Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, đồng thời đề xuất những giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại.Để đạt được mục đích nghiên cứu Khoá luận đi giải quyết ba nhiệm vụ chính sau:Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại. Thứ hai, thông qua thực trạng pháp luật, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại. Trong đó cần đưa ra các kết quả đạt được và phân tích các hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật và thực tiến áp dụng pháp luật. Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập nêu trên.Thứ ba, đưa ra yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, trong đó vạch ra hai nhóm giải pháp chính, một là nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, hai là nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Trang 1ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
.
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
.
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Ngành: .
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn Bảng thống kê trích dẫn tài liệu tham khảo Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục bảng biểu PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Những đóng góp mới của khoá luận 14
7 Kết cấu của khoá luận 14
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI. .16
Trang 41.1 Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựckhuyến mại 161.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyếnmại……….161.1.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyếnmại 261.1.3 Nội dung của bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyếnmại 271.1.4 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựckhuyến mại 281.2 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại 301.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnhvực khuyến mại 301.2.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnhvực khuyến mại 311.2.3 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng trong lĩnh vực khuyến mại 341.2.4 Nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnhvực khuyến mại 351.2.5 Vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnhvực khuyến mại 48
Tiểu kết Chương 1 50
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI 51
2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong lĩnh vực khuyến mại 512.1.1 Những kết quả đạt được 512.1.2 Một số hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại 632.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronglĩnh vực khuyến mại 722.2.1 Những kết quả đạt được 722.2.2 Một số hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại 802.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại 88
Tiểu kết Chương 2 90 CHƯƠNG 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI 91
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronglĩnh vực khuyến mại 913.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiệnpháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại 97
Trang 63.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong lĩnh vực khuyến mại 97
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại 102
Tiểu kết Chương 3 106
PHẦN KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Phương thức thay thế
BVQLNTD : Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
HBVNTD Việt Nam : Hội bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khái niệm “tiêu dùng” và “người tiêu dùng” đang dần trở nênphổ biến và trở thành từ ngữ quen thuộc với mọi người dân Người tiêu dùngmua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp, người tiêudùng càng mua với số lượng lớn, lượng cầu tăng, doanh nghiệp càng bán đượcnhiều hàng thì doanh thu tăng cao, doanh nghiệp mới có thể tồn tại Chính vì vậy
có thể nói sức mua của người tiêu dùng là một trong các yếu tố quyết định sựthành bại của doanh nghiệp Do đó, người tiêu dùng đóng một vai trò vô cùngquan trọng trong nền kinh tế vì họ chính là động lực thúc đẩy sản xuất và tiêu thụsản phẩm
Ở một khía cạnh khác, quy luật cạnh tranh trên thị trường trong nước vàngoài nước vô cùng khốc liệt đang khiến cho các doanh nghiệp phải nỗ lực rấtlớn để tồn tại và phát triển Nói cách khác, họ phải luôn tìm ra nhiều cách thức
để ghi dấu ấn của mình đối với khách hàng, một trong các cách thức để doanhnghiệp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm là tiến hành xúc tiến thương mại, baogồm các hình thức xúc tiến bán hàng, giới thiệu sản phẩm như quảng cáo,khuyến mại, tổ chức/tham gia hội chợ triển lãm thương mại, trưng bày giới thiệuhàng hoá dịch vụ,… Trong đó khuyến mại là một hoạt động xúc tiến thương mạiquan trọng và có thể xem là hiệu quả, được các thương nhân ưu tiên sử dụng.Đây là phương thức xúc tiến việc sử dụng hàng hoá của người tiêu dùng thôngqua việc dành cho họ những lợi ích nhất định Khuyến mại đánh thẳng vào tâm
lý khách hàng muốn mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ với giá rẻ hơn, mua đượcnhiều hơn, tiết kiệm chi phí Tuy nhiên đây lại là điểm mấu chốt khiến các doanhnghiệp thực hiện những hành vi gian lận, dù mang mác hàng khuyến mại nhưng
Trang 10thực chất sử dụng hành vi tinh vi qua mắt khách hàng, hành động này giúpthương nhân dù không tốn quá nhiều chi phí cho một chương trình khuyến mạinhưng vẫn ghi dấu ấn trong lòng khách hàng Thực tế có rất nhiều hành vi gianlận trong khuyến mại của thương nhân làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng như:người trúng thưởng không nhận được giải thưởng, tăng giá gốc hàng hoá đểkhuyến mại, đánh lừa chất lượng của hàng hoá,…
Có thể thấy bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng chính là bảo vệ quyềnlợi của các nhà sản xuất kinh doanh khác, đảm bảo một môi trường cạnh tranhlành mạnh cho các thương nhân Đứng ở một vị trí vô cùng quan trọng như vậy,tuy nhiên hiện nay quyền lợi của người tiêu dùng đang bị xâm phạm nghiêmtrọng, đặc biệt là trong lĩnh vực khuyến mại hàng hoá, dịch vụ Trong lĩnh vựcnày, quyền lợi của người tiêu dùng dễ bị xâm phạm trực tiếp như các vấn đề vềhàng hoá được khuyến mại, thông tin khuyến mại Hành làng pháp lý cho việcbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại chưa được quyđịnh chặt chẽ, chi tiết đã gây rất nhiều khó khăn cho người tiêu dùng khi muốn
tự bảo vệ quyền lợi cho mình Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiệnnay vẫn còn gặp nhiều khó khăn Sự chỉ đạo của các cấp, các ngành về công tácbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ Trung ương đến địa phương chưa được quantâm đúng mức, thiếu sự đồng bộ Công tác vận động thành lập, tổ chức các hội ởđịa phương còn gặp nhiều khó khăn, vấn đề giải quyết khiếu nại vẫn chưa thực
sự được giải quyết có hiệu quả Cộng động các doanh nghiệp chưa quan tâm đếnlợi ích của người tiêu dùng
Đó đang là vấn đề nhức nhối trong công tác bảo vệ người tiêu dùng hiện
nay Xuất phát từ những lý do này, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ
Trang 11quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại” làm đề tài Khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại Qua quá trìnhnghiên cứu, tìm hiểu tác giả xin đề cập một số công trình nghiên cứu trong vàngoài nước như sau:
2.1 Một số công trình nghiên cứu trong nước
- Vũ Đức Tuấn (2010), Những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng của Việt Nam và những vấn đề đặt ra, Khoa Quản trị kinh
doanh, Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Đề tài đã tập trung nghiên cứucác quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam, tìm racác giải pháp khắc phục tình trạng quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm
- Lê Diệu Ly (2010), Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
