảng cáo-một hoạt động quảng bá cho sản phẩm, dịch vụ của họ một cách nhanh chống và hiệu quả Chính điều kiện này tạo điều kiện cho quảng cáo ra đời và phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam Với nền kinh tế ngày một phát triển thì hoạt động quảng cáo cũng phải thay đổi theo Hiện nay, họat động quảng cáo ngày một mang tính chuyên nghiệp hơn, sáng tạo hơn, chuyển tải được các nội dung cần thiết đến người tiêu dùng Hoạt động quảng cáo ngày càng diễn ra sôi động và ngày càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này

Từ năm 1986 nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật, dưới luật để điều chỉnh hoạt động, cụ thể như:

Nghị định 194/1994/ NĐ_CP ngày 31/ 12/ 1994 của chính phủ quy định về hoạt động quảng cáo trên lảnh thổ Việt Nam

Trang 12

Nghị định 87/ 1995/ NĐ_CP ngày 12/ 12/ 1995 của chính phủ về tăng cường hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa Đẩy mạnh và bày trừ một số tệ nạn

xã hội nghiêm trọng

Nghị định số 1/1996/ NĐ_CP ngày 03/ 01/ 1996 của chính phủ qui định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại

Năm 1997 luật thương mại 1997 ra đời

Nghị định 32/1999/ NĐ_CP ngày 05/5/1999 của chính phủ qui định về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội trợ triển lãm

Pháp lệnh quảng cáo 2001 số 39/ 2001/ PL_UBTVQH 10 được ủy ban thường vụ quốc hội khóa X thông qua ngay 16/ 11/ 2001 và có hiệu lực ngày 01/ 5/ 2002

NĐ 24/2003/ NĐ_CP ngày 13/3/2003 chính phủ qui định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo

Thông tư số 43/ 2003/NĐ_CP ngày 13/ 3/ 2003 của chính phủ qui định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo

Thông tư số 43/ 2003/ TT_BVHTT hướng dẫn thực hiện số 20/2003/ NĐ_CP ngày 13/ 3/ 2003 của chính phủ qui định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo

Luật thương mại 2005 ra đời có hiệu lực ngày 01/ 01/ 2006 thay thế luật thương mại 1997 là một bước tiến thương mại ở Việt Nam, phù hợp hơn với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay Đồng thời qui định nghị định số 37/ 2006/ NĐ_CP của chính phủ qui định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại

Tuy nhiên, Pháp lệnh quảng cáo 2001 đến nay đã không còn phù hợp, không còn đáp ứng được sự phát triển của ngành quảng cáo Vừa qua dự thảo luật quảng cáo đã được đem ra lấy ý kiến Theo các doanh nghiệp để luật đi vào cuộc sống thì còn nhiều vấn đề phải sửa đổi bổ xung…

1.3 Vai trò của quảng cáo thương mại

Do sản xuất và kinh doanh phát triển dẫn đến khối lượng lớn hàng hóa với

cơ cấu đa dạng đưa ra thị trường làm cho việc bán hàng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt ngày nay trong cơ chế thị trường muốn để cho người tiêu dùng biết và tự tìm đến sản phẩm của mình buộc các thương nhân phải có kế hoạch tuyên truyền

Trang 13

quảng cáo hàng hóa của mình đây là khâu không thể thiếu đối với các doanh

nghiệp

Trước tiên quảng cáo có vai trò đối với người tiêu dùng Hiện nay quảng cáo xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi và nó có khả năng tác động mạnh mẽ đến người tiêu dùng trong xã hội Kích thích nhu câu của người tiêu dùng rút ngắn thời gian lựa chọn sản phẩm, dịch vụ giúp người tiêu dùng dễ dàng phân biệt so sánh, nhận biết được mình đang cần sản phẩm như thế nào và sản phẩm nào sẻ giúp họ phục

vụ nhu cầu cuộc sống tốt hơn Giới thiệu đến người tiêu dùng những sản phẩm mới tiện lợi hơn, ưu việt hơn Qua đó, doanh nghiệp có thể nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng để kịp thời cải tiến sản phẩm của mình và sẽ cho ra đời những sản phẩm hoàn hảo, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Điều này đồng nghĩa với việc đời sống gia đình xã hội được nâng cao hơn dẫn đến thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hơn thế nửa, qua đó sẽ làm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận biết được những xu hướng tiêu dùng lành mạnh, tiếp cận những sản phẩm có uy tín và chất lượng, giúp họ có những kiến thức nhất định phân biệt được hàng giả, hàng thật, hàng kém chất lượng, từ đó biết cách tự

đề phòng khi mua sắm

Trong nền kinh tế thị trường quảng cáo là công cụ được các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và kinh doanh dịch vụ sử dụng để thúc đẩy người tiêu dung sử dụng dịch vụ của mình Thông qua việc quảng cáo, nó tác động rất lớn đối với

các doanh nghiệp của họ qua một số biểu hiện như sau:

Cung cấp thông tin giúp khách hàng liên hệ với doanh nghiệp, nâng cao nhận thức của khách hàng về doanh nghiệp để tạo thuận lợi cho việc bán hàng và cung cấp dịch vụ lâu dài; thông báo cho mọi người về sản phẩm độc đáo hoặc lợi ích đặc thù mà sản phẩm của doanh nghiệp mang lại để phân biệt với các đối thủ cạnh tranh.(5)

Ngày nay, trong su thế phát triển chung của nền kinh tế sức ảnh hưởng của quảng cáo cũng tăng lên và ngày một lan rộng Nó không chỉ tác động mạnh mẽ lên người tiêu dung mà còn tác động lên các nhà đầu tư, thu hút được nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta hội nhập và phát triển Quảng cáo không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho doanh nghiệp (trừ doanh

(5)

www.google.com.vn, Bài: tác động của quảng cáo đối với công ty bạn

Trang 14

nghiệp kinh doanh dịch vụ Quảng cáo), nhưng thông qua quảng cáo sẽ tạo cơ hội cho việc trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ của thương nhân diễn ra nhanh

chống và thuận lợi hơn (giáo trình Luật thương mại_ khoa Luật, Đại Học cần

Thơ) Nhờ vậy, doanh số bán hàng của doanh nghiệp sẽ tăng lên rút ngắn được

thời gian thu hồi vốn Giúp cho nhà doanh nghiệp và người tiêu dung có nhu cầu

về sản phẩm dịch vụ sẻ dễ dàng gặp nhau để trao đổi hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình Vì vậy, quảng cáo được xem như chiếc cầu nối giữa nhà kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dung

