Hướng nghiên cứu này sẽ cung cấp một cái nhìn sâu hơn về quan điểm thể loại, thể loại văn học trung đại và thể loại trong tác phẩm Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng để xác định rõ h
Trang 1NGUYỄN THỊ HÒA
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI
NAM ÔNG MỘNG LỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thái Nguyên - Năm 2011
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S NGÔ GIA VÕ
Thái Nguyên - Năm 2011
Trang 3Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo của thầy Ngô Gia Võ, người trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn Qua đây, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Ngô Gia Võ và toàn thể thầy cô khác trong Khoa, trong Trường - những người đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân, những người đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thời gian vừa qua
Thái Nguyên, 10/ 08/ 2011
Học viên
Nguyễn Thị Hòa
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tôi thực hiện bằng sự nỗ lực của mình dưới sự hướng dẫn của thầy Ngô Gia Võ Những số liệu thống kê trong luận văn đều là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, đích thực của cá nhân tôi
Luận văn chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào
Tôi xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoà
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ TÁC GIẢ, VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI CỦA NAM ÔNG MỘNG LỤC 11
1.1 Tác giả Hồ Nguyên Trừng 11
1.1.1 Cuộc đời 11
1.1.2 Con người 12
1.1.3 Quan niệm về văn chương của tác giả 13
1.2 Văn bản Nam Ông mộng lục 18
1.2.1 Quá trình truyền bản nguyên tác chữ Hán 18
1.2.2 Quá trình hoàn chỉnh các bản dịch Quốc ngữ 19
1.3 Thể loại 20
1.3.1 Lí thuyết về thể loại và vấn đề thể loại trong văn học trung đại Việt Nam 20
1.3.2 Việc nghiên cứu thể loại của Nam Ông mộng lục 29
TIỂU KẾT 35
CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ VĂN SỬ TRONG NAM ÔNG MỘNG LỤC DƯỚI GÓC ĐỘ THỂ LOẠI 36
2.1 Những truyện kí có dấu ấn riêng 36
2.1.1 Những truyện ký viết về người thân của tác giả 36
2.1.2 Những truyện kí mang màu sắc tôn giáo 43
2.1.3 Những ghi chép về thơ của riêng tác giả 45
2.2 Những truyện kí có mối liên hệ với Đại Việt sử kí toàn thư 51
2.2.1 Tương quan về các sự kiện lịch sử 52
2.2.2 Tương quan về hệ thống nhân vật lịch sử 58
Trang 62.2.3 Tương quan về thời gian lịch sử 61
2.3 Những truyện kí có mối liên hệ với một số tác phẩm khác 64
2.3.1 Truyện “Dũng lực thần dị” 65
2.3.2 Truyện “Tăng đạo thần thông” và “Minh Không thần dị” 66
TIỂU KẾT 71
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM HỖN DUNG THỂ LOẠI TRONG TRUYỆN KÝ NAM ÔNG MỘNG LỤC 73
3.1 Những thiên truyện in đậm tính chất truyện ký 73
3.1.1 Người thực, việc thực 74
3.1.2 Tính chất ghi chép 85
3.2 Những thiên truyện có ghi chép thi thoại 88
3.2.1 Thi thoại trong Nam Ông mộng lục 88
3.2.2 Lời bình thơ trong Nam Ông mộng lục 98
3.3 Những thiên truyện có tính chất truyện 102
3.3.1 Kết cấu cốt truyện 102
3.3.2 Nhân vật 110
3.3.3 Ngôn ngữ 112
TIỂU KẾT 116
PHẦN KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 125
Trang 7Một trong những phạm trù quan trọng hàng đầu của Thi pháp học là thể loại Thể loại là “nhân vật trung tâm của văn học” như M Bakhtin đã khẳng định, nó còn được hiểu là “những quy tắc tổ chức hình thức văn bản thích hợp với nội dung văn
bản: hoặc có tính chất thơ, chất tiểu thuyết, chất kịch…” [48; 127- 129] Thể loại
văn học thuộc về phương thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể Thể loại được hình thành từ một giai đoạn lịch sử nhất định, vừa liên quan đến người sáng tác vừa liên quan đến người cảm thụ, lại biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội và văn học Thể loại là “mã chung để giao tiếp” giữa người kể và người nghe, tuy có những biến thể nhưng có những yếu tố hằng thể không thay đổi một khi đã định hình ổn định Không có một tác phẩm văn học nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của thể loại: một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một thiên kí, một bài thơ…Vì thế, khi nghiên cứu văn học người ta không thể bỏ qua việc nghiên cứu thể loại của tác phẩm văn học
Đây là hướng nghiên cứu quen thuộc, truyền thống, trên cơ sở những kết quả đạt được của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi thấy cần thiết phải tìm hiểu
chuyên sâu và hệ thống về thể loại của Nam Ông mộng lục Bởi đây là tác phẩm có
giá trị đặc biệt quan trọng trong nền văn xuôi tự sự chữ Hán thời kì văn học trung đại, được coi như bản lề khép lại văn xuôi thế kỉ X – XIV, mở ra cánh cửa cho văn
Trang 8xuôi tự sự thế kỉ XV – XIX Vì thế, chúng tôi quyết định chọn: Khảo sát đặc điểm
thể loại Nam Ông mộng lục làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình Hướng
nghiên cứu này sẽ cung cấp một cái nhìn sâu hơn về quan điểm thể loại, thể loại văn
học trung đại và thể loại trong tác phẩm Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng
để xác định rõ hơn vị trí và những đóng góp của nhà văn này trong nền văn học trung đại
1.2 Lí do thực tiễn
Nam Ông mộng lục được coi là một trong những tác phẩm văn học hải ngoại
đầu tiên có giá trị văn học và giá trị dân tộc sâu sắc Tuy sáng tác ở Trung Quốc và viết bằng chữ Hán nhưng tác phẩm lại được sinh thành từ trái tim của con người mà tâm hồn luôn hướng về quê hương đất nước Từ ấn tượng về hoàn cảnh ra đời đặc biệt và
nét độc đáo trong nghệ thuật của Nam Ông mộng lục, chúng tôi mong muốn trân trọng
đề cao những giá trị văn hóa của dân tộc và tri ân danh nhân Hồ Nguyên Trừng – người
đã có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực khoa học kĩ thuật và văn học
Một số thiên truyện trong Nam Ông mộng lục đã được đưa vào giảng dạy
trong nhà trường và có tính giáo dục cao Trước hết phải kể tới truyện “Y thiện
dụng tâm” trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 6, Tập 1 Là một trong những thiên
truyện tiêu biểu của tác phẩm này, “Y thiện dụng tâm” nhằm giáo dục cho các em học sinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc như lòng nhân ái, tinh thần xả thân vì người khác, sự cương trực thẳng thắn không sợ cường quyền…Bên cạnh đó, thông qua thiên truyện này, các em học sinh cũng sẽ được tiếp cận với những đặc trưng quen thuộc của truyện ký như tính chất “người thật việc thật”, viết về tấm
gương người tốt, lối ghi chép ngắn gọn, chân thực, tình huống truyện bất ngờ…
Một tác phẩm được ra đời từ rất lâu, viết theo quan niệm của con người thời trung
đại như Nam Ông mộng lục chắc chắn sẽ không dễ hiểu với các em học sinh Thiết
nghĩ, cần có một công trình nghiên cứu về đặc điểm thể loại để giúp giáo viên và
các em học sinh tiếp cận tác phẩm dễ dàng hơn
Hiện nay, hệ thống nhà trường cũng đang chú trọng dạy văn theo hướng đặc trưng thể loại Thể loại chi phối tất cả các yếu tố còn lại của hình thức tác phẩm
Trang 9Mỗi thể loại có một đặc điểm riêng và yêu cầu phân tích theo một phương pháp riêng Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa thường sắp xếp tác phẩm theo thể
loại Chẳng hạn, trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 9, Tập 2, học sinh được học và đọc
thêm liền mạch các truyện và các đoạn trích như: “Chuyện người con gái Nam
Xương” (Truyền kì mạn lục), “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (Vũ trung tùy bút), Hồi 14 (Hoàng Lê nhất thống chí), Truyện Kiều và Nguyễn Du, “Chị em Thúy Kiều”, “Cảnh ngày xuân”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
(Truyện Kiều), đi kèm với bài “Kiểm tra về truyện trung đại ” [60; 43-134] Mỗi khi
dạy tới một thể loại, sách giáo khoa thường nêu chú thích về đặc trưng của thể loại
đó Có một số thể loại được nói lướt qua nhưng cũng có thể loại cần phải học kỹ lưỡng tại lớp Ví dụ: Khi học bài “Chuyện người con gái Nam Xương” và bài
“Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh”, Sách giáo khoa Ngữ Văn 9, Tập 2, đặt ra câu
hỏi: Theo em, thể văn tùy bút có gì khác so với thể truyện mà các em đã học ở bài trước? [60; 63]…
Dạy học theo đặc trưng thể loại là hết sức cần thiết đối với tác phẩm văn chương trong nhà trường, nhất là đối với các tác phẩm văn học trung đại Những thể loại của văn học trung đại như: chiếu, biểu, hịch, cáo, phú…còn xa lạ với học sinh phổ thông Nhiều em chưa nắm được đặc điểm của những thể loại đó nên khó có thể
tiếp cận được với tác phẩm Chọn đề tài: Khảo sát đặc điểm thể loại Nam Ông
mộng lục một mặt do nhu cầu bản thân muốn được tìm về với những giá trị văn hóa
của dân tộc, mặt khác luận văn sẽ góp phần phục vụ giảng dạy tốt hơn môn Văn trong nhà trường, đặc biệt là phần văn học trung đại theo đặc trưng thể loại, phù hợp với sách giáo khoa Ngữ Văn hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Nam Ông mộng lục không phải là tác phẩm lớn nhưng lại rất có giá trị trong
nền văn học Việt Nam Tuy tác phẩm được viết ở Trung Quốc nhưng tấm lòng hướng về quê hương của tác giả lại được thể hiện khá sâu sắc Trong tác phẩm, cảnh vật, con người, cuộc sống, văn hóa tâm linh của người Việt được hiện lên bằng sự cảm nhận của một người xa xứ đã gợi ra sự hứng thú, hấp dẫn và cách đánh giá mới
Trang 10mẻ nơi độc giả Vì thế, tác phẩm đã trở thành đối tượng tìm hiểu của không ít các nhà nghiên cứu và công chúng văn học
Người được coi là khởi xướng cho việc nghiên cứu về Nam Ông mộng lục là
Lê Quý Đôn ở thế kỉ XVIII, trong sách Kiến văn tiểu lục: “…Xem trong Nam Ông