ở Việt Nam, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại
Thương Hà Nội Đề tài đã làm sáng tỏ những quy định của pháp luật Việt Nam
về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách có hệ thống, đầy đủ, toàndiện Thông qua việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, đề tàiđưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêudùng
- Mai Thị Thanh Tâm (2009), Nghĩa vụ của người kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội Đề tài đã phân tích, nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản củapháp luật Việt Nam về nghĩa vụ kinh doanh hàng hoá, dịch vụ nhằm bảo vệ
Trang 12quyền lợi người tiêu dùng, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của pháp luật cũngnhư thực tiễn áp dụng pháp luật nghĩa vụ của thương nhân Từ đó, tác giả đưa racác giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thôngqua các quy định về nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
- Ngô Thị Út Quyên (2012), Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của một
số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam, Khoa Luật, Trường Đại
học Quốc gia Hà Nội Công trình chủ yếu đi vào phân tích pháp luật về bảo vệquyền lợi người tiêu dùng ở một số quốc gia trên thế giới như Canada, Nhật Bản,Malaysia và ở Việt Nam Trên cơ sở đánh giá chung về pháp luật bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng ở Việt Nam kết hợp với việc tìm hiểu về chính sách bảo vệngười tiêu dùng của một số nước Châu Á, công trình đã đưa ra một số kiến nghị
để hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở ViệtNam
- Hoàng Thị Kim Cương (2016), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
hoạt động khuyến mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật, Đại học Huế Luận văn đã làm rõ được một số vấn đềchung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại; nêu vàphân tích, đánh giá được thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những vướngmắc, bất cập trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtrong lĩnh vực khuyến mại từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronglĩnh vực khuyến mại
Nhìn chung, Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựckhuyến mại không phải là một ngành luật mới, tuy nhiên các công trình nghiêncứu về lĩnh vực này chưa nhiều, chưa làm rõ được nguyên nhân dẫn đến tình
Trang 13trạng quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm trong lĩnh vực khuyến mại, từ
đó chưa có các giải pháp triệt để góp phần giảm thiểu các hành vi khuyến mại
gian dối của thương nhân Chính vì vậy, Khóa luận về “Pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại” kế thừa và phát huy các
công trình nghiên cứu trên
2.2 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài
- Jason F.Cohen (1997), The Japanese Products Liability Law (Pháp luật
trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản), đăng trên tạp chí “Fordham International
Law Journal, November 1997” làm rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơbản của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Nhật Bản, trách nhiệm sản phẩm ràngbuộc thương nhân trong sản xuất kinh doanh, được xem là nhân tố quan trọnggóp phần bảo vệ người tiêu dùng tại Nhật Bản
- David G.Owen (2007), The Evolution of Products Liability Law (Quá
trình phát triển của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm), đăng trên tạp chí “The
Review of Litigation (Symposium 2007)” đã nghiên cứu tỉ mỉ quá trình phátsinh, phát triển của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ, nguồn gốc của chế
độ trách nhiệm ấy
- Gary Wilson, Vincent Moccio và Daniel O.Fallon (2000), The future of
products liability in America (Tương lai của pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ), đăng trên tạp chí “William Mitchell Law Review (2000)” đã bàn về
chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ hiện tại, những tồn tại, bất cập và đềxuất một số hướng cải cách đổi mới
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cũng như quy định của pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, trên cơ sở đó đánh giáthực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, đồng thời đề xuất những giải pháp để hoànthiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu Khoá luận đi giải quyết ba nhiệm vụchính sau:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
- Đối với nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại cần làm sáng tỏ một số kháiniệm cơ bản về “người tiêu dùng”, “khuyến mại”, “bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại”, phân tích các đặc điểm, nội dung vàvai trò của bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại cũng như sựcần thiết của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyếnmại
- Đối với pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựckhuyến mại cần đưa ra được khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, đối tượng điều chỉnh, nội dung và vaitrò của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựckhuyến mại
Trang 15Thứ hai, thông qua thực trạng pháp luật, đánh giá thực trạng các quyđịnh pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại Trong đó cần đưa ra các kết quả đạtđược và phân tích các hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật vàthực tiến áp dụng pháp luật Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hạnchế, bất cập nêu trên.
Thứ ba, đưa ra yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệquyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại, trong đó vạch ra hainhóm giải pháp chính, một là nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện các quy địnhpháp luật, hai là nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiệnpháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khoá luận là các quy định của pháp luật ViệtNam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại hàng hoá,dịch vụ; thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vựckhuyến mại hàng hoá, dịch vụ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Khoá luận là tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Khoá luận bao gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: tác giả sử dụng tài liệu đã được công bố,
có liên quan đến đề tài Khoá luận;
Trang 16- Phương pháp phân tích, đánh giá được sử dụng trong Chương 1 giới thiệumột số vấn đề lý luận và pháp luật điều chỉnh về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnhvực khuyến mại;
- Phương pháp phân tích thông tin, phương pháp tổng hợp để hoàn thànhChương 2 nhằm phân tích và làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng phápluật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại tại Việt Nam;
- Phương pháp tổng hợp để hoàn thành Chương 3 nhằm đưa ra những giảipháp hoàn thiện vấn đề cần nghiên cứu cả về góc độ lý luận và thực tiễn
6 Những đóng góp mới của khoá luận
- Về lý luận: Khoá luận góp phần làm rõ các khái niệm người tiêu dùng,khuyến mại, bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại; Tổng hợp vàlàm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tiêu dùng tronglĩnh vực khuyến mại;
- Về thực tiễn: Khoá luận phân tích thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam; phân tích thực tiễn việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam; phân tích các nguyên nhân và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung của khoá luận được chia thành 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Chương 2 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tronglĩnh vực khuyến mại
Trang 17Chương 3 Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại.
