Với nền kinh tế tập trung, các doanh nghiệp không có động lực cạnh tranh, sự tồn tại của chúng được duy trì theo ý chí của Nhà nước. Tuy nhiên, mô hình kinh tế tập trung này đã không còn phù hợp và có dấu hiệu sụp đổ khi các doanh nghiệp “vượt rào”, doanh nghiệp ngày càng có nhiều quyền tự chủ trong hoạch định và tổ chức kinh doanh. Cùng với đó là sự gia nhập của đầu tư nước ngoài, sự nới lỏng tự do kinh doanh cho tư nhân, môi trường cạnh tranh lại một lần nữa xuất hiện. Khi tự do kinh doanh và cạnh tranh tranh tái xuất hiện, nhu cầu điều chỉnh việc vỡ nợ của các đơn vị kinh doanh trở nên cấp bách. Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá sản thực sự được sử dụng nhiều kể từ Đại hội 6 của Đảng khi nước ta bước vào sự nghiệp đổi mới, khi nước ta thừa nhận nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, khi có sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường. Theo đó, dưới sự tác động của quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì phá sản trở thành hiện tượng tất yếu trên thị trường.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Hệ thống pháp luật 2
2 Khái quát pháp luật phá sản Việt Nam 2014 3
2.1 Lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam 3
2.2 Cơ cấu Luật phá sản 2014 7
2.2.1 Cơ cấu Luật phá sản 2014 7
2.2.2 Điểm mới của Luật phá sản 2014 9
2.3 Ý nghĩa Luật phá sản 2014 14
2.3.1 Về mặt kinh tế 14
2.3.2 Về mặt xã hội 15
2.3.3 Đối với chủ nợ của doanh nghiệp 16
2.3.4 Đối với người lao động 17
2.3.5 Đối với doanh nghiệp phá sản 18
3 Nội dung cụ thể Luật phá sản 2014 20
3.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh 20
3.2 Trình tự thủ tục 21
3.3 Cơ quan giải quyết 30
4 Đánh giá pháp luật phá sản 32
PHẦN KẾT LUẬN 34
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Cùng với sự vận động và phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trườngđất nước, các chủ thể tham gia và loại khỏi nền kinh tế theo quy luật cạnh tranh.Bên cạnh những chủ thể kinh doanh tốt, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội thì
do những nguyên nhân khách quan và chủ quan vẫn còn nhiều chủ thể buộc phải rờikhỏi thương trường, hay nói cách khác là hiện tượng phá sản Cuộc chơi này ngàycàng phổ biến và đòi hỏi một luật chơi điều chỉnh nó vào khuôn khổ để mang lạinhững ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế - xã hội nước nhà Pháp luật phá sản vớinhững dấu hiệu mầm mống trước thời kỳ đổi mới năm 1986, trải qua rất nhiều giaiđoạn, với sự ra đời của nhiều đạo luật điều chỉnh về vấn đề phá sản và mãi cho đếnnăm 2014 thì pháp luật về phá sản được thể hiện đầy đủ và hoàn thiện nhất Luậtphá sản năm 2014 với một cơ cấu cụ thể, chặt chẽ, những điểm mới về nội dung và
tố tụng nhằm khắc phục những khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủthể trong quá trình tham gia và giải quyết phá sản đã đem lại những ý nghĩa to lớnđối với nền kinh tế - xã hội nói chung cũng như mỗi chủ thể của nền kinh tế nóiriêng
Trang 33 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP được ban hành ngày 26/08/2016 có hiệu lựcngày 16/09/2016 hướng dẫn thi hành về một số quy định của Luật Phá sản.
