LỜI CẢM ƠN Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tác giả tiến hành thực hiện đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––––––
PHẠM QUANG HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ
KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON RỪNG VẦU ĐẮNG
(Indosasa angustata Mc Clure) THUẦN LOÀI
TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Hoàng Chung
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều
đã được ghi rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện cho luận văn này đã được cảm ơn
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng đào tạo và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2016
Người viết cam đoan
Phạm Quang Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tác giả tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và khả năng tích lũy các bon của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc
Clure) thuần loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tác giả đã hoàn thành Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Hoàng Chung là người tận tâm hướng dẫn tác giả trong thời gian thực hiện đề tài Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo phòng Đào tạo, khoa Lâm nghiệp những người đã truyền thụ cho tác giả những kiến thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong thời gian tác giả theo học tại trường Tác giả xin chân thành cảm ơn UBND huyện Chợ Đồn, UBND các xã
….đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu
Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè và những người luôn quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu vừa qua
Do lần đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên luận văn không tránh được những thiếu sót Vì vậy, tác giả kính mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn của tác giả thêm phong phú và hoàn thiện hơn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Quang Hải
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
4 Đóng góp mới của luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5
1.1.1.2 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng 6
1.1.1.3 Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng 7
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 9
1.1.2.2 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng 11
1.1.2.3 Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng 14
1.1.2.4 Nghiên cứu về cây Vầu Đắng 16
1.1.3 Nhận xét, đánh giá chung 20
Trang 51.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 21
1.2.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên 21
1.2.2 Các yếu tố kinh tế khu vực huyện Chợ Đồn 24
1.2.3 Các yếu tố xã hội huyện Chợ Đồn 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Cách tiếp cận 28
2.3.2 Phương pháp kế thừa 28
2.3.3 Phương pháp tham vấn 28
2.3.4 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 28
2.3.4.1 Số lượng và vị trí các ô mẫu 28
2.3.4.2 Hình dạng và kích thước ô mẫu 28
2.3.4.3 Các bể chứa các bon phần trên mặt đất cần đo đếm 29
2.3.4.4 Đo đếm tại ô tiêu chuẩn 30
2.3.5 Tính toán xử lý số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 38
3.1.1 Quy luật phân bố N/D 38
3.1.2 Quy luật phân bố N/H 40
3.2 Sinh khối rừng Vầu đắng thuần loài huyện Chợ Đồn 41
3.2.1 Sinh khối tươi cây tiêu chuẩn Vầu đắng 41
3.2.2 Sinh khối tươi lâm phần Vầu đắng thuần loài 42
3.2.2.1 Sinh khối tươi các cá thể cây Vầu đắng 42
Trang 63.2.2.2 Sinh khối tươi cây bụi thảm tươi, thảm mục 44
3.2.3 Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng thuần loài 45
3.2.3.1 Sinh khối khô cây tiêu chuẩn 45
3.2.3.2 Đặc điểm sinh khối khô các cá thể cây Vầu đắng 46
3.2.3.3 Tổng sinh khối khô toàn lâm phần Vầu đắng thuần loài 49
3.3 Lượng các bon tích lũy của rừng Vầu đắng 50
3.3.1 Lượng các bon tích lũy của lâm phần Vầu đắng 50
3.3.2 Lượng các bon tích lũy trung bình theo thời gian 53
3.4 Lượng CO2 hấ p thụ của lâm phần Vầu đắng thuần loài 53
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Tồn tại 57
3 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 62
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung
TNMT : Tài nguyên môi trường
UBND : Ủy ban nhân dân
UN-REDD : The United Nations Programme on Reducing Emissions
from Deforestation and Forest Degradation (Chương trình giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng của Liên hiệp quốc)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp phân bố N/D rừng Vầu đắng tại xã Ngọc Phái 38
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp phân bố N/D rừng Vầu đắng tại xã Phong Huân 39
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp phân bố N/H rừng Vầu đắng tại xã Ngọc Phái 40
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp phân bố N/H rừng Vầu đắng tại xã Phong Huân 41
Bảng 3.5 Sinh khối trung bình cây tiêu chuẩn 42
Bảng 3.6 Sinh khối tươi các cá thể cây Vầu đắng tại xã Ngọc Phái 43
Bảng 3.7 Sinh khối tươi các cá thể cây Vầu đắng tại xã Phong Huân 43
Bảng 3.8 Sinh khối tươi cây bụi thảm tươi, thảm mục trong rừng Vầu đắng tại xã Ngọc Phái 44
Bảng 3.9 Sinh khối tươi cây bụi thảm tươi, thảm mục trong rừng Vầu đắng tại xã Phong Huân 45
Bảng 3.10 Sinh khối trung bình cây tiêu chuẩn 46
Bảng 3.11 Sinh khối khô các cá thể cây Vầu đắng tại xã Ngọc Phái 48
Bảng 3.12 Sinh khối khô các cá thể cây Vầu đắng tại xã Phong Huân 48
Bảng 3.13 Sinh khối khô rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Ngọc Phái 49
Bảng 3.14 Sinh khối khô rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Phong Huân 49
Bảng 3.15 Lượng các bon tích lũy trong rừng Vầu đắng tại Ngọc Phái 51
Bảng 3.16 Lượng các bon tích lũy trong rừng Vầu đắng tại Phong Huân 52
Bảng 3.17 Lượng C tích lũy trung bình theo thời gian (tấn C/ha) 53
Bảng 3.18 Lượng CO2 hấp thụ của lâm phần Vầu đắng, xã Ngọc Phái 54
Bảng 3.19 Lượng CO2 hấp thụ của lâm phần Vầu đắng, xã Phong Huân 54
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ sinh khối khô các hợp phần của cây Vầu 47 Hình 3.2 Tỷ lệ trữ lượng các bon lâm phần Vầu đắng 52
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã được ký tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992 với sự tham gia của gần 160 quốc gia trên toàn thế giới Nghị định thư Kyoto ra đời nhằm đạt được sự thỏa thuận về giảm phát thải khí nhà kính của các nước Để nhằm chố ng la ̣i biến đổi khí hâ ̣u toàn cầu có hiệu quả hơn, chương trình “Giảm phát thải
