1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật việt nam

72 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 792,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan trọng hơn cả là vấn đề xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với các vấn đề: thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định bán đấu giá tài sản của do

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

QUÁCH THỊ MINH PHƢỢNG

THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

QUÁCH THỊ MINH PHƢỢNG

THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỒNG NGỌC BA

HÀ NỘI - 2009

Trang 3

1.3 Mối quan hệ giữa thủ tục thanh lý tài sản với các thủ tục khác

1.4 Lược sử phát triển của quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 18

Chương 2: THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

2.1 Điều kiện ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phá sản 22 2.2 Giải quyết khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định mở thủ tục

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THỰC

THI QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 43 3.1 Giải pháp hoàn thiện quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 43 3.2 Giải pháp đảm bảo hiệu quả thực thi quy định về thủ tục thanh

Trang 4

cơ quan giải quyết tranh chấp; quyền tự do cạnh tranh… Tuy nhiên, đi kèm với quyền tự chủ rộng rãi trong kinh doanh là nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, hàng hoá; dịch vụ và độc lập thực hiện các nghĩa vụ tài sản phát sinh như nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ thanh toán nợ Quyền tự chủ trong kinh doanh, một mặt tạo

ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển, mặt khác cũng là một thách thức lớn Quyền tự chủ trong kinh doanh tạo cho doanh nghiệp quyền tự do cạnh tranh hợp pháp Sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường đã làm không ít doanh nghiệp phải điêu đứng, thua lỗ triền miên, không đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính, buộc phải chấm dứt hoạt động dẫn đến nguy cơ đối diện với phá sản Như vậy, phá sản là một hệ quả tất yếu của một doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả kéo dài, là quá trình sàng lọc tự nhiên mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường Qua đó, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn không hiệu quả góp phần làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, cơ cấu lại nền kinh tế Phá sản diễn ra theo một cơ chế đặc biệt và làm phát sinh rất nhiều mối quan hệ không chỉ giữa doanh nghiệp có nguy cơ phá sản với Nhà nước mà còn với các khách hàng có giao dịch làm ăn với doanh nghiệp, với những nhân viên là người lao động làm việc tại doanh nghiệp

Trang 5

Pháp luật là những quy phạm do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng chính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh

Cơ chế phá sản làm phát sinh các mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan và đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh Tại Việt Nam, Luật Phá sản doanh nghiệp được ban hành ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1994 đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống pháp luật phá sản với tư cách là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật kinh doanh trong bối cảnh nước ta thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, do được xây dựng trong giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới nên Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 cũng bộc lộ rõ những hạn chế, bất cập, làm cản trở việc giải quyết phá sản doanh nghiệp ở nước ta Vì vậy, Luật Phá sản năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành

từ ngày 15/10/2004, thay thế cho Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 là một

sự thay thế cần thiết và đáp ứng sự thay đổi của nền kinh tế nước nhà

So với tình hình thực hiện Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, tình hình thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản năm 2004 đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn; hiệu quả giải quyết việc phá sản ở các cấp Tòa án vẫn chưa đạt được kết quả đáng kể Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản có hiệu lực cho đến cuối năm 2008, đã có 195 vụ phá sản đuợc thụ lý Tình hình thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu giải quyết phá sản như sau:

- Năm 2005, toàn ngành tòa án thụ lý mới 11 vụ Năm 2004 chuyển qua 3 vụ, tổng cộng 14 vụ Tòa án đã giải quyết được 01 vụ (chiếm 7,14%);

- Năm 2006, toàn ngành tòa án thụ lý mới 40 vụ Năm 2005 chuyển qua 13 vụ, tổng cộng 53 vụ Tòa án đã giải quyết được 16 vụ (chiếm 30,2%);

- Năm 2007, toàn ngành tòa án đã thụ lý mới 144 vụ, trong đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý 24 vụ; 31

vụ chuyển qua từ năm 2006, tổng cộng là 175 vụ Trong đó, Tòa án đã ra

Trang 6

quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản

10 vụ, quyết định trả lại đơn 01 vụ Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết xong tất cả 24 vụ đã thụ lý (đều ra quyết định tuyên bố phá sản), đạt 100% Còn lại 151 vụ phá sản do Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý được giải quyết cụ thể: quyết định trả lại đơn 01 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định tuyên bố phá sản theo thủ tục đặc biệt 40 vụ, quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 75 vụ, còn tồn lại

51 vụ chuyển qua năm 2008 và đang được giải quyết

Theo phản ánh của Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự địa phương thì việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp còn gặp khó khăn, kéo dài là do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là xuất phát từ không chỉ những hạn chế của Luật Phá sản năm 2004

mà còn từ các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản liên quan [2, tr.3, 4] Việc chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết phá sản của doanh nghiệp và các bên liên quan cũng chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc (vi phạm về thời hạn tố tụng, vi phạm về nghĩa vụ nộp tài liệu, báo cáo về tình hình kinh doanh, báo cáo kiểm kê, tài chính của doanh nghiệp ) Thực tế

hiện nay đang có khoảng hơn nửa triệu doanh nghiệp, hợp tác xã (trong giới hạn luận văn này xin được gọi chung là doanh nghiệp) đang hoạt động kinh

doanh, tỷ lệ doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản là rất nhỏ, chưa phản ánh đúng tình trạng tài chính thực tế của các doanh nghiệp Tình trạng nhiều doanh nghiệp hoạt động thua lỗ nhưng không được xử lý bằng thủ tục phá sản

mà lại xử lý bằng thủ tục thu hồi nợ dân sự, thủ tục hành chính và các thủ tục khác vẫn phổ biến Tính kém hiệu quả của pháp luật về phá sản đã làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh của nước ta Theo kết quả công bố trong Doing Business 2008, về thủ tục chấm dứt hoạt động kinh doanh (trong

đó có thủ tục phá sản), Việt Nam xếp thứ 124 trên tổng số 178 nền kinh tế thế giới; thủ tục phá sản vẫn còn bị kéo dài (trung bình là 5 năm), hiệu quả thu

Trang 7

hồi nợ thấp (thường chủ nợ chỉ thu hồi được khoảng 18% số nợ) Trong kết quả công bố tại Doing Business 2009 mới đây, tình hình này cũng không được cải thiện hơn

Luật Phá sản năm 2004 đã đa dạng hóa các loại thủ tục áp dụng đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bao gồm: thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản, thủ tục tuyên bố phá sản Sau khi thụ lý đơn yêu cầu và ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án sẽ xem xét, phân tích tình trạng tài chính và khả năng phục hồi hoạt động của doanh nghiệp để quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế ở hầu hết các Tòa án địa phương, việc giải quyết phá sản mới chỉ tiến hành đến việc ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, còn việc ra quyết định tuyên bố phá sản rất ít, chủ yếu là quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản trong trường hợp đặc biệt Phải chăng còn nhiều vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật phá sản

về thủ tục thanh lý tài sản phá sản? Đó cũng chính là lý do khiến tác giả lựa

chọn đề tài: "Thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam" với hy

vọng sẽ phần nào làm rõ và định hướng cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc

do các quy định pháp luật hiện hành mang lại, góp phần đưa thủ tục phá sản doanh nghiệp đi vào đời sống kinh doanh của các doanh nghiệp như một thủ

tục “khai tử” cho những doanh nghiệp yếu kém, tạo cơ hội “khai sinh” những

doanh nghiệp mới với tiềm lực mới, góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế

của Việt Nam, thay vì thực tế các doanh nghiệp muốn “chết” mà cũng không

“chết” nổi như hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là những vấn đề khái quát nhất về thủ tục thanh lý tài sản phá sản - một trong ba thủ tục của quá trình phá sản doanh nghiệp Những khái niệm về tình trạng phá sản theo quan niệm của một số nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam; nghiên cứu các bước cần có khi tiến