Trang 18PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI 1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
1.1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần tham gia, hoạtđộng mua bán trao đổi hàng hoá ngày càng diễn ra phổ biến và trở thành mộtphần không thể thiếu của cuộc sống Con người được thoã mãn nhu cầu về mọimặt trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng gia đình, tiêu dùng cá nhân do hànghoá, dịch vụ trên thị trường ngày một gia tăng về cả số lượng lẫn mẫu mã, hình
thức Do đó cụm từ “người tiêu dùng”(viết tắt NTD) trở thành một khái niệm
phổ biến trong cuộc sống và luôn được nhắc đến thường xuyên Theo cách hiểuthông thường, NTD được hiểu đơn giản là người dùng hàng hoá, dịch vụ Theo
từ điển điện tử Wikipedia, NTD hay người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để
“chỉ các cá nhân hoặc hộ gia đình dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong
nền kinh tế NTD là người có nhu cầu, có khả năng mua sắm các sản phẩm dịch
Trang 19vụ trên thị trường phục vụ cho cuộc sống, NTD có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình”1.
Để làm rõ hơn khái niệm NTD tác giả đã tìm hiểu khái niệm này tại một sốquốc gia trên thế giới thông qua các văn bản pháp luật quy định về NTD ở cácquốc gia đó
Một là, khái niệm “người tiêu dùng” của một số nước trên thế giới
Thứ nhất, khái niệm “người tiêu dùng” của Liên minh châu Âu (EU) Khái
niệm “NTD” của EU được giải thích trong Chỉ thị số 1999/44/EC ngày
25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan(Directive 1999/44/EC of the European Parliament and of the Council of 25 May
1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated
guarantees) Chỉ thị này giải thích “NTD là bất cứ tự nhiên nhân (tức là cá
nhân) nào tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình”2.Như vậy, theo khái niệm NTD của EU đã không bao gồm pháp nhân Có nghĩa
là, NTD được hiểu là các cá nhân tiêu dùng, không bao gồm các chủ thể khác
Thứ hai, khái niệm về “người tiêu dùng” của Canada Tại (Điều 1(e)) Luật
bảo vệ NTD của Bang Quebec giải thích rõ “NTD là tự nhiên nhân (cá nhân)
nhưng không phải là thương nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho mục đích kinh doanh của mình”3 Tại Điều 1 của Luật về bảo vệ NTD và các hành vi kinh
doanh của Bang British Columbia cũng quy định rõ: “NTD là tự nhiên nhân (cá
nhân) tham gia giao dịch tiêu dùng”…tức là tham gia giao dịch mua sắm hàng
1 Người tiêu dùng, Thư viện Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, https://bitly.vn/1q1q , truy cập Thứ năm 28/02/2019.
2 Francise Rose (ed.), Blackstone’s Statutes on Commercial and Consumer Law 2008-2009, 17th ed (Oxford:
Oxford University Press, 2008) pg 539.
3 Parliament of Quebec, Consumer protection act (2000)
Trang 20hóa, dịch vụ với mục đích chủ yếu phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sinhhoạt gia đình4 Như vậy, trong các quy định về NTD của hai bang ở Canada là
Bang Quebec và Bang Bristish Comlumbia đều cho rằng NTD chỉ được phép là
cá nhân, không phải là pháp nhân Cá nhân được coi là NTD khi cá nhân đó muahàng hoá, sử dụng dịch vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân, hoặc gia đình, loại bỏtrường hợp phục vụ mục đích kinh doanh của cá nhân
Thứ ba, khái niệm về “người tiêu dùng” của Ấn Độ Luật bảo vệ NTD của
Ấn Độ năm 1986 có một số quy định như sau: Điều 2(1d) quy định rằng: “NTD
là bất cứ người nào mua hàng hóa mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác” Điều 2(1m) đã giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được
hiểu bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, TCXH.Như vậy, trong khái niệm NTD này bao gồm cả cá nhân và tổ chức5
Thứ tư, khái niệm về “người tiêu dùng” của Malaysia Tại Điều 3 của Luật
bảo vệ NTD năm 1999 của Malaysia quy định: “NTD là người mua hoặc sử
dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình…và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng hóa vì mục đích chính để bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác hoặc để dùng cho việc sửa chữa, gắn thêm vào hàng hóa khác” 6 Khái niệm NTD theo Luật bảo
vệ NTD của Malaysia tương đối chi tiết về mục đích sử dụng nhưng chỉ nói tớikhái niệm “người” mà không dùng từ cụ thể là cá nhân như các nước nói trên.Việc quy định thiếu rõ ràng như vậy có khả năng dẫn tới hai cách hiểu khácnhau: một là chỉ bao gồm cá nhân và hai là bao gồm cả cá nhân và pháp nhân
4 Business practices and consumer protection act of Bristish Comlumbia (2004), part 1
5 The Consumer protection act of India (1986), pg.9
6 Consumer protection act of Malaysia (1999), pg.13
Trang 21Thứ năm, khái niệm về “người tiêu dùng” của Nhật Bản Điều 2(1) Luật về
Hợp đồng tiêu dùng (tức là hợp đồng giao kết giữa NTD với thương nhân) của
Nhật Bản năm 2000 giải thích rõ: “NTD theo quy định của luật này là cá nhân
nhưng không bao gồm cá nhân tham gia hợp đồng với mục đích kinh doanh”7.
