+ Những từ phiếm chỉ xuất hiện là do cảm xúc của nhà thơ: bài thơ được lấy cảm hứng từ một tấm bưu thiếp từ phương xa gửi tặng, tấm bưu thiếp ấy đã làm trỗi dậy nỗi nhớ và cuộc sống mãnh[r]
Trang 1SỞ GD & ĐT BÌNH PHƯỚC
TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN
NỘI DUNG HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN TẬP ( trong thời gian nghỉ học để phòng chống địch bệnh Covid-19)
Bộ môn: NGỮ VĂN _ KHỐI 11
MÔN BÀI/ NỘI DUNG
TỰ HỌC
CẦU CỦA GV
TÀI LIỆU HỌC TẬP
GHI CHÚ
NGỮ
VĂN
- Ôn tập một sô
tác phẩm HKII,
chú ý các vấn đề
trong tâm:
+ Tràng giang
+ Đây thôn Vĩ Dạ
- Ôn tập kĩ năng
Làm văn
- Xem lại các bài đã học, chú
ý những nội dung trọng tâm.
Có thể soạn, hệ thống lại kiến thức theo sơ đồ tư duy.
- Đọc và tóm tắt các tác phẩm, trả lời các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài.
- Tham khảo các đề thi THPTQG, đề minh họa của bộ các năm 2016 – 2017, 2017 –
2018, 2018 – 2019, rút ra cách làm bài Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học.
- HS nắm vững những kiến thức trọng tâm của các tác phẩm HKII.
- HS xác định được cách viết đoạn Nghị luận
xã hội và cách làm một số dạng bài Nghị luận văn học.
- Hướng dẫn học Ngữ văn theo chuẩn kiến thức kĩ năng lớp 11.( Lê Anh Xuân, Vũ Thị Dung, Đỗ Lê Hoàn)
- Sách giáo
khoa Ngữ văn
11 tập 2
- 40 đề luyện tập thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm
2019 – 2020
(Triệu Thị Huệ
-Vũ Thị Nương)
- Hướng dẫn ôn thi THPT môn Ngữ văn Phần Văn học Việt Nam hiện đại
(TS Trịnh Thu Tuyết)
NỘI DUNG ÔN TẬP
I PHẦN ĐỌC – HIỂU: Ôn tập lại kiến thức về:
1 Các phương thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh, nghị luận)
2 Các biện pháp tu từ
- Các phép tư từ từ vựng: so sánh, nhân hóa, hoán dụ, ẩn dụ, tương phản, phóng đại, nói giảm,
nói tránh, chơi chữ.
Trang 2- Các phép tu từ cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng
- Các phép tu từ ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho
câu)
3 Các thao tác nghị luận (giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận)
4 Các phong cách ngôn ngữ (khoa học, nghệ thuật, báo chí, chính luận, khoa học và hành
chính)
5 Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản.
6 Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản.
- Cảm nhận về nội dung phản ánh
- Cảm nhận về cảm xúc của tác giả.
7 Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản
- Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nội dung cụ thể/ nộidung chính của văn bản
- Chỉ ra từ ngữ chứa đựng chủ đề đoạn văn
8 Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản
- Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nội dung cụ thể/ nội dung chính của văn bản
- Chỉ ra từ ngữ chứa đựng chủ đề đoạn văn.
II NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1 Dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
a Kiến thức chung
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là dạng đề thường bàn về một quan điểm, một tư tưởng như: lòng dũng cảm, lòng khoan dung, thói vô cảm, vô trách nhiệm,…
- Dấu hiệu để nhận biết kiểu bài này là thường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các nhà tư tưởng, các danh nhân nổi tiếng hoặc những câu văn, câu thơ, ý kiến trích dẫn trong tác phẩm văn học,…
b Cách làm
- Cần tìm hiểu tư tưởng trong câu nói là tư tưởng gì? đúng sai như thế nào? Từ đó xác định phương hướng bàn luận (nội dung) và cách bàn luận (sử dụng thao tác lập luận nào).
c Hình thức: Viết đoạn văn 200 chữ
2 Dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
a Kiến thức chung Nghị luận về một hiện tượng đời sống là dạng đề mang tính thời sự, bàn
về một vấn đề của xã hội (tốt – xấu) đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày như: tai nạn giao thông, bạo lực học đường, tiêu cực trong thi cử, …
b Cách làm
- Cần nêu rõ hiện tượng, phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại Chỉ ra nguyên nhân
- Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết bằng các thao tác lập luận phù hợp
- Bàn luận và đưa ra những đề xuất, giải pháp của mình trước hiện tượng đó.