Trang 8

hành thủ tục thanh lý tài sản phá sản và mối quan hệ của thủ tục thanh lý tài sản phá sản với các thủ tục khác trong thủ tục phá sản nói chung Từ đó, phân tích những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục thanh lý tài sản phá sản về điều kiện; về cách thức xử lý tài sản; thanh lý tài sản đến quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản phá sản; trên cơ sở đó đưa ra những tác động của thủ tục này tới toàn bộ quá trình giải quyết phá sản cho một doanh nghiệp Đưa ra các yêu cầu để hiện thực hóa các quy định pháp luật về vấn đề này vào cuộc sống – hướng tới những giải pháp cụ thể để góp phần thực thi có hiệu quả quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thanh lý tài sản phá sản nói riêng, khả thi hóa các quy định về phá sản nhằm tạo môi trường kinh doanh

và động lực mới cho phát triển kinh tế

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về thanh lý tài sản phá sản, những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản: từ việc thành lập, chất lượng hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu; sự phối hợp với Thẩm phán, chấp hành viên; chế độ làm việc, lưu giữ tài liệu hoạt động của tổ đến vấn đề nhạy cảm là tiền thù lao cho thành viên của

Tổ Những vướng mắc khác liên quan đến việc thực hiện quản lý và bảo toàn tài sản phá sản: kiểm kê tài sản doanh nghiệp, xác định giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp; vấn đề thu hồi tài sản phá sản Quan trọng hơn cả là vấn đề

xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với các vấn đề: thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý; trong hoạt động bán đấu giá tài sản phá sản; giải quyết quyền sử dụng đất của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản; xử lý các tài sản bảo đảm để thanh toán cho các chủ nợ có bảo đảm; xử lý tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản nằm rải rác ở nhiều nơi; vấn đề phân chia tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết dựa trên các phương pháp phân tích, tổng hợp các chế định pháp lý về thủ tục phá sản nói chung, về thủ tục thanh lý tài sản phá sản nói riêng trên phương diện lý luận và phân tích thực tiễn để nhận định, đánh giá những vướng mắc, khó khăn dẫn đến hạn chế tính khả thi của các quy định pháp luật Phương pháp phân tích so sánh những tiến bộ qua các lần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam Tìm hiểu thêm cách thức quy định từng vấn đề pháp lý trong giới hạn nghiên cứu của pháp luật một số quốc gia có điều kiện nền kinh tế tương đồng để rút ra được kinh nghiệm khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thanh lý tài sản phá sản

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục thanh lý tài sản phá sản Chương 2: Thanh lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt

Nam hiện hành

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả thực thi quy định

về thủ tục thanh lý tài sản phá sản

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

1.1 KHÁI NIỆM TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Về mặt ngữ nghĩa, từ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng

Latin để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp

mà biểu hiện trực tiếp là không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến

hạn Tại Việt Nam, từ thời xa xưa, người dân quen dùng từ “vỡ nợ”,

“khánh tận” để chỉ tình trạng làm ăn thua lỗ của chủ thể kinh doanh Mỗi

quốc gia khác nhau trên thế giới đều có các tiêu chí khác nhau về điều kiện cũng như thời điểm xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp Việc xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa quan trọng vì nó xác định sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ [32]

Nghiên cứu pháp luật nhiều nước cho thấy, hiện nay có hai loại tiêu chí

để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: tiêu chí về định lượng và tiêu chí về định tính Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng, thường có quy định về

số nợ cụ thể, về thời hạn chậm thanh toán nợ từ phía doanh nghiệp mắc nợ

sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ Ví dụ: Điều 6 Luật Phá sản của Liên bang

Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân Theo Luật Công ty của Úc thì chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty

vì lý do “vỡ nợ” nếu Công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là 2.000 AUD

và Công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó [14]; Luật phá sản của Singapore thì quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản

Trang 11

khi không trả được số nợ đến hạn ít nhất là 5.000 đô la Singapore; ở Mỹ, số tiền này là không dưới 10.000 USD Đối với pháp luật Việt Nam, các nhà lập pháp ở các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng có cùng một quan điểm về tình trạng phá sản như nhiều nước trên thế giới Bộ luật thương mại Sài Gòn năm 1972 đã

quy định tại Điều 864: “Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị Tòa tuyên án khánh tận”[41] Trong Luật Phá sản doanh nghiệp Việt Nam năm 1993, Điều 2 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết

mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn” Như vậy, khái niệm tình trạng

phá sản đã được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa hai tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp mắc nợ Khái niệm phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng Với việc đưa ra khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như vậy đã gây không ít khó khăn cho các chủ nợ trong việc chứng minh tình trạng thua

lỗ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ Vì chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ chậm thanh toán thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần phải biết Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của doanh nghiệp Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của chủ nợ

Trang 12

Luật Phá sản năm 2004 quy định tại Điều 3: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu” Như vậy, để bị xem là lâm vào tình

trạng phá sản, doanh nghiệp phải đồng thời hội đủ hai điều kiện cơ bản: điều kiện cần là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và điều kiện đủ là khi chủ nợ chính thức có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó, bất luận giá trị khoản nợ đó là bao nhiêu Tình trạng phá sản là tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn, do đó có thể dẫn tới một hệ quả rằng bản án phá sản là bản án xác nhận một tình trạng đã có sẵn Khi xét một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật Việt Nam đã không xét đến lý do không thanh toán được các khoản nợ đến hạn; không xét đến thời hạn quá hạn thanh toán là bao lâu; không yêu cầu giá trị khoản nợ không có khả năng thanh toán là bao nhiêu; không yêu cầu có bao nhiêu chủ nợ; mà chỉ cần doanh nghiệp đó có khoản nợ đến hạn phải thanh toán; có việc chủ nợ yêu cầu thanh toán khoản nợ đó nhưng lại không có khả năng thanh toán được; thậm chí doanh nghiệp có văn bản xin khất nợ nhưng chủ nợ không đồng ý hoặc không trả lời Với khái niệm như quy định tại Điều 3 Luật Phá sản năm

2004 của Việt Nam thì khái niệm “tình trạng phá sản” dù hoàn thiện hơn so

với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó Khái niệm này đã không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ Về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 01 ngày sau khi chủ

nợ có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó thì có thể cũng bị xem là lâm vào tình trạng phá sản Hệ quả dẫn tới sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu mở thủ tục

phá sản từ phía các chủ nợ Thuật ngữ “các khoản nợ” nêu trong Điều 3 Luật

Phá sản năm 2004 nếu hiểu theo quy định tại Điều 37 Luật này thì đó là các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương

Trang 13

mại và lao động Còn các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính của doanh nghiệp không được đề cập đến