mộng lục (Lê Trừng nhà Minh biên soạn) có thể biết được thời đại nhà Trần có
những việc đặc sắc và việc truyền ngôi cho con” [18; 166- 169] Tuy nhiên, nhận
định này còn rất sơ lược và chưa đề cập tới thể loại của Nam Ông mộng lục Vì thế,
trong số những công trình khoa học được công bố liên quan tới tác phẩm Nam Ông
mộng lục, chúng tôi sẽ nêu một số công trình có đề cập tới thể loại của tác phẩm để
làm căn cứ đánh giá và đối chiếu
Tác giả Trần Văn Giáp được coi là người mở đầu cho các công trình nghiên
cứu về Nam Ông mộng lục của thời hiện đại Những ý kiến của ông đã trở thành khuôn mẫu cho nhiều nhà nghiên cứu, nhiều cuốn từ điển viết về Nam Ông mộng
lục Nhà nghiên cứu đã thống kê được 28 mục và tóm tắt nội dung sơ lược các mục
đó Ông cũng nhận xét về nội dung của tác phẩm này: “Trong sách Nam Ông mộng
lục, ông đã tỏ rõ lòng yêu nước và nhớ thương quê hương tha thiết” [22; 45- 49]
Quan trọng hơn, ông đã đề cập tới một số khía cạnh về nghệ thuật của tác
phẩm như: “Nam Ông mộng lục thuật lại một số sự việc có tính chất lịch sử thời Lí
Trần là thời gần gũi ông”, “một số thần thoại có vẻ hoang đường mê tín”, “một số mục nói về thơ và thi nhân”… [22; 45- 49] Qua những lời đánh giá ở trên, ta thấy nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp đã chú ý tới giá trị của tác phẩm nhưng cũng chưa dành nhiều quan tâm cho thể loại của nó
Trong bài viết “Hồ Nguyên Trừng mà cũng “quyến luyến quê hương”,
“không quên Tổ quốc ư?”, tác giả Trần Nghĩa có những đánh giá về Hồ Nguyên Trừng theo sự chi phối của các “yếu tố ngoài văn học” (coi Hồ Nguyên Trừng là kẻ phản bội Tổ quốc, về mặt văn học thì văn của ông không có giá trị ) song trong bài
viết lại bàn đến nhiều vấn đề của tác phẩm như: văn bản, mối quan hệ của Nam Ông
mộng lục với tác phẩm khác, động cơ sáng tác của Hồ Nguyên Trừng…
Đáng chú ý nhất là nhà nghiên cứu miêu tả khá cụ thể mối quan hệ của tác
phẩm này với các tác phẩm cùng thời như Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái
Trang 11lục, Thiền uyển tập anh, Việt âm thi tập, Đại Việt sử kí toàn thư với những mức độ
khác nhau: Ví dụ chép với nội dung tương tự, chép “tường giản” hoặc Nam Ông
mộng lục chép nhưng sách vở đương thời chưa nói tới… Từ đó, tác giả cũng nhận
thấy một số chương trong Nam Ông mộng lục có thể “bổ sung cho văn học và sử
học thời Lí Trần” [52; 21- 31] Tuy nhiên, tác giả cũng chưa quan tâm tới thể loại, chưa định danh được thể loại của tác phẩm này Dù sao, những nhận định của Trần Nghĩa cũng là những ý kiến vô cùng quý báu đối với việc nghiên cứu về thể loại của
Nam Ông mộng lục
Là một người chuyên nghiên cứu về văn học trung đại, Đinh Gia Khánh tìm
hiểu khá sâu về tác giả, hoàn cảnh ra đời và vị trí của Nam Ông mộng lục đối với
văn học giai đoạn này: “tác giả viết sách này với tâm trạng của một người đời Trần, Hồ” [39; 135-138]
Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh đã thống kê 28 thiên truyện và phân tích sự
phong phú về nội dung và hình thức của Nam Ông mộng lục: có những thiên “chép
sự kiện lịch sử”, „nét sinh hoạt về mọi mặt của xã hội”, về “việc liên quan đến tăng
lữ, đạo sĩ và tín ngưỡng”, về “sự việc kì lạ, lí thú”, lại có thiên “đề cập tới vấn đề
thơ văn” và ông so sánh để thấy nội dung của tác phẩm này đa dạng hơn Việt điện
u linh Ông cũng phân tích kĩ hai thiên truyện “Văn Trinh ngạnh trực” và “Y thiện
dụng tâm” nhằm làm sáng tỏ thêm về nghệ thuật của tác phẩm: “…nhân vật được miêu tả một cách sinh động…lời văn súc tích ngắn gọn như chép sử, nhưng lại có
tính chất linh hoạt” [39; 135-138]
Về nghệ thuật, Đinh Gia Khánh đánh giá đây là một truyện kí “…được viết
trong cuộc sống lưu vong ở nước ngoài, Nam Ông mộng lục vẫn có một vị trí nhất
định trong thể loại tự sự của thời kì lịch sử này” [39; 135-138]
Quan điểm của Đinh Gia Khánh đã thể hiện cách nhìn khá chính xác về thể
loại của Nam Ông mộng lục Điều đó đã góp thêm tiếng nói cho lịch sử nghiên cứu
vấn đề này Song về cơ bản, tác giả mới chỉ định danh chứ chưa nghiên cứu kĩ đặc
điểm thể loại của tác phẩm
Các tác giả Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường trong cuốn sách Từ điển
văn học Việt Nam đã giới thiệu cụ thể về cuộc đời của Hồ Nguyên Trừng và nêu
Trang 12hoàn cảnh ra đời, xuất xứ của Nam Ông mộng lục; thống kê 28 thiên truyện trong
tác phẩm Các tác giả dành khá nhiều công sức để mô tả nội dung chính của từng thiên truyện Nhận xét chính xác về nội dung của tác phẩm, các nhà nghiên cứu cho
rằng: “…Nam Ông mộng lục có một số dấu hiệu của người đứng ngoài (…) nhưng
chủ yếu vẫn là những hồi ức của một người xa xứ, muốn qua những ghi chép về việc cũ nước mình mà kí thác nỗi sầu xứ của mình, đồng thời cũng kín đáo bộc lộ
với các bậc thức giả ở Trung Hoa về một văn hóa không thua kém của nước mình”
[4; 227-230] Các tác giả cho rằng đây là “một hồi kí về thời Lí Trần với một số nét
về xã hội, lịch sử, văn hóa” [4; 227-230] Tuy nhiên, đặc điểm thể loại này như thế
nào thì tác giả chưa nêu cụ thể, còn rất sơ lược
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na dành nhiều tâm huyết cho Nam Ông mộng
lục Ông là người giới thiệu tác phẩm tới người đọc với đầy đủ 31 thiên truyện
Nguyễn Đăng Na còn đi sâu phân tích về văn bản, tác giả, thể loại, nội dung của tác phẩm này: “…Hồ Nguyên Trừng vẫn có một nỗi khắc khoải hướng về nơi chôn rau cắt rốn, nơi đã nuôi dưỡng ông suốt 33 năm trời từ thuở lọt lòng (1374) đến khi bị bắt và đã gửi hồn mình vào giấc “mộng” Nam Ông” [15; 28-36]
Tác giả Nguyễn Đăng Na quan tâm tới những đặc sắc trong Nam Ông mộng
lục Theo ông, đó là những truyện dị văn, truyện “người thật, việc thật” Bằng lối so
sánh liên tưởng độc đáo, ông viết như sau: “Như vậy, cánh bên này Hồ Nguyên
Trừng khép lại khuynh hướng nghệ thuật viết về truyện kỳ, dị, quái của giai đoạn thế kỉ X –XIV, còn bên kia 80% (25/31 truyện), ông lại mở ra cánh cửa mới, viết về người thật việc thật với mục đích biểu dương việc thiện của tiền nhân” Tác giả cũng phát hiện ra và đi sâu vào một vấn đề đặc sắc đó là những thi thoại mà “Trước
Hồ Nguyên Trừng kiểu loại truyện này chưa hề xuất hiện và sau ông cũng rất ít người quan tâm”
Là người nghiên cứu sâu về thể loại của Nam Ông mộng lục, khảo sát thống kê
số lượng chữ trong từng thiên truyện cụ thể, ông nhận thấy những thiên truyện trong
Nam Ông mộng lục có dung lượng rất ngắn Từ đó, ông rút ra kết luận: “Hồ Nguyên
Trừng là người đầu tiên viết truyện rất ngắn, kiểu mi-ni” [15; 28-36] Có thể nói,
cuốn sách Nam Ông mộng lục mà Nguyễn Đăng Na giới thiệu là công trình nghiên
Trang 13cứu toàn diện và sâu sắc nhất về tác phẩm này Tuy nhiên xác định thể loại Nam Ông
mộng lục là “truyện rất ngắn, kiểu mi- ni” cũng cần phải xem xét, bàn bạc thêm
Tác giả Nguyễn Huệ Chi đã giới thiệu về tác giả Hồ Nguyên Trừng và phân
tích kĩ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Nam Ông mộng lục Ông quan
tâm tới nhân vật của tác phẩm: “Đó là những con người thuộc đủ mọi tầng lớp khác
nhau” gồm những vị vua “hiếu thảo, cung kính cần kiệm và quả đoán”, những nhà nho “cương trực”, những dũng sĩ “trung nghĩa hết lòng”, những thầy thuốc “coi
trọng lương tâm hơn tính mạng”, những nhân vật tôn giáo “đầy uy tín và tài năng” Ông cũng nhận thấy giá trị của thi thoại “…một phần khoảng hơn mười bài cuối sách, có tính chất thi thoại và những đoạn bình luận thi ca ít ỏi của ông lại còn đặc
sắc hơn”
Nguyễn Huệ Chi cũng cho chúng ta thấy giá trị đặc sắc của tác phẩm này về mặt thể loại: “…Cuốn sách là một tập ghi chép về các mẩu chuyện “người thiện”,“người tài” của nước Đại Việt, những mẩu chuyện được hồi ức lại như những
giấc mơ về dĩ vãng của Hồ Nguyên Trừng…” [31; 638 -639] Như vậy, nhà nghiên
cứu Nguyễn Huệ Chi đã đề cập tới một số vấn đề có liên quan tới thể loại song chưa
nêu lên được đầy đủ đặc điểm thể loại của Nam Ông mộng lục
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn là người có những đóng góp không nhỏ
với việc nghiên cứu Nam Ông mộng lục Đồng quan điểm với Đinh Gia Khánh khi cho rằng Nam Ông mộng lục thuộc thể loại truyện ký, nhà nghiên cứu nhận xét:
“Trên thực tế, rõ ràng Nam Ông mộng lục là một tập truyện ký và ghi chép hồi ký
Tính chất truyện ký thể hiện ở việc tái hiện những nhân vật, sự kiện, chi tiết hiện thực trung thành với những điều mắt thấy tai nghe.” [66; 171] Tác giả cho rằng loại truyện ký có thể không là ghi chép trực diện mà chỉ nghe kể lại, hồi ức về quá khứ
Ở các thi thoại, tác giả còn phân tích tính chất dung hợp truyện ký – thơ khi nói rằng các bài thơ này có thể tồn tại trong các truyện nhưng vẫn có thể đứng độc lập,
tự thân
Với bài viết “Mối quan hệ văn sử trong tác phẩm Nam Ông mộng lục”, ông
đã thống kê, so sánh phân tích tỉ mỉ 31 thiên truyện trong tương quan với Đại Việt
sử kí toàn thư, miêu tả đầy đủ cụ thể mối quan hệ giữa hai tác phẩm này Tác giả đã
Trang 14nhận định: “có 6 truyện hầu như tương đồng, được chép nguyên dạng (số 2, 6, 12,
23, 24, 25); có 4 truyện được viết lại với mức độ nhiều ít khác nhau, có gia giảm, sắp xếp lại câu chữ (số 3, 9, 14, 17)…”
Qua bài viết, tác giả cho thấy những mối liên hệ mật thiết giữa văn học và lịch sử trong hai tác phẩm này bằng việc đưa ra nhận xét: “sự giao thoa, xuất nhập, chuyển hóa văn bản giữa tác phẩm văn học và sử học” [65; 3-10] để từ đó làm nổi
rõ thêm tính chất “văn - sử - triết bất phân” của văn học trung đại Như vậy, những
ý kiến của PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn là cơ sở quan trọng định hướng cho chúng tôi