Từ khái niệm “người tiêu dùng” của các nước trên thế giới, có thể nhận thấyquan niệm về khái niệm này được chia làm ba hướng đi khác nhau, cụ thể:
- Chỉ quy định NTD là cá nhân [quy định của Châu Âu, Canada (BangQuebec và Bang British Columbia) và Nhật Bản] Cách quy định này thể hiện rõLuật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do có những vị thế
và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên Luật bảo
vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ Tuy nhiên,cách tiếp cận này cũng có điểm hạn chế vì pháp nhân theo quy định của phápluật không chỉ bao gồm các doanh nghiệp mà còn bao gồm các cơ quan tổ chứckhác trong xã hội Các cơ quan, tổ chức này đôi khi không phải là những ngườichuyên nghiệp và cũng như NTD, họ cũng không có sẵn nguồn lực để đối phóvới các hành vi vi phạm từ phía nhà sản xuất và cũng rất cần tới sự bảo vệ củapháp luật bảo vệ NTD
- Khái niệm NTD được quy định bao gồm cả cá nhân và pháp nhân (quyđịnh của Ấn Độ) Cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quyđịnh thứ nhất bởi vì không phải lúc nào pháp nhân cũng có đủ khả năng để đốiphó với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo
vệ NTD không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợicủa họ sẽ bị xâm phạm
7 Japanese parliament, The Cosumer Contract act, pg 1
Trang 22- Khái niệm NTD không nêu rõ chỉ là cá nhân hay gồm cả cá nhân và pháp
nhân (quy định của Malaysia) Cách quy định này chỉ nói là “người nào” hoặc
“những ai”, quy định này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau và khó có thểđược áp dụng trong thực tiễn bởi lẽ nó có thể được hiểu là gồm cả cá nhân vàpháp nhân, nhưng cũng có thể giải thích theo hướng chỉ là cá nhân
Hai là, khái niệm “người tiêu dùng” theo pháp luật Việt Nam
Từ những quan niệm khác nhau về người tiêu dùng của các nước trên thếgiới, đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể tại khoản 1, Điều 3Luật BVQLNTD năm 2010 (viết tắt Luật BVQLNTD năm 2010) thì khái niệm
NTD ở Việt Nam rơi vào trường hợp thứ hai: Tại khoản 1, Điều 3 Luật bảo vệ NTD 2010, khái niệm “NTD” được quy định như sau: “NTD là người mua, sử
dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,
tổ chức” Theo đó, NTD không chỉ bao gồm các đối tượng là các cá nhân tiêu
dùng riêng lẻ mà còn là tổ chức (như doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước,hiệp hội ngành nghề, TCXH, đoàn thể,…) tiến hành mua, sử dụng hàng hoá, dịch
vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó Nóicách khác, các đối tượng này thực hiện việc mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụkhông nhằm mục đích để bán lại hoặc mục đích sinh lời Những đối tượng muahàng hoá, dịch vụ để bán lại hoặc sử dụng làm nguyên vật liệu cho sản xuất, kinhdoanh được quy định bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ Luật Dân
sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh,…
1.1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bất kỳ chủ thể nào khi tham gia vào một mối quan hệ xã hội nói chung vàquan hệ pháp luật nói riêng đều có những quyền lợi và nghĩa vụ nhất định Trong
đó, quyền lợi là những lợi ích mà một chủ thể đương nhiên được hưởng do thoả
Trang 23thuận hoặc được pháp luật quy định Quyền lợi NTD bao gồm những quyền năng
cơ bản khi họ tham gia việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất,người bán hoặc người cung ứng dịch vụ Trong bản Hướng dẫn của Liên Hợpquốc về bảo vệ NTD ban hành ngày 16 tháng 4 năm 1985 và đã được hiệu chỉnhvào năm 1999 đưa ra những nguyên tắc về quyền lợi cơ bản của NTD ViệcBVQLNTD được hiểu là việc NTD được hưởng các quyền sau đây:
- Thứ nhất, quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản;
- Thứ hai, quyền được an toàn;
- Thứ ba, quyền được thông tin;
- Thứ tư, quyền được lựa chọn;
- Thứ năm, quyền được lắng nghe;
- Thứ sáu, quyền được khiếu nại và bồi thường;
- Thứ bảy, quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng;
- Thứ tám, quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững 8 Theo Giáo trình Luật BVQLNTD của TS Nguyễn Thị Vân Anh và TS
Nguyễn Văn Cương “bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bảo vệ một cấu thành
thị trường, là bảo vệ các giá trị quyền con người Trong một xã hội dân chủ, hiện đại, BVQLNTD là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội” 9
Pháp luật bảo vệ NTD ở Việt Nam hiện nay không có quy định nào về kháiniệm “BVQLNTD” Dựa vào các quy định từ Điều 6, Điều 7, Điều 8 của Luật
BVQLNTD năm 2010, có thể đưa ra nhận định: BVQLNTD là các biện pháp có
thể thực hiện để NTD bảo vệ những quyền cơ bản của mình
8 Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc
gia, 2006, tr.33
9 TS Nguyễn Thị Vân Anh – TS Nguyễn Văn Cương (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr 17.
Trang 241.1.1.3 Khái niệm khuyến mại
Trước khi tìm hiểu khái niệm “khuyến mại” (viết tắt KM), cần khái lượt về khái niệm “xúc tiến thương mại” (viết tắt XTTM).
Theo tác giả Philip Kotler – chuyên gia Marketing hàng đầu thế giới trong
cuốn “Marketing căn bản” thì XTTM là hoạt động thông tin tới khách hàng tiềm
năng, đó là các hoạt động trao quyền, chuyển tải đến khách hàng những thông tin cần thiết về doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp, phương thức phục vụ
và những lợi ích mà khách hàng có thể thu được từ việc mua sản phẩm hay dịch
vụ của doanh nghiệp cũng như những thông tin phản hồi từ phía khách hàng để
từ đó doanh nghiệp tìm ra cách thức tốt nhất nhằm thoả mãn yêu cầu của khách hàng 10
Qua quan điểm trên của Philip Kotler, có thể thấy mục đích của hoạt độngxúc tiến thương mại là nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá vàcung ứng dịch vụ Hoạt động này hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của thươngnhân hiệu quả hơn
Theo giáo trình Marketing căn bản, GS.TS Trần Minh Đạo chủ biên, “Xúc
tiến bán là nhóm công cụ cổ động, kích thích khách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ tức thì Xúc tiến bán hàng hay còn gọi là KM có tác dụng trực tiếp và tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua” 11
10 Philip Kotler & Gary Amstrong (2004), Principles of Marketing, 10th edition.
11 GS.TS Trần Minh Đạo (2006), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, tr 385
Trang 25Theo Luật Thương mại năm 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam thì XTTM bao gồm KM; quảng cáo thương mại; trưng bày, giới thiệuhàng hoá, dịch vụ; hội chợ, triển lãm thương mại
Như vậy, có thể hiểu KM chính là một hình thức của XTTM
Hiện nay có rất nhiều tài liệu đưa ra quan điểm về KM, theo Hiệp hội tiếp
thị Mỹ định nghĩa KM: “KM là những hoạt động tiếp thị khác với các hoạt động
bán hàng trực tiếp, quảng cáo, và tuyền truyền nhằm kích thích NTD mua hàng
và làm tăng hiệu quả các đại lý” Hay trong cuốn “Marketing Principles”, Philip
Kotler và Gary Amstrong đã định nghĩa: “KM bao gồm nhiều công cụ khuyến
khích khác nhau, thường là trong ngắn hạn, nhằm kích thích NTD mua những sản phẩm, dịch vụ cụ thể nhanh hơn, nhiều hơn”12
Theo các tài liệu trong nước, giáo trình Marketing căn bản do GS.TS Trần
Minh Đạo chủ biên đã đưa ra quan điểm về KM như sau: “KM là một hoạt động
truyền thông trong đó sử dụng các công cụ tác động trực tiếp tạo lợi ích vật chất
bổ sung cho khách hàng Chúng khuyến kích mua hàng nhờ đưa ra những lợi ích phụ thêm do mua hàng hoá của doanh nghiệp” 13 Hay trong Giáo trình Luật
Cạnh tranh, TS Tăng Văn Nghĩa có viết: “KM là việc doanh nghiệp thúc đẩy
việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích tăng thêm nhất định Với cách thức đó, người bán có thể thu hút, lôi kéo khách hàng tốt hơn và qua đó có thể nâng cao doanh số, mở rộng thị trường” 14
Như vậy, dù có những cách giải thích khác nhau, cách dùng từ ngữ để diễnđạt khác nhau, các định nghĩa trên đều tiếp cận khuyến mại ở góc độ kinh tế,