1.2 THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

Bản chất của thủ tục thanh lý là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt hoạt động của con nợ và nhân cơ hội đó mà thu hồi tài sản còn lại của con nợ, bán đi và chia cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định Như vậy, thủ tục thanh lý liên quan đến ba hoạt động: thu hồi tài sản, bán đấu giá tài sản và

thanh toán tiền cho các chủ nợ [19, tr.38]

1.2.1 Thu hồi tài sản phá sản

Bắt đầu thủ tục thanh lý tài sản phá sản, chủ thể đảm nhận nhiệm vụ này sẽ phải có nghĩa vụ thông báo cho các chủ nợ, rồi tiến hành kê biên tài sản để thu hồi tài sản phá sản Việc xác định cụ thể tài sản phá sản góp phần làm căn cứ xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã đến mức

có thể tuyên phá sản ngay hay còn cần áp dụng thủ tục pháp lý khác đồng thời

nó xác định việc áp dụng các biện pháp bảo toàn, quản lý tài sản có lợi nhất cho chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ Tài sản phá sản bao gồm tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệp (tài sản phát sinh trong quá trình doanh nghiệp thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tài sản phát sinh trong giai đoạn thanh lý tài sản; tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu do doanh nghiệp thực hiện trong khoảng thời gian nhất định trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản) Với mỗi quốc gia khác nhau thì nguyên tắc và cách thức để xác định khối tài sản phá sản lại mang những nét riêng biệt

Pháp luật về phá sản của Cộng hòa Liên bang Nga đã quy định về việc định giá khối tài sản phá sản như sau:

“1 Tất cả các tài sản (phần có) của người mắc nợ thể hiện trong bảng cân đối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định tài sản

Trang 14

phá sản Trong tài sản phá sản còn bao gồm các đối tượng thuộc lĩnh vực công cộng và xã hội nằm trong bảng cân đối của người mắc nợ, trừ quỹ nhà

ở, các trường mẫu giáo và các công trình sản xuất và hạ tầng quan trọng đối với đời sống của khu vực, cần được đưa vào bảng cân đối của các cơ quan tự quản ở địa phương hoặc cơ quan quyền lực nhà nước hữu quan, nếu pháp luật của Liên bang Nga không có quy định khác;

2 Trong quá trình thanh lý tài sản, nhân viên thanh lý tài sản, với sự giúp

đỡ của các giám định viên được trưng cầu, tiến hành kiểm kê và định giá tài sản (phần có) của người mắc nợ và nghĩa vụ (phần nợ) của người mắc nợ ;

3 Việc định giá tài sản (phần có) của người mắc nợ cấu thành tài sản phá sản được tiến hành theo trình tự do pháp luật Liên bang Nga quy định

4 Tài sản phá sản không bao gồm tài sản (phần có) là vật bảo đảm

5 Tài sản phá sản không bao gồm tài sản không thuộc quyền sở hữu của người mắc nợ, trong đó có tài sản do người mắc nợ thuê; tài sản mà người mắc

nợ có trách nhiệm bảo quản; tài sản riêng của công nhân viên doanh nghiệp mắc nợ, trừ tài sản mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ doanh nghiệp

có thể được thu hồi để thực hiện nghĩa vụ của người mắc nợ” [26, tr 25].

Theo đó, tài sản phá sản là tài sản của người mắc nợ mà có thể bị thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản Trong pháp luật về phá sản của Nhật Bản thì tài sản phá sản gồm tất cả tài sản còn lại của con nợ Điều 6 Luật Phá sản

của Nhật Bản quy định: “Bất kỳ tài sản nào và tất cả những tài sản do bên bị phá sản giữ tại thời điểm tuyên bố phá sản đều thuộc tài sản phá sản”, nhưng

lại có quy định đặc biệt ở chỗ: Những tài sản nào ở ngoài phạm vi lãnh thổ Nhật Bản không được coi là một bộ phận của khối tài sản phá sản vì họ quan niệm rằng tài sản này khó có khả năng giám sát, đánh giá, thu hồi Đồng thời quan niệm rằng tài sản con nợ có được trong giai đoạn giữa thời điểm nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ và ngày ban hành quyết định

Trang 15

giải quyết đơn thuộc tài sản phá sản, còn tài sản con nợ có được sau khi bắt đầu vụ kiện thì được miễn trừ khỏi tài sản phá sản Những tài sản mà người được ủy thác thu hồi được thông qua quyền phủ nhận cũng thuộc về khối tài sản phá sản Tài sản cầm cố cũng là tài sản phá sản [25]

Với Pháp luật Hoa Kỳ lại ghi nhận: Tài sản phá sản là khối sản nghiệp của doanh nghiệp, bao gồm: tất cả số tài sản của con nợ mà không được miễn trừ tại thời điểm bắt đầu vụ phá sản đó; tài sản còn bao gồm những tài sản mà con nợ có được trong vòng 180 ngày sau khi vụ án bắt đầu bằng việc thừa kế những lợi ích từ chính sách bảo hiểm và bất kỳ một lợi ích nào đối với tài sản có được sau khi vụ án bắt đầu và những tài sản thu hồi được trong các trường hợp quy định xiết nợ; tài sản có được từ những giao dịch ưu tiên trả nợ bị vô hiệu [42]

Xác định phạm vi tài sản phá sản để từ đó tiến hành thu hồi tài sản phá sản để bắt đầu thủ tục thanh lý là quan trọng và cần thiết Tài sản phá sản là những tài sản nợ và tài sản có của doanh nghiệp Tài sản nợ gồm những nghĩa

vụ về tài sản của doanh nghiệp với các chủ nợ khác trong quá trình giải quyết phá sản phát sinh trong các giao dịch của doanh nghiệp với khách hàng, với nhà nước, với người lao động Tài sản có của doanh nghiệp gồm tài sản hiện

có của doanh nghiệp tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (tài sản nằm rải rác ở nhiều phạm vi lãnh thổ khác nhau); các tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện giao dịch xác lập trong quá trình Tòa án tiến hành các thủ tục phá sản doanh nghiệp; các tài sản là vật bảo đảm các khoản nợ của doanh nghiệp; tài sản dân sự của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của Công ty hợp danh Tài sản phá sản của doanh nghiệp có thể ở các dạng khác nhau như: tài sản hữu hình thuộc sở hữu của doanh nghiệp; các khoản nợ của các chủ thể khác mà doanh nghiệp phải thu hồi; các quyền về tài sản, phần sở hữu trong khối tài sản chung, các khoản

Trang 16

đầu tư, hợp tác liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân khác Việc thu hồi tài sản phá sản là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa lớn trong quá trình thanh lý tài sản phá sản Thông thường, việc thu hồi tài sản thuộc về một cơ quan (Tổ quản lý, thanh lý tài sản) Việc thu hồi này chỉ diễn ra sau khi có quyết định áp dụng thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp Bên cạnh việc thu hồi tài sản phá sản, pháp luật còn xác định việc thu hồi các tài liệu, sổ sách kế toán và con dấu của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Khi phát hiện tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bị áp dụng thủ tục thanh

lý tài sản đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp trong khi thực hiện các giao dịch bị coi là vô hiệu thì Tổ quan lý, thanh lý tài sản phải đề nghị Thẩm phán phụ trách vụ việc ra quyết định thu hồi lại