III PHẦN VĂN HỌC
1 TRÀNG GIANG
(Huy Cận)
PHẦN 1: KIẾN THỨC TRỌNG TÂM CẦN NẮM VỮNG
1 Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên: Thiên nhiên đẹp đẽ, vừa gần gũi, quen thuộc vừa mênh mông
kì vĩ, tráng lệ.
Trang 32 Tâm trạng của nhà thơ: Cái tôi cô đơn, buồn bã, ý thức về sự nhỏ nhoi, trôi nổi của thân phận thể
hiện ý thức cá nhân của lớp thi sĩ hiện đại.
3 Đôi nét về phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận:
- Đặt cái tôi trữ tình vào giữa một không thời gian vô hạn làm nổi bật sự nhỏ bé, cô đơn của thân phận
cá nhân và nỗi buồn mênh mông xa vắng (Sự khắc khoải không gian).
- Sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại.
- Thơ hàm súc, giàu tính suy tưởng và triết lí,
PHẦN 2: PHÂN TÍCH CHI TIẾT
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Một trong những đỉnh cao của Thơ mới với hồn thơ “ảo não” (Hoài Thanh)
- Phong cách thơ Huy Cận: Sự khắc khoải không gian Trước CM, thơ Huy Cận:
+ Đặt cái tôi cô đơn nhỏ bé vào một KG vô tận, thời gian vô thủy vô chung để nhấn mạnh sự nhỏ bé của cái tôi và sự vô cùng của vũ trụ
+ Luôn thể hiện một nỗi buồn mênh mông xa vắng
+ Mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại
+ Hàm súc, mang màu sắc suy tưởng, triết lí (về cuộc đời, về thân phận con người)
2 Tác phẩm
- Rút từ tập Lửa thiêng (1939)
- Được gợi cảm hứng từ những lần ra ngắm cảnh ở bờ Nam bến Chèm của con sông Hồng.
- Có sự gặp gỡ giữa một tâm hồn bơ vơ, lạc lõng và cảnh sông nước mênh mông, xa vắng.
3 Cảm xúc chủ đạo:
- Một cái tôi cô đơn trước không gian bao la, vô tận
- Một cái tôi khao khát hòa nhập, gắn bó
- Tình yêu quê hương đất nước âm thầm, da diết
II Phân tích
1 Nhan đề và lời đề từ
a Nhan đề
- “Tràng giang”:
+ gợi màu sắc cổ kính, trang nhã vì dễ liên tưởng đến Trường Giang là con sông lớn của Trung Quốc.
+ Hai âm “ang” liền nhau tạo nên âm hưởng như bị kéo dài, nới rộng ra-> con sông trở nên mênh
mông, bát ngát hơn.
Con sông không chỉ dài mà còn rất rộng, gợi một KG mênh mông ngay từ đầu thi phẩm.
b Lời đề từ
- Có hai cách hiểu:
+ Chủ thể trữ tình “bâng khuâng”, “nhớ” trước cảnh thiên nhiên mênh mông, thăm thẳm con người khắc khoải trước TN
+ Nhân hóa: “trời rộng” nhớ “sông dài” thiên nhiên nhớ nhau
Gợi nỗi nhớ nhung, cả khoải đan cài nhau giữa con người và thiên nhiên.
2 Các khổ thơ
a Khổ 1:
* Ba câu đầu
- Phép đối giữa hai câu đầu: gợi hình ảnh sóng nước mênh mang và con thuyền xuôi mái chèo trên sông thật êm đềm, quen thuộc.
- Từ láy toàn bộ:
+ “điệp điệp”: nỗi buồn như từ lòng người lan tỏa ra ngoại cảnh.
+ “song song”: sự rời rạc, không chung dòng của nước và thuyền
Gợi không gian mênh mang và nỗi buồn từ lòng người, từ ngàn xưa lan tỏa.