12 Philip Kotler & Gary Amstrong (2004), Principles of Marketing, 10th edition.
13 GS.TS Trần Minh Đạo (2006) Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, tr 372
14 TS Tăng Văn Nghĩa (2006) Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Giáo dục Việt Nam.
Trang 26xem khuyến mại là một hoạt động nhằm khuyến khích khách hàng mua sảnphẩm, tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp Tựu trung lại, các quan điểm trên đều chorằng KM chính là một công cụ nhằm xúc tiến việc bán hàng thông qua những lợiích nhất định cho khách hàng, thúc đẩy mạnh hơn, nhanh hơn hành vi mua củakhách hàng.
Khái niệm về hoạt động KM lần đầu tiên xuất hiện trong hệ thống pháp luậttại Việt Nam khi Luật Thương mại năm 1997 ra đời, khi đó hoạt động KM được
hiểu là “KM là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán
hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng”.
Đến ngày 14 tháng 06 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật Thương mại
2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 thay thế cho Luật Thương mại
1997 trong đó có quy định về hoạt động KM Theo quy định tại Khoản 1 Điều 88
Luật Thương mại 2005 thì “KM là hoạt động XTTM của thương nhân nhằm xúc
tiến việc mua bán hàng hoá cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.
Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 về KM, có thể rút ra các
KM có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi KM là thương nhân và cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập thường xuyên Tổ chức cá nhân kinh doanh
có thể tự mình tổ chức thực hiện việc KM hoặc có thể kinh doanh KM bằng cáchthực hiện việc KM hàng hoá, dịch vụ của thương nhân khác thoả thuận vớithương nhân đó Quan hệ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ giữa haithương nhân
Trang 27Thứ hai, cách thực hiện hoạt động KM là dành cho khách hàng những lợi
ích nhất định Tuỳ thuộc vào mục tiêu của KM, vào kinh phí thực hiện màthương nhân dành cho khách hàng quà tặng hoặc hàng mẫu dùng thử hoặc giảmgiá hàng, dịch vụ
Thứ ba, mục đích của KM là xúc tiến việc bán hàng , cung ứng dịch vụ, lôi
kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu sản phẩmmới, thông qua đó tăng doanh thu và tăng thị phần của doanh nghiệp trên thịtrường
1.1.1.4 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Hoạt động KM của các chủ thể trên thị trường ngày càng nhiều hơn vớinhiều hình thức KM khác nhau, bên cạnh những lợi ích mà hoạt động KM manglại cho khách hàng thì không thể không nhắc đến những hành vi KM “danhnghĩa”, lợi dụng khách hàng để đẩy mạnh sức tiêu thụ Trong trường hợp này,bản thân NTD chính là đối tượng chịu thiệt thòi nhất do sự yếu thế của NTDtrong mối quan hệ với nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ Việc doanh nghiệp sửdụng hành vi KM nhằm cạnh tranh không lành mạnh, loại bỏ đối thủ cạnh tranh
đã gây thiệt hại trực tiếp tới lợi ích hợp pháp của NTD, ảnh hưởng đến sự pháttriển của nền kinh tế Do đó, đặt ra vấn đề cần phải bảo vệ quyền lợi của NTDtrong lĩnh vực KM
Hiện nay, trong tất cả các văn bản pháp luật về BVQLNTD hay KM đều
không đặt ra khái niệm cụ thể về “BVQLNTD trong lĩnh vực KM” Dựa vào các
quy định về BVQLNTD trong lĩnh vực KM tại các văn bản pháp luật ở ViệtNam, có thể đưa định nghĩa khái quát về BVQLNTD trong lĩnh vực KM như
sau: “BVQLNTD trong lĩnh vực KM chính là những biện pháp có thể thực hiện
để bảo đảm cho NTD có đầy đủ các quyền năng cơ bản của NTD nói chung và
Trang 28các quyền lợi đối với lĩnh vực KM nói riêng, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến NTD được quy định trong các văn bản chuyên ngành.”
1.1.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Một là, người tiêu dùng – đối tượng yếu thế hơn trong mối quan hệ với thương nhân khuyến mại cần được bảo vệ Người tiêu dùng luôn là chủ thể ở vào
vị trí yếu thế hơn so với doanh nghiệp khuyến mại về thông tin hàng hoá, dịch vụkhuyến mại; về chất lượng hàng hoá, dịch vụ khuyến mại,… Trong hoạt độngkhuyến mại, người tiêu dùng là đối tượng được hưởng những lợi ích nhất định từviệc mua hàng của nhà sản xuất, tuy nhiên điều khó khăn đối với người tiêu dùng
là các thông tin về hàng hoá, dịch vụ khuyến mại không phải lúc nào cũng cósẵn, nhất là các thông tin liên quan đến những tác động của hàng hoá, dịch vụkhuyến mại đối với sức khoẻ của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm Chính
vì sự yếu thế hơn mà người tiêu dùng mới cần được bảo vệ để đảm bảo quyền lợicủa mình trong mối quan hệ với doanh nghiệp thực hiện khuyến mại
Hai là, trách nhiệm của thương nhân tổ chức/tham gia khuyến mại, thương nhân cung ứng dịch vụ, hàng hoá khuyến mại đối với người tiêu dùng chỉ phát sinh trong mối quan hệ với người tiêu dùng 15 Trong quá trình khuyến mại, có
nhiều quan hệ phát sinh giữa tổ chức, cá nhân khuyến mại với các chủ thể khácnhư cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và với thương nhânkhác Tuy nhiên, không phải mọi khách hàng đều được xem là người tiêu dùng,
do đó trách nhiệm của thương nhân khuyến mại đối với người tiêu dùng chỉ xuấthiện trong mối quan hệ với khách hàng với tư cách là “người tiêu dùng”
15 TS Nguyễn Thị Vân Anh – TS Nguyễn Văn Cương (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr 110
Trang 29Ba là, người tiêu dùng là đối tượng bị thương nhân thực hiện khuyến mại xâm phạm (xâm phạm trực tiếp) hoặc bị thương nhân thực hiện khuyến mại lợi dụng để thực hiện các chiến lược cạnh tranh với đối thủ trên thị trường (xâm phạm gián tiếp) Người tiêu dùng có thể là đối tượng của hành vi xâm phạm.