1.2.2 Xử lý tài sản phá sản

Xử lý tài sản phá sản là việc bán tài sản phá sản sau khi hoàn tất việc thu hồi tài sản phá sản của doanh nghiệp Việc bán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ để tránh rơi vào tình trạng bán

rẻ, gây thiệt hại cho các chủ nợ Để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu này, pháp luật phá sản quy định chặt chẽ về trình độ chuyên môn, về vốn, về thủ tục cấp giấy phép hoạt động cũng như về nguyên tắc trả thù lao cho các thành viên tham gia việc quản lý, thanh lý tài sản Xử lý tài sản phá sản là một thủ tục xử lý nợ mang tính chất tập thể cao, không mang tính cá nhân, riêng lẻ, thể hiện: trong khi giải quyết phá sản, tất cả các chủ nợ đều có quyền tham gia vào quá trình đòi nợ và thanh toán nợ, cho dù việc đệ đơn lên Tòa yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là do một cá nhân tiến hành Nhưng sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án thì các chủ nợ khác đều có quyền gửi giấy đòi nợ đến Tòa án theo một thời hạn nhất định, dù là nợ đến hạn hay chưa và giấy

tờ chứng minh khoản nợ đó Nếu chủ nợ không gửi các giấy tờ đó thì coi

Trang 17

như đã từ bỏ quyền đòi nợ của mình Việc xử lý tài sản phá sản cũng theo một thủ tục tư pháp nhất định Kể từ khi có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án, các chủ nợ không được đơn lẻ đi đòi nợ mà cùng hợp nhất lại thành một thiết chế, đó là Hội nghị chủ nợ Việc thanh lý tài sản phá sản để thanh toán cho các chủ nợ phải được tiến hành tập thể để bảo đảm quyền lợi công bằng cho các chủ nợ Công bằng thể hiện ở một thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ nợ Đảm bảo thông tin đến được với chủ nợ là như nhau; các chủ nợ trong những điều kiện như nhau thì được hưởng quyền lợi như nhau Một chủ nợ có bảo đảm phải được giải quyết quyền lợi như những chủ

nợ có bảo đảm khác Một chủ nợ không có bảo đảm cũng phải được giải quyết quyền lợi như các chủ nợ không có bảo đảm khác [24, tr.6]

1.2.3 Thanh toán cho các chủ nợ

Đây là bước cuối cùng của thủ tục thanh lý tài sản phá sản Thực chất của việc giải quyết phá sản là việc xử lý mối quan hệ về lợi ích tài sản giữa các chủ nợ với con nợ Khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản đồng nghĩa với việc món nợ phải trả nhiều hơn khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp Trong hoàn cảnh như vậy, việc chủ nợ nào được ưu tiên thanh toán trước, chủ nợ nào phải xếp hàng sau là vấn đề mà pháp luật phá sản nước nào cũng phải quan tâm giải quyết Các chủ nợ luôn luôn có mối quan tâm đặc biệt về vấn đề này vì thứ tự đó ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích chính đáng của họ Về cơ bản, thứ tự thanh toán từ tài sản phá sản của con nợ được quy định như sau:

- Các chủ nợ được ưu tiên trên hết Nhóm này gồm có chủ nợ có bảo đảm là quan trọng nhất và do đó, được ưu tiên nhất trong quá trình phân chia tài sản Theo thông lệ, các chủ nợ có bảo đảm được thanh toán đầy đủ khoản tiền mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu Trong trường hợp giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để chi trả hết các khoản nợ của các chủ nợ có bảo đảm thì số tài sản này sẽ được chia cho các chủ nợ có đảm bảo theo tỷ lệ

Trang 18

giữa khoản nợ của họ và tổng số tiền mà doanh nghiệp phá sản nợ các chủ nợ

có đảm bảo;

- Các chủ nợ được ưu tiên khác bao gồm tổ chức và cá nhân được hưởng các chi phí giải quyết phá sản; thuế, tiền công, tiền lương cho người lao động và các chi phí khác;

- Các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ Thông thường, nhóm chủ nợ này bao gồm các chủ nợ không có đảm bảo của doanh nghiệp phá sản;

- Các chủ nợ được trả chậm, bao gồm người cho vay có thứ tự thanh

toán sau cùng trong một hợp đồng vay hợp vốn (syndicated loan);

- Cổ đông của công ty cổ phần bị phá sản;

Luật phá sản ở một số nước, trong đó có Việt Nam có xu hướng ưu tiên bảo vệ chủ nợ là người lao động Thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản đã xếp người lao động vào hàng ưu tiên đứng trên các loại chủ nợ thông thường khác, kể cả chủ nợ là Nhà nước Đối với pháp luật ở các nước này, thứ tự về việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản như sau:

- Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luật cho việc giải quyết phá sản;

- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

- Các khoản nợ thuế;

- Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ

Dù có sự sắp xếp theo thứ tự ưu tiên thanh toán khác nhau nhưng việc thanh toán ở các nước luôn được thực hiện theo nguyên tắc thanh toán hết cho đối tượng này, nếu còn thừa thì mới thanh toán cho đối tượng kế tiếp Nếu trong cùng loại đối tượng mà tài sản của doanh nghiệp phá sản không đủ thanh toán thì thực hiện việc chi trả theo tỷ lệ tương ứng [19, tr.58-60]

Trang 19

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN VỚI CÁC THỦ TỤC KHÁC TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN

Pháp luật phá sản đã có sự đa dạng hóa các loại thủ tục áp dụng đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bao gồm: thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; thủ tục thanh lý tài sản; thủ tục tuyên bố phá sản Sau khi thụ lý đơn yêu cầu và ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án sẽ xem xét, phân tích tình trạng tài chính và khả năng phục hồi hoạt động của doanh nghiệp để quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bị thua

lỗ đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt để phục hồi nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ

nợ có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản

mà không cần phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét áp dụng thủ tục phục hồi (Điều 78 Luật Phá sản năm 2004) Trong trường hợp đặc biệt, sau khi mở thủ tục phá sản mà Tòa án xác định được rằng, doanh nghiệp không còn tài sản để nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán phí phá sản thì Tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay

mà không cần phải tiến hành bất cứ một thủ tục nào khác (Điều 87 Luật Phá sản năm 2004) Căn cứ để Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi là nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về việc Hội nghị chủ nợ đã đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ mà doanh nghiệp đề xuất (khoản 1 Điều 68 Luật Phá sản năm 2004) Thủ tục phục hồi chính thức được thực hiện nếu Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp hoặc bất kỳ chủ

nợ, người nhận nghĩa vụ phục hồi đệ trình và phương án này đã được Thẩm phán ra quyết định công nhận (Điều 71 và Điều 72 Luật Phá sản năm 2004) Trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi, nếu doanh nghiệp thực hiện không