4 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ban hành ngày 24/09/2103 có hiệu lực ngày11/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tưpháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sảndoanh nghiệp, hợp tác xã
5 Nghị định 67/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/08/2015 có hiệu lực ngày01/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CPquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hànhchính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanhnghiệp, hợp tác xã
6 Nghị định 05/2010/NĐ-CP ban hành ngày 18/01/2010 có hiệu lực ngày15/03/2010 quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với các tổ chức tín dụng
7 Nghị định 114/2008/NĐ-CP ban hành ngày 03/11/2008 có hiệu lực ngày29/11/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối vớidoanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán
và tài chính khác
Trang 48 Nghị định 67/2006/NĐ-CP ban hành ngày 11/07/2006 có hiệu lực ngày08/08/2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặcbiệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản.
9 Nghị định 94/2005/NĐ-CP ban hành ngày 15/07/2005 có hiệu lực ngày08/08/2005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp vàhợp tác xã bị phá sản
2 Khái quát pháp luật phá sản Việt Nam 2014
2.1 Lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam
Theo cách nói thông thường, phá sản là tình trạng của một người bị vỡ nợ khôngcòn bất cứ một tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia Phá sản (hay còn gọi bình dân là sập tiệm) là tình trạng một công ty hay xí nghiệp khó khăn về tài chính, bị thua lỗ hoặc
thanh lý xí nghiệp không đảm bảo đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn Khi
đó, tòa án hay một cơ quan tài phán có thẩm quyền sẽ tuyên bố công ty hay xínghiệp đó bị phá sản
Tuy nhiên, những cách hiểu này chưa phải là cách hiểu chính thức về phá sảntheo pháp luật Việt Nam Thuật ngữ phá sản được định nghĩa, ghi nhận một cách
chính thức tại khoản 2 Điều 4 Luật phá sản 2014 như sau: “Phá sản là tình trạng
của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”.
Có phá sản tất yếu phải có pháp luật để điều chỉnh nó – pháp luật phá sản:
“Pháp luật phá sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã”.
Vậy lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam đã trải qua những giai đoạnnào và diễn biến ra sao? Lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam sẽ đượcchia làm hai giai đoạn: thứ nhất là giai đoạn trước trước đổi mới (trước năm 1986)
và thứ hai là giai đoạn đổi mới (sau năm 1986)
Trang 52.1.1 Lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam thời kỳ trước đổi mới
Trước năm 1986 đất nước ta thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, baocấp, chủ thể kinh tế chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã do Nhà nướcthành lập và tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc sở hữu của Nhà nước, củatập thể Mọi hoạt động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã từsản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đều theo kế hoạch của Nhà nước và cũng không có
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Hoạt động doanh nghiệp, hợp tác xã nếu có lãi thì nộp vào ngân sách Nhà nước,nếu thua lỗ thì được Nhà nước bù lỗ Do vậy hoạt động của các doanh nghiệp, hợptác xã thời kỳ này thường kém hiệu quả, nợ nần chồng chất và Nhà nước luôn phảigiúp đỡ các doanh nghiệp này bằng cách giãn nợ, hoãn nợ, xóa nợ hoặc dùng cácgiải pháp mang thủ tục hành chính như sáp nhập, giải thể để chấm dứt hoạt độngcủa chúng