thông qua việc hạn chế mất rừng và suy thoái rừng” (REDD) và tăng
cường đa dạng sinh học (REDD+) bở i các nhà khoa ho ̣c nhâ ̣n đi ̣nh rằng mấ t rừ ng và suy thoái rừng tư ̣ nhiên đóng góp khoảng 20% lươ ̣ng khí CO2
phát thải ra khí quyển [26]
Việt Nam là một trong 47 quốc gia đầu tiên đươ ̣c Liên Hiệp Quốc lựa chọn để thí điểm triển khai chương trình hợp tác của Liên hiê ̣p quốc về giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển (UN-REDD) với tổng số vốn viện trơ ̣ trong giai đoa ̣n I là 4,38 triê ̣u USD (giai đoa ̣n
2009 - 2011) Giai đoạn II của Chương trình UN-REDD triển khai trong vòng
3 năm từ năm 2013 đến năm 2015 được thực hiện theo Kế hoạch hành động Quốc gia REDD+ ở 6 tỉnh Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Lâm Đồng, Cà Mau, với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại khoảng 100 triệu USD [26]
Một loạt các văn bản pháp lý như Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng
Ở Việt Nam hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon của một số dạng rừng trồng Rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng vầu, tre nứa là đối tượng có cấu trúc rất phức
Trang 11tạp, do vậy việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc sinh khối và khả năng lưu trữ
các bon cho đối tượng rừng này là rất khó khăn và cho tới nay chưa được tiến hành hoặc tiến hành nhỏ lẻ thiếu hệ thống
Vầu đắng là một loài lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị hiện nay và được phân bố rất phổ biến ở vùng Đông Bắc bộ Giá trị kinh tế của vầu đắng không chỉ thể hiện ở măng vầu đắng thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng, thân cây khí sinh của vầu đắng được dùng nhiều trong xây dựng, làm đồ thủ công mỹ nghệ, vầu đắng còn góp phần quan trọng trong việc cảo tạo đất, điều hòa tiểu khí hậu, chống xói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt, Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá trị của rừng vầu đắng mới chỉ được thừa nhận ở những giá trị kinh tế của nó mang lại, những giá trị về bảo vệ môi trường, hấp thụ CO2 của rừng vầu đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về mặt nhận thức chúng ta đều biết rừng nói chung trong đó có rừng vầu đắng nói riêng đều góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có khả năng hấp thụ và lưu giữ khí gây ra biến đổi khí hậu chủ yếu là CO2 nhưng lại không có đầy đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn để lượng hóa chúng Vầu đắng mọc tự nhiên và có nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái,
Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, cũng có và có thể phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá [5]
Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên 91.115,00 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn huyện
có 64.731,22 ha đất lâm nghiệp, chiếm 71,04% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó rừng sản xuất có 47.444,31 ha, chiếm 52,07 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, rừng phòng hộ có 15.498.91 ha, chiếm 17,01% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, rừng đặc dụng có 1.788,00 ha chiếm 1,96% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Diện tích rừng của huyện Chợ Đồn
Trang 12khá nhiều, độ che phủ đạt trên 57%, phân bố trên tất cả các xã, thị trấn Trong
đó rừng Vầu đắng của huyện Chợ Đồn cũng chỉ được thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ và giá trị môi trường, chưa có nghiên cứu đánh giá về cấu trúc và khả năng hấp thụ CO2 để làm cơ sở cho phát triển và việc chi trả dịch
vụ môi trường rừng cũng như xác định giá trị đích thực của rừng Vầu đắng đem lại để có các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vầu đắng trong thời gian tới
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc Clure) thuần
loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” được đặt ra là thật sự cần thiết, có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng thuần loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Xác định được sinh khối và lượng các bon tích lũy cây cá thể và lâm phần rừng Vầu đắng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất được các giải pháp quản lý rừng nhằm nâng cao lượng các bon tích lũy trong rừng Vầu đắng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp thêm những kết quả nghiên cứu về sinh khối và lượng các bon tích lũy của rừng Vầu đắng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Góp phần quản lý bền vững rừng Vầu đắng, tăng trữ lượng các bon tích lũy trong rừng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các
cấp, các nghành trong việc chi trả dịch vụ môi trường rừng, cho chủ rừng
Trang 13trong thực tiễn sản xuất rừng vầu đắng tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương có rừng vầu đắng nói chung
4 Đóng góp mới của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm cấu trúc, sinh khối và lượng các bon tích lũy rừng Vầu đắng thuần loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Đã xác định được sinh khối và lượng các bon tích lũy của cây cá lẻ và lâm phần Vầu đắng thuần loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Xây dựng được các mô hình dự báo và đề xuất được các ứng du ̣ng
xác đi ̣nh nhanh sinh khối, lượng các bon tích lũy cây cá thể và lâm phần rừng Vầu đắng thuần loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards P.W, Baur G (1976), Odum (1971), tiến hành Các nghiên cứu này đã đưa ra các quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành loài, dạng sống và tầng phiến của rừng Đây là những công trình nghiên cứu cơ sở rất quan trọng và hệ thống giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cấu trúc của rừng,
đặc biệt là về cấu trúc hình thái và ngoại mạo
Odum E P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P năm 1935 Khái niệm về hệ
sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng liên
quan trên quan điểm sinh thái học (Dẫn theo Đặng Trung Tấn, 2001) [15]
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc ngoại mạo chủ yếu mô
tả rừng ở trạng thái tĩnh, trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng Nghiên cứu này đã chỉ rõ các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng cũng cần tiến hành theo các giai đoạn khác nhau tùy theo sự biến đổi cấu trúc nội tại của rừng
