1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI CẤP GCNQSDĐ

23 1,5K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Khoa Học Của Đăng Ký Đất Đai Cấp GCNQSDĐ
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 30,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II- SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Quản lý Nhà nước đối với đất đai là hoạt động cần thiết trong giai đoạn hiệnnay do các yêu cầu sau: 1- Do xuất hiện các khuyết tật của n

Trang 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI CẤP GCNQSDĐ, I- VAI TRÒ CỦA ĐẤT ĐAI:

1- Xét trên khía cạnh chính trị:

Đất đai là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, nói đến chủ quyền của quốcgia người ta nghĩ đến những bộ phận cấu thành bao gồm: vùng trời, vùng biển vàđất liền Xác định quy mô, diện tích, ranh giới đất đai của một đất nước tức là xácđịnh độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền của quốc gia đó

2- Về mặt tự nhiên:

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên xuất hiện trước lao động, là điều kiệnchung của lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của

xã hội loài người, nếu không có đất đai sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào

và sẽ không có sự tồn tại của loài người Vì vậy đất đai là điều kiện ban đầu đểđảm bảo cho sự sống của các loài động, thực vật và con người trên trái đất

Đất đai còn là nguyên vật liệu cho một số ngành công nghiệp xây dựng như:sản xuất gạch ngói, xi măng hay khai thác các vật liệu đơn thuần cho xây dựng

như: vôi, cát, sỏi

3.2 Đất đai kết hợp với các điều kiện tự nhiên khác như khí hậu, thuỷ văn, địa hình trở thành một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên các

vùng kinh tế - sinh thái, tạo nên những đặc điểm, lợi thế riêng cho từng vùng Dựavào những đặc điểm đó cần xây dựng các chiến lược nhằm khai thác hợp lý và hiệuquả các lợi thế Nước ta hiện nay chia làm chia làm 8 vùng kinh tế sinh thái trên cơ

Trang 2

sở các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Vùng Đông Bắc Bộ; Tây Bắc Bộ; khubốn cũ (Bắc Trung Bộ); Duyên Hải miền Trung (Nam Trung Bộ); Tây nguyên;Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long.

3.3 Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội.

Tuy vậy đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế quốc dân, đất đai lại có vị tríkhác nhau

Đối với ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp) đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng nó không chỉ là chỗ đứngchỗ dựa để lao động mà đất đai còn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng sinhtrưởng, phát triển Đất đai vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động: là tưliệu lao động, con người lợi dụng các tính chất cơ lý hoá của đất tác động lên câytrồng nhằm tạo ra sản phẩm nuôi sống bản thân Là đối tượng lao động, con ngườicùng với kinh nghiệm và khả năng lao động của mình kết hợp với các công cụ laođộng thích hợp cải tạo làm tăng độ mầu mỡ, phì nhiêu của đất đai

Đối với các ngành công nghiệp, xây dựng đất đai đóng vai trò là chỗ đứng,chỗ dựa cho sản xuất là địa điểm để xây dựng các công trình

II- SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Quản lý Nhà nước đối với đất đai là hoạt động cần thiết trong giai đoạn hiệnnay do các yêu cầu sau:

1- Do xuất hiện các khuyết tật của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng đến sự phân bổ các nguồn lực của xã hội trong đó có đất đai:

Nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường rất đa dạng và phức tạp, nóhàm chứa trong đó cả những mặt tích cực và những mặt tiêu cực Trong một giớihạn nào đó nền kinh tế thị trường có thể tự điều tiết một cách hoàn hảo nền kinh tế,phân bổ các nguồn lực của sản xuất xã hội một cách hợp lý dưới sự tác động củacác quy luật kinh tế: Quy luật giá trị, quy luật lưu thông, quy luật cạnh tranh, quyluật cung - cầu Kích thích sự phát triển khoa học công nghệ, kích thích sản xuất