Như vậy cùng với nền kinh tế tự cấp tự túc, không có hoạt động thương mại nênkhông có phá sản thì hoạt động của doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã trong nềnkinh tế tập trung bao cấp không thể bị mất khả năng thanh toán do đó không có hiệntượng phá sản Không có hiện tượng phá sản nên không có pháp luật phá sản
Tuy vậy, trên thực tế vẫn có các dấu hiệu “mầm mống” của pháp luật phá sản
trong giai đoạn trước năm 1986 được thể hiện như sau:
Trong lịch sử của pháp luật phong kiến Việt Nam mà cụ thể là trong Bộ Luật
Hồng Đức tại Điều 592 có một quy định gần gũi với pháp luật phá sản ngày nay:
“nếu người mắc nợ là quan từ cửu phẩm trở lên, mắc nợ quá nhiều mà không có đủtài sản để trả hết cho tất cả các chủ nợ, được quyền tâu xin thanh toán tài sản, chiacho các chủ nợ tùy theo số nợ nhiều hay ít” Dường như người làm luật đã có ý thức
về khối tài sản của người mắc nợ và quy định một thủ tục đơn sơ để thu hồi tài sảncủa những người này để phân chia số tài sản này cho các chủ nợ theo một trật tựnhất định
Trang 6Bộ Luật thương mại Trung phần được ban hành ngày 12/6/1942 theo Dụ số 46
của Bảo Đại, có hiệu lực từ ngày 25/1/1944 Vì vay mượn từ pháp luật phá sảnPháp,đạo luật này được chia thành khánh tận (được dùng hầu như đồng nghĩa vớiphá sản) và thanh toán tư pháp
(i) Khánh tận: Áp dụng cho sự ngưng trả nợ của thương nhân (Điều 180), người
vỡ nợ được xem như tội phạm, và bị bắt giam Người khánh tận ngoài việcmất quyền quản trị, mất tài sản niêm phong còn bị tước quyền bầu cử, bị cấmthực hiện một số hành vi kinh doanh và quản lý Đạo luật này cũng quy địngiải pháp giải quyết khánh tận là phát mại sản nghiệp
(ii) Thanh toán tư pháp: Thanh toán tư pháp là thủ tục được thực hiện đối với
người vỡ nợ ngay tình Khi lâm vào tình trạng không trả được nợ, người mắc
nợ có thể nộp đơn yêu cầu thụ lý án thanh toán tư pháp Thực hiện theo thủtục khánh tận, người mắc nợ được hưởng các quy chế giảm nhẹ hơn so vớikhánh tận: không bị bắt giam (Điều 240); không bị mất quyền quản trị mà,được tiếp tục chiếm giữ sản nghiệp dưới sự giám sát của kiểm sát viên; cóthể tiếp tục được hành nghề…
Để tạo sự đầy đủ cho quá trình hình thành pháp luật phá sản Việt Nam, cần nhắc
đến Luật thương mại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành ngày
20/12/1972 Đạo luật này ra đời hầu như chỉ có giá trị sử liệu mà ít có ảnh hưởngđến thực tế, bởi lẽ, nó gần như không có điểm mới mẻ đáng kể nào so với Bộ Luậtthương mại Trung phần 1942 – nó vẫn tiếp tục duy trì hai thủ tục là khánh tận vàthanh toán tư pháp
2.1.2 Lịch sử hình thành pháp luật phá sản Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Với nền kinh tế tập trung, các doanh nghiệp không có động lực cạnh tranh, sựtồn tại của chúng được duy trì theo ý chí của Nhà nước Tuy nhiên, mô hình kinh tếtập trung này đã không còn phù hợp và có dấu hiệu sụp đổ khi các doanh nghiệp
“vượt rào”, doanh nghiệp ngày càng có nhiều quyền tự chủ trong hoạch định và tổchức kinh doanh Cùng với đó là sự gia nhập của đầu tư nước ngoài, sự nới lỏng tự
do kinh doanh cho tư nhân, môi trường cạnh tranh lại một lần nữa xuất hiện Khi tự
Trang 7do kinh doanh và cạnh tranh tranh tái xuất hiện, nhu cầu điều chỉnh việc vỡ nợ củacác đơn vị kinh doanh trở nên cấp bách.
Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá sản thực sự được sử dụng nhiều kể từ Đại hội
6 của Đảng khi nước ta bước vào sự nghiệp đổi mới, khi nước ta thừa nhận nền kinh
tế thị trường nhiều thành phần, khi có sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường Theo đó, dưới sự tác độngcủa quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì phá sản trở thành hiện tượng tấtyếu trên thị trường
Để điều chỉnh phá sản của các chủ thể kinh doanh, Đạo luật về phá sản đầu tiên
của nước ta là Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 được Quốc hội thông qua ngày
30/12/1993 và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/1994 Luật phá sản doanh nghiệp 1993 vớinội dung trọng tâm là việc tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước Vì nhiều lý do khácnhau, từ khi được ban hành Luật phá sản doanh nghiệp 1993 đã rất ít được sử dụngtrong thực tế
Tuy vậy, đạo luật này ra đời đã góp phần ổn định nền kinh tế, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam với mục tiêu hạnchế đến mức thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra Đồng thời, Luật phá sản
1993 ra đời có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp cũng như bảo đảm được trật tự, kỷ cương xã hội trong những nămđầu của tiến trình đổi mới đất nước
Tuy nhiên qua hơn 10 năm thi hành Luật này, nền kinh tế thị trường đã có những
sự thay đổi và phát triển đáng kể, do đó Luật phá sản doanh nghiệp 1993 đã bộc lộnhững điểm hạn chế, bất cập và không còn phù hợp, không còn đáp ứng được yêucầu phát triển kinh tế, xã hội trong nước; cũng như không đáp ứng được xu thế hộinhập kinh tế quốc tế của đất nước Chính vì vậy, chúng ta cần phải tiếp tục sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện pháp luật phá sản Và đây cũng chính là lý do cho sự ra đời của
Luật phá sản 2004.
Luật phá sản 2004 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt NamKhoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành
Trang 8kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2004 Luật phá sản 2004 kể từ ngày có hiệu lực sẽchính thức thay thế cho Luật phá sản doanh nghiệp 1993 Luật Phá sản năm 2004 rađời thay thế Luật phá sản năm 1993 đã góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý trongviệc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ vànhững người có liên quan; xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ khi giảiquyết việc phá sản; góp phần thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và đảmbảo trật tự kỷ cương xã hội Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng Luật phá sản
2004 đã nảy sinh một số bất cập, vướng mắc; có những quy định của Luật Phá sảnnăm 2004 còn mâu thuẫn, chưa tương thích với các văn bản quy phạm pháp luậtkhác; có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), chưa đầy đủ,thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau nhưng chưa được hướng dẫn kịpthời; có những quy định chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của ngườiyêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bốphá sản; có những quy định chưa tương thích với pháp luật quốc tế dẫn đến hiệuquả áp dụng quy định Luật Phá sản năm 2004 vào thực tiễn không cao
Nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật phá sản Việt Nam, cũng như khắc phục
những bất cập của Luật phá sản 2004 trong quá trình thực thi gần 10 năm thì Luật
phá sản 2014 ra đời, Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 và chính thức cóhiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2015
Như vậy, quá trình hình thành pháp luật phá sản Việt Nam đã trải qua rất nhiềugiai đoạn với sự ra đời của nhiều đạo luật điều chỉnh về vấn đề phá sản Và mãi chođến Luật phá sản 2014 thì thuật ngữ phá sản mới được ghi nhận một cách chi tiếtnhất, rõ ràng nhất so với các đạo luật trước đó
2.2 Cơ cấu Luật phá sản 2014
2.2.1 Cơ cấu Luật phá sản 2014
Luật phá sản 2014 gồm 14 chương với 133 Điều Nội dung cụ thể của từngchương được quy định như sau:
Trang 9Chương 1: Những quy định chung Chương 1 gồm có 25 Điều từ Điều 1 đến
Điều 25 Chương này gồm những quy định chung nhất về phá sản: giải thích các từngữ liên quan; quy định phạm vi và đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật phá sản;quy định những đối tượng có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản; Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
Chương 2: Đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Chương 2 gồm 16
Điều từ Điều 26 đến Điều 41 Chương này gồm những quy định về nội dung đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản; phương thức nộp đơn; xử lý đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản; và quy định về việc thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn với doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán
Chương 3: Mở thủ tục phá sản Chương 3 gồm 9 Điều từ Điều 42 đến Điều 50.