nghiên cứu thể loại của Nam Ông mộng lục
Ngoài những nhà nghiên cứu kể trên, chúng tôi cũng không thể không nhắc tới nhiều nhà nghiên cứu khác như Nguyễn Phạm Hùng, Chu Quang Trứ, Tạ Ngọc
Liễn… đã có để tâm nghiên cứu về Nam Ông mộng lục Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về thể loại của tác phẩm Nam Ông mộng lục
Nhận xét chung của chúng tôi là các công trình nghiên cứu của Nguyễn Huệ Chi, Trần Văn Giáp, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Hữu Sơn…cũng mới chỉ định danh thể loại hoặc tìm hiểu một số khía cạnh trong thể loại (kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật
…) của Nam Ông mộng lục mà chưa phân tích, đánh giá trọn vẹn về đặc điểm thể
loại của tác phẩm Cho nên ở đề tài này, trên cơ sở định hướng nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu và tiến hành hệ thống
hóa những đặc điểm về thể loại của Nam Ông mộng lục, đưa ra những minh chứng
cụ thể để xác định thể loại tác phẩm một cách phù hợp Từ đó, chúng tôi hi vọng sẽ
góp thêm cách nhìn về thể loại của một tác phẩm văn xuôi trung đại, đánh giá rõ nét
hơn vị trí của Nam Ông mộng lục và tác giả Hồ Nguyên Trừng trong lịch sử văn học
dân tộc
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề văn bản Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng hiện nay vẫn còn
tiếp tục được khảo sát, nghiên cứu Do yêu cầu của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu
nghiên cứu đặc điểm thể loại của Nam Ông mộng lục Để thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi nghiên cứu trên văn bản Nam Ông mộng lục do Ưu Đàm – La Sơn (1999) soạn dịch, chú giải, Nguyễn Đăng Na giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội Có thể nói,
Trang 15đây là cuốn sách tập hợp có cơ sở khoa học và đầy đủ nhất các truyện trong Nam
Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng tính tới thời điểm này
Bên cạnh đó, để có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn, chúng tôi chọn nghiên cứu thêm trong một vài tác phẩm văn học Việt Nam trung đại và tư liệu lịch sử để so sánh như
Đại Việt sử kí toàn thư, Việt điện u linh tập, Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái lục…
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề sau:
- Giới thuyết về tác giả, văn bản và tác phẩm Nam Ông mộng lục làm cơ sở
nghiên cứu đặc điểm thể loại của tác phẩm này
- Tìm hiểu về mối quan hệ văn sử trong Nam Ông mộng lục với Đại Việt sử kí
toàn thư, với một số tác phẩm khác dưới góc nhìn thể loại và đánh giá giá trị của
mối quan hệ đó
- Tìm hiểu và đánh giá vai trò của đặc điểm hỗn dung thể loại trong Nam Ông
mộng lục
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số các phương pháp chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp thống kê
Ở đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát, thống kê toàn
bộ 31 thiên truyện trong Nam Ông mộng lục, làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá
về thể loại của tác phẩm này Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để
xử lý thông tin trong các tư liệu lịch sử, tư liệu văn học được sử dụng để chứng minh các luận điểm đã đưa ra
5.2 Phương pháp hệ thống
Thể loại của Nam Ông mộng lục được xem xét trong mối tương quan với toàn
bộ hệ thống nhân vật, với cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ… Chúng tôi sử dụng phương pháp
hệ thống nhằm mục đích giúp cho việc tìm hiểu thể loại của Nam Ông mộng lục có cái
nhìn sâu sắc, đầy đủ hơn
Trang 165.3 Phương pháp so sánh
Để thấy được các mối liên hệ đa dạng, đa chiều cũng như nét chung, nét
riêng độc đáo của thể loại tác phẩm Nam Ông mộng lục, luận văn sử dụng phương
pháp so sánh: So sánh, đối chiếu các truyện trong Nam Ông mộng lục với Đại Việt
sử kí toàn thư để thấy mối quan hệ văn sử trong các tác phẩm này Đồng thời, nếu
có điều kiện, chúng tôi cũng so sánh Nam Ông mộng lục với các một số tác phẩm
khác để tìm hiểu về nét tương đồng và dị biệt giữa chúng…
5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trước hết là phân tích, tổng hợp các cứ liệu đã khảo sát thống kê, từ đó rút ra
nhận xét ở các luận điểm Trên cơ sở đó, kết quả chung sẽ được tổng hợp ở phần
tiểu kết của các chương và phần kết luận của luận văn
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn hi vọng sẽ cung cấp một cái nhìn đầy đủ, hệ thống về thể loại trong
Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng Trên cơ sở đó, góp phần đưa đến cái
nhìn toàn diện hơn về tác phẩm Nam Ông mộng lục và vị trí của Hồ Nguyên
Trừng trong văn học trung đại Việt Nam
Tiếp tục phương hướng nghiên cứu những đóng góp về nội dung và hình thức
nghệ thuật của Hồ Nguyên Trừng với nền văn học Việt Nam
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phần Phụ lục, luận
văn chia làm ba chương:
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ TÁC GIẢ, VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI
CỦA NAM ÔNG MỘNG LỤC CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ VĂN SỬ TRONG NAM ÔNG MỘNG LỤC
DƯỚI GÓC ĐỘ THỂ LOẠI CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM HỖN DUNG THỂ LOẠI
TRONG TRUYỆN KÝ NAM ÔNG MỘNG LỤC
Trang 17PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ TÁC GIẢ, VĂN BẢN VÀ THỂ LOẠI
CỦA NAM ÔNG MỘNG LỤC
1.1 Tác giả Hồ Nguyên Trừng
1.1.1 Cuộc đời
Hồ Nguyên Trừng sinh năm 1374, còn gọi là Lê Trừng, tự Mạnh Nguyên, hiệu là Nam Ông Tổ tiên họ Hồ gốc ở Chiết Giang (Trung Quốc) làm quan ở Diễn Châu thời Ngũ Đại Qua 12 đời đến đời Hồ Liêm chuyển đến Đại Lại (Thanh Hóa)
Hồ Liêm làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn nên đổi sang họ Lê Đến Hồ Quý Ly là đời thứ tư Hồ Nguyên Trừng là con trưởng của Hồ Quý Ly, lớn lên ở Thăng Long Thanh Hóa, Thăng Long là những vùng đất địa linh nhân kiệt, Hồ Nguyên Trừng được tiếp nhận truyền thống văn hóa từ những vùng đất ấy
Hồ Nguyên Trừng sống trong gia đình quan lại phong kiến Gia đình cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới cuộc đời ông Cha làm quan dưới thời Trần Nghệ Tông, hơn nữa cha ông là người rất có tài (khởi xướng cuộc cách tân xã hội) Bản thân ông cũng làm quan dưới thời Trần, Hồ Năm 1393, ông làm Phán quan ở Thượng Lân
tự Năm 1399, giữ chức Tư đồ dưới triều vua Trần Thuận Tông Năm 1400, Hồ Quý
Ly lật đổ nhà Trần lên làm vua, sau đó nhường ngôi cho Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng giữ chức Tả tướng quốc Điều đó khiến ông am hiểu về cuộc sống của tầng lớp vua chúa, quý tộc, quan lại, trí thức phong kiến thời Trần, Hồ Sự xuất
hiện đậm nét của những nhân vật ấy trong Nam Ông mộng lục có thể là ám ảnh từ
những gì ông đã chứng kiến và hiểu biết
Năm 1406, giặc Minh sang xâm lược nước ta Trước nguy cơ ngoại xâm, triều đình nhà Hồ bàn bạc nên hòa hay nên đánh, Hồ Nguyên Trừng cùng cha và em tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống xâm lược Ông cũng là người tỉnh
táo, sáng suốt khi nhận định vấn đề lòng dân: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân
không theo thôi” Sau đó, Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã chống giặc ở cửa
biển Kỳ Anh (Hà Tĩnh) nhưng thất bại Năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ bị bắt về
Trang 18Trung Quốc Sự thất bại này đã được Hồ Nguyên Trừng nhận thấy từ trước Đó là một tất yếu lịch sử gắn liền với sự thất bại của công cuộc cải cách chính trị, kinh tế
do Hồ Quý Ly khởi xướng mà không được sự ủng hộ của nhân dân
Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương bị đưa về Kim Lăng (Trung Quốc) và bị xử cực hình Chỉ có Hồ Nguyên Trừng và Hồ Nhuế (con trai Hồ Hán Thương) được tha Từ tháng 5 năm 1407 đến tháng 7 năm 1446 là thời gian Hồ Nguyên Trừng sống ở Trung Quốc Nhờ có tài chế tạo súng thần công, ông được nhà Minh trọng dụng Ban đầu giữ chức Chủ sự, sau thăng dần lên Tả thị lang rồi đến Thượng thư
bộ Công Cũng trong thời gian này, ông viết cuốn Nam Ông mộng lục (hoàn thành
năm 1438) ghi lại hồi ức của ông về xã hội, con người Việt Nam dưới thời Lý – Trần – Hồ Năm 1446, ông qua đời, được an táng tại thôn Nam An Hà, vùng Sơn Tây (nay thuộc Bắc Kinh – Trung Quốc) - một vùng đất nổi tiếng mà không nhiều danh nhân Trung Quốc có vinh dự được an táng ở nơi này
1.1.2 Con người
Về con người Hồ Nguyên Trừng, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nhận định: “Với tình hình tư liệu hiện nay, chưa nên vội kết luận, có lẽ phải tìm hiểu thêm những người Việt Nam bị bắt khi đó, chẳng hạn như Tổng công trình sư Nguyễn An…xem thái độ của họ đối với triều Minh ra sao, trên cơ sở đó ta sẽ nhìn nhận Hồ Nguyên Trừng một cách đầy đủ và khách quan hơn” [15; 26] Tuy nhiên, với tài năng của Hồ Nguyên Trừng, chúng tôi thiết nghĩ nên trân trọng và đánh giá đúng về những đóng góp lớn lao của Hồ Nguyên Trừng với đất nước, nhất là trên lĩnh vực khoa học kĩ thuật và văn học
Hồ Nguyên Trừng là người đa tài Ông được coi là ông tổ của ngành chế tạo
vũ khí khi sáng tạo ra súng thần công (thần cơ hỏa sang), làm rạng rỡ cho lịch sử khoa học kĩ thuật của nước nhà Nhiều sách viết lại rằng khi người Minh làm lễ tế
vũ khí thì cũng làm lễ tế ông, như thế cũng có nghĩa người Minh tôn ông làm Tổ sư của ngành chế tạo vũ khí Ông cũng là một kiến trúc sư, tương truyền bản vẽ thành Tây Đô (Thanh Hóa) là của ông Đây là một công trình có quy mô đồ sộ vào thời bấy giờ; dấu tích còn lại hiện nay là thành nhà Hồ - một trong những di sản văn hóa thế giới Với vai trò một nhà quân sự, ông là một vị tướng chỉ huy đội quân chống giặc Minh xâm lược