Trang 20

đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản (khoản 3 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004) Ngoài ra, thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp có thể được áp dụng trong trường hợp Hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79 Luật Phá sản năm 2004); hoặc doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh (khoản 1 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004); hoặc trong trường hợp Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004) Theo truyền thống, tuyên bố doanh nghiệp phá sản là tiền đề pháp lý cho việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp Có nghĩa là phải tuyên bố phá sản với doanh nghiệp sau đó mới có lý do để thanh lý tài sản của doanh nghiệp – chuyển hóa khối tài sản thành tiền và thực hiện việc phân chia số tiền thu được theo thứ tự do luật định để bảo đảm sự công bằng Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã đi theo truyền thống đó Còn Luật Phá sản năm 2004 lại thừa nhận thủ tục thanh lý tài sản là thủ tục độc lập với thủ tục tuyên bố phá sản Thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trước sau đó mới tuyên bố doanh nghiệp đó bị phá sản Thẩm phán ra quyết định tuyên bố con nợ bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86 Luật Phá sản năm 2004) Như vậy, việc thanh lý tài sản của con nợ mà thực chất là việc định đoạt tài sản trái với ý chí của con

nợ dựa trên cơ sở pháp lý nào? Trong quyết định mở thủ tục thanh lý quy định tại Điều 81 Luật Phá sản năm 2004 chỉ nói về căn cứ của việc áp dụng thủ tục thanh lý - nghĩa là khi nào Thẩm phán có thể áp dụng thủ tục này chứ không nói đến lý do, cơ sở của việc Tòa án có thể định đoạt tài sản của một doanh nghiệp đang tồn tại hợp pháp trái với ý muốn của nó Điều này có thể hình dung như trong lĩnh vực dân sự, người ta có thể tiến hành bán tài sản của bị

Trang 21

đơn trước rồi sau đó mới tuyên bản án xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn hay trong thủ tục giải thể doanh nghiệp thì người ta chỉ tiến hành thủ tục thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp sau khi có quyết định giải thể Với trình tự như quy định trong Luật Phá sản năm 2004, dễ bị lầm tưởng việc thanh lý tài sản của con nợ là nội dung quan trọng hơn việc tuyên bố phá sản Nhưng về mặt lý luận thì tuyên bố phá sản đối với con nợ là một cách thức pháp lý thu hồi nợ của các chủ nợ Các chủ nợ thu hồi nợ bằng yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản với con nợ Tuyên bố con nợ phá sản phải là cái có trước Với trình tự như vậy thì thủ tục giải quyết phá sản trở nên rườm

rà và bị kéo dài bởi vì có hai quyết định của Tòa án: quyết định mở thủ tục thanh lý và quyết định tuyên bố phá sản Cả hai quyết định này đều có thể bị khiếu nại, kháng nghị và đòi hỏi thời gian giải quyết Nếu coi thanh lý tài sản phá sản chỉ là một nội dung của thủ tục tuyên bố phá sản, dựa trên quyết định tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản sẽ gọn nhẹ và hợp logic hơn Thanh lý tài sản có thể có hoặc có thể không nhưng tuyên bố phá sản là một trong những mục tiêu chính của thủ tục phá sản (khi doanh nghiệp không thể phục hồi)

1.4 LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

Trước hết phải khẳng định rằng, phá sản ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Chỉ khi phá sản trở thành hiện tượng bình thường, phổ biến thì pháp luật mới điều chỉnh tới Và chính điều kiện của một nền kinh tế thị trường với những đặc trưng của nó đã tạo ra tính phổ biến của phá sản Nền kinh tế thị trường công nhận quyền tự do kinh doanh của mỗi công dân và coi đó là một trong số các quyền cơ bản của công dân Nội dung

cơ bản nhất của quyền này là quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh (trong khuôn khổ pháp luật) nhằm giành dật thị trường, khách hàng hướng tới lợi nhuận cho bản thân trong cuộc cạnh tranh khốc liệt

Trang 22

Ở châu Âu, khi nói đến phá sản doanh nghiệp là người ta thường dùng

từ “Bankrupcy” hoặc “Banqueroute” Hai danh từ này bắt nguồn từ chữ

“Banca Rotta” của La Mã có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” Thời đó, các thương

gia của một thành phố thường họp nhau lại và người nào không trả được nợ thường bị bắt làm nô lệ và mất luôn quyền tham gia đại hội thương gia và do

đó, chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường Do đó, ở La Mã

thời đó có nhiều con nợ thấy rằng nếu không trả được nợ thì “chuồn là hơn”,

nên họ thường bỏ trốn Để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã phải đứng

ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ Cách làm này cũng thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì rất dễ xảy ra tranh chấp Bởi thế, người ta thấy rằng, nếu để các chủ nợ đều được đảm bảo trả nợ một cách công bằng, hợp lý, tốt nhất là tòa án địa phương (nơi con nợ cư trú) đứng ra quản lý số tài sản, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tùy theo vốn và lãi của mỗi người

Sau đó, vào thời kỳ Trung cổ, các quốc gia châu Âu cũng ban hành Luật Phá sản Luật Phá sản đầu tiên của Anh do vua Henry VIII ký vào năm

1542 Đây là đạo luật chống lại cá nhân gây ra phá sản Trong nhiều thế kỷ,

Luật Phá sản của Anh đã đưa nhiều con nợ vào tù, thậm chí “treo cổ” Còn

châu Âu lục địa có một thời kỳ dài chịu ảnh hưởng của Luật Phá sản Pháp

(Luật Napoleon) Năm 1905, Nam Tư ban hành “Luật cưỡng chế hòa giải phá sản” Theo luật này, giữa các chủ nợ và con nợ không đạt được sự hòa giải thì

được giải quyết bằng cách cưỡng chế Đến năm 1980 lại ban hành Luật

“chỉnh đốn và đóng cửa tổ chức lao động liên kết” và đây là Luật Phá sản

hiện hành Trong Luật Tố tụng dân sự của Liên Xô ban hành năm 1923 có điều nói về chế độ phá sản Năm 1925, các quốc gia châu Âu cũng đã ban hành nguyên tắc chung về luật không có khả năng thanh toán nhưng cho đến nay vẫn chưa có gì tiến bộ Các câu lạc bộ kinh tế của EC hoặc giữa Mỹ và

Trang 23

Canada cũng chưa có khả năng đi đến dự thảo một luật phá sản chung Do đó, ngày nay, mỗi quốc gia đều ban hành một luật phá sản riêng để phù hợp hơn với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nước mình, như Luật phá sản của Thụy Điển hiện nay là luật được ban hành năm 1972, của Mỹ là từ năm 1978, của

Ba Lan là từ năm 1983, của Singapore là từ năm 1985, của Hungary và Trung Quốc từ năm 1986 Đặc biệt là Anh đã ban hành 02 đạo luật liên quan đến phá sản: Luật không có khả năng thanh toán và Luật treo giò Giám đốc Công ty

Ở Việt Nam, trước giải phóng đã có hai đạo luật điều chỉnh phá sản được ban hành đó là, Luật phá sản trong Luật thương mại Trung phần tại miền Trung ngày 02/6/1942 và Luật phá sản trong Luật thương mại miền Nam Việt Nam năm 1972 Từ sau giải phóng miền Nam, Việt Nam đi theo

mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không khuyến khích cạnh tranh nên khái niệm phá sản hầu như không có Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, do kiểm soát và định đoạt mọi nguồn lực sản xuất, Nhà nước trở thành một xí nghiệp khổng lồ Các đơn vị kinh doanh không có động lực để cạnh tranh, sự tồn tại của chúng được duy trì theo ý chí của Nhà nước Kinh tế bao cấp không cần tới luật phá sản Khi chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường thì vấn đề phá sản và giải quyết phá sản mới được đặt ra Cùng với

sự gia nhập của đầu tư nước ngoài, sự nới lỏng tự do kinh doanh cho tư nhân, môi trường cạnh tranh tái xuất hiện và trở nên găy gắt nhanh chóng ngay trên thị trường nội địa Vai trò của nhà nước với tư cách là một chủ đầu tư chịu trách nhiệm hữu hạn trong các doanh nghiệp nhà nước mới dần hiện rõ Khi

tự do kinh doanh và cạnh tranh tái xuất hiện, nhu cầu điều tiết vỡ nợ các đơn

vị kinh doanh vốn thuộc quyền quản lý nhà nước mới trở nên cấp bách Đáng chú ý là nhu cầu điều chỉnh cấp bách bậc nhất của pháp luật phá sản trong các quốc gia chuyển đổi chính là các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hàng loạt khi bước vào cạnh tranh với một tư thế thiếu năng động so với khu vực kinh tế tư nhân và tư bản nước ngoài Ngày 30/12/1993, Quốc hội đã thông qua Luật