Chương này gồm các quy phạm quy định về việc mở/ không mở thủ tục phá sản;chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; Hoạt động của doanhnghiệp sau khi có Quyết định mở thủ tục phá sản
Chương 4: Nghĩa vụ về tài sản Chương 4 gồm 8 Điều từ Điều 51 đến Điều 58
chủ yếu gồm các quy định về xác định nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã bị mất khả năng thanh toán
Chương 5: Các biện pháp bảo toàn tài sản Chương này gồm có 16 Điều từ Điều
59 đến Điều 74 với nội dung chính là các quy định về bảo toàn tài sản của doanhnghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, hạn chế đến mức thấp nhất các trườnghợp tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; đồng thời bao gồm các quy định
về việc lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã
Chương 6: Hội nghị chủ nợ Chương này gồm 12 Điều từ Điều 75 đến Điều 86
với các quy định xoay quanh Hội nghị chủ nợ như triệu tập, những người tham gia,điều kiện tiến hành và thông qua Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ
Chương 7: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Chương này có 10 Điều từ
Điều 87 đến Điều 96 Nội dung chính của chương này là các quy định về việc xây
Trang 10dựng, thực hiện phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã saukhi Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua.
Chương 8: Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng Chương 8 gồm có 8 Điều từ Điều
97 đến Điều 104 Giống như tiêu đề của Chương, Chương này bao gồm các quyđịnh về thủ tục phá sản đối với các tổ chức tín dụng
Chương 9: Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản Chương 9 bao gồm 9
Điều từ Điều 105 đến Điều 113 Chương này xoay quanh nội dung các trường hợpTòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và việc đề nghị xem xét lại,kháng nghị đối với Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòaán
Chương 10: Xử lý tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã có tranh chấp Chương này
gồm có 2 Điều là Điều 114 và Điều 115 Quy định về việc giải quyết tranh chấp tàisản trước khi có và trong khi thi hành Quyết định tuyên bố phá sản
Chương 11: Thủ tục phá sản có yếu tố nước ngoài Chương này quy định về việc
phá sản có yếu tố nước ngoài, việc công nhận và cho thi hành Quyết định của Tòa
án nước ngoài
Chương 12: Thi hành Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.
Chương này gồm 9 Điều từ Điều 119 đến Điều 128 Chương này quy định về thẩmquyền thi hành Quyết định tuyên bố phá sản, việc bán tài sản và xử lý tài sản củadoanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản
Chương 13: Xử lý vi phạm Chương này bao gồm các quy định về việc xử lý đối
với các hành vi vi phạm pháp luật phá sản
Chương 14: Điều khoản thi hành Quy định về hiệu lực thi hành của Luật phá
sản 2014 và các điều khoản chi tiết
2.2.2 Điểm mới của Luật phá sản 2014
Một là, thay đổi thuật ngữ “lâm vào tình trạng phá sản” bằng thuật ngữ “mất
khả năng thanh toán”
Trang 11Luật Phá sản (sửa đổi) năm 2014 không còn dùng khái niệm "lâm vào tình trạng
phá sản”mà dùng khái niệm “mất khả năng thanh toán”, và nội hàm của khái niệm
mất khả năng thanh toán được xác định cụ thể, rõ ràng hơn, có nhiều điểm khác biệt
so với Luật Phá sản năm 2004, cụ thể như sau :
Thứ nhất, tiêu chí xác định mất khả năng thanh toán là “không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán” mà không phải là “không có khả năng thanh toán”
Thứ hai, thời điểm được xác định là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến
hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu”