Trang 19Với tác phẩm Nam Ông mộng lục, Hồ Nguyên Trừng là một nhà văn hải
ngoại có vị trí đặc biệt Qua những trang văn của ông, ta thấy Hồ Nguyên Trừng là người có tấm lòng yêu nước Những năm tháng cuối đời ở Trung Quốc, ông viết
Nam Ông mộng lục thể hiện tấm lòng luôn hướng về Tổ quốc với những trăn trở
khôn nguôi như tác giả Đinh Gia Khánh đã nhận xét: “thể hiện tâm sự nhớ nước của tác giả và mối hoài niệm về văn vật của nước Đại Việt” [39; 135- 138] Hơn nữa, với quan niệm “dương tiền nhân chi phiến thiện”, Hồ Nguyên Trừng biết trân trọng những việc thiện, người tốt, dù là nhỏ nhất; điều đó chứng tỏ ông không chỉ có tâm thiện mà còn coi trọng đạo đức và ý thức rất cao giữ gìn vốn văn hóa tốt đẹp của dân tộc
1.1.3 Quan niệm về văn chương của tác giả
Khái niệm “quan niệm” đã được hiểu là: “ý niệm đối với một việc gì theo quan sát của ta” [77; 877] Một cuốn từ điển khác do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa “quan niệm” như sau:
1 Hiểu, nhận thức như thế nào về một vấn đề: Chúng ta quan niệm như thế
là đúng
2 Sự nhận thức như thế nào đó về một vấn đề, một sự kiện: Một quan niệm
sai lầm Những quan niệm đúng đắn về cuộc sống [57; 348]
Quan niệm về văn chương của một nhà văn thể hiện ở cách nhìn về cuộc đời, con người, về hiện thực, về nghệ thuật Quan niệm này được xem như cội nguồn tư tưởng của nhà văn, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa vị xã hội, giai cấp, vốn sống, trình độ văn hóa, năng lực…Ngay trong lời tựa cuốn sách, Hồ Nguyên Trừng
quan niệm viết tác phẩm Nam Ông mộng lục vì mục đích “nhất dĩ dương tiền nhân
chi phiến thiện, nhất dĩ tư quân tử chi dị văn” (một mặt để nêu ra những việc thiện nhỏ của tiền nhân, một mặt để cung cấp những chuyện dị văn cho người quân tử) Sinh trưởng trong xã hội phong kiến, làm quan dưới triều Trần – Hồ, Hồ Nguyên Trừng có cách nhìn của một người trí thức phong kiến tiến bộ khi ông nêu ra những vấn đề cốt lõi của văn chương đương thời: Văn chương có tính chất giáo huấn
Trước hết, ông viết văn nhằm mục đích: “dương tiền nhân chi phiến thiện”
Quan niệm này ảnh hưởng từ quan niệm về tính “thiện” của đạo đức Nho giáo
Trang 20Khổng Tử đã từng nói: “Phàm nhân chi tri, năng kiến dĩ nhiên, bất kiến tương nhiên Lễ giả cấm ư tương nhiên chi tiền, nhi pháp giả cấm ư dĩ nhiên chi hậu…Lễ vân, lễ vân, quý tuyệt ác ư vị manh, nhi khởi kính ư vi diểu, sử dân nhật tỉ thiện
viễn tội nhi bất tự tri dã”(Dịch là: Phàm cái biết của người ta chỉ biết cái đã có rồi,
không biết được cái sắp có Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sai cái đã có rồi…Lễ vậy, lễ vậy, lễ quý là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ dân không trông thấy, để cho dân ngày ngày đêm gần điều
thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết) (Đại đái lễ ký: Lễ tế) [40; 119] Quan
niệm này thể hiện rõ nhất trong quan điểm của Mạnh Tử về “tính thiện” Mạnh Tử coi tính thiện là bản chất bẩm sinh của con người Ông nói: “Nhân tính chi thiện dã,
do thủy chi tự hạ dã: Nhân vô hữu bất thiện, thủy vô hữu bất há” (Dịch: Tính người
ta vốn lành như nước chảy xuống chỗ thấp vậy: Người ta không ai là không thiện, nước không lúc nào là không chảy xuống thấp) và khẳng định “Nãi nhược kì tình, tắc khả vi thiện hỹ, nãi sở vị thiện dã Nhược phù vi bất thiện, phi tài chi tội dã” (Dịch: Bản tính của con người ta là thiện Còn như người ta có làm những điều bất thiện chẳng qua là họ theo tư dục của mình chứ không phải bản tính của con người
ta là như vậy) (Cáo tử thượng) [40; 182- 183] Tính thiện tự nhiên ấy thể hiện ở bốn
mặt: nhân, nghĩa, lễ, trí: “Người ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng tu ố, ai cũng có lòng cung kính, ai cũng có lòng thị phi Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, cung kính là lễ, lòng thị phi là trí Nhân nghĩa lễ trí, không phải ở ngoài mà đúc lên đâu, ta vốn có sẵn cả, chỉ vì không nghĩ đến mà thôi” [40; 183] Trên nền đạo đức ấy, nếu được giáo dục tốt, con người sẽ trở nên cực thiện; nếu không được giáo dục tốt, bản tính tốt sẽ bị mai một và tiêm nhiễm nhiều thói xấu Vì thế mà Mạnh Tử và nhiều nhà Nho khác luôn chủ trương giáo dục đạo đức là hàng đầu, trong đó đề cao tính thiện và các biểu hiện của nó như nhân, nghĩa, lễ, trí Như vậy, những tư tưởng này đã ảnh hưởng không nhỏ tới quan niệm của các nhà Nho giai
đoạn sau trong đó có Hồ Nguyên Trừng Nhớ lại những trang mở đầu của Bình Ngô
đại cáo – áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc - chúng ta không khỏi xúc động tự
hào khi những đạo lí thánh hiền của Nho giáo đã được chuyển hóa thành “tư tưởng nhân nghĩa” mang truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam với những việc thiện
Trang 21có ý nghĩa Có lẽ Nguyễn Trãi là người đầu tiên quan tâm tới số phận của những con người nhỏ bé dưới tội ác tày trời của giặc Minh:
Trong tác phẩm Nam Ông mộng lục, Hồ Nguyên Trừng chứng minh cho
quan điểm đạo đức của mình Ở nơi đất khách quê người, ông viết tác phẩm này để bày tỏ sự ngưỡng vọng về một vùng đất đã gắn bó với ông từ thuở ấu thơ Đối với ông, nước Nam là vùng đất trù phú giàu có, nền văn hóa phồn thịnh với nhiều nhân tài nhưng vì binh lửa mà sách vở bị mất mát gần hết Ông đi sưu tầm lại chuyện cũ,
tập hợp lại thành sách lấy tên là Nam Ông mộng lục Việc làm ấy trong hoàn cảnh
xa xứ cũng là một việc “thiện” của ông đối với những giá trị văn hóa của dân tộc, đối với đất nước Nhờ thế mà người nước ngoài biết đến con người Việt Nam, phong tục, truyền thống của dân tộc Việt Từ quan điểm biểu dương những việc thiện của tiền nhân, Hồ Nguyên Trừng chỉ tập trung vào mục đích “khuyến thiện” Những việc thiện nhỏ trong đời sống cũng được ông ghi chép lại với sự trân trọng vì ông cho rằng nó rất có ý nghĩa: Việc vua Nghệ Vương thờ vua cha “suốt ba năm để tang, mắt ngài không lúc nào ráo lệ” (Truyện số 1) là tấm gương về đạo hiếu; chuyện bà chính phi họ Lê thấy con bất tài nên khóc lóc cho con xin thoái vị (Truyện số 5) là câu chuyện đáng ca ngợi về tấm gương từ mẫu Chúng ta còn bắt
gặp trong Nam Ông mộng lục tấm lòng trung nghĩa của Trần Nguyên Đán khi dùng
lời ngay thẳng để can gián nhưng Dụ Vương không nghe nên ông cáo quan về
(Truyện số 21)…Các nhân vật của Nam Ông mộng lục đều là những tấm gương
sáng cho đời sau học tập Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na viết: “…con người
trong Nam Ông mộng lục hiện ra như những hạt ngọc dù chỉ là hạt ngọc nhỏ xíu
nhưng ngời lên một ánh sáng trong trẻo, trong trẻo đến lạ thường” [15; 31] Vì thế,
Hồ Nguyên Trừng luôn dành cho họ sự trân trọng, ngợi ca
Trang 22Ông chủ trương không nói tới cái ác, dù điều xấu ông cũng gặp, cũng nghe:
“Việc thiện tôi thích nghe nên nhớ được; việc bất thiện không phải không có, nhưng
tôi không nhớ” [15; 44] So sánh với Lĩnh Nam chích quái lục, chúng ta thấy quan
niệm này có sự khác biệt vì tác phẩm này viết nhằm mục đích: “khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục” [43] Có lẽ khi nhớ về quê hương, trong tâm hồn ông không có chỗ cho cái xấu, cái ác ngự trị mà những việc tốt đẹp mới là những điều ông nhớ mãi Phải chăng ông đang mơ ước về một vùng đất với cuộc sống của những con người nhân ái, có truyền thống văn hóa tốt đẹp? Thời trung đại, văn học mang tính giáo huấn rất phổ biến, bởi văn học là một hiện tượng xã hội Quan niệm của xã hội về văn học có ảnh hưởng đến thực tiễn sáng tác: từ mục đích viết văn đến phạm vi đề tài, hình thức thể loại, ngôn ngữ…Trong xã hội phong kiến, văn học viết là văn học chính thống, là sản phẩm của trí thức phong kiến, được viết bằng chữ Hán, chịu ảnh hưởng của Nho giáo Quan niệm văn học của Nho giáo, được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam, biểu hiện một cách tập trung trong hai mệnh đề “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” (Theo
ý kiến của Giáo sư Bùi Duy Tân thì quan niệm “thi dĩ ngôn chí” đã được gói gọn trong quan niệm “văn dĩ tải đạo”) Quan niệm “văn dĩ tải đạo” của nhà nho là: đề cao văn học, thấy ở văn học cái khả năng to lớn làm xúc động, cải hóa con người, cho văn học một vị trí cao quý, xác định văn học là phương tiện giáo hóa lòng người, hạn chế dục vọng, là công cụ chính động viên, tổ chức xã hội nhằm biến ước
mơ thành hiện thực…Những quan niệm này khi vào Việt Nam đã kết hợp với tinh thần dân tộc nên nó mang tư tưởng tiến bộ, chủ yếu lí giải những vấn đề trọng đại
và thiết thực của đất nước: Văn học cổ vũ sự nghiệp chống ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc, đề cao ý thức tự lập, tự cường và bồi dưỡng phẩm giá con người Văn học đã góp phần hình thành nên những truyền thống quý báu của dân tộc đó là chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa nhân đạo [68], [70]
Quan niệm “văn dĩ tải đạo” khẳng định ý nghĩa giáo dục của văn nghệ nhưng lại được nhìn nhận dưới góc độ luân lí đạo đức hơn góc độ mĩ học Quan niệm này cho rằng văn học phải trực tiếp biểu hiện đạo lí Do đó, các tác giả trung đại thường nêu bật đạo lí thánh hiền, phẩm chất và chí hướng của người quân tử, những chân lí
Trang 23vĩnh hằng trong các loại thơ như “ngôn chí” “tự giới”…mà ít cho phép cái tôi cá nhân xuất hiện
Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có hẳn một mảng thơ ca mang tính
quy phạm - mảng thơ răn dạy đạo đức:
Làm người phải giữ đạo Trung dung
Ngỏ cửa nho chờ khách đến, Trồng cây đức để con ăn