Trang 3

phát triển, tăng năng suất lao động tạo ra sự chuyên môn hoá và phân công laođộng trong sản xuất, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng caohiệu quả trong sử dụng đất đai Tuy nhiên bên cạnh đó khi mà nền kinh tế pháttriển đến một giới hạn nhất định thì cơ chế thị trường cũng bộc lộ các khuyết tậtvốn có của nó Khi đó các nguồn lực xã hội trong đó có đất đai không được phân

bổ một cách hợp lý trên phạm vi xã hội như đầu cơ, tích tụ đất đai trong tay một sốngười gây ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, đồng thời cũng nảy sinh các tiêucực khác như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước ônhiễm đất đai làm ảnh hưởng đến sản xuất đặc biệt nó ảnh hưởng trực tiếp và lâudài đối với sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến điều kiện sống và làm việc củacon người

Vì vậy để đảm bảo phân bổ hợp lý nguồn lực đất đai cũng như để bảo vệ,chống ô nhiễm môi trường, ô nhiễm đất đai cần thiết phải có các tác động của Nhànước trên giác độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nói chung và đối với đất đai

2- Yêu cầu của các tác nhân tham gia thị trường đất đai và yêu cầu của quá trình xúc tiến cho sự hình thành và phát triển của thị trường bất động sản.

Giống như các thị trường khác trong nền kinh tế thị trường, thị trường đấtđai cũng có các tác nhân tham gia trong đó có hai tác nhân quan trọng quyết địnhcho những hoạt động, giao dịch chính trên thị trường là người cung cấp và người

sử dụng đất

Người cung cấp đất đai cho thị trường là những tổ chức, cá nhân được Nhànước giao quyền sử dụng đất, được nhận thừa kế về đất nhận chuyển nhượng,chuyển đổi hợp pháp; tổ chức, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất nhưng khônghoặc chưa có nhu cầu sử dụng và sẵn sàng đem quỹ đất đó giao dịch trên thịtrường đất đai

Trang 4

Người sử dụng đất (người có cầu về đất): bao gồm các tổ chức cá nhân cónhu cầu sử dụng đất nhằm mục đích sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà ở hay sửdụng vào các mục đích khác phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Để đảm bảo cho các hoạt động giao dịch kinh doanh dất đai diễn ra thuận lợi

và tuân theo một quy tắc, trật tự nhất định đòi hỏi Nhà nước phải ban hành cácchính sách, văn bản nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho quản lý thống nhất ởtầm vĩ mô đối với các hoạt động kinh doanh có đối tượng đặc biệt là đất đai - mộttài nguyên quốc gia quý giá

Quản lý Nhà nước về đất đai tạo điều kiện cho các tác nhân tham gia có thểthực hiện được những quyền lợi của mình cũng như phải thực hiện các nghĩa vụđối với Nhà nước Hiện nay luật đất đai 2001 đã cho phép người sử dụng hưởng 6quyền: quyền sử dụng; quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng, quyền thừa kế;quyền thế chấp; quyền cho thuê và cho thuê lại; quyền góp vốn bằng giá trị quyền

sử dụng đất để liên doanh, liên kết đã thúc đẩy các quan hệ về đất đai trên thịtrường

Tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX tháng

4 năm 2001 nêu rõ; thúc đẩy sự hình thành phát triển và từng bước hoàn thiện cácloại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặc biệt là những thị trường chưa

có hoặc còn sơ khai: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bấtđộng sản, thị trường khoa học công nghệ hình thành và phát triển thị trường bấtđộng sản bao gồm cả quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, từng bước

mở rộng thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài, người nướcngoài tham gia đầu tư tại Việt Nam

Đất đai cho xây dựng nhà ở là nhu cầu cần thiết của con người đồng thời

nó cũng là bộ phận cấu thành cơ bản tạo nên bất động sản Theo khái niệm về bấtđộng sản quy định tại Bộ luật dân sự (1995) thì bất động sản là những tài sảnkhông thể di dời bao gồm:

Trang 5

- Đất đai

- Nhà ở và các công trình trên đất

- Các tài sản khác gắn liền với đất

Qua khái niệm trên thị trường đất đai là yếu tố quan trọng để hình thành tàisản bất động sản Ở nước ta thị trường bất động sản đang từng bước được côngnhận và dần hình thành đi vào hoạt động chính thức Trước đây thực ra thị trườngnày vẫn tồn tại ở dạng chưa chính thức do chưa được Nhà nước ta công nhận vìkhông cho phép mua bán kinh doanh đất đai, người muốn mua bán đất trước đâyđều núp dưới danh nghĩa mua, bán nhà trên đất Luật đất đai 1993 ra đời cho phépngười sử dụng được chuyển nhượng đất và đại hội Đảng lần thứ VIII đã cho phép

sự hoạt động của thị trường này Để có thể đảm bảo cho thị trường bất động sảnnói chung và thị trường đất đai nói riêng hoạt động có hiệu quả theo định hướng xãhội chủ nghĩa thì cần thiết phải có sự quản lý điều hành của Nhà nước ở tầm vĩ mô

3- Do yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước đòi hỏi phải có chiến lược

và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cân đối hợp lý.

Các quy luật kinh tế trong cơ chế thị trường có thể phân bổ hợp lý tàinguyên song chỉ ở một quy mô, phạm vi nhất định Để đảm bảo sử dụng hợp lý,cân đối hài hoà nguồn lực đất đai Nhà nước cần xây dựng các quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất cho phù hợp với các mục tiêu phát triển trong chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội

III- KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐĂNG KÝ - CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

1- Khái niệm

1.1 Khái niệm về đăng ký đất đai

Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy

đủ và cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mốiquan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà

Trang 6

nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp phápcủa người sử dụng đất.

Theo điều 33 luật đất đai 1993 và Điều 696 Bộ luật dân sự (1995) thì đăng

ký đất đai được thực hiện đối với toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước (gồm cả đấtchưa giao quyền sử dụng) và là yêu cầu bắt buộc mọi đối tượng sử dụng đất phảithực hiện trong mọi trường hợp: đang sử dụng đất chưa đăng ký, mới được Nhànước giao đất, cho thuê đất sử dụng; được Nhà nước cho phép thay đổi mục đích

sử dụng, chuyển quyền sử dụng đất đoặc thay đổi những nội dung quyền sử dụngđất đai đăng ký khác

Vì vậy đăng ký đất không chỉ dừng lại ở lập, hoàn thiện hồ sơ địa chính, cấpgiấy GCNQSDĐ, ban đầu mà còn thực hiện ở cả giai đoạn tiếp theo là đăng kýbiến động do trong quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế kéo theo nhữngvận động, biến đổi về sử dụng đất đai đó chính là việc người sử dụng thực hiện cácquyền sử dụng đất: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, quyền thừa kế; thế chấp:góp vốn giá trị quyền sử dụng đất Vì thế đăng ký đất đai còn được sử dụng đểtheo dõi những biến động về đất đai

1 3- Khái niệm hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính là hệ thống các tài liệu, số liệu, bản đồ sổ sách.v.v chứađựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội, pháp lý củađất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu

và đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2 Tầm quan trọng của đăng ký đất đai.

Trang 7

2 1 Đăng ký đất đai là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai.

Bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thực chất là bảo vệ lợi ích hợppháp của người sử dụng đất đồng thời giám sát họ trong việc thực hiện các nghĩa

vụ sử dụng đất theo pháp luật nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước và lợi ích củatoàn xã hội trong sử dụng đất

Thông qua lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ, đăng ký đất quy địnhtrách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong chấp hành phápluật về đất đai Qua công tác này Nhà nước cho phép người sử dụng đất thực hiệnquyền sử dụng và bảo vệ họ khi có tranh chấp, lấn chiếm, xâm phạm đất đồng thờiquy định trách nhiệm của người sử dụng đất như các nghĩa vụ tài chính nghĩa vụbảo vệ đất sử dụng đất hiệu quả

2 2 Đăng ký đất đai là điều kiện đảm bảo để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ, đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy

đủ, tiết kiệm, hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất.