Ngày nay, khi đất nước chúng ta đang gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO quảng cáo giúp doanh nghiệp Việt Nam quảng bá, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến bạn bè trong khu vục và trên thế giới, thương hiệu Việt có cơ hội bay cao, bay xa hơn Qua đó, cũng là một thử thách lớn đối với Việt Nam nói chung

và với các doanh nghiệp nói riêng Cần nâng cao hơn nữa trình độ đội ngũ cán

bộ, trang thiết bị cũng như những chiến lược kinh doanh sắc bén, sẳn sàng cạnh tranh lành mạnh và phát triển với các quốc gia cường quốc trên thế giới

1.4 Chức năng của quảng cáo thương mại

Cùng với vai trò của quảng cáo như đã nói trên, chức năng của quảng cáo thương mại có chức năng không kém phần quan trọng đối với người tiêu dùng, các doanh nghiệp và cho đất nước

Trước tiên, chức năng của quảng cáo như là một công cụ bán hàng: thực chất quảng cáo là công cụ bán hàng gián tiếp, những quảng cáo tốt sẽ khích lệ được khách hàng nhanh chóng hành động Tuy nhiên, quảng cáo không mang lại hiệu quả nhanh chóng và trước mắt, vì quảng cáo thường gây ra hiệu ứng tích lũy hay hiệu ứng chậm, không như khuyến mại hay hoạt động bán hàng khác nhưng

nó có khã năng lôi kéo khách hàng tiền ẩn Quảng cáo là quá trình thông tin được lập lại nhiều lần vì vậy chúng dễ dàng tác động đến người tiêu dùng và ăn sâu vào tiềm thức của họ vì thế khi cần thiết họ lập tức sử dụng sản phẩm hoặc dịch

vụ của các doanh nghiệp mà họ đã được biết đến thông qua hoạt động quảng cáo

Hiện nay, một số các doanh nghiệp còn tổ chức các sự kiện quảng cáo đây

là hình thức mang lại hiệu quả cao Ví dụ Công Ty Cổ Phần Kymdan vừa tổ chức trao giải cuộc thi “ người đẹp kymdan qua anh_2008” Đây là cuộc thi được tổ chức lần đầu tiên với mục đích tìm kiếm những gương mặt thân thiện, khả ái để quảng bá hình ảnh và quảng bá thương hiệu Kymdan đến người tiêu dùng trong

Trang 15

cả nước Từ hoạt động đó, doanh thu 7 tháng đầu năm của Kymdan tăng 27% so

Quảng cáo còn là công cụ thuyết phục người tiêu dùng: một thương hiệu hay một sản phẩm, dịch vụ mới khi thâm nhập thị trường rất cần có những chương trình quảng cáo rộng rãi trên báo chí, phương tiện truyền thông… để người tiêu dùng có những nhận biết đầu tiên về chúng Việc này làm tăng nhận thức của khách hàng về sự tồn tại của hàng hóa, dịch vụ Với những thông điệp

và hình ảnh thống nhất đánh trúng vào tâm lí và ý thích của khách hàng, dần dần

sẽ thuyết phục được khách hàng tin tưởng vào chất lượng của hàng hóa, dịch vụ đồng thời tạo ra cho khách hàng tâm lí “tò mò” muốn sử dụng để biết rõ hơn về chất lượng sản phẩm

Quảng cáo- công cụ hướng dẫn, định hướng cho người tiêu dùng Quảng cáo sẽ giúp cho người tiêu dùng nhận biết được các sản phẩm hữu ích và sử dụng chúng, điều này phụ thuộc rất lớn vào ý thức bảo vệ người tiêu dùng của các doanh nghiệp, vì mỗi công ty, mỗi xí nghiệp kinh doanh đều mong muốn khi tham gia vào thị trường sẽ làm được nhiều sản phẩm, có nhiều khách hàng và thu được lợi nhuận cao… chính những yếu tố này sẽ làm cơ sở để các doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Ngược lại, nếu cứ vì lợi nhuận mà quên đi lợi ích của người tiêu dùng, sử dụng các sản phẩm quảng cáo sai sự thật thì sẽ không tạo ra

sự hướng dẫn cho người tiêu dung mà khiến người tiêu dung bị nhằn lẫn, bị lừa dối

Một sản phẩm mới ra đời nếu không được giới thiệu, quảng bá đến người tiêu dùng thì người tiêu dùng sẽ không nhận thức được những lợi ích cũng như những lợi nhuận khi sử dụng sản phẩm nhưng nếu quảng cáo sai sự thật hoặc phóng đại sự thật thì sẽ ảnh hưởng người tiêu dùng để người tiêu dùng tin tưởng

sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mới phù hợp với nền kinh tế hiện nay Từ đó, giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian hơn, thu được hiệu quả cao hơn…

1.5 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động quảng cáo

Trong những năm gần đây quảng cáo thương mại ngày càng phát triển một cách rộng rãi và đại trà Các hoạt động quảng cáo có thể đem lại những lợi ích nhất định cho thương nhân, cho người tiêu dùng, quảng cáo còn tạo ra sự cạnh tranh khuyến khích đầu tư cải tiến kỹ thuật tạo nền tảng cho sự phát triển