Trang 4- Tiểu đối: gợi sự chuyển động ngược chiều giữa nước và thuyền chúng chẳng những không gặp gỡ
mà còn đưa nỗi sầu lan tỏa đi “trăm ngả” để thấm vào lòng vạn vật.
* Câu cuối:
+ Cành củi: thi liệu mới mẻ, hiện đại của đời thường.
+ Đảo ngữ và đối củi một cành khô>< lạc mấy dòng: Gợi thân phận trôi nổi vô định ý thức về thân phận cá nhân của con người thời đại mới.
b Khổ 2:
* Hai câu đầu:
- Từ láy “lơ thơ”: những cồn cát trên sông ít ỏi, thưa thớt.
- Từ láy “đìu hiu”: tiếng gió thổi vào cỏ cây trên cồn một âm điệu buồn bã thê lương, có chút hoài cổ.
- “Đâu: Có hai nghĩa
Từ phủ định: Phủ nhận hoàn toàn âm thanh sự sống
Đại từ phiếm chỉ: Có âm thanh nhưng là của chợ đã vãn, sắp tắt hẳn
gợi cảm giác xa vắng, lụi tàn, bị lãng quên
* Hai câu sau:
- Phép đối giữa hai câu: mở ra một không gian vô tận.
- Tiểu đối: “nắng xuống”>< “trời lên”: chuyển động ngược chiều của sự việc.
- Sáng tạo trong cách kết hợp từ “sâu chót vót”: không chỉ nhìn lên vòm trời mà nhìn vào đáy vòm trời.
- 3 chiều KG: cao (sâu chót vót) dài (sông dài), rộng (trời rộng) hiện lên một KG vời vợi
- Từ “cô liêu”: gợi cảm giác buồn bã, vắng lặng
c Khổ 3:
- Hình ảnh “bèo dạt” cứ “hàng nối hàng”, “bờ xanh tiếp bãi vàng”: từng sự vật chảy trôi trong sự cô
đơn, không có liên hệ gì với nhau.
- Điệp từ “không” (không một chuyến đò ngang, không cầu): mọi vật chia lìa, không gắn kết, gợi khát khao kết nối, gắn bó.
d Khổ 4:
* Hai câu đầu:
- Từ láy toàn bộ: “lớp lớp”
- Hình ảnh “mây cao đùn núi bạc”: Thiên nhiên đẹp đẽ, tráng lệ, mây cuộn lên từng lớp lấp lánh dưới nắng mặt trời như ngọn núi bạc
- Đối lập “chim nghiêng cánh nhỏ- bóng chiều sa”: đối lập giữa cái nhỏ bé, hữu hạn và không gian lớn lao, vô hạn, gợi nỗi buồn về thân phận con người.
* Hai câu sau:
- Từ láy toàn bộ “dợn dợn”: gợi hình ảnh những lớp sóng cứ cuộn lên hết lớp này đến lớp khác.
- “vời”: cái nhìn xa vắng, mênh mông
- Câu cuối: Mượn ý bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu để thổ lộ lòng nhớ quê hương.
3 Nghệ thuật
- Hòa quyện giữa chất cổ điển và chất hiện đại
+ Đề tài, cảm hứng:
Tràng giang mang nỗi sầu từ vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước thời gian, không gian vô
hạn, vô cùng.
Tràng giang đồng thời thể hiện “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” Thơ mới thời mất nước “chưa tìm thấy lối ra”.
+ Chất liệu thi ca:
Ở Tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ (tràng giang, bờ bãi đìu hiu, cánh
chim trong bóng chiều…), nhiều hình ảnh, tứ thơ được gợi từ thơ cổ.
Trang 5Mặt khác, Tràng giang cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực của đời thường, không
ước lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt…).
+ Thể loại và bút pháp:
Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ 7 chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi hơn là tả …; những từ Hán Việt
cổ kính (tràng giang, cô liêu…).
Song, Tràng giang lại cũng rất mới qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi” trữ tình (buồn điệp điệp,
sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn dợn…)
- Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.
III Tổng kết:
- Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên,
- Nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn
- Niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả.