Hai là, về người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Không giống với Luật phá sản 2004 quy định người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn tạicác Điều luật riêng lẽ, Luật phá sản 2014 đã có 1 điều luật riêng – cụ thể là Điều 5 Luậtphá sản 2014 để liệt kê tất cả những người có quyền và người có nghĩa vụ nộp đơn yêucầu mở thủ tục phá sản Cách quy định như thế này dễ dàng hơn cho các chủ thể trongviệc xác định mình có quyền hay nghĩa vụ nộp đơn hay không
Ba là, về quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và chế định
Quản tài viên
Luật phá sản 2004 có chế định về Tổ quản lý, thanh lý tài sản Tuy nhiên, cácthành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản đều là những người thực hiện nhiệm vụ kiêmnhiệm, nhiều khi không phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ của thành viên Tổ quản
lý, thanh lý tài sản, bất cập trong cơ chế phối hợp, do đó khi tham gia xử lý côngviệc thường lúng túng, không chủ động về thời gian và công việc Để khắc phụctình trạng nêu trên, Toà án nhân dân tối cao cho rằng, cần xã hội hoá việc quản lý tàisản phá sản bằng việc quy định chế định Quản tài viên để quản lý tài sản phá sản,còn thanh lý tài sản thì giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện khi thi hànhquyết định tuyên bố phá sản
Đó là lý do mà Chế định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản rađời thay cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản Việc đưa chế định Quản tài viên khắcphục được những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế phối hợp, tính chất kiêm
Trang 12nhiệm của các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản, đáp ứng được yêu cầu
về tính nhanh chóng, hiệu quả và chuyên nghiệp trong thực hiện chức năng, nhiệm
vụ quản lý tài sản của DN, HTX bị lâm vào tình trạng phá sản, phù hợp với việcthực hiện chủ trương xã hội hoá những hoạt động mang tính nghề nghiệp theo quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách hành chính
Bốn là, về trình tự giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản
Theo quy định tại Điều 85 Luật Phá sản năm 2004 thì Quyết định tuyên bố doanhnghiệp, hợp tác xã bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định định chỉ thủ tục thanh
lý tài sản Tuy nhiên, Qua tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2004, thìkhó khăn, vướng mắc lớn nhất là những trường hợp DN, HTX vẫn còn tài sảnnhưng không bán được hoặc còn khoản nợ phải thu nhưng chưa thu hồi được nênphương án phân chia tài sản chưa được thực hiện xong nên chưa thể ra quyết địnhđình chỉ thủ tục thanh lý tài sản và ra quyết định tuyên bố phá sản được
Luật Phá sản năm 2014 đã thay đổi thủ tục này, theo đó quy định thủ tục tuyên bốphá sản thực hiện trước thủ tục thanh lý tài sản Cơ quan thi hành án dân sự tiếnhành thủ tục thi hành quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản
Năm là, về thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án
Luật phá sản 2004 xác định thẩm quyền của Tòa án dựa vào hai tiêu chí là: đối
tượng phá sản (DN, HTX) và cơ quan đăng kí kinh doanh của đối tượng phá sản
TAND cấp huyện có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với HTX đãđăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó
TAND cấp tỉnh có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với DN, HTX đãđăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó
Luật phá sản 2014 xác định thẩm quyền của Tòa án dựa vào việc xác định những
trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh:
TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng
ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh
Trang 13hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc các trường hợp quy định tạikhoản 1 Điều 8 Luật phá sản 2014.
TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với DN, HTX có trụ
sở chính tại quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộctrường hợp thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh
Sáu là, về Hội nghị chủ nợ
Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ: Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ theo
quy định của Luật Phá sản năm 2014 chỉ căn cứ trên số nợ Số chủ nợ tham gia hộinghị chủ nợ không phải là điều kiện để hội nghị chủ nợ hợp lệ
Điều kiện để Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua: Điều kiện để
thông qua Nghị quyết dựa trên 2 tiêu chí là số lượng chủ nợ có mặt tại Hội nghị chủ
nợ và số nợ
Lập ban đại diện chủ nợ: Quyền thành lập Ban đại diện chủ nợ của các chủ nợ để
đại diện cho các chủ nợ trong việc thực hiện thủ tục phá sản được ghi nhận trongpháp Luật Phá sản của một số nước trên thế giới Thực tế cho thấy, trong vụ việcphá sản có số lượng lớn các chủ nợ thì cần có Ban đại diện chủ nợ giám sát hoạtđộng tái cơ cấu của doanh nghiệp, hợp tác xã và thực hiện các công việc khác liênquan đến thủ tục phá sản Luật Phá sản năm 2004 chưa quy định về vấn đề này.Luật Phá sản năm 2014 bổ sung quy định về ban đại diện chủ nợ tại Điều 82
Bảy là, Về thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
Theo quy định của Luật phá sản 2014 thì thời hạn thực hiện phương án phục hồihoạt động kinh doanh là linh động, do Nghị quyết hội nghị chủ nợ quyết định màkhông ấn định thời hạn tối đa là 03 năm như Luật Phá sản năm 2004
BẢNG TỔNG HỢP ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT PHÁ SẢN 2014
(SO VỚI LUẬT PHÁ SẢN 2004)
Trang 14sản”
- Nội hàm của khái niệm lâm vào tình trạng phá sản được xác định:
18 Luật phá sản 2004)
- Tổng hợp lại và quy định chung tại một Điều luật – Điều 5 Luật phá sản 2014
- Thủ tục tuyên bố phá sản thực hiện trước thủ tục thanh
Đối tượng phá sản (DN, HTX)
Cơ quan đăng ký kinhdoanh của đối tượng phá sản
- Xác định thẩm quyền của Tòa án dựa vào việc xác định những trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh
6 Hội nghị
chủ nợ - Điều kiện tiến hành Hội nghị chủ nợ: Căn cứ trên 2
tiêu chí là
Số chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ
Số nợ
- Ban đại diện chủ nợ:
- Điều kiện tiến hành Hội nghị chủ nợ: Chỉ căn cứ trên
số nợ mà không căn cứ trên
số chủ nợ tham gia Hội nghị
- Ban đại diện chủ nợ: Có quy định về việc lập ban đại diện chủ nợ tại Điều 82 – Luật phá sản 2014
Trang 15- Thời hạn tối đa là 3 năm,
kể từ ngày cuối cùng đăng báo về Quyết định của Tòa
án công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
- Thời hạn thực hiện phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh linh động, do Nghị quyết Hội nghị chủ nợ quyết định
Thứ nhất, xét về mặt kinh tế, bản thân hiện tượng phá sản là một giải pháp hữu
hiệu để “cơ cấu lại” nền kinh tế, đào thải tự nhiên những doanh nghiệp hoạt độngkém hiệu quả, quản lý yếu kém Việc đào thải những doanh nghiệp không có khảnăng cạnh tranh sẽ góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hơn, mặt bằngchung của trình độ quản lý, và điều hành việc kinh doanh, hoạt động được nâng cao
Sự phát triển của thị trường cũng theo đó mà đi lên, tình trạng trì trệ, không hiệuquả sẽ dần được cải thiện và khắc phục vì khi thị trường đòi hỏi cao hơn thì doanh
nghiệp cũng cần có khả năng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần
duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
Thứ hai, phá sản doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, xét trên
nhiều khía cạnh cũng mang lại nhiều ý nghĩa tích cực nhất định Đây là việc loại bỏmột cổ phiếu kém chất lượng, góp phần bảo vệ nhà đầu tư khỏi những rủi ro, giúpthị trường hoạt động minh bạch và đúng pháp luật hơn
Trang 16Tác động tiêu cực:
Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể dẫn đến những tácđộng tiêu cực vô cùng lớn Khi một doanh nghiệp bước đến bờ vực phá sản, ngườibán sản phẩm hoặc mua sản phẩm của doanh nghiệp này sẽ không bán được hàng,không mua được nguyên liệu không đòi được các khoản nợ, không thu hồi đượcvốn, không có nguyên liệu để duy trì sản xuất dẫn tới không có vốn đầu tư vào sảnxuất, duy trì hoạt động kinh doanh hoặc trang trải các khoản nợ mà họ vay các chủ
nợ khác Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trìnhphân công lao động của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lượng bạn hàng ngàycàng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanhnghiệp bạn hàng theo “hiệu ứng domino” – phá sản dây chuyền và sẽ tạo một ảnhhưởng vô cùng tồi tệ đến nền kinh tế
2.3.2 Về mặt xã hội
Tác động tích cực:
Pháp luật phá sản góp phần bảo vệ trật tự kỉ cương trong xã hội
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiềucàng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không có Luật đểđưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm
sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chứcthì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con
nợ, giữa chủ nợ với nhau Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ
về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sảngóp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ vớinhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội
Luật phá sản ra đời đã quy định rõ ai có quyền làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bốphá sản, điều kiên và thủ tục tuyên bố phá sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạngphá sản, nghĩa vụ hoà giải giữa chủ nợ và con nợ, đặc biệt thứ tư ưu tiên thanh toántài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ cho các chủ nợ.Chính sự phân chia đi vào
Trang 17nề nếp, công bằng trật tự cùng các quy định rõ ràng của luật phá sản góp phần đảmbảo trật tự an toàn xã hội.