Trang 24

Phá sản doanh nghiệp Vào thời điểm ban hành đạo luật đầu tiên về phá sản của Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước là đối tượng được đặc biệt quan tâm trong chính sách đổi mới Bởi vậy, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 được thiết kế với trọng tâm đặt vào việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Triết lý cơ bản của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 phản ánh tư tưởng

và chính sách kinh tế được du nhập từ kinh nghiệm của những nền kinh tế chuyển đổi chứ chưa phải từ những nền kinh tế thị trường lâu đời Hậu quả của việc còn quá nhiều điểm bất hợp lý, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993

đã không phát huy được tác dụng Sự thay đổi và phát triển của kinh tế - xã hội đòi hỏi phải sửa đổi hoặc ban hành một luật mới Do vậy, ngày 15/6/2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Phá sản thay thế Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 và có hiệu lực cho đến hiện nay

Trang 25

Chương 2 THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 ĐIỀU KIỆN RA QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

Hội nghị chủ nợ có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh Hội nghị chủ nợ thảo luận, xem xét, thông qua phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn thanh toán nợ trong doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Các trường hợp thanh lý tài sản được Luật Phá sản năm 2004 quy định tại Điều 78 (trường hợp đặc biệt); Điều 79 (Hội nghị chủ nợ không thành) và Điều 80 (sau khi có Nghị quyết Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua các giải pháp dự kiến tổ chức lại, kế hoạch thanh toán nợ) nhưng doanh nghiệp không xây dựng được kế hoạch chính thức Cụ thể:

2.1.1 Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp đặc biệt

Trường hợp doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bị thua lỗ đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp mà không cần phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét việc áp dụng thủ tục phục hồi

2.1.2 Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi Hội nghị chủ nợ

không thành

Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi Hội nghị chủ

nợ không thành trong những trường hợp sau:

- Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng;

Trang 26

- Sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần; hoặc là người lao động;

- Không đủ số chủ nợ thỏa mãn điều kiện quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia Hội nghị chủ nợ sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước; các cổ đông trong công ty cổ phần; thành viên hợp danh trong công ty hợp danh

2.1.3 Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất

Sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý với

dự kiến các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán

nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, nếu có một trong các trường hợp sau đây thì Tòa

án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn 30 ngày (gia hạn cũng không được quá 30 ngày tiếp theo), sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh;

- Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, trừ trường hợp các bên liên quan

có thỏa thuận khác

Trang 27

Tuy nhiên, thực tế xuất hiện trường hợp tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không lập (do không có chủ trương lập) phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị Vậy trong trường hợp này, Thẩm phán có ra quyết định thanh lý tài sản không? Căn cứ là gì? Hiện nay, đang có hai quan điểm liên quan đến vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo điểm d khoản 1 Điều 64 Luật Phá

sản năm 2004 thì nếu tại Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không có dự kiến, không lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ thì Hội nghị chủ nợ vẫn ra Nghị quyết về việc thanh lý tài sản Thẩm phán căn cứ vào Nghị quyết này ra quyết định thanh lý tài sản

Quan điểm thứ hai cho rằng, vì thủ tục thanh lý tài sản quy định tại các

điều 78, 79 và 80 của Luật Phá sản năm 2004 không quy định điều kiện để ra quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp nêu trên, nên Thẩm phán cần tổ chức lại Hội nghị chủ nợ lần thứ hai và tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải có dự kiến, lập phương án, đề ra giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình Hội nghị chủ nợ lần thứ hai Tại Hội nghị chủ nợ lần thứ hai, nếu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không lập phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh hoặc có phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh để trình nhưng Hội nghị chủ nợ lần thứ hai không thông qua thì mới ra Quyết định thanh lý tài sản

Quan điểm thứ hai là hợp lý hơn vì quan điểm này vừa tạo thêm cơ hội, thời gian cho doanh nghiệp xây dựng phương án và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh nhằm khắc phục tình trạng khó khăn của mình đồng thời cũng là việc áp dụng tương tự với quy định của Điều 79 Luật Phá sản năm

2004 về trường hợp Hội nghị chủ nợ không thành do doanh nghiệp không có mặt tại Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng

Trang 28

2.2 GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

Liên quan đến quyền khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phá sản, khoản 3 Điều 83 Luật Phá sản năm 2004 quy

định: “Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phá sản của doanh nghiệp, quyết định tuyên bố phá sản phải gửi hồ sơ phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản” Theo

quy định này, thực tế phát sinh trường hợp cần phải chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp trên trực tiếp hay chỉ chuyển một phần hồ sơ có liên quan đến phần khiếu nại, kháng nghị

Luật Phá sản năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ đề cập đến vấn đề trách nhiệm của Tổ quản lý, thanh lý tài sản khi có hành vi vi phạm mà chưa nêu được cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với vi phạm của Tổ quản lý, thanh lý tài sản Theo quy định của Luật Phá sản năm 2004 thì Chấp hành viên được cơ quan thi hành án cử tham gia giải quyết

án phá sản theo yêu cầu của Tòa án Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản và giao cho Chấp hành viên làm Tổ trưởng Trong quá trình tác nghiệp, nếu Tổ trưởng bị khiếu nại thì Tòa án hay Thủ trưởng cơ quan thi hành án là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đó? Nếu không

có quy định này thì những quy định về trách nhiệm của Tổ quản lý, thanh lý tài sản không có tính khả thi

2.3 XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 2.3.1 Tài sản phá sản

2.3.1.1 Kiểm kê tài sản doanh nghiệp, xác định giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp

Việc xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp trên thực tế hiện nay dựa vào: i) Bản tự kê khai của doanh nghiệp; ii) Kiểm đếm trên thực tế; iii) Sổ

Trang 29

sách của doanh nghiệp Phần lớn công việc nặng nhọc và phức tạp liên quan đến việc xác định tài sản của doanh nghiệp phá sản là do Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện Khi tiến hành quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tổ quản lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ thống kê, xác định phần giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp để phục vụ cho việc xem xét khôi phục lại hoạt động của doanh nghiệp trong cuộc họp Hội nghị chủ nợ và

xử lý tài sản để thi hành án trong trường hợp có quyết định tuyên bố phá sản

Trên thực tế, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không thực hiện việc nộp báo cáo kiểm kê tài sản và xác định giá trị các tài sản đó theo đúng thời hạn quy định tại Điều 50 Luật Phá sản năm 2004 (ba mươi ngày, kể

từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản – có thể gia hạn 02 lần, mỗi lần không quá ba mươi ngày do Thẩm phán quyết định theo đề nghị bằng văn bản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản) Nếu doanh nghiệp đó chưa kiểm toán trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản, chưa hoàn tất báo cáo tài chính, báo cáo thuế hoặc chưa thống kê danh mục các tài sản cố định, lưu động hiện có của doanh nghiệp thì Chấp hành viên và các thành viên còn lại của Tổ quản lý, thanh lý tài sản không có cơ sở để thi hành các nhiệm vụ, quyền hạn của mình