Richards P.W (1959, 1968, 1970) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả này, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ Rừng mưa thường có nhiều tầng (thông thường nhất là có ba tầng, ngoại trừ tầng
Trang 15cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi
và các loài cây thân cỏ còn có nhiều loài dây leo đủ hình dáng và kích thước,
cùng nhiều thực vật phụ sinh bám trên thân cây, cành cây, "Rừng mưa thực sự
là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây" học (Dẫn theo Đặng Trung Tấn, 2001) [15]
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả đã có
ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24
m, 24 - 30 m, 30 - 36 m và 36 - 42 m Thực chất việc phân tầng này chỉ là phân chia rừng thành các lớp chiều cao khác nhau một cách cơ giới (mỗi tầng cách nhau 6 m) Odum E P (1971) chưa thống nhất với ý kiến cho rằng có sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả (Dẫn theo Hà Văn Tuế, 1994) [19]
1.1.1.2 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
Sinh khối và năng suất rừng là những vấn đề đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu "Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng” Sinh khối là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để nghiên cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường rừng Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh khối giữ vai trò quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng carbon hấp thụ bởi thực vật rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại
Từ những năm 1840 trở về trước, đã có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực sinh lý thực vật, đặc biệt là vai trò hoạt động của diệp lục trong quá
Trang 16trình quang hợp để tạo nên các sản phẩm hữu cơ dưới tác động của các nhân
tố tự nhiên như: Đất, nước, không khí, và năng lượng ánh sáng mặt trời sang thế kỷ 19 nhờ áp dụng các thành tựu khoa học như hóa phân tích, hóa thực vật
và đặc biệt là vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu được những thành tựu đáng kể Tiêu biểu cho lĩnh vực này có thể kể tới một số tác giả sau:
Liebig (1862) lần đầu tiên đã định lượng về sự tác động của thực vật tới không khí và phát triển thành định luật tối thiểu, sau đó Mitscherlich (1954)
đã phát triển luật tối thiểu của Liebig thành luật "năng suất" [24]
Duyiho cho biết hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10-50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60-800 tấn/ha/năm, trung bình là 450 tấn/ha/năm (theo Lê Hồng Phúc, 1996) [13]
Dajoz (1971) đưa ra năng suất của một số hệ sinh thái rừng như sau: Mía ở Châu Phi: 76 tấn/ha/năm
Rừng nhiệt đới thứ sinh ở Yangambi: 20 tấn/ha/năm
Đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca (Đức): 10,5-15,5 tấn/ha/năm (dẫn theo Lê Hồng Phúc, 1996) [13]
Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “Sinh khối và năng suất sơ cấp của rừng thế giới", cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất Tác phẩm đã tổng hợp 600 công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô, thân, cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới [20]
1.1.1.3 Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO 2 của rừng
Trong bối cảnh toàn thế giới đang cùng bắt tay để ứng phó với các tác động do biến đổi khí hậu gây ra, thì vai trò của rừng trong việc duy trì
và cải thiện các chức năng phòng hộ môi trường ngày càng được khẳng định, trong đó vai trò hấp thụ khí C02 (tác nhân cơ bản gây ra hiệu ứng
Trang 17nhà kính và biến đổi khí hậu toàn cầu) của rừng đang rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, có thể tổng kết lại một số công trình nghiên cứu chủ yếu như sau:
Kang Bing và cộng sự (2006) khi nghiên cứu về khả năng hấp thụ C02
của rừng trồng hỗn giao giữa P massoniana và Cunninghamia lanceolata cho
thấy, đối với cả 2 loài, hàm lượng carbon tập trung chủ yếu ở tầng cây gỗ đạt trung bình 51,1%, tiếp đến là vật rơi rụng chiếm 48,3%, cây bụi chiếm 44,1%
và thấp nhất là trong cỏ chỉ chiếm khoảng 33,0% so với tổng sinh khối khô
từng bộ phận tương ứng Khả năng hấp thụ carbon của loài P massoniana lớn hơn lượng carbon của C Lanceolata, trong đó hàm lượng carbon chứa trong gỗ, rễ, cành, vỏ, lá của P masoniana lần lượt là 58,6%, 56,3%, 51,2%, 49,8% và 46,8%, trong khi đó loài C lanceolata có hàm lượng carbon lần
lượt là vỏ (52,2%), lá (51,8%), gỗ (50,2%), rễ (47,5%) và cành thấp nhất là 46,7% [22]
Fang Yunting và cộng sự (2003) khi tiến hành nghiên cứu khả năng
hấp thụ carbon đối với rừng trồng hỗn loài giữa Pinus massoniana và Schima
superba tại Trung Quốc cho thấy, tổng lượng carbon hấp thụ biến động từ
146,35 - 215,30 tấn/ha, trong đó lượng carbon của cây trồng và thảm thực vật dưới tán rừng chiếm 61,9% - 69,9%, lượng carbon trong đất chiếm từ 28,5 - 35,5% và lượng carbon trong vật rơi rụng chiếm từ 1,6 - 2,8% [25]
Các dự án về trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch đang rất được quan tâm trong thời gian qua Tính tới năm 2004, 16 dự án về hấp thụ CO2 thông qua việc trồng mới và tái trồng mới rừng đã được thực hiện, trong đó châu Mỹ Latin có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự
án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan
và Kenya (Dẫn theo Vũ Tấn Phương, 2006) [12]
Trang 18Năm 2004, dự án thực hiện trình diễn về hấp thụ CO2 trong hệ thống lâm nghiệp và sinh thái nông nghiệp trị giá 53,8 tỷ USD đã được ngân hàng Thế giới huy động Mục tiêu của chương trình này là hỗ trợ chi phí cho việc giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học cũng như giảm đói nghèo trên thế giới Tuy nhiên, cho tới cuối năm 2007, mới chỉ 1 dự án được phê duyệt bằng quỹ này và 7 dự án khác đang chờ đợi
để được phê chuẩn Dự án mới được duyệt sẽ thực hiện tại lưu vực đầu nguồn sông Pearl, Quảng Tây, Trung Quốc với 4 mục tiêu: (i) Nâng cao khả năng hấp thụ CO2 của rừng tại lưu vực đầu nguồn, (ii) Tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học rừng tự nhiên, (iii) Cải tạo đất và chống xói mòn và (iv) Nâng cao thu nhập của người dân địa phương Để đạt được mục tiêu trên, 4.000 ha rừng
đa tác dụng sẽ được trồng mới Hiệu quả mong muốn của dự án là đem lại việc làm cho 18.000 hộ gia đình trong vùng dự án với 110.000 ngày công, đồng thời đến năm 2012 rừng trồng trên có thể hấp thụ được 320.000 tấn CO2
Giá trị kinh tế thông qua việc hấp thụ CO2 của rừng tự nhiên nhiệt đới khoảng từ 500-2.000 USD/ha, trong khi đó giá trị này ở rừng ôn đới là từ 100-