Tác động tiêu cực:
Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định về mặt xã hội bởi
nó làm tăng lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và
có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội, thậm chí các tội phạm
2.3.3 Đối với chủ nợ của doanh nghiệp
Thứ hai, Đảm bảo việc đòi nợ của chủ nợ được công bằng trật tự
Mục đích chính của pháp luật về phá sản là thay thế cơ chế xiết nợ theo kiểu
“mạnh ai nấy được” bằng một cơ chế đòi nợ tập thể công bằng và trật tự Tài sảncủa doanh nghiệp mắc nợ sẽ được tối đa hóa và được đem thanh toán một cách côngbằng cho các chủ nợ Như vậy, thông qua pháp luật về phá sản, các chủ nợ sẽ đượctham gia vào quá trình thu hồi và phát mại tài sản của doanh nghiệp để tối đa hóa tàisản phá sản của doanh nghiệp (đảm bảo tất cả các tài sản của doanh nghiệp đềuđược thu hồi và được phát mại với giá cao nhất) Tài sản phá sản này sẽ được đemphân chia một cách công bằng cho các chủ nợ tránh tình trạng chủ nợ đến đòi nợtrước được hưởng nhiều, chủ nợ đến sau hoặc không có mối quan hệ riêng với con
nợ thì không nhận được phần thanh toán của mình
Tác động tiêu cực:
Bên cạnh ý nghĩa tích cực thì luật phá sản còn có một số điểm tiêu cực như:
Trang 18Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014 chưa thống nhấttrong quy định về quyền yêu cầu định giá lại tài sản của chủ nợ Luật Phá sản năm
2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật Thi hành án dân sự, đồngnghĩa với nó là những chủ nợ (người được thi hành án) không có quyền yêu cầuviệc định giá lại như quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, điềunày có khả năng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ rất nhiều
2.3.4 Đối với người lao động
Pháp luật phá sản góp phần vào bảo vệ lợi ích của người lao động:
Khi doanh ngiệp bị phá sản thì những người trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậuquả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống Sựbảo vệ của pháp luật phá sản đối với người lao động thể hiện ở chỗ pháp luật chophép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản doanhnghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham giaquá trình giải quyết , yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được ưu tiênthanh toán nợ lương trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp
So với Luật phá sản 2004, Luật phá sản 2014 tăng cường hơn quyền lợi củangười lao động trong thủ tục phá sản:
Theo quy định tại khoản 2, điều 5, người lao động có quyền trực tiếp nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp là chủ sử dụng lao động khi hếtthời hạn ba tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khácđối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Hơn nữa, trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án tiếnhành thủ tục phá sản có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộcngười sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tainạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động (điểm h, khoản 1, điều 70).Thêm vào đó, dù về nguyên tắc việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanhnghiệp là người phải thi hành án bị tạm hoãn sau khi Tòa án thụ lý vụ việc phá sản,song nếu bản án hay quyết định của Tòa án buộc doanh nghiệp phải trả lương cho