2.3.1.2 Quy định về tài sản phá sản

Có thể thấy, Luật Phá sản năm 2004 quy định chưa bao quát hết các tài sản của con nợ khi thực hiện tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong khi đó cũng không có quy định loại trừ xử lý đối với một số tài sản đặc biệt Trong quá trình giải quyết liên quan đến phá sản doanh nghiệp, việc xác định đúng, đầy đủ các tài sản của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng Theo quy định tại Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 thì các loại tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản gồm:

- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp có tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

Trang 30

- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp;

- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai

Như vậy, có bốn nhóm tài sản chính liên quan đến doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên, với các quy định mang tính liệt kê như vậy, rất dễ bỏ qua một số tài sản mà lẽ ra có thể thu hồi và thanh lý để trả cho các

chủ nợ Ví dụ, ngoài các tài sản được quy định tại Điều 49 Luật Phá sản năm

2004, thì tài sản và quyền tài sản thu được từ các giao dịch vô hiệu hoặc thu được từ các giao dịch không công bằng của con nợ, tài sản và quyền tài sản

mà con nợ có được sau ngày mở thủ tục phá sản cũng có thể coi là tài sản có thể thu hồi để thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp Ngoài ra, Luật Phá sản năm 2004 quy định về phạm vi khối tài sản phá sản cũng không đưa danh mục các tài sản thuộc diện loại trừ khỏi khối tài sản phá sản Trong khi đó, xét

ở góc độ nhân đạo và thông lệ chung quốc tế thì đối với trường hợp con nợ là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh thì pháp luật cũng phải xác định tài sản miễn trừ khi giải quyết phá sản đối với các loại hình đó Các tài sản miễn trừ theo thông lệ quốc tế thường là: đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, các khoản trợ cấp, tiền bồi thường do bị tổn hại sức khỏe, tiền bảo hiểm Vì vậy, đối với những tài sản này việc quy định miễn trừ khỏi tài sản phá sản là hợp

lý và cần thiết

2.3.1.3 Bảo quản tài sản phá sản

Tòa án phải thuê người trông nom tài sản của doanh nghiệp nhưng tài sản của họ không bán được, nên không có tiền trả cho người bảo vệ hàng tháng Thực tế ở các địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh trao đổi với Sở Tài

Trang 31

chính địa phương cho Tòa án vay tiền để chi phí cho việc phá sản hoặc đã ứng tiền tạm ứng phí phá sản cho doanh nghiệp thuộc quyền quản lý để việc phá sản doanh nghiệp có điều kiện tiến hành

2.3.1.4 Thu hồi tài sản phá sản

Luật Phá sản năm 2004 vẫn chưa quy định ai sẽ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định thu hồi tài sản hoặc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản bị thu hồi Thủ tục giải quyết khiếu nại và tranh chấp này cũng là vấn đề còn bỏ ngỏ trong Luật Phá sản năm 2004 Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng còn thiếu vắng các quy định về những biện pháp bảo đảm thi hành quyết định thu hồi tài sản của Thẩm phán, cũng như những quy định cho phép Tổ quản lý, thanh lý tài sản được quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp không chấp hành quyết định của Tòa án Do đó, việc thi hành quyết định thu hồi tài sản gặp rất nhiều khó khăn

và hiệu quả kém Việc thu hồi tài sản còn gặp nhiều khó khăn do các tài sản nằm rải rác ở nhiều địa phương khác nhau, trong khi, công tác quản lý còn yếu kém, khiến việc xác minh còn gặp nhiều khó khăn, chi phí đi lại lớn Hiện nay, Luật Phá sản năm 2004 lại chưa quy định về viêc ủy thác thu hồi tài sản trong trường hợp tài sản của doanh nghiệp bị phân tán nhiều nơi nằm ngoài địa phương đang giải quyết phá sản Do vậy, khi tài sản của doanh nghiệp bị phá sản phân tán ở nhiều nơi thì không ai khác ngoài chính Tổ quản lý, thanh

lý tài sản hoặc Thẩm phán phải trực tiếp đi thu hồi, điều này dẫn đến một thực trạng là các chủ thể đó phải đi lại nhiều nơi để thi hành vừa mất thời gian, kéo dài vụ việc, vừa làm tăng những khoản chi phí không đáng có cho việc giải quyết phá sản

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có thụ lý giải quyết phá sản đối với Công ty may xuất khẩu Thành Công có trụ sở tại quận Đống Đa Hà Nội nhưng ngoài tài sản tại trụ sở chính thì công ty còn có tài sản tại Tây Ninh,

Trang 32

thành phố Hồ Chí Minh Khi tiến hành giải quyết, Tổ quản lý, thanh lý tài sản

đã trực tiếp đến các địa phương đó để kiểm kê tài sản nhưng sau khi kiểm kê xong thì không biết giao tài sản đó cho ai quản lý Giao cho doanh nghiệp trực tiếp quản lý, giao cho chủ nợ quản lý hay giao cho chính quyền địa phương nơi

có tài sản quản lý hoặc thuê một tổ chức, cá nhân độc lập quản lý [2, tr.15]

2.3.2 Bán đấu giá tài sản phá sản

Khi doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý, thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã không được quy định tại Điều 8 Luật Phá sản năm 2004 khi xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản Tuy nhiên, theo điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Phá sản năm 2004 thì Tổ quản

lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ, quyền hạn “thi hành quyết định bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý” Trên thực tế, đã có

những vụ phá sản không thực hiện được quy định này do tổ chức bán đấu giá không thực hiện việc bán tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với lý do chưa có quyết định của thẩm phán về bán đấu giá tài sản Tuy nhiên, thẩm phán lại cho rằng không có đủ căn cứ pháp lý để ra quyết định bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý và tại Điều 8 Luật Phá sản năm 2004 không quy định trực tiếp thẩm quyền này cho thẩm phán, mặt khác Quyết định số 01 ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Tòa án nhân dân tối cao về Quy chế làm việc của tổ thẩm phán cũng không đề cập đến

Vấn đề định giá tài sản trong hoạt động bán đấu giá tài sản phá sản đang là vấn đề nổi cộm do thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp, chế độ tài chính – kế toán còn nhiều bất cập đã dẫn đến rất nhiều khó khăn trong định giá Việc quy định mọi tài sản phá sản đều phải bán đấu giá là bất hợp lý, kém linh hoạt Tài sản của doanh nghiệp là rất đa dạng, đó có thể là tài sản có giá trị lớn như nhà xưởng, máy móc, thiết bị nhưng cũng có thể là tài sản rất bình