300 USD/ha Đối với rừng Amazon tại Brazin, giá trị kinh tế thông qua việc
cố định khí CO2 của rừng nguyên sinh là 4.000-4.400 USD/ha/năm, rừ ng thứ sinh là 1.000-3.000 USD/ha/năm (Camille and Bruce, 1994)
1.1.2 Ở Việt Nam
1.1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) thì cấu trúc rừng là một khái niệm dùng
để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi (Dẫn theo Hà Văn Tuế, 1994) [19]
Nghiên cứu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta, Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng thứ như: tầng
Trang 19vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B), tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi thảm tươi được phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó tác giả này còn dựa vào tiêu chuẩn để phân chia các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái mùa của tán lá Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể (Dẫn theo Hà Văn Tuế, 1994) [19]
Theo các nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quân, Trương Hồ Tố, Hồ Viết Sắc và sau này là Hồ Viết Sắc (1984) thì không có sự sai khác về tăng trưởng giữa các loài chủ yếu của rừng khộp, sinh trưởng khác nhau chỉ xảy ra ở các lập địa khác nhau Hồ Viết Sắc đã dựa trên quan hệ H/D1,3 để phân ra 4 cấp năng suất rừng khộp gồm: Cấp sinh trưởng tốt, cấp sinh trưởng khá, cấp sinh trưởng trung bình và cấp sinh trưởng xấu (Dẫn theo Phạm Tuấn Anh, 2007) [1]
Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã phân tầng thứ theo hướng định lượng, phân theo cấp chiều cao một cách cơ giới Vũ Đình Phương (1987) cho rằng, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết nhưng chỉ trong trường hợp rừng
có sự phân tầng rõ rệt (Dẫn theo Lê Hồng Phúc, 1996) [13]
Việc mô hình hóa cấu trúc đường kính D1,3 được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Đồng Sĩ Hiền (1974)
Trang 20dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986) đã sử dụng hàm phân bố giảm phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng Trần Văn Con (1990)
đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đắk Lắk; Lê Sáu (1996) đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật phân bố đường kính, chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên; Bùi Văn Chúc (1996) đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ ở đầu nguồn lâm trường Sông Đà ở trạng thái rừng IIA1, IIIA1 và rừng trồng làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây trồng,… (Dẫn theo Lê Hồng Phúc, 1996) [13]
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài
1.1.2.2 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sinh khối rừng được tiến hành khá muộn, tuy nhiên bước đầu cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể Cho tới nay một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở nước ta như Keo tai tượng,
Mỡ, Thông mã vĩ, Thông nhựa và Keo lai,… đã được nhiều tác giả nghiên cứu lập biểu cấp đất, biểu thể tích, quá trình sinh trưởng và sản lượng rừng Đây là những nghiên cứu ban đầu làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu sinh khối và tính toán lượng hấp thụ CO2 bởi các loại rừng trồng ở nước ta
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Trang 21Cũng sử dụng phương pháp “Cây mẫu” của Newboul D.J (1967), tác
giả Hà Văn Tuế (1994) đã nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phúc [19]
Lê Hồng Phúc (1996) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối hoàn chỉnh, đây được xem là tác phẩm mang tính chất đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu sinh khối ở nước ta Với đối tượng nghiên cứu là Thông ba lá tại Đà Lạt Sau khi nghiên cứu, tác giả đã lập được một số phương trình tương quan giữa sinh khối của các bộ phận của cây rừng với đường kính D1.3 [13]
Vũ Văn Thông (1997) với luận văn Thạc sỹ của mình đã xác lập được mối quan hệ giữa sinh khối của các bộ phận với đường kính D1.3 cho loài Keo lá tràm [17]
Hoàng Văn Dưỡng (2000) đã tìm ra quy luật quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh khối với các chi tiêu biểu thị kích thước của cây, quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô các bộ phận thân cây Keo lá tràm Nghiên cứu cũng đã lập được biểu tra sinh khối và ứng dụng biểu xác định sinh khối cây cá lẻ và lâm phần Keo lá tràm ) [4]
Đặng Trung Tấn (2001) khi nghiên cứu sinh khối rừng Đước, kết quả
đã xác định được tổng sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327 m3/ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm là 9.500 kg/ha [15]
Nguyễn Ngọc Lung (2004) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối rừng Thông ba lá để tính toán thử khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thụ
Từ việc nghiên cứu này tác giả đã xác định được một số hàm tương quan mang tích chất định lượng sinh khối [11]
Nguyễn Văn Dũng (2005), khi tiến hành nghiên cứu sinh khối lâm phần Thông mã vĩ và lâm phần Keo lá tràm trồng thuần loài tại Hà Nội đã cho thấy: Thông mã vĩ ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là 173,4 - 266,2 tấn
và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối khô là 132,2- 223,4 tấn/ha [3]
Trang 22Vũ Tấn Phương (2006) khi nghiên cứu về cây bụi, thảm tươi tại Hoà Bình và Thanh Hoá, kết quả cho thấy sinh khối của lau lách khoảng 104 tấn/ha, trảng cây bụi cao 2-3m khoảng 61 tấn/ha, cỏ lá tre, cỏ tranh, cỏ chỉ có sinh khối từ 22-31 tấn/ha Về sinh khối khô: Lau lách là 40 tấn/ha, cây bụi cao 2-3m là 27 tấn/ha, cây bụi cao dưới 2m và tế guột là 20 tấn/ha, cỏ lá tre 13 tấn/ha, cỏ tranh 10 tấn/ha [12]
Nguyễn Văn Tấn (2006) nghiên cứu về sinh khối rừng Bạch đàn Urophylla ở Yên Bái cho kết quả cho thấy với sinh khối tươi ở tuổi 4 bằng 183,54 tấn/ha, ở tuổi 5 là 219,77 tấn/ha và ở tuổi 5 là 239,19 tấn/ha Trong đó sinh khối trên mặt đất chiếm từ 77,78% - 89,12% Tương ứng sinh khối khô ở tuổi 4 là 66,87 tấn/ha, tuổi 5 là 73,53 tấn/ha, tuổi 6 là 96,02 tấn/ha Trong đó sinh khối khô trên mặt đất chiếm từ 64,27% - 85,92% [16]
Nguyễn Duy Kiên (2007) khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng
trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy sinh khối
tươi trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5% [10]
Võ Đại Hải và cộng sự (2009) trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu
khả năng hấp thụ và giá trị thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam” đã tiến hành nghiên cứu năng suất sinh khối