- Nghệ thuật
PHẦN 3: MỘT SỐ DẠNG ĐỀ CÓ THỂ RA (CÂU 5 ĐIỂM) VÀ HƯỚNG GIẢI
Câu 1 Phân tích bài thơ Tràng giang để thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm trạng tác giả Câu 2 Cái tôi Huy Cận qua bài thơ Tràng giang.
Câu 3 Có ý kiến cho rằng “Tràng giang đã tiếp nối mạch thi cảm truyền thống với sự cách tân thích hợp” Qua bài thơ hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Câu 4 (Dành cho HSG) Tràng giang là “nỗi sầu vạn kỉ” hay là “nỗi sầu của một con người giàu
sức lực”?
Hướng giải:
Câu 1 Phân tích bài thơ Tràng giang để thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm trạng tác giả.
Dàn ý:
MB:
- Giới thiệu vị trí, phong cách Huy Cận trong phong trào Thơ mới
- Vị trí Tràng giang trong sự nghiệp của Huy Cận.
- Nêu yêu cầu đề: qua bài thơ ta thấy được vẻ đẹp thiên nhiên và tâm trạng nhân vật trữ tình
TB:
- Khái quát về hoàn cảnh ra đời bài thơ Tràng giang đặt trong bối cảnh chung của đất nước lúc bấy giờ.
- Phân tích lần lượt từng khổ thơ: chú ý các biện pháp nghệ thuật được vận dụng, phân tích sâu bằng cách diễn giải, liên hệ so sánh để bài phân tích được sâu sắc.
- Chú ý luôn bám sát vào vấn đề cần làm rõ: vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm trạng của tác giả.
- Nhận xét về nghệ thuật của bài thơ
KB:
- Khung cảnh thiên nhiên tuy buồn nhưng gần gũi, đẹp đẽ, thân thuộc của quê hương Việt Nam
- Tâm trạng của nhà thơ là nỗi lòng khắc khoải, bâng khuâng trước thiên nhiên mênh mông đến vô cùng
Câu 2 Cái tôi Huy Cận qua bài thơ Tràng giang.
Phân tích bài thơ và làm rõ nhưng phương diện sau của “cái tôi” Huy Cận:
+ Một cái tôi cô đơn trước không gian bao la, vô tận: Không gian bao la, hoang vắng trải dài trong từng khổ thơ làm nổi bật cái tôi cô đơn, nhỏ bé.
+ Một cái tôi khao khát hòa nhập, gắn bó: sự vật càng rời rạc, chia lìa nhà thơ càng thiết tha sự gắn kết + Tình yêu quê hương đất nước âm thầm, da diết
Câu 3 Có ý kiến cho rằng “Tràng giang đã tiếp nối mạch thi cảm truyền thống với sự cách tân
thích hợp” Qua bài thơ hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Trang 6- Thực chất là sự hòa quyện giữa chất cổ điển và chất hiện đại
- Phân tích bài thơ
- Làm rõ từng khía cạnh
Câu 4 Tràng giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Tràng giang để làm sáng tỏ nhận xét trên.
Đáp án:
1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)
- Huy Cận là một nhà thơ xuất sắc trong phong trào Thơ mới.
- Tràng giang (sáng tác năm 1939, in trong tập Lửa thiêng) là bài thơ nổi tiếng và tiêu biểu nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám Tràng giang mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.
2 Phân tích bài thơ (3,0 điểm)
a Khổ thơ 1(0,75)
- Nhan đề và lời đề từ đã gợi lên phần nào cảm xúc chủ đạo của bài thơ: bâng khuâng trước vũ trụ mênh mông.
- Bài thơ mở đầu với dòng sông ngoại cảnh cũng là dòng sông tâm hồn, nỗi buồn trải ra cùng lớp lớp sóng Khác với trường giang hùng vĩ, cuồn cuộn của Lý Bạch, Đỗ Phủ, tràng giang của Huy Cận lặng
lờ (sóng gợn, thuyền xuôi mái), nhuốm nỗi chia li (thuyền về nước lại, sầu trăm ngả) Củi một cành khô lạc mấy dòng là hình ảnh đời thực, gửi gắm ưu tư của tác giả về thân phận con người.
b Khổ thơ 2 (0,75)
- Trước thiên nhiên rộng lớn ấy, nhà thơ mong tìm những nơi chốn tụ họp của con người (làng, chợ, bến) nhưng càng thấy hoang vắng, trơ trọi Huy Cận đã học từ câu thơ dịch Chinh phụ ngâm (Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò), nhưng thêm một từ láy (Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu) khiến cảnh vật càng quạnh quẽ Câu thơ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều nói đến âm thanh mà lại làm nổi bật cái vắng lặng.