Trang 33

thường như đồ dùng sinh hoạt, cây cảnh, gia súc, gia cầm Với mỗi loại tài sản đó lại đòi hỏi một phương thức xử lý cho phù hợp Vì vậy, Luật Phá sản năm 2004 quy định nhất thiết phải bán đấu giá trong mọi trường hợp là quá cứng nhắc, nhiều khi là không cần thiết thậm chí còn gây lãng phí, tăng chi phí giải quyết phá sản

Tài sản còn lại của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chủ yếu là nhà xưởng sản xuất, máy móc, kho tàng, các loại trang thiết bị mà doanh nghiệp bị phá sản thường trải qua thời gian dài làm ăn thua lỗ, nên dây chuyền sản xuất, máy móc, nhà xưởng thường cũ nát, lạc hậu, hoặc đã hết khấu hao Vì vậy, hầu hết trong các vụ phá sản, việc bán đấu giá các tài sản này hết sức khó khăn vì khó tìm được người mua Một số đơn vị do tổ chức bán đấu giá nhiều lần không thành đã xin ý kiến áp dụng quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để giao tài sản cho một trong các chủ nợ để khấu trừ số nợ của họ Song điều này lại là bất hợp pháp vì các chủ nợ chỉ có khả năng nhận được một tỷ lệ rất nhỏ, rất thấp số nợ của mình thông qua việc bán đấu giá tài sản còn lại của doanh nghiệp Mặt khác, nếu cho gán nợ như vậy thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ khác và trái với quy định của pháp luật phá sản hiện hành Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là chi phí cho những lần bán đấu giá sẽ thanh toán từ khoản nào, ai sẽ chịu trách nhiệm nếu tài sản của doanh nghiệp vẫn cứ không bán được?

Tổ quản lý, thanh lý tài sản thi hành nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự (khoản 2 Điều 10 Luật Phá sản năm 2004) Căn cứ quy định này thì trong việc bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị phá sản, nếu đã hai lần hạ giá mà không bán được, các chủ

nợ cũng không ai nhận tài sản đã giảm giá đó mà thực hiện như quyền quy định tại Điều 48 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 là: trả lại tài sản đó cho người phải thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế khác thì không

Trang 34

phù hợp Vì doanh nghiệp bị phá sản không còn tài sản nào khác để thanh toán cho các chủ nợ mà lại được nhận lại tài sản không bán đấu giá được, không còn tài sản thì sao có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế khác Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 đã điều chỉnh theo hướng không khống chế số lần giảm giá tài sản khi bán đấu giá Tài sản đưa ra đấu giá sẽ được điều chỉnh giá đến khi đấu giá thành, tránh xuống cấp tài sản thanh lý, tháo gỡ vướng mắc cho việc xử lý tài sản thi hành án, tài sản của doanh nghiệp bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản

2.3.3 Xử lý tài sản là quyền sử dụng đất

Tại nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, máy móc và công nghệ lạc hậu, do vậy, các chủ nợ chỉ trông chờ vào việc xử lý quyền sử dụng đất của doanh nghiệp mắc nợ để hy vọng đòi đủ số nợ của mình Song giải quyết vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất là rất phức tạp, thường này sinh nhiều vướng mắc

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản, Nhà nước sẽ thu hồi quyền sử dụng đất (quy định tại khoản

2 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003), vì vậy, khi bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp phá sản chỉ bán tài sản gắn liền với đất Việc này nếu không được sự giúp đỡ, ủng hộ của chính quyền địa phương thì cũng rất khó thực hiện được Đối với hoạt động bán đấu giá tài sản gắn liền với đất và giải quyết quyền sử dụng đất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng còn nhiều vấn đề chưa được quy định trong pháp luật về phá sản: Thẩm quyền của việc định giá quyền sử dụng đất; cơ sở của việc định giá; giá đất định giá theo khung giá do Nhà nước quy định hay giá thị trường; có cần thuê chuyên gia định giá hay không; tài sản gắn liền với đất sẽ xử lý ra sao nếu việc thế chấp quyền sử dụng đất lại không kèm với thế chấp các tài sản đó; thủ tục thu hồi và quản lý

Trang 35

đất đai của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Trong một số trường hợp, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lại không phải là tài sản của doanh nghiệp Đây là trường hợp xảy ra khá phổ biến ở các lâm trường, nhiều nhà cửa, công trình kiến trúc, rừng trồng, cây công nghiệp trên đất là của cán bộ, công nhân viên, không phải của doanh nghiệp nên các Tòa án rất khó xử lý

2.3.4 Xử lý tài sản bảo đảm của chủ nợ có bảo đảm

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm quy định trong trường hợp bên bảo đảm là bên có nghĩa vụ bị phá sản thì tài sản bảo đảm được xử lý theo quy định của pháp luật về phá sản và Nghị định này để thực hiện nghĩa vụ; trường hợp pháp luật về phá sản có quy định khác với Nghị định này về việc xử lý tài sản bảo đảm, Nghị định này cũng thừa nhận phương thức, bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm (Điều 57 và Điều 58 Nghị định

số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm) Pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định ưu tiên áp dụng các quy định của pháp luật phá sản về xử lý tài sản bảo đảm Theo quy định tại Điều 35 Luật Phá sản năm

2004 về xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố

thì: “Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp” Luật quy định về cơ chế xử lý tài sản bảo đảm như vậy

nhưng không rõ việc ưu tiên thanh toán được giải quyết thế nào? Có Tòa án

Trang 36

căn cứ vào quy định tại Điều 35 Luật Phá sản năm 2004 khi ra quyết định xử

lý tài sản khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản đã cho phép bên nhận bảo đảm được nhận chính tài sản bảo đảm để thanh toán khoản nợ có bảo đảm Tuy nhiên, quyết định của Tòa án như vậy là không phù hợp, Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi tiền thanh toán nợ cho chủ nợ có bảo đảm Trường hợp số tiền thu được sau khi bán đấu giá tài sản bảo đảm không đủ thanh toán khoản nợ có bảo đảm thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản bảo đảm; nếu số tiền thu được sau khi bán đấu giá tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp để thanh toán cho các chủ nợ khác

2.3.5 Xử lý tài sản phá sản nằm rải rác ở nước ngoài

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật phá sản là thu hồi toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản để bán và thanh toán cho các chủ nợ Trường hợp các chủ nợ sống tại nơi có trụ sở thì chủ nợ có quyền tiếp cận tài sản của doanh nghiệp mắc nợ Trong bối cảnh hiện nay, các công ty đa quốc gia hoạt động trên toàn thế giới, vì vậy, pháp luật phá sản các nước cũng cần được áp dụng đối với tất cả tài sản của con nợ tại tất cả các nước đó để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Khả năng thu hồi tài sản ở nước ngoài lại phụ thuộc vào việc pháp luật của quốc gia nơi có tài sản có công nhận quyền thu hồi tài sản đó hay không Pháp luật về phá sản của Việt Nam chưa có quy định hướng dẫn về việc xử lý tài sản phá sản trong trường hợp này

2.4 THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 2.4.1 Chủ thể có trách nhiệm thi hành thủ tục thanh lý tài sản phá sản

Tổ quản lý, thanh lý tài sản là chủ thể có trách nhiệm tiến hành thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp Các quy định về việc thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong các văn bản pháp luật về phá sản đang có sự mâu thuẫn nhau Tại Điều 9 Luật Phá sản năm 2004 quy định đồng thời với việc ra quyết

Ngày đăng: 30/11/2018, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w