Đến Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta vẫn thấy quan niệm ấy thể hiện trong các
sáng tác của ông như Lục Văn Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn
đáp…
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Bên cạnh đó, Hồ Nguyên Trừng viết Nam Ông mộng lục còn nhằm mục đích
“cung cấp những chuyện dị văn cho người quân tử” Chuyện “dị văn” mà ông nói tới ở đây là những chuyện có yếu tố kì ảo Viết truyện quái, dị, kỳ là một khuynh hướng thẩm mĩ phổ biến chi phối các tác giả văn học trung đại trong các tác phẩm
Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục, Thiền uyển tập anh và sau này là Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục… Trong bài tựa sách Lĩnh Nam chích quái lục, Vũ Quỳnh, Kiều Phú cho rằng: “Việc tuy kì dị mà không quái đản, văn tuy thần
bí mà không nhảm nhí, tuy nói những chuyện hoang đường mà tung tích vẫn có bằng cớ, há chẳng phải là khuyên điều thiện, trừng điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục đó ru!” [43]
trên đều là “người thực việc thực” được ghi chép trong sử sách Phần lớn những câu chuyện xảy ra từ thời Lý cho tới thời Trần, Hồ đều được biên chép cụ thể, rõ ràng: Nhân vật là những người có thật như vua Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông…, các quan lại như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trung Ngạn, bậc danh sĩ như Chu Văn An… Những truyện này tuy chiếm số lượng không nhiều (6/31 thiên truyện) song
Trang 24lại có sức hấp dẫn riêng Các yếu tố kì ảo xuất hiện chủ yếu để tô đậm thêm tài năng, đức độ của những nhân tài đất Việt và thể hiện sự ngưỡng vọng của tác giả cũng như của nhân dân ta dành cho những danh nhân ấy mà thôi
Từ xưa tới nay, nhân dân ta luôn trân trọng nhân tài, coi trọng đạo đức Với mục đích ca ngợi “điều thiện” và cung cấp truyện “dị văn” của con người Việt Nam,
Hồ Nguyên Trừng đã góp thêm tiếng nói thể hiện tấm lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sâu sắc Tuy ở nơi đất khách quê người, song tấm lòng hướng về đất nước của Hồ Nguyên Trừng thật đáng quý Ông cũng đã giới thiệu với bạn bè hình ảnh một đất nước Việt Nam với những người tài năng và nhân cách cao đẹp
1.2 Văn bản Nam Ông mộng lục
1.2.1 Quá trình truyền bản nguyên tác chữ Hán
Trần Văn Giáp là người đầu tiên miêu tả về văn bản Nam Ông mộng lục: “1 quyển…26 tờ…trong bộ tùng thư Hàm phân lâu bí kíp, tập thứ 9, in ảnh theo kiểu
viết tay cũ từ thời Minh, ký hiệu P521, 21; 493; 495” và nói rõ sách đề 31 thiên mục nhưng chỉ có 28 thiên, thiếu mất ba thiên mục là “Mệnh thông thi triệu”, “Thi chí công danh”, “Tiểu thi lệ cú” Ông cũng nêu sơ lược quá trình truyền bản như sau:
Đào Dĩnh in trong bộ tùng thư Tục thuyết phu chỉ có mục số 1 tới số 8 và số 12; Thẩm Tiết Phủ trong bộ tùng thư Kỷ lục vựng biên cũng gồm 9 mục như Đào Dĩnh; Bản in Hàm phân lâu bí kíp thì đủ các bài tựa của các tác giả, chỉ thiếu ba mục kể
trên [ 22; 45-49]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na miêu tả tỉ mỉ, chi tiết quá trình truyền bản
nguyên tác chữ Hán Nam Ông mộng lục qua hai con đường: Vựng tập và biệt tập
Ông còn miêu tả bằng hệ thống sơ đồ [15; 16]
- Vựng tập: Năm 1438, Lê Trừng viết xong Nam Ông mộng lục Khoảng 150 năm sau, Thẩm Tiết Phủ đưa vào Kỷ lục vựng biên và được Dương Tiễn Trần Thị san
bản vào năm 1617 với đầy đủ 31 thiên truyện Đến thời Thanh, Đào Dĩnh tăng bổ
Thuyết phu thành Thuyết phu tục, tuyển 9 thiên từ Nam Ông mộng lục Cũng vào triều
Thanh, tùng thư Ngũ triều tiểu thuyết ra đời cũng có 9 thiên như Thuyết phu tục
Theo các sách ghi chép lại có thể coi Kỷ lục vựng biên là tùng thư mang tính vựng tập đầu tiên in toàn văn Nam Ông mộng lục Chỉ biết rằng sau đó, các bản in
Trang 25Tập thành sơ biên (1935), một bản Kỷ lục vựng biên khác (1936), Bách bộ tùng thư tập thành cũng in theo ảnh ấn Kỷ lục vựng biên Năm 1985, in lại Tập thành sơ biên
cũng bằng cách ảnh ấn Năm 1986, Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san cũng in theo Kỷ lục vựng biên
- Biệt tập: Theo lời của Tống Chương thì năm 1442 ông đã sai người khắc in
bản Nam Ông mộng lục Như thế, Nam Ông mộng lục đã tồn tại như một biệt tập
gồm 31 thiên truyện cùng với hai bài “Tựa” (một của tác giả Hồ Nguyên Trừng, một của Hồ Huỳnh) và một bài “Hậu tự” của Tống Chương Đến đầu thế kỉ XX,
Tôn Dục Tu tìm được một bản sao và đưa nó vào trong tùng thư Hàm phân lâu bí
kíp của mình (1920) Khi tái bản, Hàm phân lâu giống như bản năm 1920
Đến đây, Nam Ông mộng lục trong Hàm phân lâu bí kíp không tồn tại như một biệt tập mà trở thành vựng tập Nam Ông mộng lục trong sách này là bản đầy
đủ nhất gồm 31 thiên truyện của Hồ Nguyên Trừng, 2 bài “Tựa” của Hồ Nguyên Trừng và Hồ Huỳnh, bài “Hậu tự” của Tống Chương, bài “Bạt” của Tôn Dục Tu
Năm 1986, Trần Ích Nguyên đã lấy toàn bộ Nam Ông mộng lục trong Tập thành sơ
biên và ba bài (“Tựa” của Hồ Huỳnh, “Hậu tự” của Tống Chương, “Bạt” của Tôn
Dục Tu) trong Hàm phân lâu và thêm “Lời thuyết minh” để tạo thành bản hoàn thiện trong sách Việt Nam Hán văn tiểu thuyết
Như vậy, Nguyễn Đăng Na và một số nhà nghiên cứu văn học đã có những
đóng góp lớn khi nghiên cứu về quá trình truyền bản nguyên tác chữ Hán Nam Ông
mộng lục, nhất là đã đính chính được những sai sót, giúp cho người đọc và các nhà
nghiên cứu có được văn bản hoàn chỉnh về tác phẩm này
1.2.2 Quá trình hoàn chỉnh các bản dịch Quốc ngữ
Theo như văn bản Nam Ông mộng lục do Ưu Đàm – La Sơn soạn dịch, chú
giải, Nguyễn Đăng Na giới thiệu cho biết thì hiện nay ở Việt Nam có ba bản dịch
mà tác giả gọi là bản D1, D2, D3
D1: Bản dịch trong sách Tổng tập văn học Việt Nam (1994), tập 3 do Trần Lê Sáng
(chủ biên), Trần Nghĩa, Đào Thái Tôn, Phạm Đức Duật (sưu tầm, biên soạn), Nxb Khoa học, Hà Nội
Trang 26D2: Bản dịch trong sách Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (1992), tập 1 do
Trần Nghĩa chủ biên, Nxb Thế giới, Hà Nội
D3: Bản dịch trong sách Nam Ông mộng lục do Ưu Đàm – La Sơn (1999) soạn
dịch, chú giải, Nguyễn Đăng Na giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội
Khi đối chiếu ba bản dịch, Nguyễn Đăng Na nhận xét “về cơ bản D2 = D3 = D1, cũng có nghĩa ở Việt Nam hiện nay chỉ có một dịch bản” và bản dịch D3 là bản
Nam Ông mộng lục “gần với diện mạo vốn có của nó” [15]
Khi tìm hiểu về các bản dịch này, chúng tôi nhận thấy những đóng góp không nhỏ của những nhà dịch thuật, các nhà nghiên cứu văn học trong việc hoàn
chỉnh các bản dịch Quốc ngữ của tác phẩm Nam Ông mộng lục
Loại là khái niệm rộng hơn bao hàm các thể, thể nhỏ nằm trong loại, có khi trong một thể lại có nhiều thể nhỏ hơn nữa: “Loại thể văn học là yếu tố về mặt hình thức, là phương tiện biểu hiện nội dung của tác phẩm Nó chịu sự chi phối của nội dung nhưng cũng ảnh hưởng tích cực đến nội dung và có những mặt phát triển độc lập” [16; 3] Người ta cũng thấy loại thể văn học là hình thức đòi hỏi người cầm bút phải khuôn theo nó để sáng tác sao cho nội dung của tác phẩm bộc lộ rõ ràng và thích hợp, sự lĩnh hội của người đọc đạt được mức độ rung cảm sâu sắc với đối tượng được miêu tả
Từ xưa tới nay, người ta vẫn thường chia văn học thành ba loại hình lớn (theo quan điểm của Aritxtốt): Tự sự, trữ tình, kịch: “Khi muốn viết về những hiện tượng xảy ra trong đời sống bằng cách kể lại diễn biến cụ thể của sự kiện, nhà văn dùng lối tự sự, khi muốn bộc lộ những tình cảm tâm sự cá nhân do sự việc bên ngoài gây nên, nhà văn dùng lối trữ tình Khi muốn miêu tả hiện thực với những
Trang 27khía cạnh tập trung, bằng hành động để thể hiện tình trạng căng thẳng của mâu thuẫn, tác giả dùng lối kịch” [67; 15]
Nhiều công trình lí luận văn học đã định nghĩa về khái niệm thể loại văn học Thể loại văn học là: “Dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [20; 299] Thể loại tác phẩm văn học còn được hiểu là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể Như vậy, thể loại văn học thuộc về phương thức, cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể Mỗi thể loại là một khối thống nhất những đặc điểm hình thức trên những điểm căn bản: kết cấu, hình tượng, ngôn từ…qua đó thể hiện cách cảm, cách nghĩ, thái độ và tâm
trạng của con người trước cuộc sống
Tác phẩm văn học nào cũng có một hình thể, một “thể” cấu tạo, không có tác phẩm văn học nào nằm ngoài thể loại Nói tới thể loại là nói tới cách tổ chức tác phẩm văn học, “một kiểu tái hiện đời sống” và một “kiểu giao tiếp nghệ thuật” (Trần Đình Sử) Các tác phẩm thi ca từ Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi đến Phan Bội Châu…tuy khác nhau về nội dung tư tưởng nhưng cũng có những mặt gần gũi về điệu cảm xúc tâm hồn, về ý thức biểu hiện thế giới nội cảm của nhà thơ như nhà nghiên cứu văn học người Nga Bakhtin đã từng nói: “Mỗi thể loại (nhất là những thể loại lớn) thể hiện thái độ thẩm mĩ đối với hiện thực, một cách cảm thụ nhìn nhận, giải minh về thế giới và con người Thể loại là vị trí nhớ siêu cá nhân của nghệ thuật với tích lũy, đúc kết những kinh nghiệm nhận thức thẩm mĩ thế giới” [5 ; 125]
Nghiên cứu thể loại tác phẩm văn học là một công việc hết sức phức tạp Việc định danh thể loại từ xưa đến nay không phải là một vấn đề đơn giản Mối quan hệ giữa thể loại và tên gọi thể loại trong nghiên cứu và trong thực tiễn có hiện
tượng “so le”, “vênh lệch” Chẳng hạn, L.Tônxtôi không gọi Chiến tranh hòa bình
là “tiểu thuyết” nhưng thực tế ai cũng gọi nó bằng tên này, Gôgôn gọi Những linh
Trang 28hồn chết là “trường ca”, Gorki gọi Cuộc đời Klim Xamghin dài gần nghìn trang và
cả Người mẹ là “truyện vừa” trong khi người ta vẫn gọi là tiểu thuyết “Mỗi thể loại
tiêu biểu cho một hình thức giao tiếp giữa tác giả với người đọc Giao tiếp bằng thơ, bằng truyện, bằng kịch… Không phải ngẫu nhiên mà sau khi sáng tác xong một tác phẩm, tác giả trân trọng ghi tên thể loại vào tác phẩm Ghi như vậy nhằm thông báo cho người đọc nội dung và hình thức giao tiếp đặc trưng của tác phẩm… Hoặc xa xưa hơn tên thể loại là một bộ phận không thể tách rời của nhan đề tác phẩm…” [67; 144] Do những quan điểm khác nhau mà dẫn tới việc không thống nhất trong việc phân loại và định danh thể loại
Hơn nữa, tính chất tương đối của ranh giới thể loại còn biểu hiện ở sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại văn học Trong tiểu thuyết thời hiện đại có sự thâm nhập của yếu tố ký tạo điều kiện cho nhà văn nắm bắt hiện thực một cách chủ động
Trong tác phẩm của Nguyễn Khải như Cha và con và…, Bạn bè trên Tây Nguyên,
Gặp gỡ cuối năm…mang tính chất phóng sự xen lẫn tiểu thuyết Đối với thơ, bên
cạnh chất trữ tình là chủ yếu nay đã gia tăng thêm “chất văn xuôi của đời sống và chất chính luận của sự nhận thức và bình luận các vấn đề xã hội” [20; 163] Tập thơ
Những bài thơ đánh giặc (Chế Lan Viên), Vầng trăng và quầng lửa (Phạm Tiến
Duật) đều là trường hợp như trên Hiện tượng thâm nhập giữa các thể loại văn học
đã không những thể hiện sự phức tạp của đời sống mà còn biểu hiện sức sáng tạo tuyệt vời của người nghệ sĩ
Trên cơ sở lí thuyết về thể loại, chúng tôi tìm hiểu một số các khái niệm
có liên quan đến luận văn như: Truyện, kí, truyện kí để góp phần định danh thể loại
của Nam Ông mộng lục
thuộc loại hình tự sự, tự sự có nghĩa là kể chuyện Và có kể chuyện ắt là có truyện Cho nên đặc trưng của loại hình tự sự cũng là đặc trưng của truyện nói chung” [16; 5] “Truyện” thường chỉ tác phẩm văn học như một bản kể có miêu tả nhân vật, diễn biến sự kiện thú vị như truyện cổ tích, truyện thần thoại….Quan trọng nhất trong truyện là cốt truyện và nhân vật
Trang 29Khái niệm ký: “Thể ký, như cái tên đặt cho nó đã nói lên các đặc điểm cơ bản của nó là thể văn dùng để ghi lại sự việc, ý nghĩ, cảm xúc…” [16; 59] Nói đến
ký, chủ yếu là nói tới văn xuôi ghi chép, miêu tả và biểu hiện những sự việc con người có thật trong cuộc sống
“Truyện kí thường viết về nhân vật có một vị trí quan trọng đối với lịch sử Truyện
kí gần với kí vì nó là thể văn tự sự về người thật, việc thật vì thế nó sát nguyên mẫu trong thực tế nhưng đồng thời nó cũng là truyện cho nên nhà văn có quyền sắp xếp thêm bớt và hư cấu một số tình tiết về nội tâm nhân vật” [16; 68-69] Thông thường truyện ký viết về những tấm gương đạo đức, những người tài, những anh hùng với chiến công lừng lẫy… trong đời sống xã hội Nhà văn dựng lên một số nhân vật chính, nhân vật phụ hay một số nét về hoàn cảnh dựa vào quy luật phát triển lôgic của nhân vật và của xã hội để nhân vật lịch sử tái hiện một cách đầy đủ, tập trung, sinh động hơn Thể loại này có mặt trong văn trung đại và cả trong văn học hiện đại
Khái niệm truyện kí nêu trên tuy là khái niệm của văn học hiện đại song nó
đã thể hiện được tính chất trung gian giữa truyện và kí, rất phù hợp với việc định
danh thể loại của một số tác phẩm văn học trung đại, trong đó có Nam Ông mộng
lục của Hồ Nguyên Trừng
có cái nhìn sâu hơn về về thể loại văn học trung đại nói chung và có cơ sở để tìm
hiểu thể loại của Nam Ông mộng lục
1.3.1.2 Vấn đề thể loại trong văn học trung đại Việt Nam
Đã có một số công trình nghiên cứu về thể loại của văn học trung đại Thực
tế cũng chỉ ra rằng, các thể loại của văn học trung đại có rất nhiều những điểm khác biệt so với những thể loại của văn học hiện đại…
a) Đặc điểm của văn học trung đại
* Tính đa chức năng của thể loại văn học trung đại
Văn học trung đại là loại hình văn học nguyên hợp: “Văn - sử - triết bất phân” Có những thể loại thuần túy như thơ, phú; có những thể loại mang tính chất lịch sử như: chí, lục, truyện…; có thể loại mang tính chất chính trị, hành chính như
Trang 30chiếu, biểu, hịch, cáo, luận thuyết…vì chúng gắn với hoạt động Nhà nước, tôn giáo…Đúng như Đ Likhatrốp có nói: “Thể loại văn học được xác định bởi công dụng của nó trong hành lễ tôn giáo, trong thực tiễn xét xử luật pháp, và trong bang giao, trong đời sống của các vương công…” [67; 106] Trong mỗi tác phẩm văn học
có thể pha xen văn vần, văn xuôi, văn biền ngẫu, ví dụ Truyền kì mạn lục có pha
xen thơ, từ, văn tế, văn biền ngẫu [13] Nguyên tắc “Văn- sử - triết bất phân” đã tạo nên một “phẩm chất riêng biệt” của thể loại văn học Lý - Trần, trong một văn bản văn học có giá trị thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như văn học, triết học, tôn giáo, lịch sử, chính trị [21] Và như thế, chúng ta hiểu rằng tác phẩm văn học cũng là tác
phẩm lịch sử, triết học, dư địa chí…Tác phẩm Thiền uyển tập anh là cuốn sách ca
ngợi các vị thiền sư vì thế nó mang đậm màu sắc Phật giáo: những giáo lí nhà Phật, những mô típ quy tịch của các thiền sư, những bài kệ…Hay một tác phẩm khác
mang tính chất chính trị, quân sự như Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi -
áng văn có “sức mạnh hơn mười vạn quân” - vừa là vũ khí sắc bén khi đấu tranh với
kẻ thù lại vừa có sức lay động lòng người bởi tấm lòng yêu nước thương dân và quyết tâm giành độc lập
Kể cả những thể loại thuần túy văn học, người ta cũng sử dụng để thực hiện các chức năng ngoài văn học Ví dụ: Thơ ngôn chí, thơ tự giới (răn mình) trong
Quốc âm thi tập; các tập truyện Lĩnh Nam chích quái lục, Việt điện u linh tập vừa là
văn vừa là sử, vừa là thần phả ghi sự tích các thần của nước Việt, các tác phẩm Nam
triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí tuy là những dã sử nhưng lại
bổ sung cho chính sử… [70; 272]
Giáo sư Trần Đình Sử khi nghiên cứu về thi pháp văn học trung đại đã nhận xét: “chức năng ngoài văn học đã tạo nên nét đặc trưng cho văn học trung đại…Thơ xưa làm không để lãnh nhuận bút mà chỉ là để dâng tặng mà bày tỏ chí (khen, chê, hoài bão), chức năng bao biếm, phúng gián, ngôn hoài gắn với yêu cầu giáo huấn, can dự vào đời sống Người đọc thơ là “quan chí” (xem chí) mà trau đức Do vậy, thơ thống nhất với các thể loại tụng, tán, biểu, tấu, châm giới, dụ Do vậy, thể loại văn học trung đại có một sự thống nhất nội tại trong chức năng nghệ thuật và thực dụng, mỹ học và xã hội học” [68; 108]
Trang 31Trước hết, điều này là do quan niệm văn chương trung đại xem văn chương như một thứ nghệ thuật ngôn từ nghĩa rộng, khác với quan niệm hiện đại về nghệ thuật ngôn từ theo nghĩa hẹp Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Văn chương là nghệ thuật tổ chức từ ngữ thành thiên, chương, hay có thể nói, văn chương là văn của lời (tức nghệ thuật của lời), sánh với văn của đất, văn của người là thể hiện văn của đạo Và đây là nghệ thuật chung, không chỉ là của thơ phú mà còn của mọi loại khác” [68; 90] Do đó, văn học trung đại khác văn học hiện đại ở chỗ: trung tâm của văn học trung đại là nghệ thuật từ ngữ, ngôn từ (văn chương ngôn từ) còn trung tâm của văn học hiện đại là hình tượng được sáng tạo bằng hư cấu Vì vậy mà chúng có
hệ thống thể loại khác nhau
Cách hiểu văn chương của người xưa còn được thể hiện trong việc xếp loại, phân loại của họ Để chứng minh cho điều này, chúng tôi dẫn lại những ý kiến về
cách phân loại của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp
văn học trung đại Việt Nam của giáo sư Trần Đình Sử:
+ Lê Quý Đôn trong sách “Nghệ Văn chí” chia văn chương làm bốn loại:
Loại hiến chương gồm điển, lễ, luật, lệ, bang giao…
Loại thơ văn bao gồm các tập thơ văn
Loại truyện kí gồm các tập sử kí, truyện
Loại phương kĩ gồm địa lí, kinh phật, toán pháp, bói toán
+ Phan Huy Chú cũng hiểu văn chương là sách vở, chia làm năm loại:
Loại hiến chương (như Lê Quý Đôn)
Loại kinh sử gồm sách kinh điển và lịch sử
Loại thi văn gồm thơ phú ngâm
Loại truyện kí gồm thực lục, chích quái, thế phả, binh thư, phong thổ, kí, đăng khoa lục, phủ biên tạp lục, địa phương chí
Loại phương kĩ
Qua cách phân loại và sắp xếp ở trên, ta thấy 2 tác giả này chưa thể tách bạch các thể loại văn học, giáo sư Trần Đình Sử cho rằng “không phải là phân loại văn học” Sau này, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã phân loại các thể và hình thức của thơ ca [21] Hai ông có nói tới phú, văn tế, văn xuôi cổ song còn khá sơ lược
Trang 32Điều đó chứng tỏ việc xác định thể loại và phân loại không phải là việc dễ dàng, nhất là trong điều kiện “Văn-sử-triết bất phân” của văn học trung đại
* Tính chất bác học
Văn chương viết bằng chữ Hán đòi hỏi người viết và người đọc phải có một trình độ rất cao Loại văn chương này không chú ý đến tả thực, ít chú trọng tới con người thực, cuộc sống thực Nếu có những con người hoặc sự vật tầm thường xuất hiện thì mục đích của tác giả cũng chỉ là để khẳng định những nhân vật “cao quý”
mà thôi Vì quan niệm văn chương cao quý, biểu hiện đạo lí thánh hiền mà nó giới hạn tác giả, độc giả là những người có học trong xã hội (chủ yếu là vua quan, nho sĩ) Sáng tác văn chương để “chở đạo”, giáo hóa chứ không phải để theo đuổi mục đích phản ánh, không có chức năng phát hiện, nhận thức…vì thế nó trở nên xa lạ với cuộc sống đời thường
* Tính quy phạm của văn học trung đại
Tính quy phạm là đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Trong sáng tác, tính quy phạm thể hiện trước hết ở tinh thần tôn sùng cổ nhân (sùng cổ phi ngã), suy tôn kinh, thánh Việc sử dụng điển cố, điển tích chẳng hạn là mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, mượn hình tượng cũ miêu tả sự việc mới
Tính quy phạm còn thể hiện ở chỗ trong sáng tác phải tuân theo kiểu mẫu đã thành công thức, khuôn khổ có sẵn Kiểu mẫu khuôn khổ đó có thể là đề tài, loại hình, thi văn liệu, mĩ từ pháp Đề tài trở đi trở lại qua nhiều thế hệ: mai, lan, cúc, trúc, ngư tiều canh mục, hoặc vọng trào, khuê oán, chinh phụ, lữ hoài hoặc tự thuật, ngôn chí, ngôn hoài, tức sự, ngẫu hứng…Về loại hình, sử dụng những thể loại văn học sẵn có, coi là khuôn mẫu đã định hình về cấu trúc, niêm luật chặt chẽ và thống nhất, không được phép vượt qua, sáng tác tự do cũng giống như văn chương cử tử, không được vi phạm luật lệ của loại hình Về mĩ từ pháp, tính ước lệ tượng trưng trở nên rất phổ biến trong văn học trung đại: nói về người đẹp thì “tóc mây” “da tuyết”, “làn thu thủy”, “nét xuân sơn”, “sóng thu ba”, “ nghiêng nước nghiêng thành”, “phận bồ liễu”, “hoa ghen liễu hờn”, “hoa nhường, nguyệt thẹn”, “Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình”…Nói về người anh hùng thì “Chí làm trai dặm ngàn
da ngựa”, “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, “công danh nam tử”, “hồ thỉ tang
Trang 33bồng”…Nói về thời gian thì “năm canh sáu khắc”, “xuân về đào nở, thu đến lá ngô đồng rụng”…[70]
b) Hệ thống thể loại và những khó khăn trong việc xác định thể loại của văn học trung đại
Để hệ thống hóa các thể loại của văn học trung đại, chúng tôi tìm hiểu về cách phân loại của các học giả thời trung đại cũng như hiện đại Hệ thống thể loại của văn học trung đại Việt Nam gồm các thể loại văn học chữ Hán (chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hệ thống thể loại văn học Trung Quốc) và hệ thống thể loại văn học chữ Nôm (do người Việt sáng tạo) Ở đây, do giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ quan tâm tới cách phân loại hệ thống thể loại văn học chữ Hán
G.S Trần Đình Sử chủ trương phân loại văn học trung đại thành ba loại lớn: Thơ, văn, truyện Riêng truyện là “hình thức tự sự có nhân vật và cốt truyện Có truyện chữ Hán bằng văn xuôi như các loại thực lục, mạn lục, ngẫu lục, kì lục, dị lục, kỳ án, thư dị, chí dị, tùy bút, chí, tiểu thuyết, ký sự, tạp ký…[68]
GS Bùi Duy Tân phân chia thể loại theo hai cách:
- Cách thứ nhất: chia theo phương thức phản ánh gồm: các thể loại trữ tình (thơ trữ tình, phú, từ, khúc ngâm, vãn, ca…), các thể loại tự sự (thơ tự sự, truyện thơ, thơ trường thiên lịch sử, truyện kí, giai thoại, truyện cười, văn chép sử…), các thể loại chính luận (thơ triết học, văn triết học, văn chương chính luận, sớ, tấu, chiếu, cáo, hịch…)
- Cách thứ hai: chia theo thể văn gồm: văn vần (thơ, truyện thơ, thơ trường thiên, từ, khúc ngâm, vãn, ca, vè…); văn biền ngẫu (hịch, cáo, phú, văn tế, biểu, câu đối…); văn xuôi (văn chép sử, thực lục, tùy bút tạp lục, kiến văn, truyện kí, giai thoại…) [70]
PGS TS Nguyễn Đăng Na thì phân loại như sau: văn học trung đại chia
thành hai loại lớn là văn xuôi và văn vần Trong cuốn Đặc điểm văn học Việt
Nam trung đại – Những vấn đề văn xuôi tự sự, ông lại chia văn xuôi tự sự
thành ba nhóm (truyện ngắn, tiểu thuyết chương hồi, ký) [49]
Trang 34Trong văn học trung đại: thơ, phú, hịch, cáo, truyền kì, tiểu thuyết chương hồi… là tên gọi các thể loại văn học có dạng thức tương đối ổn định Mỗi thể loại thường sử dụng một thể văn riêng như văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu; có phương thức diễn đạt riêng như phô diễn tâm tình (thơ), thuật bày sự việc (tự sự), biện luận
lí giải (chính luận)…; có cách tổ chức cấu tạo riêng để thể hiện đời sống
Từ xa xưa, tên thể loại đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của tác
phẩm: Thiên đô chiếu, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng giang phú, Bình Ngô đại cáo,
Truyền kì mạn lục, Chinh phụ ngâm, Hoàng Lê nhất thống chí, Văn tế nghĩa sĩ
Cần Giuộc, Truyện Lục Vân Tiên… Một nhà nghiên cứu văn học người Nga đã
nhận xét về các thể loại của văn học trung đại phương Đông: “Thể loại trong văn học trung đại là một phạm trù chủ đạo được thể hiện một cách thường xuyên nêu bật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm” (B.L Riptin) Nhưng thực tế văn học trung đại Việt Nam chưa hẳn như vậy PGS TS Nguyễn Đăng Na đã xem xét kĩ lưỡng, tỉ mỉ cách phân loại của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và cách gọi tên thể loại của các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam để rút ra nhận xét: “Các thuật ngữ gắn vào tên tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại ít chỉ ra thể loại của chúng…Nhận xét của B.L Riptin có lẽ phù hợp hơn với loại hình truyện Nôm và văn học Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVIII - XIX” [49]
Vấn đề thứ hai là các thiên trong cùng một tác phẩm không thuần nhất về mặt thể loại và được gọi bằng những thuật ngữ rất khác nhau, PGS TS Nguyễn
Đăng Na lấy ví dụ minh họa cho điều này Trong Thánh Tông di thảo có 19 thiên
thì bao gồm các loại sau: từ (Lung cổ phán từ - Lời phán xử của anh điếc và anh mù), kí (Mộng kí – Bài kí một giấc mộng), lục (Mấn thư lục – Bức thư của con muỗi), phả (Sơn quân phả - Phả kí Sơn quân), truyện (Dương phu truyện – Truyện
chồng dê)… Việc này dẫn tới tình trạng khó có một tác phẩm nhiều thiên được xếp trọn vẹn vào một tiểu loại
Với những ý kiến trên, thể loại là vấn đề các nhà nghiên cứu quan tâm suốt mấy thế kỉ qua Đây là vấn đề khó Chúng tôi mượn lời nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân thay cho lời kết về vấn đề thể loại văn học trung đại: “Vấn đề thể loại văn học
là một trong những vấn đề phức tạp của lịch sử văn học Phức tạp vì sáng tác văn
Trang 35học rất phong phú và đa dạng Ranh giới của từng loại thể không phải lúc nào cũng rạch ròi cố định Đặc trưng của từng loại thể không phải lúc nào cũng nổi bật, bất biến Các loại thể lại luôn luôn diễn biến, phân hợp, phát triển…” [70]
1.3.2 Việc nghiên cứu thể loại của Nam Ông mộng lục
1.3.2.1 Quan niệm coi Nam Ông mộng lục là truyện ngắn trung đại
Nguyễn Đăng Na cho rằng: “…Để hình dung một cách đầy đủ diện mạo cùng số phận của thể loại truyện ngắn, chúng tôi đã đưa vào phần tuyển chọn hầu như tất cả những tác phẩm mang dáng dấp tự sự mà hiện nay còn lưu giữ được và sắp xếp chúng theo thời gian Thiết nghĩ, nếu chỉ tuyển những truyện có đầy đủ
“tiêu chuẩn” theo quan niệm của truyện ngắn hiện đại thì chúng ta sẽ tự làm nghèo
đi những gì ta đã có, sẽ không chú ý đến tính đặc thù của văn học trung đại mà chỉ thấy trái chín mà không thấy quá trình gieo hạt nảy mầm, quá trình lớn lên của cây qua bão dông năm tháng…”[50; 45] Trên cơ sở ý kiến trên, Nguyễn Đăng Na tuyển chọn cả các tác phẩm khác mang tính chất tôn giáo hoặc văn học dân gian như:
Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái lục vào tuyển tập truyện
ngắn trung đại Ông cho rằng Nam Ông mộng lục thuộc loại truyện ngắn và: “Hồ Nguyên Trừng là người đầu tiên viết truyện rất ngắn” [15; 28-36] Để chứng minh
cho điều đó, ông tuyển một số thiên truyện “Chuyện về Nghệ Vương”, “Sự thần dị của Minh Không” “Bài thơ dùng lời trung để can gián”, “Áp Lãng chân nhân” trong
tác phẩm này vào quyển Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1 (truyện ngắn) [50] Ngô Văn Phú cũng cho rằng Nam Ông mộng lục là “loại truyện ngắn mi
ni” [61; 104]
Vấn đề phân loại truyện ngắn là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp
Nguyễn Đăng Na nhận thấy việc xác định và xếp Nam Ông mộng lục vào loại
truyện ngắn cũng chỉ mang tính chất tương đối Ông nêu vấn đề khó nhất là tách
“truyện” ra khỏi truyện kí “đối chiếu các thiên trong văn xuôi tự sự, nếu thấy thiên nào phù hợp với truyện thì đưa sang tiểu loại truyện, thiên nào chưa đủ tiêu chuẩn
sẽ xếp sang tiểu loại kí” [50; 16] Trong các công trình của mình, nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Na cũng cho rằng trong Nam Ông mộng lục có một số thiên truyện
thuộc loại ký, một số thiên là các thi thoại [15] Tuy nhiên, có khi Nguyễn Đăng Na
Trang 36cũng chưa tách bạch truyện, ký, thi thoại: Thiên truyện “Bài thơ dùng lời trung để
can gián” (Truyện số 21) được ông đưa vào tuyển tập Văn xuôi tự sự Việt Nam thời
trung đại (Truyện ngắn) song trong quyển Nam Ông mộng lục ông lại cho rằng
thiên truyện này là thi thoại
Cùng chung với ý kiến về truyện ngắn trung đại, trong bài viết “Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam”, tác giả Trần Nho Thìn đã nhận xét: “Thay vì dùng khái niệm có tính chất khái quát, người xưa có tên gọi riêng cho mỗi cuốn sách (chí, lục, phả, bút, tùy bút, kí, kí sự, thuyết…) Ngay trong một cuốn sách lại có những tác phẩm không hoàn toàn giống nhau về đặc trưng thể loại, có những tác phẩm khá giống với truyện ngắn hiện đại, nhưng cũng có những tác phẩm hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu của truyện ngắn” [76; 143]
Những nhận định trên khẳng định không phải thiên truyện nào cũng có thể xếp vào loại truyện ngắn mà có những thiên thuộc vào loại kí, thi thoại…Vì thế, nếu
Nam Ông mộng lục xếp vào loại truyện ngắn thì chưa mang được đầy đủ đặc điểm
thể loại của tác phẩm này
1.3.2.2 Quan niệm coi Nam Ông mộng lục thuộc thể loại tiểu thuyết
Trần Nghĩa đã đưa ra danh mục và phân loại tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, trong đó nêu ra 7 loại tiểu thuyết (bút ký, chí quái, truyền kỳ, lịch sử, công án, diễm tình, du ký)