(Lưu ý: có thể chấp nhận cả 2 cách hiểu: có và không có tiếng vãn chợ chiều).
- Nếu khổ 1 triển khai chiều rộng, chiều dài thì khổ 2 mở thêm vào chiều cao Những cấu trúc đăng đối nắng xuống trời lên, sông dài trời rộng nhấn mạnh ấn tượng không gian được mở ra ở cả ba chiều Kết hợp độc đáo sâu chót vót gợi cái thăm thẳm của vũ trụ Lời đề từ được nhắc lại ở đây, tô đậm nỗi
cô liêu.
c Khổ thơ 3 (0,75đ)
- Khổ thứ 3 thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình với những hình ảnh vừa gần gũi thân quen vừa giàu sức gợi Những cánh bèo phiêu dạt giữa lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng phải chăng cũng là hình ảnh những kiếp người lênh đênh vô định.
- Nhà thơ mong tìm một sự giao cảm, gắn bó nhưng trước mắt chỉ là không gian mênh mông, không một chuyến đò, không một cây cầu kết nối Con người cảm thấy bơ vơ, cô độc giữa một cõi đời không chút niềm thân mật.
d Khổ thơ 4 (0,75đ)
- Nỗi cô đơn càng thấm thía lúc hoàng hôn Được gợi từ câu dịch thơ Đỗ Phủ (Mặt đất mây đùn cửa ải xa), Huy Cận đã sáng tạo nên hình ảnh một hoàng hôn hùng vĩ: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Cánh chim quen thuộc trong thơ ca về hoàng hôn đến Huy Cận cũng mang nét mới lạ: cái hữu hình của cánh chim nhỏ nghiêng xuống làm hiện lên cái vô hình của bóng chiều trĩu nặng; cánh chim giữa trời rộng gợi “cái tôi” cô đơn, rợn ngợp trước vũ trụ, trước cuộc đời.
- Huy Cận đã liên tưởng đến Thôi Hiệu khi viết hai câu cuối Khói sóng trên sông làm Thôi Hiệu buồn, còn Huy Cận thì không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, nỗi nhớ đã luôn da diết trong lòng tác giả
3 Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ (1 điểm)
a Đề tài, cảm hứng:
Trang 7- Tràng giang mang nỗi sầu từ vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước thời gian, không gian vô
hạn, vô cùng.
- Tràng giang đồng thời thể hiện “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” Thơ mới thời mất nước “chưa
tìm thấy lối ra”.
b Chất liệu thi ca:
- Ở Tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ (tràng giang, bờ bãi đìu hiu, cánh
chim trong bóng chiều…), nhiều hình ảnh, tứ thơ được gợi từ thơ cổ.
- Mặt khác, Tràng giang cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực của đời thường, không
ước lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt…).
c Thể loại và bút pháp:
- Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ 7 chữ với cách
ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi hơn là tả …; những từ Hán Việt
cổ kính (tràng giang, cô liêu…).
- Song, Tràng giang lại cũng rất mới qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi” trữ tình (buồn điệp điệp,
sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn dợn…)
4 Kết luận (0,5 điểm)
- Tràng giang của Huy Cận không chỉ là một bức phong cảnh mà còn là “một bài thơ về tâm hồn” Bài
thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, trước cuộc đời.
- Từ đề tài, cảm hứng đến chất liệu đến giọng điệu, bút pháp, Tràng giang vừa mang phong vị thi ca cổ điển vừa mang chất hiện đại của Thơ mới.
- Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại cũng là nét đặc trưng của phong cách Huy Cận.
2 Đây thôn Vĩ Dạ
Hàn Mạc Tử
I XUẤT XỨ
Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ điên (vể sau đổi thành Đau thương)
Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một
cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi xứ Huế thơ mộng và trữ tình
II KHÁI QUÁT VÉ BÀI THƠ
Bài thơ được viết năm 1938, khi Hàn Mặc Tử đã mắc căn bệnh nan y Thi phẩm được
in trong tập Thơ điên, được khơi nguồn cảm hứng từ tấm bưu ảnh mà Hoàng Thị Kim Cúc (cô gái thôn Vĩ mà thi sĩ đã yêu, một mối tình đơn phương) gửi cho ông Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn, gồm ba khổ thơ
III PHÂN TÍCH
1 Khổ thơ đầu
Mở đẩu đoạn thơ (cũng là mở đầu bài thơ) là một câu hỏi:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Câu hỏi vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của người con gái thôn Vĩ (mà tác giả tưởng tượng ra) vừa là lời tự vấn sao không vể Vĩ Dạ của nhà thơ Câu thơ mang giọng điệu của một lời mời gọi tha thiết về thôn Vĩ, vừa nhẹ nhàng vừa dễ thương như một duyên
Trang 8cớ gợi nhớ những hình ảnh của thôn Vĩ ngày nào trong kí ức nhà thơ – một thời từng là cậu học trò trường Pe-lơ-ranh xứ Huế với trái tim đa cảm
Hãy về thôn Vĩ, bởi thôn Vĩ là bức tranh thiên nhiên tràn ngập sức sống:
Nhìn nắng hàng cau nắng môi lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Cảnh thôn Vĩ đẹp nhất là vào những buổi bình minh với những ánh nắng hổng đầu tiên trong ngày Nắng mới lên là nắng đầu tiên của một ngày mới mẻ, ấm áp Không phải là nắng ban mai, hay nắng mai,… như cách nói thông thường Chữ mới tô đậm cái trong trẻo, tinh khiết của những tia nắng đầu tiên trong ngày Thi nhân như đã theo nắng mới lên mà vê’ với Vĩ Dạ
Đặc trưng của thôn Vĩ Dạ là những hàng cau thẳng tắp Cau là cây cao nhất trong vườn nên sớm đón được những tia nắng đầu tiên của một ngày Vì thế, nắng hàng cau là nắng thanh tân, tinh khôi
Câu thơ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc cất lên như một tiếng reo vui, một lời xuýt, xoa của thi nhân trước vẻ đẹp vô ngần của thôn Vĩ Từ “mướt” như ánh lên vẻ mượt
mà, óng ả, đầy xuân sắc, một màu xanh mỡ màng, tràn trề nhựa sống của Vĩ Dạ “Xanh như ngọc” là màu xanh lung linh, ngời sáng, long lanh
Ở hai câu thơ này, cả vườn thôn Vĩ được tắm gội bởi sương đêm, đang chìm trong giấc ngủ thì được đánh thức và bừng lên trong ánh nắng hổng ban mai Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên, đến khi ngập tràn thì nó biến cả khu vườn thành một đảo ngọc giữa chốn “nước non thanh tú” của quê hương xứ sở
Đến câu thơ cuối, cảnh thôn Vĩ càng đẹp hơn khi có sự xuất hiện của con người:
Lá trúc che ngang mặt chữ điên.
Lâu nay, “mặt chữ điền” vẫn được hiểu là khuôn mặt đàn ông Tuy nhiên, trong ca dao miền Trung, “mặt chữ điển” cũng để chỉ khuôn mặt đẹp phúc hậu, khả ái của người phụ nữ: Mặt má bầu ngó lâu muốn chửi/ Mặt chữ điên tiền rưỡi cũng mua Gương mặt chữ điền vuông Yắn ấy xuất hiện đằng sau vẻ mảnh mai, thanh tú của “lá trúc” Hình ảnh
“lá trúc che ngang mặt chữ điền” vì thế càng làm tăng thêm vẻ sinh động của bức tranh thôn Vĩ, bởi ở đây thiên nhiên và con người hài hoà với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng và thơ mộng
Trong thơ, ngoại cảnh cũng là nội tâm Đặt bức tranh thôn Vĩ đẹp trong nỗi niềm của thi nhân hướng về người con gái Vĩ Dạ mà tác giả đang thẩm thương trộm nhớ, ta hình dung được tâm trạng của nhà thơ Đó là niềm vui khi nhận được tín hiệu tình cảm của người trong mộng (tất nhiên đây chỉ là cảm nhận của Hàn Mặc Tử), là niềm hi vọng loé sáng về tình yêu, hạnh phúc
-> Đọc khổ thơ đầu ta cảm nhận được bức tranh thôn Vĩ đẹp, tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm và đầy sức sống Đồng thời, đó cũng là niềm hi vọng hạnh phúc của thi nhân
2 Khổ thơ thứ hai
Trong khổ thơ thứ hai, nhà thơ đặc tả cảnh sông nước mây trời xứ Huế, đổng thời bộc
lộ một niềm hoài vọng bâng khuâng
Trang 9Ở hai câu thơ đầu, bức tranh hiện ra là khung cảnh thiên nhiên ban ngày của xứ Huế:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Cảnh ở đây vừa có nét đẹp hoang sơ, dân dã, vừa có nét “cung đình” Gió, mây và dòng nước đều được nhân hoá để trở nên có hổn, sinh động “Gió theo lối gió, mây đường mây” ngắt nhịp 4/3 với hai vế tiểu đối gợi tả một không gian gió, mây chia lìa, đôi đường, đôi ngả như một nghịch cảnh đầy ám ảnh Lẽ thường thì “gió thổi mây bay”, phải chăng mặc cảm chia lìa đã chia xa cả những thứ vốn không thể chia tách?
– Nhà thơ còn nhân hoá con sông thành một sinh thể có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chính mình Hương giang không thể tự buồn mà bởi thi nhân đã “nhuốm buồn vào lòng sông” Động thái “lay” tự nó không vui cũng chẳng buồn, nhưng trong hoàn cảnh này, nó lại gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng Nhịp điệu câu thơ chậm rãi như điệu “slow tình cảm dành riêng cho Huế’ (Hoàng Phủ Ngọc Tường) càng làm cho nỗi niềm thêm
da diết Hoá ra, không phải “dòng nước buổn thiu” mà chính “thi nhân buổn thiu” – Ở hai câu thơ sau, dòng Hương Giang vê’ đêm hiện lên ngập tràn ánh trăng:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử, kết tinh rực rỡ bút pháp tài hoa, lãng mạn Cả dòng sông như được dát bạc, ánh lên, lộng lẫy và cũng huyền ảo lung linh Nếu “thuyền ai” gợi bao ngỡ ngàng, bâng khuâng, vừa quen vừa lạ, man mác như điệu
hò xứ Huế thì hình tượng “sồng trăng” lại như một nét vẽ thơ mộng, chất chứa cái thẩn thái, linh hồn của cảnh sắc thiên nhiên xứ sở Sự kết hợp giữa “thuyền ai” và “sông trăng” đã tạo nên một hình tượng đẹp thi vị, gợi tả vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng, thân thương của Huế
– “Thuyền”, “bến”, “trăng” là những biểu tượng về người con trai, con gái và hạnh phúc lứa đôi Trăng là nhân chứng cho đôi lứa nguyện thề Khi xưa, trong vườn Thuý ngập đầy ánh trăng, Kim – Kiều đã giao ước, thê’ nguyền Trong ca dao, tình duyên của nam nữ cũng được giãi bày, ướm hỏi dưới trăng: Đêm trăng thanh anh mối hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàng nền chăng?… Thuyền chở trăng là chở tình yêu Bến trăng là bến bờ hạnh phúc Liệu con thuyền tình yêu có vượt thời gian để kịp cập bến bờ hạnh phúc hay không? Câu hỏi chất chứa bao niềm khắc khoải, sự chờ đợi mỏi mòn tình yêu, hạnh phúc của thi nhân Ấn trong đó còn có sự mông lung, hồ nghi, thất vọng