Thương nhân khuyến mại sử dụng các hành vi bất hợp pháp nhằm lừa dối ngườitiêu dùng về các chương trình khuyến mại hoặc chất lượng, số lượng hàng hoákhuyến mại Bên cạnh đó, người tiêu dùng có thể là đối tượng để thương nhânthực hiện các chiến lược cạnh tranh của mình nhằm loại bỏ đối thủ Đối vớitrường hợp này, người tiêu dùng là đối tượng bị lợi dụng, lừa dối, bị thươngnhân lôi kéo nhằm cạnh tranh, thu hút thị phần trên thị trường liên quan Trongtrường hợp này người tiêu dùng không trực tiếp bị xâm phạm quyền lợi nhưnglại được xem như “công cụ” để thương nhân đạt được mục đích của mình
1.1.3 Nội dung của bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Đối với BVQLNTD trong lĩnh vực KM, đối tượng là NTD – người muahàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, không vì mục đích kinh doanh;thương nhân thực hiện khuyến mại, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cánhân có liên quan bao gồm các tổ chức xã hội, các tổ chức cá nhân khác
BVQLNTD trong lĩnh vực KM đặt ra vấn đề về quyền lợi hợp pháp củaNTD khi tham gia các chương trình KM do thương nhân thực hiện; trách nhiệmcủa thương nhân khi thực hiện KM; những hành vi cấm thương nhân thực hiệnnhằm đảm bảo quyền lợi cho NTD ngoài ra cơ quan quản lý nhà nước về lĩnhvực BVQLNTD trong lĩnh vực KM phải có trách nhiệm tương xứng với thẩmquyền của mình nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi, xử lý hành vi KM bất hợppháp của thương nhân
Trang 301.1.4 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Kenedy vào ngày 15 tháng 03 năm 1962 đã nói
“Consumers, by definition, include us all” (NTD là những con người, trước hết
là chúng ta) 16 Cựu Tổng thống Mỹ đã khẳng định mối quan tâm của chúng ta
phải đổ dồn về việc bảo vệ quyền và lợi ích của NTD bởi trước hết chúng ta lànhững NTD chịu tác động trực tiếp nếu không tự bảo vệ chính bản thân mình
Do đó, thiết lập cơ chế bảo đảm sự an toàn đối với NTD trong việc sử dụng hànghoá, dịch vụ KM chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tất cả chúngta
Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của NTD xuất phát từ vai trò của NTDtrong nền kinh tế Đầu tiên, theo cách hiểu đơn giản nhất thì NTD chính là ngườimua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp NTD mua với
số lượng lớn, doanh nghiệp bán được nhiều hàng thì doanh thu tăng cao, doanhnghiệp mới có thể tồn tại Chính vì vậy có thể nói sức mua của NTD là yếu tốquyết định sự thành bại của doanh nghiệp NTD là người quyết định hành vi muasắm của chính mình Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu mua sắm củacon người cũng tăng dần Khi đưa bất kỳ một quyết định mua sắm nào, NTD cóquyền được tự do tham khảo, chọn lựa sản phẩm mình muốn mua và sử dụngtheo đúng nhu cầu và mục đích của mình Chính từ nhu cầu mua sắm của NTD,nhiều doanh nghiệp sẽ lên kế hoạch đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ đa dạngnhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của NTD đồng thời tăng tính cạnhtranh giữa các doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp sẽ có chiến lược phát triển lâu
16 John Kenedy, “Special message to the Congress on Protection Consumer Interest”, in trong tuyển tập “Public
Papers of the Presidents of the United Stages” (2005), Office of the Federal Register, National Archives and
Records Administration, pg.235.
Trang 31dài và phù hợp với tình hình thực tế Chính vì vậy, NTD chính là người tác độngkhông nhỏ đến kế hoạch và chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp NTD
là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Qua đó họ có thểđưa ra những ý kiến đóng góp hữu ích và chính xác về sản phẩm và dịch vụ màmình sử dụng Tùy thuộc vào thị hiếu tiêu dùng và ý kiến thu thập được từ phíaNTD mà doanh nghiệp có thể điều chỉnh lại phương pháp sản xuất, hoàn thiệnsản phẩm của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của NTD Như vậy, có thể thấyNTD là đối tượng đặc biệt, dù không trực tiếp sản xuất kinh doanh tạo ra sảnphẩm phát triển nền kinh tế, tuy nhiên NTD được ví như một công cụ thúc đẩysản xuất và phát triển Do đó cần thiết có một công cụ mạnh hơn để bảo đảm choNTD có thể sử dụng để tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ trước những
vi phạm, lạm dụng của các doanh nghiệp
NTD luôn là chủ thể ở vào vị trí yếu thế hơn so với doanh nghiệp KM vềthông tin hàng hoá, dịch vụ KM; về chất lượng hàng hoá, dịch vụ KM,… Tronghoạt động KM, NTD là đối tượng được hưởng những lợi ích nhất định từ việcmua hàng của nhà sản xuất, tuy nhiên điều khó khăn đối với NTD là các thôngtin về hàng hoá, dịch vụ KM không phải lúc nào cũng có sẵn, nhất là các thôngtin liên quan đến những tác động của hàng hoá, dịch vụ KM đối với sức khoẻ củaNTD khi sử dụng sản phẩm Chính vì sự yếu thế hơn mà NTD mới cần được bảo
vệ để đảm bảo quyền lợi của mình trong mối quan hệ với doanh nghiệp thực hiệnKM
Ngoài ra, trong lĩnh vực KM hàng hoá, dịch vụ cho NTD, chúng ta thườngbắt gặp những chiêu trò của doanh nghiệp, lợi dụng lòng tin của NTD mà cónhững sai phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền lợi NTD như KM thiếutrung thực hoặc gây hiểu nhầm về hàng hoá, dịch vụ KM để lừa dối NTD; hứa
Trang 32tặng, hứa thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,… Nhữnghành vi vi phạm quyền lợi NTD trong lĩnh vực KM ngày càng gia tăng với sốlượng ngày càng nhiều và mức độ ngày càng nghiêm trọng, đó được xem lànhững hành vi vi phạm đạo đức trong sản xuất, kinh doanh, các hành vi này cầnđược lên án, cần phải đấu tranh để chống lại những hành vi này nhằm bảo vệquyền lợi của NTD, đem lại một xã hội phát triển lành mạnh.