Trang 16

của nền kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động quảng cáo gặp nhiều cạnh tranh như sự cạnh tranh gay gắt giữa các thương nhân dịch vụ quảng cáo và các thương nhân sản xuất hàng hóa dịch vụ khác Những yếu tố này đã thúc đẩy một số thương nhân sử dụng phương thức cạnh tranh không lành mạnh gây ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng, nhà sản xuất… Những biểu hiện đó là quảng cáo không trung thực trái với chuẩn mục đạo đức kinh doanh, quảng cáo sai sự thật nhằm lừa dối khách hàng… Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người tiêu dùng

và môi trường kinh doanh

Chính vì thế, pháp luật của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều xây dựng các quy định pháp luật nhằm bảo đảm tín cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh công bằng của hoạt động thương mại, bảo vệ lợi ích công cộng, bào vệ lợi ích người tiêu dung trước hành vi quảng cáo không lành mạnh, quảng cáo sai sự thật, quảng cáo gian dối… Quảng cáo thương mại là một hoạt dộng tự do của các doanh nghiệp để đẩy mạnh hiệu quả của các hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, không phải là các doanh nghiệp có sự tự do tuyệt đối mà sự

tự do này chỉ mang tính chất tương đối

Ngoài ra, nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật về quảng cáo thương mại thì các loại hình quảng cáo sẽ diển ra tràn lan không theo một quy cách hay trật tự nào cả; quảng cáo sẽ xuất hiện nhiều đoạn phim, lời thoại…gây “phản cảm” cho người tiếp nhận; các biển quảng cáo ngoài trời sẽ rất “hỗn độn” hạn chế tầm nhìn, cản trở giao thông…

Mặc khác, nếu các đường phố tràn đầy các biển quảng cáo, băng rôn, áp phích… sẽ làm mất đi vẽ mỹ quan đô thị Với tầm quang trọng của quảng cáo thương mại không thể không có văn bản pháp luật điều chỉnh, hướng dẫn thực hiện hoạt động quảng cáo để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng của các doanh nghiệp và của toàn xã hội

Trang 17

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI

Quảng cáo thương mại là một hoạt động xúc tiến thương mại phức tạp, nó

có thể tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau

2.1 Chủ thể tham gia quảng cáo

2.1.1 Người quảng cáo

Theo pháp luật hiện hành, luật thương mại 2005 thì chủ thể quảng cáo thương mại gồm:

1 Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài được phép hoạt động thương mại tại Việt Nam có quyền quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việc quảng cáo thương mại cho mình

2 Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân mà mình đại diện

3 Thương nhân nước ngoài muốn quảng cáo thương mại về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Nam phải thuê thương nhân kinh

Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có nhu cầu quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình Hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ bao gồm dịch vụ có mục đích sinh lợi và dịch vụ không có mục đích sinh lợi Do

(6)

Điều 103 luật thương mại

Trang 18

đó, người quảng cáo có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân Hoạt động quảng cáo thương mại của thương nhân phải luôn luôn tuân thủ pháp luật Việt Nam và không làm phương hại đến lợi ích của xã hội, đến trật tự công cộng, gây mất thuần phong mỹ tục, trái với đạo đức, lối sống của người Việt Nam.Tổ chức cá nhân quảng cáo về kinh doanh hàng hóa dịch vụ phải có đủ các điều kiện sau:

- Phải có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật;

- Quảng cáo sản phẩm hàng hóa phải áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam, phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam;

- Quảng cáo sản phẩm hàng hóa phải áp dụng tiêu chuẩn ngành hoặc tiêu chuẩn khác thì phải có giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Quảng cáo thuốc, nhiên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, vắc xin, sinh phẩm miễn dịch, dụng cụ, trang thiết bị y tế, dịch vụ y tế và quảng cáo thực phẩm phải thông báo đầy đủ nội dung sản phẩm quảng cáo với bộ Y Tế hoặc sở Y Tế nếu được sở Y Tế ủy quyền Chỉ được quảng cáo thuốc theo danh mục thuốc được quảng cáo theo danh mục của bộ y tế ban hành;

- Việc quảng cáo các sản phẩm thay thế sữa mẹ phải tuân theo các quy định của pháp luật về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ;

- Quảng cáo các sản phẩm sinh học phục vụ trồng trọt chăn nuôi, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, chế phẩm phân bón, giống cây trồng, giống vật nuôi phải thông báo đầy đủ nội dung quảng cáo đến Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn;

- Quảng cáo về sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhản hiệu hàng hóa tên gọi, xuất xứ hàng hóa chỉ dẫn địa lí, tên thương mại, quyền tác giả.(7)

○ Tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo trên bảng, biển, pa-nô, băng-rôn, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, vật thể di động khác và các hình

(7)

Điều 17 Nghị Định 24/2003/NĐ_CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo

Trang 19

thức quảng cáo tương tự phải gửi hồ sơ xin phép đến Sở Văn hoá - Thông tin nơi thực hiện quảng cáo Hồ sơ gồm:

a) Đơn xin thực hiện quảng cáo;

b) Bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo (đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo) hoặc bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề, hàng hoá (đối với doanh nghiệp, cá nhân tự quảng cáo);

c) Bản sao có giá trị pháp lý giấy đăng ký chất lượng hàng hoá hoặc các giấy tờ tương tự về chất lượng hàng hoá đối với hàng hoá quảng cáo mà pháp luật quy định phải đăng ký chất lượng;

d) Mẫu (makét) sản phẩm quảng cáo;

đ) Văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền về xây dựng đối với bảng, biển, pa-nô, màn hình treo, đặt, dán, dựng ở ngoài trời mà pháp luật về xây dựng quy định phải thẩm định về kết cấu xây dựng

e) Đối với quảng cáo trong lĩnh vực Y Tế hoặc nông nghiệp phải có văn bản tiếp nhận hồ sơ đăng ký nội dung quảng cáo có giá trị pháp lý của cơ quan quản

lý nhà nước về y tế đối với quảng cáo trong lĩnh vực y tế hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp đối với quảng cáo trong lĩnh vực nông nghiệp quy định tại các khoản 4 và 6 Điều 17 Nghị định số 24/2003/NĐ-CP: Quảng cáo thuốc và nhiên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, vắc xin, sinh phẩm miễn dịch, dụng cụ, trang thiết bị y tế, dịch vụ y Tế và quảng cáo thực phẩm phải thông báo đầy đủ nội dung sản phẩm quảng cáo với Bộ Y Tế hoặc sở Y Tế nếu được Bộ Y Tế ủy quyền Trong trường hợp không đồng ý với sản phẩm quảng cáo, Bộ Y Tế hoặc

Sở Y Tế phải thông báo bằng văn bản cho người quảng cáo và người kinh doanh dịch vụ quảng cáo

Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo, nếu Bộ Y Tế hoặc Sở Y Tế không có văn bản trả lời thì người quảng cáo hoặc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có quyền thực hiện quảng cáo theo nội dung đã thông báo

Chỉ được quảng cáo thuốc theo danh mục thuốc được quảng cáo do Bộ Y

tế ban hành

Trang 20

○ Quảng cáo các sản phẩm sinh học phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón chế phẩm phân bón, giống cây trồng, giống vật nuôi phải thông báo đầy đủ nôi dung quảng cáo với Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Trong trường hợp không đồng ý với nội dung thông báo, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn phải thông báo bằng văn bản cho người quảng cáo hoặc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo

Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo nếu Bộ Nông Nghiêp và Phát Triển Nông Thôn không có văn bản trả lời thì người quảng cáo hoặc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có quyền thực hiện quảng cáo theo nội dung đã thông báo

g) Đối với quảng cáo khuyến mại phải có văn bản có giá trị pháp lý xác nhận về nội dung chương trình khuyến mãi của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại

Trường hợp xin gia hạn thực hiện quảng cáo (nếu không thay đổi về nội dung, hình thức, địa điểm, kích thước) phải gửi đơn xin gia hạn thực hiện quảng cáo kèm theo giấy phép thực hiện quảng cáo đã cấp.(8)

Các chủ quảng cáo muốn tiến hành quảng cáo thì phải xin phép Bộ Văn Hóa Thông Tin hoặc Sở Văn Hóa thông Tin Hồ sơ xin phép gồm :

Tối đa không quá mười ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ Bộ Văn Hóa Thông Tin hoặc Sở Văn Hóa Thông tin phải cấp giấy phép thực hiện quảng cáo Trong trường hợp không cấp giấy phép phải trả lời bằng văn bản.(9) Quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thực hiện quảng cáo mà người xin quảng cáo không thực hiện thì giấy phép không còn hiệu lực.(10)

► Người quảng cáo có các quyền và nghĩa vụ sau:

1 Người quảng cáo có các quyền sau đây:

a) Quảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ của mình;

(8)

Mục 3 điều 3 thông tư số 43/2003 thông tư hương dẫn thi hành nghị định số 20/2003/ NĐ-

CP hướng dẫn thi hành pháp lệnh quảng cáo

Trang 21

b) Lựa chọn người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, phương tiện và hình thức quảng cáo;

c) Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo của mình;

d) Các quyền khác theo quy định của pháp luật

2 Người quảng cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Quảng cáo phù hợp với nội dung của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

b) Đảm bảo nội dung quảng cáo phải trung thực, chính xác;

c) Thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng;

d) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật11

2.1.2 Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo.

Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại là hoạt động thương mại của thương nhân để thực hiện việc quảng cáo thương mại cho thương nhân khác.( Điều 104 luật thương mại 2005) Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo là tổ chức, cá nhân, thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình quảng cáo nhằm mục đích sinh lợi.(12)

Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại có thể là thương nhân Việt Nam, thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam khi đã có đăng kí kinh doanh dịch vụ quảng cáo hoặc các giấy tờ tương tự hợp pháp theo quy định của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch

Mà tổ chức cá nhân muốn kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo Đối với những thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo có chuyên môn thì chất lượng quảng cáo cũng được nâng lên, phát huy hiệu quả và chi phí thực hiện giảm, lợi ích kinh tế mang lại cũng nhiều hơn

Trang 22

Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại phải có đầy đủ các điều kiện sau:

Tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật

Trong thời gian năm ngày làm việc tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch

vụ quảng cáo đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở tỉnh, thành phố khác phải thông báo cho phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh và sở văn hóa- thông tin nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện biết Nội dung thông báo gồm:

-Tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;

-Ngành, nghề kinh doanh;

-Tên và địa chỉ trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện;

-Nội dung, phạm vi hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện; -Họ tên, nơi cu trú của người đúng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện

Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ quảng cáo do phòng đăng kí kinh doanh cấp huyện, quận và cấp tương đương cấp chỉ được hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sở tại.(13)

► Quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh dịch vụ quảng cáo

1 Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có các quyền sau đây:

a) Lựa chọn hình thức, lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quảng cáo

b) Yêu cầu người quảng cáo cung cấp thông tin trung thực, chính xác về nội dung quảng cáo;

c) Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo của mình;

d) Hợp tác với tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo;

đ) Tham gia Hiệp hội quảng cáo trong nước và nước ngoài;

e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật

(13)

.Điều 15 Nghị Định 24/2003/NĐ_CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo

Trang 23

2 Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện đúng các quy định của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; b) Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quảng cáo;

c) Thực hiện các nghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng dịch vụ quảng cáo; d) Bồi thường thiệt hại do mình gây ra;

đ) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Khi thương nhân không trực tiếp thực hiện việc quảng cáo của mình thì có thể thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện Kinh doanh dịch

vụ quảng cáo thương mại của thương nhân là một ngành nghề sinh lợi trực tiếp cho thương nhân làm dịch vụ quảng cáo Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải tuân thủ theo tất cả các quy định của pháp luật áp dụng cho thương nhân tham gia kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại Trong trường hợp kinh doanh có nhu cầu thuê dịch vụ quảng cáo thương mại để quảng cáo cho sản phẩm, hàng hóa dịch vụ của mình sản xuất thì thông qua một hợp đồng Hợp đồng này gọi là hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại

▪ Hình thức của hợp đồng:

Việc thuê dịch vụ quảng cáo phải được xác lập bằng hợp đồng Hợp đồng dịch vụ quảng cáo phải được lập thành văn bản có những nội dung sau đây:

1 Tên, địa chỉ các bên ký kết hợp đồng;

2 Hình thức, nội dung, phương tiện, sản phẩm quảng cáo;

3 Thời gian, địa điểm, phạm vi quảng cáo;

4 Phí dịch vụ, các chi phí khác có liên quan và phương thức thanh toán;

5 Quyền, nghĩa vụ của các bên;

6 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

7 Các nội dung khác do các bên thoả thuận.(14)

Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại, đây là một hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực thương mại, do đó ngoài việc tuân thủ pháp luật thương mại còn