của một số loài cây trồng rừng như: Mỡ, Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm,… Kết quả đã đánh giá được cấu trúc sinh khối cây
cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng trồng, tìm hiểu rõ được mối quan hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các nhân tố điều tra,… Góp phần quan trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng trồng và nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của một số loài cây trồng rừng sản xuất chủ yếu ở nước ta hiện nay [8]
Trang 231.1.2.3 Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO 2 của rừng
Hầu hết các dự án hiện nay đã và đang triển khai ở Việt Nam liên quan đến cơ chế phát triển sạch (CDM) Việt Nam là nước đang phát triển không nằm trong những nước nằm trong diện phải cắt giảm khí phát thải nhà kính,
mà Việt Nam là một trong những nước gánh chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu Nhiều dự án trong đó có thể kể đến dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch là một dự án lớn đã và đang góp phần trong việc giảm thiểu khí phát thải hiệu ứng nhà kính, giảm thiểu biến đổi khí hậu Tiêu biểu một số dự án như:
Dự án “Tái trồng rừng Cao Phong” bao gồm việc trồng khoảng 365 ha rừng trên đất trảng cỏ và đất có cây bụi hiện đang bị suy thoái tại các xã Xuân Phong và Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Tổng lượng phát thải khí nhà kính dự kiến giảm được trong 16 năm (2008-2023) là 42.645 tấn CO2
tương đương (theo Bộ TNMT)
Các dự án về Lâm nghiệp còn rất ít, mới chỉ có một dự án “Trồng rừng
môi trường trên đất mới ở A Lưới - tỉnh Thừa Thiên - Huế” với lượng CO2 cắt giảm được là 27.528 tấn/năm do Uỷ ban nhân dân huyện A Lưới, Hội nông dân A Lưới, Lâm trường A Lưới và tổ chức phát triển Hà Lan thực hiện
Từ những thành công bước đầu trong việc thực hiện nghiên cứu sinh khối
rừng, từ khi Cơ chế phát triển sạch được thông qua đã có khá nhiều các công trình
nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng được thực hiện, có thể kể tới một số nghiên cứu sau:
Nguyễn Ngọc Lung (2004), công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba lá để tính toán khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thụ Đây
là công trình nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng, tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này [ 11]
Trang 24Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái rừng cho biết: Rừng giàu có tổng trữ lượng CO2 là 694,9 - 733,9 tấn
CO2/ha; rừng trung bình là 539,6-577,8 tấn CO2/ha; rừng nghèo 387,0-478,9 tấn CO2/ha; rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO2/ha; rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấn CO2/ha [12]
Ngô Đình Quế (2005) khi nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam đã tiến hành đánh giá khả năng hấp thụ CO2 thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam gồm: Thông nhựa, keo lai, Mỡ, keo lá tràm và bạch đàn Uro ở các tuổi khác nhau Kết quả tính toán cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phần khác nhau tuỳ thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định Để tích luỹ khoảng 100 tấn CO2/ha Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng 5 - 6 tuổi, Bạch đàn Uro 4 - 5 tuổi Kết quả này là rất quan trọng nhằm làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Tác giả đã lập phương trình tương quan hồi quy - tuyến tính giữa các yếu tố lượng CO2
hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ và năng suất sinh học Từ đó tính ra được khả năng hấp thụ CO2 thực tế ở nước ta đối với 5 loài cây trên[14]
Phạm Tuấn Anh (2007) Nghiên cứu về năng lực hấp thụ CO2 của rừng
tự nhiên lá rộng thường xanh ở Đăk Nông cho kết quả: Lượng tích luỹ CO2
hàng năm từ 1,73 đến 5,18 tấn/ha/năm tuỳ theo trạng thái rừng [1]
Nguyễn Thanh Tiến (2012) khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của trạng thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt, đã xác định được tổng lượng CO2 hấp thụ của rừng IIb tại Thái Nguyên dao động từ 383,68 - 505,87 tấn CO2/ha, trung bình 460,69 tấn CO2/ha (trong đó lượng CO2 hấp thụ tập trung chủ yếu ở tầng đất dưới tán rừng là 322,83 tấn/ha, tầng cây cao 106,91 tấn/ha, tầng cây dưới tán 15,6 tấn/ha và vật rơi rụng là 15,34 tấn/ha) [18]
Trang 25Bên cạnh việc nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của một số trạng thái rừng của Việt Nam thì vấn đề giá trị thương mại mang lại từ khả năng hấp thụ
CO2 của rừng cũng được rất nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu
Võ Đại Hải và cộng sự (2009) đã nghiên cứu và xác định được cấu trúc lượng carbon trong cây cá thể, trong lâm phần các loài Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro,… Bên cạnh đó, các tác giả còn xác định được các mối quan hệ tương quan giữa lượng carbon hấp thụ với sinh khối cây cá lẻ, sinh khối cây bụi, thảm tươi, thảm mục dưới tán rừng,… [8]
Đề tài “Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO 2 và cải tạo đất của rừng trồng Keo lai ở một số tỉnh miền núi phía Bắc” của Nguyễn Viết Khoa (2010)
đã xác định được cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong cây cá thể và lâm phần Keo lai tính trung bình cho các tuổi và cấp đất như sau:
Cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong cây cá thể Keo lai: Thân 54,31%,
rễ 16,4%, cành 15,16%, lá 8,58%, vỏ 5,54%
Cấu trúc lượng carbon hấp thụ trong lâm phần Keo lai: Đất rừng chiếm 67,74%, tầng cây gỗ 27,58%, tầng cây bụi thảm tươi chiếm 1,48% và vật rơi rụng chiếm 3,2% [9]
1.1.2.4 Nghiên cứu về cây Vầu Đắng
* Phân loại:
Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) thì Vầu đắng có tên khoa
học là Indosasa sinica C.D Chu & C.S Chao thuộc họ Hòa Thảo Poaceae Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầu đắng Indosasa [2]
Vũ Văn Dũng sau khi thu nhập mẫu mô tả, đối chiếu với tài liệu và trao đổi với chuyên gia Trung Quốc đã đề nghị thống nhất và sửa lại tên là
Indosasa angustata McClure (2001) [5]
Trang 26* Đặc điểm hình thái:
Vầu đắng là loài Tre mọc tản, thân ngầm lan rộng trong đất, đường kính 1
- 3 cm Thân khí sinh cao 17 - 20m, đường kính 10 - 12cm; cây to nhất có thể tới
20 cm; thân non màu lục nhạt, phủ lông mềm, thưa, màu trắng, sau rụng đi; thân già màu lục xám Chiều dài lóng giữa thân 30 - 50cm, dài nhất đến 80cm, vòng thân hơi nổi lên, nhất là những lóng giữa thân trở lên; vòng mo không có lông