1.2 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Theo Giáo trình Luật BVQLNTD của TS Nguyễn Thị Vân Anh và TS
Nguyễn Văn Cương, “pháp luật về BVQLNTD là một lĩnh vực luật dùng để điều
chỉnh các quan hệ tư giữa NTD và các thương nhân khi NTD mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ vủa thương nhân đó” 17
Qua nhận định trên về pháp luật BVQLNTD, ta có thể hiểu khái quát rằng
pháp luật BVQLNTD là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa NTD và cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh để bảo vệ quyền được hưởng những lợi ích chính đáng của NTD, người sản xuất, kinh doanh và các lợi ích xã hội Đồng thời, chế định này còn là cơ sở để xử lý các vi phạm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khi họ thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền lợi của NTD đã được luật định.
17 TS Nguyễn Thị Vân Anh – TS Nguyễn Văn Cương (2012) Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, tr 22.
Trang 33Pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực KM là toàn bộ nội dung của pháp luật
BVQLNTD và dẫn chiếu đến một lĩnh vực chuyên biệt, đó chính là lĩnh vực KM.
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Một là, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại có sự giao thoa giữa nhiều ngành luật khác nhau
BVQLNTD trong lĩnh vực KM là một phạm trù đa diện, do đó, việc nghiêncứu, tìm hiểu về BVQLNTD trong lĩnh vực KM đòi hỏi cách tiếp cận đa ngành,liên ngành Vì tính chất của vấn đề này nên hệ thống pháp luật về BVQLNTDtrong lĩnh vực KM cũng có sự giao thoa của nhiều ngành luật khác nhau Baogồm các quy định cụ thể trong Pháp luật BVQLNTD, các quy định về KM trongPháp luật Thương mại, Pháp luật Cạnh tranh, các quy định về chế tài xử phạthành chính hoặc hình sự hoặc các chế định BTTH ngoài hợp đồng Tất cả tạonên một khung pháp lý hoàn thiện nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của NTDtrong lĩnh vực KM
Bộ Luật dân sự năm 2015 (viết tắt BLDS 2015) là văn bản pháp luật chungnhất quy định chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền,nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ đượchình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu tráchnhiệm18, đối với vấn đề BVQLNTD trong lĩnh vực khuyến mại, BLDS năm 2015đưa ra các quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của NTD như trách nhiệmdân sự do vi phạm pháp luật về đảm bảo chất lượng hàng hoá, dịch vụ; nghĩa vụbảo hành; trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng; BTTH do vi phạm quyền lợiNTD
18 Điều 1 Bộ Luật Dân sự năm 2015
Trang 34Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh lĩnh vực XTTM nói chung và KMhàng hoá, dịch vụ nói riêng, ngoài ra có các văn bản hướng dẫn thi hành LuậtThương mại 2005 như Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết luậtthương mại về hoạt động xúc tiến thương mại; Nghị định 185/2013/NĐ-CP quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buônbán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Nghị định 24/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15tháng 11 năm 2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính tronghoạt động thương mại, sản xuất buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng.
Luật BVQLNTD 2010 ghi nhận các vấn đề chung nhất về BVQLNTD,ngoài ra còn có các văn bản dưới luật như Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật BVQLNTDnăm 2010
Luật Cạnh tranh 2004 điều chỉnh vấn đề khuyến mại nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh xâm phạm đến quyền lợi người tiêu dùng, Luật này khẳng
định: Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không
xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của NTD và phải tuân theo các quy định của Luật này 19
Luật cũng cấm các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực KM ảnh hưởng đến quyềnlợi NTD
Ngoài ra vấn đề này còn được quy định trong các văn bản pháp luật liênquan như Luật Đo lường năm 2011, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm2007
19 Khoản 2 Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2004
Trang 35Hai là, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong khuyến mại cân bằng được quyền lợi của người tiêu dùng và quyền lợi của thương nhân khuyến mại Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Hiện nay, khi khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển, các hành vikinh doanh bất hợp pháp ngày càng tinh vi thì vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêudùng càng được quan tâm Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được coi là mộtkhía cạnh của vấn đề quyền con người Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,ngoài việc ghi nhận các quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng, pháp luật cũng đặt
ra trách nhiệm của tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh và các chế tài xử phạtđối với các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyếnmại bảo đảm quyền của người tiêu dùng được thực thi trong thực tế Về mặt lýluận, hợp đồng là một sự tự do thỏa thuận Tuy nhiên, nếu để các bên tự do vôhạn thì hợp đồng sẽ trở thành phương tiện để bên mạnh hơn lấn át bên yếu thếhơn và gây thiệt hại to lớn tới lợi ích chung của xã hội Người tiêu dùng luôn làbên thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin và kiến thức liên quan đến đặc tính
kỹ thuật của sản phẩm Bên cạnh đó, người tiêu dùng thông thường ít có cơ hộiđàm phán, thương lượng trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh Do đó,pháp luật cần có các quy định đặc thù để đảm bảo sự cân bằng trong các quan hệnày, qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội
Các quy định của Luật hướng tới việc nâng cao trách nhiệm của doanhnghiệp đối với người tiêu dùng nhưng vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích chínhđáng của các chủ thể này Luật không thể hiện xu hướng quá thiên về bảo vệngười tiêu dùng mà hạn chế đi quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp, tránhtạo ra những kẽ hở để một số cá nhân lợi dụng quyền lợi của người tiêu dùng gây
Trang 36thiệt hại cho doanh nghiệp (Luật tránh việc tạo ra cơ chế khiếu nại tràn lankhông có cơ sở, không quy định quyền được đổi trả lại hàng hóa sau một thờigian sử dụng như quy định của pháp luật một số nước).