-> Khổ thơ thứ hai vẽ nên bức tranh xứ Huế ảm đạm, nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi, yếu ớt nhưng cũng huyền ảo, thơ mộng, đồng thời toát lên những dự cảm hạnh phúc chia xa của nhà thơ
3 Khổ thơ cuối
Hồn thơ say dần, từ chỗ có nhiều hình ảnh thực (khổ 1), đến chỗ mơ hồ (khổ 2), bài thơ kết thúc ở khổ thứ ba với những hình ảnh, cảm xúc thật sự huyền bí
– Trước hết là ở câu thơ đầu:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Khách đường xa là ai? Cầu thơ lặp lại hình ảnh ấy hai lần Và hơn nữa, hình ảnh đầy ấn tượng nhưng vô cùng mơ hồ ẫy lại đứng cạnh một từ càng mơ hồ, bí ẩn hơn chính nó –
Trang 10Có thể khách đường xa là người đang sống ở Vĩ Dạ, cũng có thể là chính nhà thơ Không ai có thể giải thích nổi, và cũng không cẩn giải thích Chỉ biết rằng, khách đường xa được điệp lại gợi khoảng cách xa xôi, sự cách trở Hình ảnh thơ rất ám ảnh người đọc và nó cũng như ma lực khiến ta cảm thấy câu thơ ấy thật hay mà không thể thay thế
– Những câu thơ sau cũng có vẻ đẹp mơ hồ, huyền ảo nhưng dù sao cũng “hợp lí” hơn:
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đày sương khói mờ nhân ảnh
Áo em có phải là áo của người con gái xứ Huế, hay là áo của người ở thôn Vĩ? Trắng quá nhìn không ra, thi nhân như đang sổng trong ảo giác, không phải nhìn bằng mắt thường Đến cụm từ sương khói mờ nhân ảnh thì câu thơ càng cho thấy rõ hơn rằng cảnh vật và con người đã chìm dần vào mờ ảo
– Điểu bí ẩn nữa lại nằm ở câu thơ cuối:
Ai biết tình ai có đậm đà?
Đó lại là một câu hỏi tu từ, và dẫu không thể trả lời, ta vẫn thấy câu hỏi ẩy thống nhất với mạch cảm xúc chung của cả bài thơ: mở đầu và kết thúc đểu là câu hỏi Cả bài thơ
là một câu hỏi lớn không cần ai giải đáp Có điểu, ở câu hỏi cuối này nó biểu hiện chút hoài nghi với tình yêu của ai kia (người xứ Huế), hoài nghi nên mới hỏi Câu thơ còn cho thấy nỗi niềm thiết tha YỚi tình yêu, với cuộc đời của nhà thơ
-> Ở khổ thơ cuối, hiện thực được cảm nhận, miêu tả trong cái hư ảo, mờ nhoè, càng lúc càng chìm dần vào cõi mộng Thi nhân cảm nhận càng rõ nét khoảng cách xa xôi, cái hư ảo của tình yêu, hạnh phúc
IV ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT
– Sử dụng nhiều từ giau sức gợi tả:
+ Từ “mướt” trong cầu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” “Mướt” là tính từ gợi
tả sự bóng láng và mỡ màng, mềm mại trên bề mặt của thực vật, nhìn thấy thích mắt Chỉ một chữ ấy thôi mà đã gợi tả được vẻ đẹp tinh khôi tràn đẩy sức sống của cảnh vườn “Mướt” kết hợp với “quá” càng làm tăng thêm sắc thái biểu cảm của từ này + Từ “buồn thiu” trong câu thơ “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” gợi nét buồn với vẻ thất vọng, mất hứng thú
+ Từ “lay” thể hiện trạng thái chuyển động không ngừng, nhưng ở đây còn nhuốm sắc buồn từ sự chia li của cảnh vật, còn gợi cái oi ả, ảm đạm của một trưa vắng
+ Chữ “kịp” gợi nỗi niềm của thi nhân, một dự cảm vê’ tương lai, một lối sống vội vàng
để hưởng thụ được những gì tối thiểu nhất của cuộc đời, từ đó cho thấy vẻ đáng thương, tội nghiệp, đau khổ của con người
– Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ sử dụng rất nhiều từ phiếm chỉ:
+ “Vườn ai”, “thuyền ai”, “ai biết”, “tình ai”: Những phiếm chỉ “ai” có tác dụng làm nhòe mờ các từ đi cùng nó, cho cảm giác như cuộc sống và tình yêu, những gì thi nhân đang hướng tới, đang khao khát cũng nhòa dẩn đi, mờ dần đi