Cây phân cành muộn, phần không có cành thường tròn đều, vòng đốt
không nổi rõ Phần thân tre có cành, thường có vết lõm dọc lóng, đốt phình to,
gờ nổi cao Cành thường 3, đôi khi 2 hay 1 Bẹ mo sớm rụng, hình thang dài và hẹp, lúc non màu lục hồng sau khi khô màu nâu nhạt, lưng có nhiều sọc dọc, giữa các sọc có lông cứng màu nâu, mép có lông mi rõ; tai mo không phát triển, thay vào đó là 4 - 6 lông mi dài 7 - 15cm, đứng thẳng; lưỡi mo nhỏ, cao 2 - 5
mm, đầu có lông mảnh; phiến mo hình lưỡi mác, màu đỏ tím nhạt, ở giữa màu lục, dài 7 - 15cm, lật ra ngòai, đáy phiến mo hẹp so với đỉnh bẹ mo Lá 3 - 6 trên cành nhỏ; hình mác dạng dải, dài 11 - 28cm, rộng 1 - 5 cm, gân cấp hai 3 - 7 đôi;
bẹ lá không lông, mép đôi khi có lông mảnh, tai lá thường không phát triển Cụm hoa mọc trên cành không lá, mỗi đốt mang 1 hoặc nhiều bông nhỏ Mỗi bông nhỏ mang 8 - 12 hoa Hoa có 3 mày cực nhỏ trong suốt, 6 nhị, đầu nhụy xẻ 3 hình lông chim Quả dĩnh, hình trứng trái xoan, mầu nâu
* Đặc tính sinh thái:
Vầu đắng có độ chiụ bóng lớn, độ tán che trung bình của rừng vầu ổn định tới 0,8-0,9, nơi rừng thưa nhiều ánh sáng, sinh trưởng của Vầu đắng hạn chế Tác giả cũng đã đưa ra một số thông tin khác như vùng có Vầu đắng, phân bố nhiệt độ bình quân từ 22-23,5°C, lượng mưa 1600-1700mm/năm trở lên, độ ẩm không khí trung bình 85-95%, độ cao phân bố 50m-120m so với mặt nước biển, vầu mọc trên các loại đất có đá mẹ là phiến thạch, phiến philit, phiến mica, thành phần cơ giới trung bình nhưng đất ẩm
Trang 27Vầu đắng ưa đất hình thành từ các loại đá phiến, phong hóa tương đối kém; thành phần cơ giới là các loại đất thịt có đá lẫn; tầng đất thường sâu 50 - 80cm, có màu vàng, pH (Kcl) từ 3,2 - 4,6; C/N 8,3 - 9,9; mùn tổng số (%) 0,7
- 4,4; đạm tổng số 0,08 - 0,32
Vầu đắng có thể mọc hỗn giao hoặc thuần loài, những loài cây gỗ lớn
thường mọc hỗn giao với Vầu đắng thường thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Re (Laureceae), Thầu Dầu (Euphorbiaceae)
Vầu đắng có thể bị khuy hàng loạt, đã gặp Vầu đắng bị khuy trên diện rộng vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX ở các tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang Sau khi khuy cây ra hạt và chết Chu kỳ khuy của vầu theo người dân là khoảng
50 năm, cũng gặp vầu đắng ra hoa lẻ tẻ trong rừng nhưng không lan rộng
Cây sinh trưởng chủ yếu bằng hệ thống thân ngầm dưới mặt đất 20 - 30
cm Đôi khi gặp thân ngầm trồi lên mặt đất Mùa sinh trưởng từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, mầm măng phát triển dưới mặt đất từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau; nhú khỏi mặt đất từ tháng 2 đến tháng 5 (đầu mùa mưa) Thường chỉ 50% sống và phát triển thành cây trưởng thành Số còn lại bị chết khi còn ở
độ cao dưới 1m Vì vậy, có thể khai thác 50% số măng nhú khỏi mặt đất trong rừng Vầu mà không ảnh hưởng tới rừng
* Giá trị sử dụng:
Thân khí sinh của Vầu đắng thường được sử dụng trong xây dựng, bên cạnh đó còn được sử dụng để làm nguyên liệu giấy, sản xuất đũa, tăm xuất khẩu,…
Măng Vầu đắng được sử dụng làm thực phẩm Thu hoạch khi măng mới nhú lên khỏi mặt đất là có chất lượng tốt nhất
* Nhân giống:
Vầu đắng ở nước ta có 2 hình thức nhân giống là nhân giống bằng thân ngầm và nhân giống bằng thân khí sinh có mang 1 đoạn thân ngầm
Trang 28Hình thức nhân giống bằng thân ngầm thì hom được chọn có tuổi từ 1 - 3, khỏe mạnh, có từ 5 - 6 mắt ngủ, thời gian lấy hom trước mùa ra măng,… Đối với nhân giống Vầu đắng bằng thân khí sinh mang một đoạn thân ngầm thì nên chọn thân khí sinh ở tuổi 2 là tốt nhất Vầu đắng cung được mọc tự nhiên ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy, vầu đắng phát triển rất nhanh, mọc rải đều không tập trung thành bụi
* Kỹ thuật gây trồng và khai thác:
Theo Ngô Quang Đê (2003), có thể trồng Vầu đắng bằng gốc thân khí sinh có mang thân ngầm hoặc bằng một đoạn thân ngầm, trồng vào cuối đông, đầu xuân (vào trước mùa măng), khi trồng chú ý đặt cây hoặc gốc cây thẳng đứng, không được uốn cong hoặc lệch với hướng của thân ngầm; hố đào sâu
40 -50 cm, bón lót bằng phân chuồng hoai, khi trồng cần nệm chặt đất, trồng xong ủ rác để giữ ẩm, tưới nước 2-3 lần [7]
Về kỹ thuật khai thác, tác giả Ngô Quang Đê nhận định: ở những rừng vầu mới trồng, tuyệt đối không được thả trâu, bò, thường xuyên chú ý phát quang, xới đất Nơi vầu ra hoa thì cần khai thác ngay cây có hoa và những cây xung quanh Sau đó đào bới, loại bỏ thân ngầm rồi bón phân chuồng để giúp cây phát triển tốt Nếu khai thác không hợp lý sẽ làm cho rừng vầu bị thoái hoá, mật độ tăng lên nhưng cây nhỏ dần, chỉ nên khai thác cây tuổi 5-6; chu
kỳ chặt có thể 2-3 năm một lần; tỉ lệ cây ở các tổ tuổi có thể giữ lại là: 1 tuổi 20-30%, 2-3 tuổi 30-40%, 4-5 tuổi 30-40% Đối với rừng vầu đã thoái hoá (Vầu đinh), có thể cải tạo bằng cách trồng cây gỗ lá rộng theo băng hoặc theo đám trong rừng vầu, trước khi trồng cần chặt bỏ và đào gốc cây vầu theo đám, loài cây trồng có thể chọn Lim xanh, Ràng ràng, Mán đỉa…; cũng có thể chặt trắng, sau đó đào bỏ hết thân ngầm, trồng lại vầu xen cây lá rộng (Ngô Quang
Đê, 2003) [7]
Trang 29cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trong việc nghiên cứu sinh khối và hấp thụ
CO2 của rừng, xây dựng được nhiều phương pháp tiên tiến trong nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ CO2
Đối với Việt Nam, vấn đề nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ CO2
của rừng được nghiên cứu khá muộn so với thế giới, tuy nhiên đây là lĩnh vực đã được sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội và bước đầu cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là đối với một số loài cây trồng rừng phổ biến ở nước ta như: Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, Mỡ, Keo các loại, Bạch đàn,… Góp phần quan trọng trong việc định lượng giá trị môi trường rừng ở nước ta Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 ở nước ta mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cho đối tượng là rừng trồng, đối tượng rừng tự nhiên đặc biệt là rừng vầu đắng vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Hiện nay, đối tượng rừng vầu đắng chiếm một tỷ trọng khá lớn so với tổng diện tích rừng tự nhiên ỏ các tỉnh vùng núi phía bắc của nước
ta, do vậy, việc nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 cho đối tượng