Để quản lý đất đai chặt chẽ Nhà nước cần thiết lập một hệ thống các thôngtin về đất đai như về diện tích, chủ sử dụng, mục đích sử dụng, hạng đất, hình thểkích thước và những biến động liên quan đến đất đai Tất cả các thông tin đó chỉ cóthể có được nhờ công tác đăng ký đất đai, công tác đăng ký đất đai được thực hiệntốt đúng quy định thì các thông tin mới chính xác và công tác quản lý mới đạt hiệuquả cao đảm bảo quản lý, chặt chẽ, nếu thực hiện không tốt thì trong quả trìnhquản lý Nhà nước sẽ không có đủ thông tin cần thiết do đó hiệu quá thấp và ảnhhưởng nhiều cho các hoạt động kinh tế - xã hội có liên quan

2.3 Đăng ký đất đai là một nội dung quan trọng có quan hệ hữu cơ với các nội dung, nhiệm vụ khác của quản lý Nhà nước về đất đai

Đăng ký đất đai sẽ thiết lập nên hệ thống hồ sơ đia chính và cấp GCNQSDĐvới đầy đủ các thông tin về tự nhiên - kinh tế - xã hội của từng thửa đất Hệ thống

Trang 8

các thông tin đó chính là sản phẩm kế thừa từ việc thực hiện các nội dung, nhiệm

vụ quản lý Nhà nước về đất đai khác như:

- Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng đất.Các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng đất là cơ sở pháp lý cho việc đăng kýthực hiện đúng thủ tục, đúng đối tượng, đúng quyền và nghĩa vụ sử dụng đất

- Công tác điều tra, đo đạc: kết quả điều tra đo đạc là cơ sở khoa học chocung cấp các thông tin về vị trí, diện tích cho đăng ký đất đai

- Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: Kết quả quy hoạch và kếhoạch sử dụng đất là căn cứ khoa học định hướng cho giao đất Quy hoạch, kếhoạch được lập tốt sẽ giảm được những biến động do vi phạm nên có ảnh hưởngđến đăng ký đất đai làm cho công tác đăng ký đất đai thuận lợi hơn

- Công tác giao dất, cho thuê đất: là cơ sở pháp lý ban đầu để người đượcgiao đất, thuê đất thực hiện các nghĩa vụ tài chính và sau đó người sử dụng đất phảiđăng ký vào hồ sơ địa chính sử dụng đất Quyết định giao đất, cho thuê đất là cơ sởpháp lý của người sử dụng khi đăng ký

- Công tác phân hạng và định giá đất Kết quả phân hạng định giá đất là cơ

sở cho xác định trách nhiệm tài chính của người sử dụng đất; đồng thời là cơ sở đểxác định trách nhiệm của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng

- Công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất đai Trong quá trình đăng

ký ban đầu, công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất đai có vai trò quan trọnggiúp xác định đúng đối tượng được đăng ký và đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ

Mặt khác hoàn thành tốt nhiệm vụ đăng ký đất đai không chỉ tạo nên tiền đề

mà còn là cơ sở hết sức cần thiết cho thực hiện các nội dung quản lý khác Kết quảđăng ký đất cung cấp những thông tin đầy đủ, chính xác về thực trạng tình hình sửdụng đất để đánh giá và đề xuất bổ sung hoặc điều chỉnh các chủ trương chínhsách, chiến lược quản lý và sử dụng đất, hồ sơ địa chính còn là căn cứ đầy đủ, tincậy nhất cho công tác giao đất và thu hồi đất, công tác phân hạng định giá đất,

Trang 9

công tác thông kê đất đai Thông qua đăng ký đất chất lượng tài liệu đo đạc sẽđược nâng cao do những sai sót tồn tại được người sử dụng phát hiện và đượcchỉnh lý hướng hoàn thiện Kết quả đo đạc và thống kê đát đai được pháp lý hoágắn với quyền của người sử dụng đất được giao sẽ trở nên có hiệu quả thiết thựctrong thực tiễn quản lý đất.

2.4 Đăng ký đất góp phần hình thành thị trường bất động sản:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các loại thị trường cũng dần hìnhthành và phát triển trong đó có thị trường bất động sản, Trước đây ở nước ta thịtrường bất động sản chỉ tồn tại ở dạng bất hợp pháp (thị trường ngầm) do quy địnhcủa pháp luật không cho phép mua bán đất đai Tuy nhiên hiện nay đại hội Đảnglần thứ IX chỉ rõ: "hình thành đồng bộ các loại thị trường trong đó có thị trường bấtđộng sản" Do đó đăng ký đất đai đầy đủ sẽ tạo ra sự quản lý chặt chẽ thị trườngnày tránh tình trạng đầu cơ đất và làm giảm hiện tượng mất cân đối cung cầu về đấtđai đặc biệt sự mất cân đối cung cầu đất đai các đô thị, trung tâm thương mại

3- Một vài nét về lịch sử đăng ký đất đai ở Việt Nam

3.1- Sơ lược lịch sử đăng ký đất đai ở Việt Nam trước năm 1945

- Sổ "địa bạ" thời Gia Long: Được lập cho từng xã, phân biệt rõ đất côngđiền, đất tư điền của mỗi xã trong đó ghi rõ đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng hạng

để tính thuế

- Sổ "địa bộ" thời Minh Mạng: năm thứ 17 (1836) triều Minh Mạng, triềuđình cử một khâm sai lo việc lập "điền bộ" sau đổi thành "địa bộ" tại Nam Kỳ Hệthống này được lập tới từng làng, xã và đã có rất nhiều tiến bộ so với sổ địa bạ thờiGia Long Sổ địa bộ được lập trên cơ sở đạc điền với sự chứng kiến đầy đủ của cácchức việc trong làng: Chánh tổng tri huyện và điền chủ

- Dưới thời pháp thuộc có các chế độ sau:

3.1.1 Chế độ điền thổ tại Nam Kỳ.

Trang 10

Chế độ địa bộ được bắt đầu thực hiện từ cuối thế kỷ XIX ban đầu chủ yếu là

kế thừa tu chỉnh hệ thống địa bộ thời Minh Mạng Từ 1911 hệ thống này đượccủng cố và hoàn thiện: có bản đồ giải thửa kèm theo; nội dung sổ địa bộ phải ghinhận đầy đủ các văn kiện về chuyển quyền, lập quyền, huỷ quyền và án toà Từnăm1925 Chính phủ Pháp chủ trương thiết lập một chế độ bảo thủ điền thổ thốngnhất theo sắc lệnh 1925 thay thế chế độ địa bộ và chế độ để đương tồn tại songhành trước đây Sắc lệnh này được triển khai áp dụng dần ở Nam Kỳ Nét nổi bậtcủa chế độ này là: Bản đồ giải thửa được đo đạc chính xác (theo phương pháp hiệnđại nhất thời bấy giờ) và sổ điền thổ thể hiện mỗi trang sổ cho một lô đất của mỗichủ đất trong đó ghi rõ: Diện tích sắc đất, nơi toạ lạc, giáp ranh, biến động tănggiảm lô đất, tên chủ sở hữu, điều liên quan đến quyền sở hữu, cầm cố và để đương.Điền chủ sau khi đăng tịnh, được cấp bằng khoán điền thổ Tuy nhiên do triển khaichậm, nên kể từ sau sắc lệnh 1925 vẫn song song tồn tại hai chế độ địa bộ và điềnthổ

3.1.2 Chế độ quản thủ địa chánh tại Trung kỳ

Thực hiện từ những năm1930 theo nghị định 1358 của toà khâm sứ

trung kỳ (gọi là công tác bảo tồn điền trạch) đến 1939 đổi thành quản thủ địa chínhtheo nghị định 3138 ngày 14/10/1939 Tài liệu theo chế độ này gồm có bản đồ giảithửa, sổ địa bộ, sổ điền chủ bộ và tài chủ bộ và hệ thống sổ địa bộ được thành lậptheo trình tự, thủ tục công việc khá chặt chẽ

3.1.3 Chế độ điền thổ và quản thủ địa chính tại Bắc kỳ

Công tác đạc điền bắt đầu thực hiện từ 1889 Giai đoạn từ 1889 đến 1920thực hiện lập bản đồ đo đạc chủ yếu phục vụ mục đích thu thuế Sau năm 1920 cóchủ trương đo đạc chính xác và lập sổ địa bộ để thực hiện quản thủ địa chính Dođất đai miền Bắc manh mún nên bộ máy chính quyền khi đó cho triển khai cùnglúc cả hình thức đo đạc chính xác và hình thức đo đạc lập lược đồ đơn giản 1/1000

và lập sổ sách để tạm quản lý đất đai

Trang 11

- Đối với đo lược đồ đơn giản, hồ sơ gồm có: bản lược đồ giải thửa (chưađược chính quyền phê chuẩn); sổ địa chính (lập theo thứ tự thửa, ghi diện tích loạiđất, tên chủ, chuyển dịch và can khoản); sổ điền bộ lập theo chủ (ghi tên chủ và sốliệu các thửa của mỗi chủ); sổ khai báo để ghi các chuyển dịch đất đai Loại hồ sơnày do chưởng bạ mỗi xã giữ và thực hiện quản thủ địa chính Hai tháng một lầnchưởng bạ phải sao biến động trên bản đồ, sổ sách mang về Ty địa chính hiện cải

hồ sơ lưu tại đó

- Đối với đo vẽ bản đồ giải thửa chính xác hồ sơ gồm: Bản đồ giải thửa, sổđịa chính (có mẫu riêng cho các thành phố, thị xã) sổ khai báo để ghi các khai báo

và văn tự Tài liệu này được Công sử hoặc Thống sử phê chuẩn và do trưởng tyĐịa chính giữ và thực hiện quản thủ địa chính

3.2 Công tác đăng ký đất đai ở các tỉnh phía Nam dưới thời Mỹ - Ngụy.

Sau 1954 miền Nam Việt Nam nằm dưới ách cai trị của Mỹ - Ngụy nên vẫn

kế thừa và tồn tại ba chế độ quản thủ điền địa trước đây:

- Tân chế độ điền thổ theo sắc lệnh 1925

- Chế độ quản thủ địa bộ ở các địa phương thuộc Nam Kỳ đã hình thànhtrước sắc lệnh 1925

- Chế độ quản thủ địa chính áp dụng ở một số địa phương thuộc trung kỳ.Tuy nhiên năm 1962 chính quyền Việt Nam cộng hoà có sắc lệnh 124- CT

NT triển khai công tác kiến điền và quản thủ điền địa tại những địa phương chưathực hiện sắc lệnh 1925 do đó từ 1962 ở miền Nam có hai chế độ: Chế độ quản thủđiền địa và tân chế độ điền thổ theo sắc lệnh 1925

3.2.1 Tân chế độ điền thổ theo sắc lệnh 1925.

Được đánh giá là chặt chẽ, có hiệu quả nhất thời Pháp thuộc và vẫn được ưutiên triển khai mạnh để thay thế dần cho các hình thức quản thủ khác Nhưng đếnngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975), chế độ này mới chỉ thực hiện

Ngày đăng: 05/11/2013, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w