1.2.3 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Theo Luật BVQLNTD năm 2010, phạm vi điều chỉnh là về quyền và nghĩa
vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc thamgia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng
và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng20 Đối tượng áp dụng là người tiêu dùng; tổchức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam21 Đối với lĩnh vực khuyến mại, đối tượng áp dụng là thương nhân hoặc tổchức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại thực hiện hoạt độngkhuyến mại trên lãnh thổ Việt Nam 22
Như vậy đối với pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực khuyến mại, đốitượng điều chỉnh của ngành luật này là người tiêu dùng, thương nhân thực hiệnhoạt động khuyến mại trên lãnh thổ Việt Nam, điều chỉnh đối với các tổ chức xãhội tham gia bảo vệ NTD và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
20 Điều 1 Luật BVQLNTD 2010
21 Điều 2 Luật BVQLNTD 2010
22 Theo Điều 1 Luật Thương mại năm 2005, phạm vi điều chỉnh là “hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Trang 371.2.4 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực KM có nội dung cơ bản bao gồm: quyđịnh những nguyên tắc cơ bản về BVQLNTD trong lĩnh vực KM; các quy định
về quyền và nghĩa vụ của NTD trong lĩnh vực KM; quy định các hành vi bị cấmtrong lĩnh vực KM nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD; quy định về trách nhiệmcủa doanh nghiệp và đại lý cung cấp hàng hoá, dịch vụ; quy định về giải quyếtkhiếu nại và tranh chấp BVQLNTD trong lĩnh vực KM
1.2.3.1 Quy định những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Các quy định của pháp luật đã ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của
NTD Cụ thể như tại Điều 14 Luật thương mại 2005 về nguyên tắc bảo vệ lợi ích
chính đáng của NTD trong hoạt động thương mại (trong đó có hoạt động XTTM)ghi nhận:
Thứ nhất, thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thôngtin đầy đủ, trung thực cho NTD về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh vàphải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó
Thứ hai, thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu tráchnhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh.Nhằm bổ sung, củng cố thêm về mặt nội dung cho nguyên tắc bảo vệ lợi íchchính đáng của NTD tại Điều 14 Luật thương mại 2005, Nghị định 81/2018/NĐ-
CP cũng đã quy định về nguyên tắc thực hiện KM với các nội dung cụ thể tại
Điều 3 Nghị định này: “Chương trình KM phải … đảm bảo quyền, lợi ích hợp
pháp của NTD…” “Tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng” “Thương nhân thực hiện KM có trách nhiệm bảo đảm về chất
Trang 38lượng hàng hóa, dịch vụ được KM và hàng hóa, dịch vụ dùng để KM” Như vậy
có thể thấy, các nhà làm luật đã chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của NTDtrong việc thực hiện hoạt động KM của thương nhân bằng cách quy định về cácnguyên tắc khi thực hiện hoạt động KM của thương nhân, yêu cầu các thươngphân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm quyền lợi của NTD trong quá trìnhthực hiện hoạt động KM
Hay Luật BVQLNTD 2010 là một công cụ hỗ trợ đắc lực trong công tácbảo vệ NTD đưa ra những nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của NTD như:BVQLNTD là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội; quyền lợi củaNTD được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật; bảo vệ quyền lợi củaNTD phải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng pháp luật; hoạtđộng BVQLNTD không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cánhân khác
1.2.3.2 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Một là, các quyền cơ bản của người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại
Trong pháp luật BVQLNTD nói chung và pháp luật BVQLNTD trong lĩnhvực KM nói riêng, quy định về quyền và nghĩa vụ của NTD trong lĩnh vực KMđược xem là quy định quan trọng nhất, được xem là tuyên ngôn của NTD
Vào ngày 15/03/1962, cố Tổng thống Mỹ John Kennedy đã có một bài phát
biểu tại Thượng viện Mỹ Tại đây, ông đã khẳng định rằng: “Theo định nghĩa,
NTD bao gồm toàn thể chúng ta Họ là nhóm người đông đảo nhất, có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của nhà nước hay tư nhân Họ là nhóm người quan trọng độc nhất, vậy mà quan điểm
Trang 39của họ thường không được chú ý tới …” Tuyên bố Kennedy lúc đầu chỉ đề cao
đến 4 quyền cơ bản của NTD Bốn quyền này là cốt lõi trong cương lĩnh của các
tổ chức BVQLNTD trên toàn thế giới: quyền được an toàn; quyền được thôngtin; quyền được lựa chọn; quyền được bày tỏ quan điểm
Qua quá trình hoạt động thực tiễn, Tổ chức Quốc tế NTD (CI: Tiền thân là
Tổ chức quốc tế các Hiệp hội NTD - IOCU - sau được được đổi tên là Tổ chứcQuốc tế NTD) CI được sáng lập bởi 5 nhóm tổ chức NTD ở Mỹ, Tây Âu,Ôxtrâylia năm 1960 Hiện nay CI có trên 260 tổ chức thành viên ở trên 130 quốcgia) và các Tổ chức NTD ở các nước đã bổ sung thêm 4 quyền của NTD trong
“Bản hướng dẫn về BVQLNTD” kèm theo Nghị quyết Đại hội đồng Liên hợpquốc số A/RES/39/248 ngày 16/04/1945, đó là: quyền được thoả mãn những nhucầu cơ bản; quyền được bồi thường; quyền được giáo dục; quyền được sốngtrong môi trường lành mạnh Đây được xem là “Tám quyền của NTD” được CIđưa vào hoạt động tuyên truyền, vận động chính sách của mình.23
Hưởng ứng ngày Quyền của NTD trên thế giới, Việt Nam cũng lấy ngày 15tháng 03 hằng năm làm Ngày Quyền của NTD Việt Nam, theo Luật BVQLNTDnăm 2010, Việt Nam cũng quy định “tám quyền” cơ bản đối với NTD tại Điều 8của Luật này, đây cũng là những quyền cơ bản của NTD trong mối quan hệ giữacác chủ thể KM, gồm:
- Quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi íchhợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp
- Quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất
23 Vũ Minh Hải (2016), Từ ngày quyền người tiêu dùng thế giới đến ngày quyền người tiêu dùng Việt Nam, Sở
Công thương Hải Dương, https://bom.to/2wrGw , truy cập Thứ Ba 29/01/2019.
Trang 40xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch
và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã mua, sử dụng
- Quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặckhông tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
- Quyền góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vềgiá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch
và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ
- Quyền tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật vềBVQLNTD
- Quyền yêu cầu BTTH khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quychuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dungkhác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết,quảng cáo hoặc cam kết
- Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị TCXH khởi kiện để bảo
vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác củapháp luật có liên quan
- Quyền được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ
Hai là, nghĩa vụ của người tiêu dùng trong lĩnh vực khuyến mại