Trang 30rừng này là rất cần thiết trong tiến trình lượng hóa các giá trị môi trường rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và hướng tới thị trường thương mại carbon trên thế giới Thông qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc các phương pháp của các tác giả như:
Võ Đại Hải, Bảo Huy, Vũ Tấn Phương, Ngô Đình Quế…Trong nghiên cứu để nghiên cứu cụ thể cho đối tượng rừng vầu đắng tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên một cách phù hợp và khoa học nhất Hầu hết các phương pháp nghiên cứu CO2 đều thông qua nghiên cứu sinh khối của rừng
Với những lý do đó Luận văn đặt ra là cần thiết vì: Rừng vầu đắng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn chưa có công trình nào nghiên cứu về cấu trúc sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 của rừng Đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu nhằm đáp ứng thực tiễn trong công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên
A Vị trí địa lý
Với vị trí địa lý từ 105025’ đến 105043’kinh độ Đông, từ 21057’ đến
22025’ vĩ độ Bắc, trung tâm huyện lỵ là Thị trấn Bằng Lũng, cách thành phố Bắc Kạn khoảng 40 km theo tỉnh lộ ĐT 257 Huyện có hệ thống giao thông khá thuận lợi như đường tỉnh lộ: 254 254B, 255, 257 nối với các tỉnh như Tuyên Quang, Thái Nguyên .và các đường liên xã tương đối hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi trọng việc giao lưu thương mại, phát triển kinh tế - xã hội, du lịch
Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, Đông sang Tây với các dạng địa hình phổ biến như:
- Địa hình núi đất: Gồm các xã phía Nam và thị trấn Bằng Lũng, núi đất
có độ cao phổ biến từ 400 - 600m, độ dốc bình quân từ 20o - 250 Địa hình chia cắt mạnh, đây được đánh giá là những vùng có thể phát triển trồng rừng Keo phù hợp nhất trên địa bàn huyện Chợ Đồn;
Trang 31- Địa hình thung lũng: Phân bố dọc theo các sông, suối xen giữa các dãy núi cao, nơi đây có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển canh tác nông lâm kết hợp
- Địa hình núi đá vôi: Gồm các xã phía Bắc thuộc cao nguyên đá LangCaPhu kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng Địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy núi đá vôi với độ cao trên 1.000m (núi Phia Khao - xã Bản Thi) xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 250 – 300 Đây là đầu nguồn của các con sông chảy vào hồ Ba Bể;
B Khí hậu
Chợ Đồn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam Được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu theo mùa, kết hợp với điều kiện địa hình nên mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau), giá lạnh nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,2oc (Nhiệt độ không khí trung bình cao nhất 26,5oc và thấp nhất là 20,80c) Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6,7,8 (280c - 290c), nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1,2 (130c), có năm xuống tới (20c) Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,50c Ngoài chênh lệch về nhiệt độ theo các mùa trong năm, khí hậu Chợ Đồn còn có những đặc trưng khác như sương mù Một năm bình quân có khoảng 87 - 88 ngày sương mù, vào các tháng 10,11 số ngày sương mù thường cao hơn Về mùa đông các xã vùng núi
đá vôi thường xuất hiện sương muối; mưa đá là hiện tượng xảy ra không thường xuyên Lượng mưa thuộc loại thấp bình quân 1.115mm/năm, các tháng có lượng mưa lớn 6,7 có ngày mua tới 340mm/ ngày, lượng mưa thấp nhất là 12 và tháng
1 năm sau 1,5mm/ ngày Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75 - 80% lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình 82%, thấp nhất vào tháng
2 với 79% và cao nhất vào tháng 7 tới 88% Lượng bốc hơi trung bình năm là
Trang 32830mm, thấp nhất là tháng 1 với 61mm, cao nhất là tháng 4 với 88mm Tổng số giờ nắng trung bình đạt 1.586 giờ, thấp nhất là tháng 1 có 54 giờ cao nhất là tháng 8 với 223 giờ
C Tài nguyên đất đai
Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 91.115ha; Trong đó diện tích
sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp có 5.005,85ha, chiếm 5,49% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp có 64.731,22ha, chiếm 71,04%; đất chuyên dùng có 4.890,79 ha, chiếm 5,37 %; đất ở có 483,53ha, chiếm 0,53%; đất chưa sử dụng có 14.268,61ha, chiếm 15,66% Diện tích đất nông nghiệp không đáng kể bình quân là 1.038m2 /người; đất lâm nghiệp bình quân là 1,34ha/người; diện tích đất chưa sử dụng chủ yếu là đất đồi núi còn 12.925,78ha, đây thật sự là tiềm năng lớn để phát triển sản xuất lâm nghiệp
Về thổ nhưỡng, trên địa bàn huyện Chợ Đồn có các loại đất sau:
+ Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá vôi, phân bố ở vùng phía Bắc của huyện từ Thị trấn Bằng Lũng đến xã Nam Cường Đất tơi xốp, độ ẩm cao, tầng đất dầy, hàm lượng dinh dưỡng cao, tỷ lệ mùn 1,9 - 3,5%
+ Đất feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét và đá biến chất, phân
bố ở vùng đồi núi thấp thuộc các xã phía Nam Đất có tầng dầy trung bình, có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc pha sét Ở những nơi có thảm thực bì rừng che phủ có tỷ lệ mùn khá cao ( 3 - 3,5%), tỷ lệ đạm trung bình, đất thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, ở những nơi có độ dốc thấp, gần nguồn nước có thể trồng cây ăn quả
+ Đất dốc tụ và phù sa: Sản phẩm của quá trình bồi tụ và sa lắng của sông suối phân bố ở các thung lũng và dọc theo các con sông, suối Tầng đất dày, có thành pần cơ giới từ thịt nặng đến sét, đất hơi chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp cho trồng các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như ngô, lạc, đậu tương
Trang 33D Thuỷ văn
Huyện Chợ Đồn có hệ thống suối khá dầy đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn sông Cầu, Sông Năng, sông Phó Đáy, sông Bình Trung với đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông hẹp, dốc, thủy chế thất thường Giao thông đường sông không thể phát triển được do sông, suối dốc, lắm thác ghềnh, một số con suối cạn vào mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh có thể xảy ra lũ quét
1.2.2 Các yếu tố kinh tế khu vực huyện Chợ Đồn
1.2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
- Thu nhập và cơ cấu thu nhập của các ngành kinh tế: Thời điểm năm
2013 toàn huyện có 11.440 hộ, trong đó số hộ nghèo 1.780 hộ chiếm 14, 31%;
hộ cận nghèo 1.272 hộ chiếm 10,23%, số nhân khẩu là: 50.281 người Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Chợ Đồn lần thứ 19 (nhiệm kỳ 2010 - 2015) đã