Ông xếp Nam Ông mộng lục vào tiểu thuyết chữ Hán thời trung đại (tiểu thuyết bút ký) và cho rằng: Nam Ông mộng lục là “một trong những tác phẩm mở
đầu cho dòng tiểu thuyết chữ Hán nước ta” [53; 3-16] Quan điểm này được ông
đưa ra khi ông dẫn lại lời tựa cuốn Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng – nhà
văn đã nhắc tới khái niệm “tiểu thuyết”: “Mỗi khi nghĩ tới việc này, tôi lại đi sưu tầm chuyện cũ nhưng đã bị mất mát gần hết, chỉ còn lại hai trong số trăm phần, tập
hợp lại thành sách đặt tên là Nam Ông mộng lục…Tuy chỉ đóng khung trong tiểu thuyết nhưng cũng giúp chút ít cho những lúc nhàn đàm” Để chứng minh cho quan
điểm của mình, nhà nghiên cứu Trần Nghĩa đã nhận xét: “Hồ Nguyên Trừng vẫn chưa ý thức được sự khác nhau căn bản giữa tác phẩm của ông với một cuốn sử
chẳng hạn: sử ghi chép người thưc, việc thực, còn Nam Ông mộng lục thì được viết
Trang 37qua trí nhớ trong đó không ít tình tiết câu chuyện được trình bày theo ngòi bút hư cấu nghệ thuật, cũng là một lợi thế mà nhiều tác giả về sau đã chăm chú khai thác Nghĩa là ông tuy viết tiểu thuyết mà vẫn chưa nhận ra đặc trưng thể loại của nó” [53; 3-16]
Trong số 7 loại tiểu thuyết ở trên, Trần Nghĩa xếp Nam Ông mộng lục vào
loại tiểu thuyết bút ký Khái niệm “tiểu thuyết bút ký” (còn gọi là tiểu thuyết “chí nhân”) được ông định nghĩa như sau: “gồm những mẩu chuyện ngắn, những “dị văn, dật sự” liên quan đến các anh hùng dân tộc, các danh nhân lịch sử, văn hóa được ghi lại chủ yếu không phải bằng “hư bút” mà bằng “tín bút” Ngay cả phần mà chúng ta thấy là “hư bút” cũng được tác giả hồi đó quan niệm như “kỷ thực”, “thực lục” nghĩa là thấy sao chép vậy, không thêm không bớt” [53]
Trong một bài viết khác, Tạ Ngọc Liễn đã cho rằng Nam Ông mộng lục thuộc vào loại “những tập tản văn (mang tính chất tiểu thuyết), xưa nhất còn bảo
lưu được” [47; 66-69] Khái niệm “tản văn” mà Trần Ngọc Liễn nói ở trên làm cho
chúng ta nghĩ rằng đây là tác phẩm thuộc loại “ký” chứ không hẳn là tiểu thuyết
Qua ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy từ “tiểu thuyết” mà Hồ Nguyên Trừng nói có nghĩa là “chuyện vặt” Với người Trung Quốc, họ gọi các loại truyện là tiểu thuyết: (Đoản thiên tiểu thuyết – truyện ngắn, trung thiên tiểu thuyết – truyện vừa, trường thiên tiểu thuyết – truyện dài) Song người Việt Nam thường dùng khái niệm
“tiểu thuyết” để chỉ loại truyện có dung lượng lớn: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [32; 328] chứ thường không gọi các loại truyện khác là tiểu thuyết Khái niệm “tiểu thuyết”
mà nhà nghiên cứu Trần Nghĩa đưa ra cũng là một cách định danh thể loại Tuy
nhiên, những căn cứ để xếp Nam Ông mộng lục vào loại “tiểu thuyết bút ký” khiến
cho chúng ta không khỏi băn khoăn vì những đặc điểm chính của “tiểu thuyết bút ký” là các “mẩu chuyện ngắn”, những truyện “dị văn”, hư cấu có yếu tố kì ảo gợi cho ta thấy tính chất truyện; còn “thấy sao chép vậy, không thêm không bớt” là đặc điểm của ký Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ nên chăng dùng một khái niệm khác để
gọi tên thể loại của Nam Ông mộng lục chính xác và dễ hiểu hơn?
Trang 381.3.2.3 Quan niệm coi Nam Ông mộng lục thuộc loại ký
Có khá nhiều nhà nghiên cứu nhận ra Nam Ông mộng lục có tính chất ghi
chép (ký) Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường trong sách Từ điển văn học Việt
Nam đã cho rằng đây là “một hồi kí về thời Lí Trần” [4; 227-230] Nguyễn Huệ Chi
cũng cho chúng ta thấy giá trị đặc sắc của tác phẩm này về mặt thể loại: “…Cuốn
sách là một tập ghi chép về các mẩu chuyện “người thiện”,“người tài” của nước Đại
Việt” [31] Còn Nguyễn Đức Vân – Tuấn Nghi nhận xét về Nam Ông mộng lục:
“ghi chép được một vài sự thực có thể bổ sung cho văn học và sử học thời Lí Trần” [15; 255]
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng nhận ra đây không phải là tác phẩm thuộc loại ghi chép đơn thuần mà khi phân loại cụ thể hơn “một số thiên có yếu tố li
kì ở đây có thể xem như những truyền kì, giai thoại; một số thiên ở cuối sách có thể xem như những thi thoại lí thú, cùng với ý nghĩa của chúng” [4; 227- 230] Vậy,
nếu cho rằng Nam Ông mộng lục thuộc loại ký là chưa bao quát được tất cả các thể
loại mà nó dung chứa
1.3.2.4 Quan niệm coi Nam Ông mộng lục là truyện ký
Đinh Gia Khánh nói rõ về đặc điểm thể loại của Nam Ông mộng lục: “có thể coi cuốn sách này như một tập truyện kí đời Trần và trong đời Hồ” [39; 135- 138] Theo ông, cũng như nhiều tác phẩm tự sự thời Trần, Nam Ông mộng lục có tính
chất truyện ký, thể hiện ở chỗ: “chủ yếu mới làm việc ghi chép những sự tích từ đời trước truyền lại hoặc mắt thấy tai nghe, chứ chưa có tham vọng sáng tác, thậm chí phóng tác” Như vậy, Đinh Gia Khánh đã chỉ ra một trong những đặc điểm quan trọng của truyện thời Lý – Trần là tính chất ghi chép chứ không phải là sáng tác hư cấu của tác giả Ở đây, tác giả chỉ là người sưu tầm, ghi chép lại những truyện kể
của người thời trước Để khẳng định tính chất truyện ký của Nam Ông mộng lục,
giáo sư Đinh Gia Khánh chứng minh rằng các thiên truyện trong đó có tính chất ghi chép: “Sách gồm 28 truyện ngắn, không những chép sự kiện lịch sử như thiên thứ nhất (Nghệ vương thủy mạt) chép sự việc đời Trần Nghệ Tông, thiên thứ 9 (Dũng lực thần dị) chép việc Lê Phụng Hiểu phá giặc, v.v… mà còn chép cả sự việc liên quan đến những nét sinh hoạt về mọi mặt của xã hội nước ta đời Lý và đời Trần Có
Trang 39những thiên chép việc liên quan đến tăng lữ…Có những thiên chép sự tích các nhà nho…Có những thiên chép sự việc kỳ lạ, lý thú…Lại có thiên đề cập tới vấn đề thơ
văn…” [39; 135- 138]
Với nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng, ông cho rằng Nam Ông mộng lục
thuộc loại truyện kí khi viết: “Tác phẩm của Hồ Nguyên Trừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho khuynh hướng văn học mang cảm hứng đạo lý của thời
kỳ Trần - Hồ Hơn nữa, nó là sự bù đắp cần thiết cho những thiếu hụt của văn xuôi
tự sự ở thời kỳ này ở thể tài truyện ký” [36]
Ngay từ nhan đề của Nam Ông mộng lục ta đã thấy phần nào về thể loại của
tác phẩm “lục” (có nghĩa là ghi chép) Tuy nhiên không hoàn toàn như vậy Trong
văn học trung đại, ta thường nói tới một số các thể loại ghi chép như chí, lục, phả,
bút, tùy bút, kí, kí sự, thuyết …
Khái niệm “lục” được sách Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh định nghĩa:
Lục: Viết sao lại – Biên chép – Ghi vào sổ [1; 247]
Hầu hết các tên gọi thể loại như chí, kí, lục đều là vay mượn của sử để chỉ những thể loại khác biệt với sử, do đó “không nên xem đó là căn cứ duy nhất để đặt
tên thể loại” (Trần Đình Sử) Hồ Nguyên Trừng đặt tên tác phẩm là Nam Ông mộng
lục Song tác phẩm thực tế liệu có phải chỉ là những ghi chép như nhan đề của tác
phẩm đã nói? Hay là thuộc thể loại nào?
Ngoài khái niệm “truyện” đã trình bày định nghĩa chung ở trên, chúng tôi muốn nói thêm về nguồn gốc và đặc trưng của khái niệm này để dễ dàng phân biệt với khái niệm khác Theo chuyên khảo “Văn học Lí Trần – nhìn từ thể loại” của Nguyễn Phạm Hùng thì “truyện” xuất phát từ phạm trù “kinh truyện” trong học thuật Trung Quốc cổ đại, lúc đầu nó là “ghi ví dụ minh họa” nhưng về sau khái niệm này được mở rộng phạm vi là văn “ghi chép sự việc” Nguyễn Phạm Hùng cũng phân biệt rất rõ truyện với tiểu thuyết: “Mọi hình thức hư cấu bịa đặt dài ngắn khác nhau đều là tiểu thuyết (…) Mọi hình thức ghi chép tiểu sử đều là truyện” [34; 336]
Tuy nhiên khái niệm “truyện” không chỉ có nghĩa là “ghi chép sự việc” như lúc ban đầu Trong văn học Lý – Trần, truyện chú ý hơn tới nhân vật mà coi nhẹ
Trang 40những cốt truyện, tình tiết…[34; 336] Truyện có mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử nhưng không phải là sử, người Việt Nam gọi “hình thức tự sự có thể kể lại được, có nhân vật có cốt truyện, có hư cấu” là “truyện” [34; 336] Như vậy, có nghĩa rằng chỉ những văn bản nào có “nhân vật”, “cốt truyện” có thể kể lại được mới là “truyện”
Từ thực tế trên, chúng tôi lấy “thiên” làm đơn vị để xác định thể loại Việc phân loại các “thiên” sẽ là cơ sở để chúng tôi khái quát thể loại của tác phẩm Trong
Nam Ông mộng lục, chúng ta bắt gặp những thiên có thể xếp vào loại truyện vì nó
“là một đơn vị hoàn chỉnh” với “hai hạt nhân tạo nên truyện là nhân vật và cốt truyện” [50; 16] như truyện số 1, truyện số 8, truyện số 14… Nhận xét này của chúng tôi theo quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Phạm Hùng…
Nhiều thiên truyện khác là những ghi chép của Hồ Nguyên Trừng về những điều chính ông “kiến văn” (tai nghe, mắt thấy) và nhân vật của chúng được ông xem như tấm gương sáng ở đời Loại tác phẩm này không thể xếp vào “truyện” mà phải xếp vào loại truyện ký bởi vì chúng chưa hoặc có ít cốt truyện; còn nặng về tính ghi chép; nhân vật, sự việc được ghi lại như những “mảnh chân dung”, “mẩu việc thiện”…
Hơn nữa, trong Nam Ông mộng lục có một số thiên truyện là các thi thoại Vì
tính chất trung gian (đan xen thơ, văn xuôi) trong mỗi thiên truyện nên chúng tôi nghĩ rằng cần có sự đánh giá riêng vai trò của những thi thoại này trong việc tìm hiểu thể loại của tác phẩm
Vì tính chất trung gian, tổng hợp tất cả các thiên, chúng tôi nhận thấy việc
xếp Nam Ông mộng lục vào thể loại truyện kí là hết sức hợp lí để khép lại những
truyện quái dị của văn học thế kỉ X –XIV, hướng tới xu hướng viết truyện “người thật việc thật” và truyện ký này cũng là cây cầu nối bắc sang thể loại truyền kì của văn học ở giai đoạn sau