(14)

Điều 17 pháp lệnh quảng cáo 2001

Trang 24

phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ được quy định trong Bộ Luật Dân Sự năm 2005 Theo đó, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên (bên thuê dịch vụ quảng cáo thương mại và bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại), bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại thực hiện công việc quảng cáo cho bên thuê dịch vụ quảng cáo thương mại, còn bên thuê dịch vụ phải trả thù lao quảng cáo cho bên đã cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại

◊ Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng dịch vụ quảng cáo Trong quan hệ của hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại bên thuê dịch

vụ và bên cung ứng dịch vụ có các quyền lợi và nghĩa vụ nhất định Do đó, pháp luật đã có những quy định về các quyền và nghĩa vụ của họ ngoài các quyền và nghĩa vụ mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng

◦ Quyền của bên thuê quảng cáo thương mại

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên thuê quảng cáo thương mại có các quyền sau đây:

1 Lựa chọn người phát hành quảng cáo thương mại, hình thức, nội dung, phương tiện, phạm vi và thời gian quảng cáo thương mại;

2 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại.(15)

◦ Nghĩa vụ của bên thuê quảng cáo thương mại

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên thuê quảng cáo thương mại có các nghĩa vụ sau đây:

1 Cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại thông tin trung thực, chính xác về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thương mại và chịu trách nhiệm về các thông tin này;

2 Trả thù lao dịch vụ quảng cáo thương mại và các chi phí hợp lý khác.(16) ♦ Quyền của bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại

(15)

Điều 111 luật thương mại 2005

( 16 ) Điều 112 luật thương mại 2005.

Trang 25

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại có các quyền sau đây:

1 Yêu cầu bên thuê quảng cáo thương mại cung cấp thông tin quảng cáo trung thực, chính xác và theo đúng thoả thuận trong hợp đồng;

2 Nhận thù lao dịch vụ quảng cáo thương mại và các chi phí hợp lý khác.(17)

♦ Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên cung ứng dịch vụ quảng cáo thương mại có các nghĩa vụ sau đây:

1 Thực hiện sự lựa chọn của bên thuê quảng cáo về người phát hành quảng cáo thương mại, hình thức, nội dung, phương tiện, phạm vi và thời gian quảng cáo thương mại;

2 Tổ chức quảng cáo trung thực, chính xác về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thương mại theo thông tin mà bên thuê quảng cáo đã cung cấp;

3 Thực hiện các nghĩa vụ khác đã thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại.(18)

2.1.3 Người phát hành quảng cáo

Ngoài ra, trong các mối quan hệ trên còn xuất hiện Người Phát Hành quảng cáo thương mại đó là “người trực tiếp phát hành sản phẩm quảng cáo

thương mại.”( Điều 115 luật thương mại 2005) Bao gồm: tổ chức, cá nhân đưa

sản phẩm quảng cáo đến người tiêu dùng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, tổ chức quản lý mạng thông tin máy tính, người tổ chức chương trình văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm và tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện quảng cáo khác.(19)

►Quyền và nghĩa vụ của người phát hành quảng cáo:

Trang 26

1 Người phát hành quảng cáo được quảng cáo trên phương tiện của mình

và thu phí dịch vụ phát hành quảng cáo theo quy định của pháp luật

2 Người phát hành quảng cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản, về quản lý mạng thông tin máy tính, chương trình hoạt động văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm và Pháp lệnh này trong việc sử dụng báo chí, xuất bản phẩm, mạng thông tin máy tính, chương trình hoạt động văn hóa, thể thao, hội chợ, triển lãm và phương tiện quảng cáo khác để quảng cáo;

b) Thực hiện hợp đồng phát hành quảng cáo đã ký kết với người quảng cáo hoặc người kinh doanh dịch vụ quảng cáo;

c) Bồi thường thiệt hại do mình gây ra;

d) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

2.1.4 Người cho thuê phương tiện quảng cáo

Bên cạnh đó còn có thêm Người cho thuê phương tiện quảng cáo Theo

đó, nguời cho thuê phuơng tiện quảng cáo là tổ chức, cá nhân sở hữu phương tiện quảng cáo Nguời cho thuê phương tiện quảng cáo được thu phí từ việc cho thuê

phương tiện quảng cáo theo thỏa thuận trong hợp đồng

* Người cho thuê phương tiện để quảng cáo có các quyền sau đây:

a) Lựa chọn người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo;

b) Thu phí từ việc cho thuê phương tiện để quảng cáo theo thoả thuận trong hợp đồng;

c) Các quyền khác trong việc cho thuê phương tiện để quảng cáo theo quy định của pháp luật

* Người cho thuê phương tiện để quảng cáo có các nghĩa vụ sau đây: a) Thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng cho thuê phương tiện để quảng cáo đã ký kết;

b) Bồi thường thiệt hại do mình gây ra;

c) Thực hiện các nghĩa vụ khác trong việc cho thuê phương tiện để quảng cáo theo quy định của pháp luật

2.2 Hàng hóa dịch vụ quảng cáo thương mại

Trang 27

Hàng hóa dịch vụ quảng cáo thương mại là đối tượng của quảng cáo thương mại là hàng hóa được thương nhân đang hoặc sẽ cung cấp trên thị trường

Hàng hóa bao gồm: thiết bị, máy móc, nguyên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng,… những dịch vụ được phép quảng cáo phải là những dịch vụ thương mại gắn liền với hành vi mua bán hàng hóa như đại lí phân phối sản phẩm, dịch vụ giao nhận giám định hàng hóa

Hàng hóa dịch vụ quảng cáo thương mại phải thuộc danh mục hàng hóa được phép lưu thông và phải thuộc phạm vi đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp Thương nhân không được phép quảng cáo những hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại chưa được phép cung ứng tại thời điểm quảng cáo Việc quảng cáo những hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật phải được Bộ Thương Mại chấp thuận Đối với những hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ chưa được cung cấp ở Việt nam Nếu được quảng cáo ở Việt Nam phải là hàng hóa, dịch vụ thương mại không thuộc diện cấm lưu thông hoặc cấm cung ứng

♣ Đối với hàng hóa bảo vệ trẻ em trong hoạt động quảng cáo thương

mại:

1 Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa là sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ em phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ em

2 Không được lợi dụng sự thiếu hiểu biết và thiếu kinh nghiệm của trẻ em

để đưa vào nội dung sản phẩm quảng cáo các thông tin sau đây:

a) Làm giảm niềm tin của trẻ em vào gia đình và xã hội;

b) Trực tiếp đề nghị, khuyến khích trẻ em yêu cầu cha mẹ hoặc người khác mua hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo;

c) Thuyết phục trẻ em về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo

sẽ có lợi thế hơn những trẻ em không sử dụng hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo;

Trang 28

d) Tạo cho trẻ em suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em.(20)

Ngoài ra, còn tuân thủ các quy định như: nghiêm cấm quảng cáo dùng cho trẻ em dưới 12 tháng tuổi, thức ăn dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, bình bú với đầu bú nhân tạo và núm vú giả với mọi hình thức Còn việc quảng cáo với các loại sữa dùng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi phải đảm bảo các yêu cầu sau: phần đầu của quảng cáo phải có nội dung: “Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ” Mặc khác, trước khi thực hiện quảng cáo sữa dùng cho trẻ em từ 12 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi thì tổ chức, cá nhân phải gửi hồ sơ đăng kí quảng cáo đến Bộ Y Tế theo quy định của pháp luật về quảng cáo

♣ Quảng cáo thương mại đối với hàng hoá, dịch vụ liên quan đến y tế: Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan đến dược phẩm, vắc-xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị, dụng cụ y tế, phương pháp chữa bệnh, thuốc chữa bệnh và thực phẩm chức năng phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về y tế.(21)

♣ Quảng cáo thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan đến thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi và giống vật nuôi, giống cây trồng :

Quảng cáo thương mại đối với hàng hoá, dịch vụ liên quan đến thuốc thú

y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi, giống vật nuôi, giống cây trồng phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật có liên quan và không được chứa đựng các nội dung sau:

1 Khẳng định về tính an toàn, tính không độc hại nhưng không có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền

hoạt động xúc tiến thương mại

(21)

Điều 24 Nghị Định 37/2006/ NĐ_CP quy định chi tiết thi hành luật thương mại 2005 và hoạt động Xúc tiến thương mại

Trang 29

2 Khẳng định về hiệu quả và tính năng của thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi và giống vật nuôi, giống cây trồng nhưng không

♣ Sản phẩm quảng cáo thương mại có nội dung so sánh với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ:

Thương nhân có quyền so sánh hàng hóa của mình với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong sản phẩm quảng cáo thương mại sau khi có xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng hàng giả, hàng sở hữu trí tuệ để so sánh.(24)

Thương nhân phải đảm bảo tính trung thực và chính xác trong quảng cáo

về quy cách, chất lượng, giá cả, công dụng, chủng loại, phương thức phục vụ thời hạn bảo hành của hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo Trường hợp quảng cáo có

sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng trên cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ thương mại thì chúng phải thuộc quyền sở hữu của người yêu cầu quảng cáo hoặc phải được chủ sở hữu hợp pháp chấp nhận Thương nhân kinh doanh dịch

vụ quảng cáo có quyền yêu cầu bên thuê quảng cáo chịu trách nhiệm về việc sử

Trang 30

dụng nhãn hiệu hàng hóa, biểu tượng, tên cơ sở sản xuất kinh doanh dịch thương

mại

2.3 Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại

2.3.1 Sản phẩm quảng cáo thương mại

Sản phẩm quảng cáo thương mại là những thông tin đã được xử lý, được phối hợp với nhau dùng để chuyển tải những thông báo trong quảng cáo tới công

chúng

Sản phẩm quảng cáo thương mại gồm những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại.(Điều 105 luật thương mại năm 2005)

Thương nhân có quyền lựa chọn sản phẩm quảng cáo của mình với đối tượng hướng tới tính chất, địa điểm… để sử dụng nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất mà doanh nghiệp mong đợi Hiệu quả thông tin, tác dụng của quảng cáo phụ thuộc chủ yếu vào sản phẩm quảng cáo Nhưng do tính chất nhạy cảm của sản phẩm quảng cáo dễ gây tác hại đối với nhận thức, tâm lí của người tiêu dùng và trật tự xã hội Vì vậy, việc sử dụng sản phẩm quảng cáo phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật

Sản phẩm quảng cáo phải phản ánh rõ ràng nội dung cần quảng cáo, dễ hiểu, tránh gây nhằm lẫn và phải phù hợp với văn hóa phong tục Việt Nam nói chung và đặc thù từng địa phương nói riêng Thương nhân không sử dụng các sản phẩm quảng cáo thương mại có hại đến giá trị, nhân phẩm, thuần phong mỹ tục và nếp sống thanh lịch của người Việt, không được sử dụng quốc kì, quốc ca, ảnh lảnh tụ, Đảng kỳ, Quốc Tế ca làm nền cho quảng cáo sử dụng âm thanh quá lớn để quảng cáo vào ban đêm, sử dụng các hình ảnh, màu sắc tương tự các tính hiệu giao thông, biển báo công cộng hoặc không rõ ràng, không sạch đẹp

♪ Tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo:

1 Tiếng nói, chữ viết dùng trong quảng cáo là tiếng Việt, trừ những trường hợp sau:

a) Từ ngữ đã được quốc tế hóa, thương hiệu hoặc từ ngữ không thay thế được bằng tiếng Việt;

Trang 31

b) Quảng cáo thông qua sách, báo, ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài

2 Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì viết tiếng Việt trước, tiếp đến tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài và khổ chữ tiếng dân tộc thiểu số, khổ chữ tiếng nước ngoài không được lớn hơn khổ chữ tiếng Việt.(25) Bên cạnh đó, thương nhân cũng cần tạo uy tín cho sản phẩm của mình:

ﻌ Không ngừng cải tiếng và nâng cao chất lượng sản phẩm;

ﻌ Định giá sản phẩm hợp lí và linh hoạt theo biến động của thị trường;

ﻌQuan tâm đến bao bì nhãn hiệu hàng hóa;

ﻌChú trọng đến kiểu dáng công nghiệp;

ﻌSử dụng hệ thống tiêu chuẩn hóa và kiểm tra chất lượng sản phẩm

Mục đích của quảng cáo thương mại để quảng bá cho các hàng hóa, dịch

vụ mà thương nhân đang hoặc sẽ cung ứng trên thị trường và muốn người tiêu dùng quan tâm dến Do vậy, nó tác động trực tiếp và ảnh hưởng lâu dài đến khách hàng và phải nằm trong sự kiểm soát của pháp luật để đảm bảo cho quyền lợi của khách hàng cũng như quyền lợi của các cá nhân khác trong nền kinh tế

2.3.2 Phương tiện quảng cáo thương mại

Quảng cáo là hoạt động truyền thông đại chúng trên diện rộng thông qua các phương tiện thông tin quảng cáo Theo điều 106 luật thương mại 2005 phương tiện quảng cáo được định nghĩa như sau: “Phương tiện quảng cáo thương mại là công cụ được sử dụng để giới thiệu các sản phẩm quảng cáo thương mại”

Phương tiện quảng cáo là cầu nối đưa sản phẩm quảng cáo đến công chúng Do đó, nó là yếu tố sống còn đối với hoạt động quảng cáo Việc lựa chọn phương tiện quảng cáo để truyền tải đến khách hàng phải thỏa mãn những yếu tố sau:

◦ Đảm bảo được mục tiêu quảng cáo

◦ Hướng vào các đối tượng tiềm năng

(25)

Điều 8 pháp lệnh quảng cáo 2001

Trang 32

◦ Phù hợp với ngân sách dự kiến chi cho quảng cáo

◦ Tính đến các đối thủ cạnh tranh

Trong thời đại khoa học kỹ thuật hiện nay thông tin ngày càng phong phú, nhiều phương tiện quảng cáo xuất hiện nên phương tiện quảng cáo ngày càng phổ biến hơn Vấn đề chính là nhà sản xuất lựa chọn và sử dụng phương tiện nào

để mang thông điệp của mình đến thị trường một cách hiệu quả nhất Phương tiện quảng cáo gồm:

▪ Các phương tiện thông tin đại chúng: chương trình truyền hình, chương

trình truyền thông, phim quảng cáo, ca nhạc quảng cáo, các băng đĩa quảng cáo… Trong đó chương trình truyền hình được xem là phương tiện quảng cáo ưu việt được nhiều nhà quảng cáo sử dụng vì nó có thể kết hợp âm thanh, hình ảnh,

có tác dụng nhanh và gây ấn tượng mạnh đối với công chúng mặc dù phương tiện quảng cáo này khá tốn kém và giá cả không ổn định thường xuyên gia tăng và thời lượng quảng cáo cũng bị hạn chế

▪ Các phương tiện truyền tin: điện thoại cố định, điện thoại di động,

internet… quảng cáo thông qua mạng internet là một phương tiện quảng cáo mới,

đã và đang được các doanh nghiệp đưa vào áp dụng Trong tương lai nó sẽ được

áp dụng phổ biến và sẽ mang lại những hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp

▪ Các loại xuất sản phẩm: báo, tạp chí, số phụ, sách, tờ rơi, các sản phẩm

in, nhân bản,… trong đó báo là phương tiện thông tin chủ yếu

▪ Các loại bảng, biển, băng, pano, áp phích, vật thể cố định, các phương

tiện giao thông hoặc các vật thể di động khác Và các phương tiện quảng cáo

khác như: quảng cáo trên các vật cản quang, vật trên không, tài trợ cho các chương trình ca nhạc, thời trang… không trái với quy định của pháp luật

Các phương tiện quảng cáo cụ thể:

2.3.2.1 Các phương tiện thông tin đại chúng ( Báo chí)

Ngày nay các phương tiện thông tin đại chúng được coi là đã phát triển vì thế lợi thế của chúng ta là có phạm vi rộng, có nhiều độc giả Theo pháp lệnh quảng cáo 2001 báo chí được chia thành các loại: báo in, báo nói, báo hình, báo

điện tử

2.3.2.1.1 Báo in:

Trang 33

Rất quen thuộc với cuộc sống con người, dường như nó trở nên gần gũi với mọi người Lúc nào chúng ta cũng có thể tiếp cận được với chúng Khi đọc báo chúng ta thấy chỉ toàn tin tức thì cảm thấy chán, nếu có một hoặc hai tờ quảng cáo kèm theo sẽ thu hút hấp dẫn người đọc hơn Vì vậy, có rất nhiều người muốn quảng cáo hàng hóa, dịch vụ của mình thông qua báo chí, nhưng không phải quảng cáo theo tùy thích mà phải đúng theo quy định của pháp luật Theo khoản 1 điều 10 Pháp lệnh quảng cáo 2001 thì: Báo in được quảng cáo không quá 10% diện tích, trừ báo chuyên quảng cáo; mỗi đợt quảng cáo cho một sản phẩm quảng cáo không quá 5 ngày đối với báo hàng ngày hoặc 5 số liên tục đối với báo phát hành theo định kỳ; các đợt quảng cáo cách nhau ít nhất 5 ngày đối với báo hàng ngày hoặc ít nhất 4 số liên tục đối với báo phát hành theo định kỳ; không quảng cáo hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ trên trang một, bìa một Báo in phụ trang, phụ bản chuyên quảng cáo phải được Bộ Văn Hóa thông tin cấp phép Số trang của phụ trang quảng cáo không được vượt quá số trang báo chính và không được tính vào giá bán.(26)

Báo in được chia thành hai loại: báo và tạp chí

 Báo: quảng cáo trên báo là cách rẻ nhất để thông tin đến được với

công chúng Độc giả của các tờ báo thường có thói quen đọc lước qua để tìm kiếm các thông tin hiệu quả Với đặc điểm này quảng cáo trên báo là phương tiện tốt nhất để quảng cáo về giá cả ưu đải của sản phẩm Hình thức quảng cáo trên báo có những ưu và khuyết điểm sau: (Ưu nhược điểm của các loại công cụ truyền thông, tạp chí Marketing_ số 28/ 2006 tr 20)

ﮦƯu điểm: được đánh giá là đáng tin cậy, có đủ diện tích để diển đạt thông tin của mình đến với khách hàng, có thể sử dụng hình ảnh, có thể nhắm vào đối tượng nào đó căn cứ trên yếu tố địa lí, mang đến thông tin nhanh chóng, đúng lúc

ﮦKhuyết điểm: khó nhắm vào đối tượng vựa trên yếu tố khác ngoài yếu

tố địa lí, thời gian có hiệu lực ngắn (khách hàng có thể xóa bỏ ngay trong ngày), hình ảnh chất lượng thấp

 Tạp chí: Đối với tạp chí hiệu quả lôi cuốn khách hàng của nó khá

cao Đọc giả có khuynh hướng độc tạp chí kĩ hơn báo Ngoài ra, mẫu quảng cáo

(26)

Trang 34

trên tạp chí không nhiều nên cơ hội độc giả xem qua quảng cáo tương đối cao

Ưu nhược điểm của tạp chí là:

ﮦ Ưu điểm: thời gian có hiệu lực lâu người đọc có thể giữ lại hoặc cắt trang

họ thích dán sang nơi khác, có thể nhắm vào đối tượng dựa trên nhân khẩu học hoặc những mối quan tâm đặc biệt

ﮦ Khuyết điểm: phân phối thông tin một chiều, thời gian chuẩn bị lâu

2.3.2.1.2 Báo nói: (Đài phát thanh)

Quảng cáo trên truyền thanh hôm nay thường chủ yếu tập trung trên một

số sóng nhất định như FM, AM và chủ yếu dành cho các sản phẩm của Việt Nam hoặc nếu là sản phẩm nước ngoài thì cũng chỉ tập chung vào các chương trình có thương hiệu thu hút người nghe Do tính chất quảng cáo phụ thuộc vào giọng nói

và thông điệp câu chữ, vì thế nếu quảng cáo truyền thanh được chọn lọc kĩ, phát với tầng suất cao thì sẽ nhanh chóng tạo hiệu ứng tốt với người nghe đài Theo qui định khoản 2 điều 10 Pháp lệnh quảng cáo 2001: Báo nói được quảng cáo không quá 5% thời lượng của chương trình, trừ kênh chuyên quảng cáo; mỗi đợt phát sóng đối với một sản phẩm quảng cáo không quá 8 ngày, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định; mỗi ngày không quá 10 lần; các đợt quảng cáo cách nhau ít nhất 5 ngày; không quảng cáo ngay sau nhạc hiệu, trong chương trình thời sự

Ưu khuyết điểm của loại hình này là:

ﮦ Ưu điểm: Dễ nhắm vào đối tượng nghe nào đó (bằng cách chọn đài, chương trình), chi phí thấp có thể thu hút khách hàng mua sản phẩm đang quảng cáo, phạm vi tiếp cận rộng có thể tiếp cận cả đối tượng đi trên đường

ﮦ Khuyết điểm: không nhìn thấy, không chứng minh được sản phẩm, khách hàng không phải lúc nào cũng tập trung chú ý

2.3.2.1.3 Báo hình (Đài truyền hình)

Báo hình là một phương tiện thông tin bằng hình ảnh Khán giả có thể nhận biết về quảng cáo sản phẩm gì khi không có bất kì âm thanh nào Chính vì thế hình ảnh là phần quan trọng nhất trong quảng cáo truyền hình Trong lúc nhiều loại hình quảng cáo truyền thống đang dần trở nên nhàm chán, thậm chí còn gặp những phản ứng gay gắt của người tiêu dùng khi ảnh hưởng đến quyền lợi giải trí của họ thì đây là một tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển cho loại

Trang 35

hình quảng cáo bằng LCD cũng như cho các maketer để tìm ra phương tiện quảng cáo phù hợp và hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay Mặt khác, truyền hình cáp đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam với sáu đơn vị cung cấp dịch vụ,

sự ra đời của truyền hình cáp hứa hẹn cung cấp nhiều dịch vu thích hợp hơn như xem truyền hình, chơi trò chơi điện tử… với sự phát triển của truyền hình cáp tại Việt Nam quảng cáo trên truyền hình sẽ còn giữ vững vị trí trong một khoảng thời gian dài nữa

Hơn nữa, trẽ em rất thích xem quảng cáo, không thể phủ nhận điều này vì quảng cáo truyền hình có sự hỗ trợ của tất cả các kênh khác cộng lại như âm thanh, hình ảnh, nhân vật, chuyển động… cộng thêm quảng cáo trên truyền hình được người tiêu dùng tiếp nhận vào thời điểm họ tương đối “thoải máy” và sẵn sàng tiếp nhận thông tin

Việc sử dụng các phương tiện truyền thông để quảng cáo có thể gây ức chế cho công chúng tiếp nhận thông tin, Theo khoản 3 điều 10 Pháp lệnh quảng cáo 2001 có quy định: Báo hình được quảng cáo không quá 5% thời lượng của chương trình, trừ kênh chuyên quảng cáo;

Theo quy định của điều 7 và điều 8 Nghị Định 24/2003/NĐ_CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo:

Không quảng cáo ngay nhạc hiệu, hình hiệu của các chương trình phát thanh, chuyền hình từ các chương trình chiếu phim, văn nghệ, thề thao vui chơi, giải trí

Mỗi đợt phát sóng cho một đợt quảng cáo trên Đài phát thanh, Đài truyền hình không quá tám ngày, trừ các trường hợp sau:

Quảng cáo được tài trợ gắng liền với hoạt động diễn ra liên tục qúa tám ngày thì thời gian diễn ra hoạt động liên tục đó được tính là một đợt quảng cáo;

Quảng cáo các dịch vụ không sinh lời nhằm thực hiện chính sách

xã hội gắn liền với một hoạt động diễn ra liên tục quá tám ngày thì thời gian diễn

ra hoạt động liên tục đó được tính là một đợt quảng cáo

Quảng cáo liên tục quá mười phúc trên đài phát thanh, Đài truyền hình được tính là một chương trình chuyên quảng cáo và phải được Bộ Văn Hóa- Thông Tin cho phép

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w