đề ra mục tiêu với cơ cấu kinh tế: Lâm - Nông - Công nghiệp - Dịch vụ, tiếp tục tăng tỷ trọng các nghành dịch vụ, chế biến, sản xuất phi nông nghiệp; đưa lâm nghiệp và chăn nuôi trở thành ngành mũi nhọn trong kinh tế hàng hóa, sớm đưa huyện nhà thoát khỏi tình trạng chậm phát triển Với những mục tiêu
đó đến nay (kết thúc năm 2013) kinh tế của huyện đã đạt được những kết quả nhất định, quan trọng, đặc biệt là trong phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp cụ thể như: Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 28.502 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 571kg/người/ năm tăng 51kg so với Nghị Quyết đại hội Đảng bộ huyện; tập trung lãnh đạo chỉ đạo công tác trồng rừng phấn đấu mỗi năm trồng được 2.000 ha rừng tập trung; thu ngân sách trên địa bàn đạt 58,8 tỷ đồng (năm 2013), thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/năm
- Trong những năm gần đây, việc trồng rừng với những loài như mỡ, quế trên những diện tích tập trung; xoan, lát, trám, sấu trên các diện tích phân tán nói chung và cây keo nói riêng đã được nhân dân tích cực tham gia thực hiện góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Trang 341.2.2.2 Đánh giá các cơ sở hạ tầng kỹ thuật
- Giao thông:
+ Có Tuyến tỉnh lộ 254 đi từ huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên qua các
xã từ phía Nam, cụm trung tâm, phía Bắc của huyện;
+ Tỉnh lộ 255, 255B, từ trung tâm huyện sang huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang;
+ Tỉnh lộ 257 từ trung tâm thị xã Bắc Kạn đến thị trấn Bằng Lũng trung tâm của huyện;
+ Tỉnh Lộ 257B từ các xã phía Nam B đến quốc lộ 3 (Địa phận huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn);
+ Đến nay toàn huyện có 100% xã có đường rải nhựa, bê tông đến trong tâm xã, 90% số thôn, tổ, bản có đường xe máy và xe cơ giới nhỏ đi lại;
Nhìn chung hệ thống giao thông thuận lợi trong việc vận chuyển các loại hàng hóa, đặc biệt là các loại lâm sản Tuy nhiên hiện nay các tuyến đường lâm nghiệp chưa đáp ứng được so với việc vận chuyển lâm sản sau khai thác của nhân dân
- Điện: Hiện toàn huyện có 145 trạm biến áp, dung lượng 31.674KVA, với 283,3 Km đường dây 0,4; 01 trạm biến áp 110KVA, tỷ lệ hộ dùng điện đạt 93,34% Hệ thống điện đủ điền kiện để cho các nhà máy chế biến gỗ hoạt động trên địa bàn
1.2.2.3 Đánh giá hệ thống cung cấp dịch vụ kỹ thuật
Trên địa bàn huyện hiện có: 120 công ty TNHH, công Ty TNHH một thành viên, doanh nghiệp và hợp tác xã đăng ký hoạt động kinh doanh sản xuất trên địa bàn Trong đó có 37 công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp còn rất hạn chế Cụ thể:
- Công ty TNHH: 02 (Trường Thành, Đa Lợi)
- Hợp tác xã doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể chế biến lâm sản: 35
Trang 35Tuy nhiên hoạt động của các Công ty, Hợp tác xã DN, Hộ kinh doanh cá thể chủ yếu là quy mô nhỏ, chủ yếu là chế biến lâm sản, đồ gia dụng sử dụng nguồn nguyên liệu chủ yếu dựa vào gỗ rừng tự nhiên, hoạt động thiếu bền vững, không ổn định thường xuyên
1.2.3 Các yếu tố xã hội huyện Chợ Đồn
- Độ tuổi từ 10 tuổi trở lên là: 41.980 người, chiếm 83% dân số Trong đó: + Độ tuổi lao động nam từ 15 - 60 tuổi là: 19.413 người, chiếm 38,6 % dân
số (Lao động có việc làm: 17.078 người, không có việc làm: 543 người)
+ Độ tuổi lao động nữ từ 15 - 55 tuổi là: 18.576 người, chiếm 36,9 % dân số (Lao động có việc làm: 15.470 người, không có việc làm: 642 người)
- Với cơ cấu dân tộc: dân tộc Tày 36.607 người, chiếm 72,8% dân số toàn huyện, dân tộc Dao 6.386 người chiếm 12,2% dân số toàn huyện, các dân tộc còn lại chủ yếu là các dân tộc Nùng, Mông, Hoa Với thành phần dân tộc như vậy nhìn chung là hoàn toàn thuận lợi trong công tác tổ chức tuyên truyền vận động nhân dân trong thực hiện các chính sách phát triển và quản lý bảo vệ rừng
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quần xã rừng Vầu đắng thuần loài tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào xác định sinh khối rừng Vầu đắng thuần loài tại hai
xã Ngọc Phái và Phong Huân, trữ lượng các bon hữu cơ trong đất không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.2 Nội dung
Đề tài nghiên cứu tập trung vào giải quyết một số nội dung sau:
Nội dung 1: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng tại
- Xác định sinh khối của tầng cây bụi thảm tươi
- Xác định sinh khối của tầng thảm mục
Nội dung 3: Xác định lượng các bon tích lũy của rừng Vầu đắng tại
huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Tính toán lượng các bon tích lũy của rừng Vầu đắng (trong các cá thể cây Vầu đắng)
- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng cây bụi thảm tươi
- Tính toán lượng các bon tích lũy trong tầng thảm mục
Trang 37Nội dung 4 Lượng hóa CO2 tương đương của rừng Vầu đắng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cách tiếp cận
Để đạt được các mục tiêu đề ra, cách tiếp cận tự nhiên và tiếp cận cộng đồng được lựa chọn Hệ thống các ô tiêu chuẩn được lập cho các hoạt động điều tra rừng để xác định lượng các bon tích lũy trong rừng Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu Kết hợp với điều tra thực địa là hoạt động điều tra cộng đồng nhằm xác định khu vực tập trung nhiều rừng Vầu đắng tại khu vực nghiên cứu Đề tài đã lựa chọn 2 xã làm điểm nghiên cứu là xã Ngọc Phái và xã Phong Huân
Trang 38đắng, và cây bụi và thảm mục được đo đếm tại 5 ô dạng bản có kích thước 1
m2 (Hình 3.1)
Trong mỗi OTC tiến hành điều tra cây vầu theo 3 cấp tuổi sau:
- Cấp tuổi I: Cây non (1-2 tuổi)
- Cấp tuổi II: Cây bánh tẻ (3-4 tuổi)
- Cấp tuổi III: Cây già (trên 4 tuổi)
Lập 5 ô thứ cấp (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa OTC) diện tích 25m2 (5 x 5m) để điều tra cây bụi thảm tươi và lập 5 ô dạng bản diện tích 1 m2 (1 x 1m)
để điều tra vật rơi rụng
- Tổng số OTC cần lập là: 9 OTC/xã x 2 xã = 18 OTC Trong đó:
+ Tổng số ô thứ cấp: 18 OTC x 5 ô thứ cấp/OTC = 90 ô thứ cấp
+ Tổng số ô dạng bản: 18 OTC x 5 ô dạng bản/OTC = 90 ô dạng bản
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí các ô đo đếm
2.3.4.3 Các bể chứa các bon phần trên mặt đất cần đo đếm
Rừng có 6 bể chứa các bon, bao gồm: Trong thân cây Vầu; Trong cây bụi - thảm tươi - lâm sản ngoài gỗ; Trong thảm mục; Trong vật rơi rụng cành nhánh, cây chết; Trong rễ cây; Trong đất Phần trên mặt đất bao gồm: