Các nhà Nhân chủng học trên thế giới từ lâu đã có nhiều nghiên cứu v ề lĩnh vực Sinh thái nhân văn, trong đó đ ề cập đến đặc trưng của các chỉ s ố nhân trắc trong mối tương quan với các
Trang 1MAI VẦN HƯNG
NGự0l VIỆT NAM THEp VÙNG SINH THÁI
Trang 2Mai Văn Hưng
Trang 3M Ụ C L Ụ C
Trang
Chương 1
ĐẠI CƯÓNC VỀ HlNH THỀ NGƯỜI
1.1 Con người tự nhiên 11
1.2 Con người xã hội
1.3 Con người Việt Nam 21
1.4 Một SỐ vân đề về nhân trắc 24
1.5 Con người và môi trường sinh thái 25
1.7 Các nghiên cứu vể hình thế người trên thế giới 36
1.8 Các nghiên cứu về hình thể người ở Việt Nam 39
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI NHÂN VÀN ở VlệT NAM 3.1 Vùng Tây Bắc B ộ 47
3.2 Vùng Đông Bắc B ộ 51
3.3 Vùng Bắc Trung B ộ 54
3.4 Vùng Nam Trung B ộ 57
3.5 Vùng Tây Nguyên 63
3.6 Vùng Nam Bộ 70
Trang 4Chương 3
ĐẶC ĐIỂM HlNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙN6 SINH THÂI VÀ
CẨCYẾUTỐLltNQUAN_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _
4.1 Thực trạng các chỉ sô' nhân trắc cơ bản
của học sinh THPT các dân tộc ở 6 vùng sinh th ái 914.2 Quy luật tăng trưởng chỉ số nhân trắc cơ bản đặc trưng
của học sinh các dân tộc ở 6 vùng sinh thái 1554.3 Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến chỉ số nhân trắc 200
PHỤ LỤC 235
TẦI LIÊU THAM KHẢO 2 3 9
6 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THẾ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 5"Đến năm 2020, chiều cao trung bình của thanh niên sẽ từ l,65m ; tăng thêm 4cm so với hiện nay; còn tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ
em dưới 5 tuồi phải ít hơn 5% (hiện nay: 17,5%)" Đó là những chỉ sô' cơ bản đặt ra trong chiên lược phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nâng cao chiểu cao trong vòng 9 năm lên 4 cm có thể coi là một mục tiêu rất
to lớn và không dễ thực hiện Một nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng (2010) trên những người 16-60 tuổi cho thấy trong 30 năm 1976-2006, chiều cao ở nam tuổi từ 16^25 tăng 2,7 cm trên 10 năm Nói cách khác, cứ 10 năm thì chiểu cao thanh niên Việt tăng 2,7 cm Như vậy
đ ể thực hiện chiên lược này chúng ta cần những giải pháp đổng bộ và khoa học, chính vì th ế đề tài này mang tính thời sự cấp thiết hiện nay.
Trang 6Các nhà Nhân chủng học trên thế giới từ lâu đã có nhiều nghiên cứu v ề lĩnh vực Sinh thái nhân văn, trong đó đ ề cập đến đặc trưng của các chỉ s ố nhân trắc trong mối tương quan với các đặc trưng môi trường sinh thái ở các vùng miền khác nhau, đặc biệt là những nghiên cứu của các nước phát triển thuộc châu Á, nơi có cùng chủng tộc như người Việt Nam Các nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy người dân tộc Hàn phân bô' trên toàn bộ nước Triều Tiên và Hàn Quốc ngày nay, tuy nhiên, người Hàn sống tại Hàn Quốc có các chì
s ố nhân trắc vượt trội so với người Hàn sông tại Triều Tiên Có nhiều nguyên nhãn dẫn đêh tình trạng này, trong đó các yếu tô' đặc trưng cho vùng sinh thái đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Việc tìm hiểu
nhân làm nên điều thần kỳ về hình thái - thể Ị ực của người Hàn Quốc nhằm phục vụ cho chiến ìược phát triển con người của Việỉ Nam là hếi sức cấn thiết hiện nay Cuốn sách này là kết cỊuả
nghiên cứu mang tính tổng quát v ề con người Việt Nam theo các
vùng Sính thái khác nhau, cụ th ể là khảo sát các chỉ sô' nhăn trắc, có
ỉiên quan mật thiết với các yếu tô' của môi trường tự nhiên và m.ôi trường xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển hình thái của người Việt hiện nay.
Tác giả
8 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 7Chương 1
ĐẠI CƯƠNG VẼ HÌNH THỂ NGƯỜI
Mặc dù con người thuộc lớp động vật có vú (Mamalia)
nhưng không thể khảo sát cách sông của người qua những hoạt động sống, những tập tính giông các loài động vật có vú khác Trước hết, cần nhìn nhận loài người là một loại sinh vật theo khía cạnh "văn hóa - xã hội" Yếu tố quyết định nhũng hành vi sống, cách ứng xử và điều hòa mối quan hệ của người vói môi trường xung quanh chính là văn hóa - xã hội Và giữa hai mối quan hệ này có sự liên hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau Con người một mặt được thừa k ế về nguồn gen trên cơ sở vật chất
di truyền sinh học, mặt khác lại có thừa k ế các di sản văn hóa -
xã hội vật thể và phi vật thể của xã hội loài người
Trong suốt hcm một triệu năm phát triển, não bộ của con người đã tăng trọng lượng lên hai lẩn Tuy nhiên các biến đổi
về văn hóa - xã hội, hành vi ứng xử hay phương thức sống của con người biến đổi thích nghi dần trong xã hội nhân văn không phải nhờ cơ chế di truyền sinh học, mà lại dựa nhiều vào sự tích lũy kinh nghiệm sống, các sản phẩm văn hóa và môi quan
Trang 8hệ giữa sinh học với văn hóa - xã hội, có thể coi đây là một thứ
"di truyền xã hội"
Về bản chất sứứi học, cơ sở văn hóa và quá trình tiêh hóa của loài người thuộc về những lữìh vực của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên khác nhau, tuy nhiên sự phân chia các chuyên ngành này chỉ là tương đối Nghiên cứu con người trên quan điểm sinh thái thì phải đặt loài người trong hệ sinh thái mà con người là thành phẩn trong đó, sự tồn tại và phát triển của con người phải xét đêh mối tương tác hai chiều giữa người với môi trường tự nhiên và cơ sở phát triển văn hóa, xã hội loài người.Trong khi thấy rõ môi quan hệ mật thiết giữa sinh học và văn hóa - xã hội, thì đổng thời cũng không nên đổng nhất hai quá trình này ở đây, yếu tố văn hóa xã hội là biểu hiện của một sản phẩm vật châ't sinh học, phát triển và tiến hóa ở mức cao nhất, mà tiêu biểu là não bộ Quá trình khai thác môi trường sinh thái và sự thích nghi với điều kiện sôhg, đặc biệt thời kì đầu là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những tiến bộ văn hóa - xã hội của xã hội nhân văn loài người Nội dung của nó là những thay đổi tiến hóa trong hình thái giải phẫu cơ thể người, nhằm thích nghi với điều kiện sôVig mới, hình thành và xuất hiện những hoạt động văn hóa - xã hội sơ khai
Người đầu tiên còn được gợi là người khéo léo (Homo habilis), đã hình thành và phát sinh từ loài vượn người cách đây chừng 2,5 triệu năm, Từ đó, loài người dẩn tiêh hóa, trở thành
loài người trí tuệ, loài người hiện đại ngày nay {Homo sapỉens sapiens) xuâ't hiện trước thời đại của chúng ta 40 nghìn năm Từ
khi con người xuất hiện, cùng với sự hinh thành đời sống xã hội của loài người, thì nhữiig biến đổi sinh học ngày càng có ít ảnh hưởng hon ỉên đặc điểm giải phẫu và hình thái của cơ thể Thay
10 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINHTHÁI
Trang 9vào đó là những tác động của môi trường văn hóa - xã hội ngày càng có tác động chi phối lớn hon và bằng cách đó đã đưa loài người lên vị trí thông lĩnh thế giới sinh vật và chiếm lĩnh đỉnh cao của xã hội nhân văn ngày nay.
1.1 Con người tự nhiên
Người hiện đại (Homo sapiens sapiens)
Hóa thạch của người hiện đại (Homo Sapiens sapiens) được phát hiện sớm nhâ't ở làng Cromagnon (Pháp) năm 1868 Tiếp đó, người hiện đại được phát hiện ở nhiều nước thuộc các
địa điểm của châu Ả, châu Âu và châu Phi Kết quả phân tích di
truyền phân tử ADN trên ti thể, cùng với những dẫn liệu khảo
cổ học và địa tầng học đã cho thấy, người hiện đại xuất hiện sớm nhất là vào khoảng 40 nghìn năm trước đây Phân tích của Bernard Vandermeesh (1995) cho rằng, người hiện đại đã xuâ't hiện sớm hơn, khoảng 1 0 0 -1 5 0 nghìn năm về trước
Người hiện đại cao trung bình khoảng 160cm, có hệ cơ và xương râ't phát triển, dáng vóc của họ cân đô'i và hoàn chỉnh hơn nhiều so với các giai đoạn tiêh hóa trước đó, do các xương tròn và nhẵn hơn, răng cửa nhỏ, độ cong và thể tích hộp sọ khá lớn, khoảng 1.400cm3 Người Cromagnon và ngưòd Neanderửial hiện nay được xem là giống người châu Âu bình thường Một vài người tiền sử này có bộ não lớn hơn người hiện đại, có thế lớn khoảng l.óOOcm^
Đặc điểm giải phẫu người
Có thể kể nhiều đặc điểm hình thái giải phẫu chỉ có ở con người Trước hết phải nói đến bộ não Con người hơn tâ't cả các
Trang 10loại động vật, kể cả các tổ tiên vượn người của mình, là có bộ não phát triển, có vòng cung thần kinh thứ hai, nghĩa là có tín hiệu ngôn ngữ, thông qua tiêhg nói.
Loài người có đời sông chủ yếu thích nghi với lôì sống đi
trên mặt đất, nên có khứu giác phát triển hơn tổ tiên Vị trí của đầu người cũng râ't đáng lưu ý Đầu người được giữ thăng bằng trên đỉnh cột sống đế thuận tiện cho việc đi và chạy trong
tư thế đứng thẳng với hai chân Đây là bằng chứng cho thấy rằng những loài động vật linh trưởng đã dần chuyển đầu của chúng từ vị trí ở ngay phía trước cột sông, để dễ hoạt động cả bốn chi trong việc di chuyển, lên vị trí phía trên cột sống như của con người Nhưng cơ quan thị giác vốn khá phát triển ở các nhóm tổ tiên, thích ứng cho đời sống leo trèo trên cây, lại kém phát triển hơn ở cả vượn người và ở người Trọng lượng bộ não của loài người, hay của nhóm vượn người cao hơn đáng kể, so với các động vật có vú khác
Con người khi mới sinh còn hoàn toàn non nớt, so với con non của các loài linh trướng khác, các bé sơ sinli không thể tự sống được Tiến hóa ở đây có vẻ như đảo nghịch hoàn toàn, khi
xem xét khả năng sinh tổn của trè sơ sinh so với nhiều ìoài linh
trưởng khác
Các bé sơ sinh từ khi mới sinh cho đến nhiều tháng sau đó đều hoàn toàn không thể txT lo cho mình được, từ việc tự tìm thức ăn, đáp ứng nhu cẩu cho cuộc sôVig và tăng trưởng Trong khi đó những con khỉ mói ra đòi đã biết chạy nhảv, leo trèo lên lưng mẹ nó để được rnang đi đây đó một cách an toàn và thành thạo Như vậy có thể thấy khả năng sinh tổn độc lập của con người khi vừa được sinh ra kém hơn nhiều so với rất nhiều loài động vật khác
12 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 11C h ư ơ n g 1 ĐẠI CƯƠNG VẼ HÌNH THỂ NGƯỜI 13
Đặc điểm tiên hóa của người hiện đại so với các nhóm tổ tiên
Loài người có văn hóa, đời sống xã hội, có não bộ rất phát triển và có hệ thống tín hiệu thứ hai là tiếng nói và chữ viê't Bán cầu đại não của loài người chứa khoảng 100 tỉ nơron thần kinh Ngoài những đặc trưng tiến hóa rõ nét ở loài người nêu trên, người ta còn tìm thấy nhiều cơ quan trên cơ thể người thể hiện sự tiến hóa ở nhiều mức độ khác nhau Chẳng hạn như sự đơn giản hóa cùng với sự phát triển của các chi dưới, của ruột thừa, các cơ co tai, cơ gan bàn tay dài, xương cụt, thiêu hoặc thừa các đôi xương sườn,
Trước hết là cấu trúc giải phẫu hình thái của loài người Hộp sọ ở loài người lớn, xương hàm thông và thanh tú, không chìa ra ngoài nhiều Hộp sọ ở loài người có kích thước phần sọ mặt giảm, trong khi sọ não tăng Tỉ lệ phần sọ mặt so với sọ não khoảng 35-50% ở loài người, 90-96% ở tinh tinh Chimpanse, và khoảng 102% ở đười ươi, Sọ não người phình to, trán bớt vát,
lỗ chẩm dịch ra phía trước so với vượn người Mặt người bớt vẩu
Trang 12bề rộng vỏ não người gấp 2 lần vượn ngưòi Thùy chẩm phát triển hơn Các đường dẫn truyền thần kinh tmng ương, cấu tạo giải phẫu của bán cầu đại não ở người tiến hóa hơn so với vượn người.
ơ loài người có chừng 15 cơ quan tiêh hóa rõ rệt so với vượn người, như chi dưới thích nghi tôi ưu với tư thê' đứng thẳng và bước đi dài Xương bả vai người cũng khác vượn người về hình dạng Sự khác nhau thể hiện ở vượn người có sôhg bả (hay gai vai) tạo với trục cơ thể một góc nhọn và hai hô'
bả vai gần bằng nhau, còn ở người góc này gần vuông, hô' bả vai trên rõ rệt Các ngón chân cái lớn hơn, xương bàn chân và các ngón chân ngắn lại Mép trong và gan bàn chân người có hình vòm, trong khi ở linh trưởng mép này bằng phẳng Hìrửì dạng trên có hai chức năng quan trọng, vừa như một cái đế, vừa như một lò xo giúp cho việc nâng đỡ toàn thân và vận chuyển dễ dàng, lanh lợi Tỉ lệ xương chi trên và xương chi dưới ở người và vượn người thay đổi phù hợp với chức năng lao động và vận chuyển Xương đai chậu ở vượn người hẹp và dài hơn so với người Độ dốc xác định bởi mặt phẳng nằm ngang ở người tạo thành góc nhỏ hơn 60“, còn ở vượn người là góc thẳng đứng Cột sôhg của người có hình chữ s với 4 khúc uốn, vói hai phần lồi và 2 phần lõm ở phía trước, ớ vượn người, cột sống đã bớt khum so với động vật đi lại bằng bốn chân, xương cũng rộng ngang hơn, thể hiện được giới tính rõ hơn Lồng ngực của ngtrời dẹp hướng trước - sau, còn ở vượn người dẹp hướng hai bên
Câu trúc và hình dạng các bộ phận như môi, hai cánh mũi
và vành tai, trán, ở các nhóm vượn người có nhiều nét tương đồng vói loài người Lá phổi phải của vượn người và người đều
14 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 13có ba thùy, trong khi đó ở khỉ bậc thấp có bốn thùy Đặc điểm thân và mình của các nhóm vượn người tuy còn tương đối dẹt
và dài, nhưng đã tiến tới gần với cơ thể người hơn là khỉ bậc thấp Riêng phần lổng ngực và thắt lưng có số đô't xấp xỉ nhau, khoảng từ 16 - 18 đốt, đoạn cùng mang khoảng 4 - 5 đốt
Đ ể mang được cơ thể phát triển cao lớn, mang được bộ não
có trọng lượng vượt trội, thì yếu tố thức ăn và chế độ dinh dưỡng ở người cổ đại là rất quan trọng, con non được nuôi bằng sữa của mẹ trong khoảng thời gian dài (12-18 tháng), ốn g ruột có phần ruột thừa, không còn chức năng Răng vượn người
và người hiện đại nhìn chung có số lượng, cấu tạo và câu trúc giữa các loại tưong đô'i giống nhau Răng sữa gồm 20 chiếc, có
3 loại răng chính thức: Răng cửa, răng nanh, răng hàm
Hệ thống chi dưới của người rất phát triển, nhất là cơ cẳng chân hay cơ sứih đôi thuộc cơ 3 đầu cẳng chân, cơ tứ đùi, cơ mông lớn Cơ mác thứ ba ở vượn người không có Sự phân hóa của một số cơ cổ, mặt, m ũi, ở người rõ nét hơn ở vượn người Bàn tay của các loài vượn người và người có khả năng vận động linh hoạt, có thể cầm nắm dễ dàng, bởi có ngón tay cái nằm đối diện với các ngón còn lại của bàn tay Cánh tay có đốt cẳng tay, mang xương trụ và xương quay Nhờ xương quay mà bàn tay
có thể quay xung quanh xưcmg trụ, có thể lật xâp hay ngửa bàn tay Các ngón tay nói chung đều dài và linh hoạt cử động Ngón tay cái có móng dẹt Cánh tay của con người ngắn hon so với cánh tay của họ hàng linh trưởng
Một đặc điểm hình thái giải phẫu khác là ngón chân cái Điều gì khiêh cho ngón chân cái của loài động vật linh trưởng tiến hóa thành ngón chân cái trên bàn chân con người? Ngón chân này trên bàn chân của loài động vật linh trưởng có chức
Trang 14năng giông như một ngón tay cái Với ngón chân cái giôhg như ngón tay cái như vậy đã giúp loài vật này có thế leo và bám trên cây Và ngón chân cái của con người thì nằm thẳng hàng với các ngón chân khác Trong giới động vật, không thê có một loài động vật nào có ngón chân cái chìa ra "ngay phía trước" như của con người; mà chỉ có ngón chân cái "hướng về phía sau hay nghiêng phía trước" như ở các loài động vật linh trưởng Rõ ràng, quá trình chọn lọc tự nhiên sẽ loại trừ và tiêu diệt bất cứ loài động vật linh trưởng nào đánh mâ't khả năng leo trèo với ngón chân cái "đang tiến hóa cao hơn" Và như vậy, chứng sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt và tuyệt chủng, sẽ không thể tiếp tục hoàn thành chuỗi tiêíì hóa, để trở thành loài người hiện nay.
1.2 Con người xã hội
Môi trường xã hội của con người
Môi trường sống, bao gồm các điều kiện tự nhiên và xã hội,
có liên quan đê'n sự hiện diện của con người, hoặc do chính con người tạo dụng nên, nhằm mục đích đám bảo sự sông của con người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn, được gọi là môi trường xã hội nhân văn
Trong quá trình sinh sôhg và tác động vào chính tự Iiliiên, con ngirời đã sáng tạo ra môi trường sông mói, đa dạng và tổng hợp hơn, chứa đựng cả môi trườĩig tự nhiên và ;môi trưtme; xã hội Tính nliân văn của môi trường được thể hiện, trước hết là dấu âh của cơn người ảnh hưởng lên thế giới tự nhiên, là sự
"nhân hóa thế giới tự nhiên", SỊI’ hùnh thành "thể tự' nhiên thứ 2"
có tính châ't nhân tác Tính nhân văn của môi trường còn thể hiện ở những sự biến đổi về chất lượng của môi trường Môi
16 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 15trường nhân văn là một môi trường sôhg do con người tạo ra
và vì con người Việc nghiên ciki môi trường nhân văn nói riêng hay môi trường nói chung chỉ nhằm mục đích tô'i cao là
sự bảo vệ sự sông, sự phát triển hài hòa và toàn diện của con người, sự sinh tồn và phát triển bền vững của xã hội Môi trường sống của con người phải là môi trường tự nhiên, đã được nhân tác hóa Môi trường sinh thái ây thực châ't là vấn đề môì quan hệ giữa con người với tự nhiên
Khoa học sinh thái học xã hội, được hình thành trên cơ sở xích lại gần nhau giữa các ngành khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội - nhân văn và khoa học kỹ thuật Như vậy sinh thái học
xã hội nằm trên điểm giáp ranh giữa các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội Bản chất của nó nằm ngay trong lĩnh vực tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, giữa con người và sinh quyển
Sinh thái học nhân văn hiểu một cách khái quát rằng hệ sinh thái chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của loài người
Nó là một hệ sinh thái bao gồm các hệ sinh thái nông nghiệp, công nghiệp; hệ sinh thái vùng núi, đại dương, thảo nguyên, vùng cực, vũ trụ, Như vậy, tính chất của hệ sinh thái nhân văn là gắn liền với sự có mặt, với hoạt động của loài người, phụ thuộc vào đặc điểm mỗi vùng địa lý cụ thể
Con người trong xã hội loài người
Trước khi con người xuất hiện, cấu trúc của hệ sinh thái tự nhiên tổn tại trên hành tinh đạt mức cân bằng sinh thái tôi đa Nhưng tới khi con người xuất hiện từ hàng triệu ĩ lăm trước đây, quần thể loài người đã không ngừng tác động vào môi trường sống, bằng những hoạt động
Trang 16nhiên và canh tác lương thực để tổn tại và phát triển Trong một thời gian dài ban đầu của lịch sử phát triển của loài người, những tác động này là không đáng kể Đáng chú ý chính là trong giai đoạn lịch sử này đã dần hình thành và phát sinh năng lực sáng tạo văn hóa với nhịp độ càng ngày càng tăng mạnh của con người Tiêp đến là cuộc cách mạng kỹ thuật đầu tiên trong lịch sử cách mạng nông nghiệp ở thời đại đồ Đá mới,
là dâu mốc quan trọng đánh dâu thành tựu về sáng tạo văn hóa, đã đưa loài người bước vào nền văn minh con người, như một nhân tố quyết định của hệ sừủì thái nhân văn
Những tổ tiên của con người vốn là những động vật nhiệt đới Biến đổi thích nghi đầu tiên biểu hiện ở cơ chế điều hòa
sinh \ý, với thay đổi giảm dần bộ lông dày bao quanh, để có thể
thoáng mát và tránh sự tích nhiệt quá nóng Nhưng loài người
đã không cam chịu định cư xung quanh cái nôi phát sinh của mình, để có thể thích ứng tương đôi dễ dàng ở vùng khí hậu ôn đới, họ đã di cư ra xung quanh từ cái nôi phát sinh của mình,
để có thế thích ứng tương đối dễ dàng ở vùng khí hậu ôn đới,
họ đã di cư quãng đường khá dài lên tới tận miền băng giá cực Bắc Cho đến ngày nay, chính lìliờ nhŨTỉg thành tụii khoa học công nghệ và văn hóa sáng tạo, con người đã làm chú toàn bộ hành tinh, sống ở những hệ sinh thái hoàn toàn khác nhau về tự nhiên và xã hội Loài người bước đầu đã vươn tới các hành tinh khác lạ trong vũ trụ bao la
Loài người cổ đại (Homo Sapiens) bằng yếu tố văn hóa - xã
hội và bằng óc sáng tạo của mình, đã làm cho tác động của chọn lọc tự nhiên suy yếu đến mức thành hệ sinh thái nhân văn Hậu quả của tác động là những hệ sinh thái tự nhiên dần dần chuyển thàiili hệ sinh thái nhân văn Điều này có nghĩa là
18 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VỪNG SINH THÁI
Trang 17không còn một hệ sinh thái nào lại không chịu tác động của các nhân tố bên trong, không chịu tác động ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp của loài người Như vậy, hành tinh mà chúng ta đang sống là một phức hệ sinh thái nhân văn khổng lồ, luôn chịu tác động của loài ngưòi.
Sự gia tăng dân s ố trong xã hội loài người
Một trong những thuộc tính cơ bản thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên trong sinh quyển là châ't lượng sống của từng cá thể, tàng cộng đồng cũng như của một
xã hội Áp lực của sự tăng dân số đầu tiên chính là yếu tố chất lượng cuộc sôhg Chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào tổng thể các nhân tố tự nhiên và xã hội, đặc biệt nó tỉ lệ nghịch với số
dân Hậu quả tất yếu của sự tăng dân s ố quá mức được thể hiện
trong tâ't cả các lĩnh vực môi trường và kinh tê' xã hội Có thể nói trong hầu hết các công trình nghiên cứu về nguyên nhân sâu xa của suy giảm chất lượng môi trường cũng như đói nghèo thì đều đi tới một kết luận chung là do sự tăng dân số quá mức là vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và suy giảm môi trường sống Tuy nhiên sự suy giảm dân sô' quá mức cũng để lại những hậu quả khôn lường cho loài người
Đã từ lâu các nhà sinh thái rất quan tâm nghiên ciki động thái của tăng trưởng dân số Điều nay rất quan trọng và làm cơ
sở cho việc nghiên cứu động thái dân số nhân văn cũng như hậu quả của chúng đối với các vâh đề về môi trường nhằm cung cấp những cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp trong quá trình ra quyết định và quản lý vĩ mô
Vào buổi bình minh của lịch sử nhân loại, dân sô' thế giới khá ổn định Động thái dân số chịu sự điều chỉnh của các nhân
Trang 18tố sinh học và ti lệ sinh đẻ cao hầu như được bù lại bằng ti lệ
tử vong cao Căn cứ vào giả thuyết con người xuất hiện cách đây 500 nghìn năm thì sự tăng dân số tự nhiên rất thâ'p (0,004%) Vào thời kỳ nguyên thủy, nằm trong sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, khi nền nông nghiệp sơ khai ban đầu hình thành, dân sô' thế giới lúc đó mới 5 - 1 0 triệu người Vào đầu Công nguyên thì tăng lên 300 triệu và đêh năm 1750 thì có khoảng 700 triệu Có thể nói, trong suốt thời kỳ này, con người là một phần của thiên nhiên, bị thiên nhiên chi phối và tác động Những tác động gây hại do con người gây ra đôì với thiên nhiên không có ảnh hưởng lớn Một sô' chu trình sinh địa hóa trong tự nhiên có thể duy trì trạng thái cân bằng bền vững của chúng
Nhưng ở thế kỉ XVIII, dân số thế giới tăng gấp 5 lần so với thời kỳ Trung cổ, đặc biệt là ở những nước mới bước vào thời
kỳ công nghiệp hóa Theo tính toán cứ 10 năm thì dân sô' lại tăng thêm 1,4% Lần đầu tiên ở châu Âu các dịch bệrửì đã bị đẩy lùi làm cho ti lệ tử vong giảm đi rõ rệt Tỷ lệ trẻ sơ sinh sống sót tăng lên
Như vậy trong quá khứ cứ 1000 năm dân sô tăng gâp đôi thì cho đêh giai đoạn này giảm xuống 200 năm, rồi 80 nám và đến hiện nay là còn ngắn hơn nữa Những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới trong ngành y tế cũng như thuốc men rẻ tiền đã gũíp cho tỷ ]ệ tử vong giảm đi rõ rệt Sự tăng dân số bắt đầu
diên ra kinh khủng và không còn nhŨTig nhân tố giới hạn nữa, điều này được gọi là sự "bùng nổ dân sô'" Tuy nhiên, "tai biêh
dân SỐ" bao gồm cả hiện tu’ơng tăng và giảm ngoài vòng kiểm
soát, do đó sự sụt giảm dân sô' cũng là một nguy cơ đối với môi trường sông cũng như sự phát triển bền vững của loài người
20 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 191.3 Con người Việt Nam
Nguồn gốc con người Việt Nam
Các kết quả nghiên ciixi khoa học về sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực cho thấy, tất cả các dân tộc Việt Nam đều có cùng một nguồn gốc, đó là chủng người Cổ Mã Lai Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam hiện nay chính là người Việt bản địa
Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn chính Ta đã biê't loài người hiện đại được chia thành bốn đại chủng tộc chính là Đại chủng Âu, Đại chủng Phi, Đại chủng Á và Đại chủng ú c (hay còn gọi là đại chủng Phương Nam) Vào thời kỳ đồ đá giữa, khoảng 10.000 năm trước đây, đã có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở vùng Tây Tạng di cư về phía đông nam, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp vói bộ phận của Đại chủng ú c bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (Indionesian) Người Cổ Mã Lai có nước
da ngăm đen, tóc quăn gợn sóng, tầm vóc thấp Người c ổ Mã Lai từ vùng Đông Dương lan tỏa về khắp phía bắc tới sông Dương Tử, về phía tây tới Ấn Độ, về phía nam tới các đảo của Inđônêxia, về phía đông tới Philippin
Cuôi thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đổ đồng (khoảng 5.000 năm trước đây), tại khu vực mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam, miền Nam Trung Quốc, từ sông Dương Tử trở xuống, có
sự chuyển biêh hình thành một chủng mới là chủng Nam Á Do hai lần hòa nhập với Đại chủng Á mà chủng Nam Á có những nét đặc trưng nổi trội của Đại chủng Á hơn là những nét đặc
C h ư ơ n g 1 {)ẠÍ CƯƠNG VÉ HÌNH THÍ NGƯỜI_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ ^
Trang 20trưng của Đại chủng úc Cũng chính vì thế chủng Nam Á được liệt vào một trong những bộ phận của chủng Á.
Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt Thực ra không có đến một trăm (Bách) dân tộc nhưng quả thật
đó là một cộng đồng dân cư rất đông đúc bao gổrn Điền Việt
(cư trú tại Quảng Đông, Trung Quôc), Lạc Việt, Âu Việt (Âu Lạc) (cư trú tại Quảng Tầy, Trung Quốc và Bắc Bộ Việt N am ), sinh sống từ vùng nam sông Dương Tử (Trung Quốc) cho đêh Bắc Bộ (Việt Nam) Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn - Khơme, Việt - Mường, Tày - Thái, Mông - Dao, Sau này quá trình chia tách này tiêp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày hôm nay Trong khi đó, miền Nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của ngtrời
Cổ Mã Lai Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chăm Địa bàn
cư trú của riêng người Bách Việt là một tam giác, mà đáy là sông Dương Tử (Trung Quôc), đỉnh là vùng Bắc Trung Bộ (Việt Nam) Còn địa bàn cư trú của cộng đổng người Bách Việt và Nam Đảo là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử (Trung Quốc), đỉnh là đổng bằng sông Cửu Long (Việt Nam)
Việt Nam là một trong những quôc gia có mật độ dân số cao nhâìt trên thê' giới Năm 1983, mật độ dân số trung bình ở Việt Nam ỉà 200 người/km^ Năm 1996, mật độ dân sô' trung bình là 230 người /km^ Mật độ dân số Việt Nam cũng không đồng đều ồ các khu vực khác nhau (năm 1995),
Địa bàn cư trú được mở rộng tò vùng Trung du miền núi phía Bắc xuôhg châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả, các vùng duyên hải, các vùng hải đảo xa xôi Dân CU’ ở ven sông
22 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 21ven biển vừa trồng lúa và làm nghề chài lưới; dân vùng đồi núi thung lũng thì trổng lúa, khai thác lâm sản, săn bắt thú.
Các dân tộc ở các khu vực láng giềng cũng di cư đến Việt Nam: một bộ phận người Thái, Hoa, Mông, D ao, đến cư trú ở vùng núi biên giới phía Bắc, trên các thung lũng, trên các triền núi cao 600 - 700m
Vào th ế kỷ XVII, dân cư nông nghiệp phía Bắc mở rộng vùng cư trú vào phía Nam theo đường biển và đường bộ với các địa danh quy tụ như Mũi Xuy (Bà Rịa), Đổng Nai (Biên Hòa), Sài Gòn Tới nửa đầu thế kỷ XVII, họ tiếp tục di cư xuống
Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Châu Đốc Người Việt súìh cơ lập nghiệp trên vùng đâ't mới, phù sa sông Đổng Nai, Cừu Long cùng với người Khơme, Hoa Trải qua nhiều thê kỷ, đât nước qua nhiều biến động thăng trầm song Việt Nam vẫn là một cộng đổng dân tộc sống trong một biên cương ổn định, với nền văn hóa đa dạng trong thống nhất
Sự gia tăng dân s ố ở Việt Nam
Tổng dân số Việt Nam năm 1945 mới chi khoảng 25 triệu người, đêh nay sau gần 55 năm tính đến ngày 1/4/1999, dân sô nước ta đã là 76.327.919 người Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình toàn quốc thời kỳ 1979 - 1989 là 24% , thời kỳ 1989 là 1,7 % Mật độ dân số trung bình của Việt Nam năm 1999 là khoảng
231 người /km^ Do kết cấu dân số trẻ: số người dưới độ tuổi lao động chiếm 39,55%, trong độ tuổi lao động chiêm 52,83% và
trên độ tuổi lao động chiếm 7,62% tổng số dân.
Từ sau khi đất nước bước vào ửiời kỳ đổi mới (1986), kúữi tế phát triển nhanh, tỉ lệ tăng trưởng GDP vào những năm đẩu ửiập
kỷ 90 là 8,5% năm, những năm 1995 -1997 là từ 9,54% -ỉ- 8,15% năm
C h ư ơ n g 1 OẠI CƯƠNG VÉ HÌNH THỂ NGƯỜI_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ 2^
Trang 22đến năm 1998 - 1999 giảm xuống còn 5 - 5,8% (trong đó, công
nghiệp: 8 - 10%, nông nghiệp: 3,4 %) Quá trình đô thị hóa diễn
ra nhanh, năm 1990 mới có khoảng 500 độ thị lón nhỏ, đêh nay
con sô này đã tăng lên 623 Tỉ lệ s ố dân đô thị trên tổng s ố dân
năm 1986 là 19%, năm 1990 là 20%, năm 1999 là 23,5%, cho tới
năm 2013, ước lượng dân s ố Việt Nam đạt hơn 91 triệu người,
mật độ dân số trung bình cả nước đạt 91 người/kml Có 592, 948
cơ sở sản xuâ't công nghiệp, trong đó có 881 cơ sở có vô'n đầu tư nước ngoài, 575 cơ sở quốc doanh Trung ương, 1.246 cơ sở quốc doanh địa phương, 590.246 cơ sở tư nhân, 66 khu công nghiệp Khoảng 90% cơ sở sản xuâ't cũ chưa có khu xử lý nước thải tập trung Đây là những tiền đề về kữih tê' làm cho sự gia tăng dân
SỐ tăng lên đáng kể trong những năm gần đây.
1.4 Một sô vấn đề vể nhân trắc
Sinh học cơ thể là môn khoa học cổ điến ra đời từ râ't sớm trong lịch sử hình thành xã hội loài người và đang ngày càng phát triên Nghiên cứu nhân trắc của con ngưòi được xem như một bộ phận của sinh học cơ thê' nó cũng có ỉịch sử tồn tại và phát triên hết sức phong phú thể hiện trên nhiễu lĩnh vực như
sự tăng trưởng, phát triển, đặc tnm g theo chủng tộc, giới tính, Nhân trắc học là môn khoa học dùng các phương pháp toán học và thông kê để nhận định phân tích sự đo đạc các kích thước của cơ thể ngtĩời nhằm tìm hiêu các quy luật về sự phát triêh hình thái con người đồng thời mìg dụng các quy luật đó vào việc giải quyết những yêu cầu thvĩc tiễn của khoa học, kỹ thuật, thiết kê sản xuất các sản phẩm tiêu dùng phục vụ cho
con người Ngoài ra, về mặt lý luận^ nliân trắc học còn cho phép
chúng ta đề ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con người, về
24 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 23phân loại các dạng người và các nhóm chủng tộc loài người và
về nguồn gôc loài người
Tùy theo mục đích nghiên cứu, nhân trắc học gồm có:
- Nhân trắc học chuyên về nghiên cứu hình thái các chủng tộc người
- Nhân trắc học đường, nghiên cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe học sinh
- Nhân ta-ắc học tììể dục thể ửiao, nghiên cứu các tiêu chuẩn kiểm ữa sức khỏe vận động viên hoặc xác định thiên hưóng cũng như lựa chọn vận động viên vào môn thể thao thích hợp nhâ't
- Nhân trắc học nghề nghiệp, nhằm xác định thiên hướng nghề nghiệp cho tìmg đôi tượng
- Nhân trắc học y học, nghiên cứu sự phát triển theo từng thời kỳ, xác định các hình thái thay đổi do bệnh lý, phân loại dạng người dễ nhiễm một sô' bệnh đặc tning, đánh giá tình trạng bình thường hay bệnh tật
Ngày nay người ta còn quan tâm đến phép đo nhân trắc trong các cuộc thi sắc đẹp, có thể nói các chỉ số nhân trắc đã phản ánh không chỉ sức khỏe mà còn là chỉ dâu của cái đẹp hình thể loài người, đổng thời đó cũng chính là một trong những đặc điểm tiến hóa của loài người so với muôn loài Thông qua các pháp đo nhằm xác định tỉ lệ giữa chúng được coi là một khoa học của cái đẹp
1.5 Con người và môi trường sinh thái
Nhóm các nhãn tô'tự nhiên tác động tới con người
Trước hết là những yếu tố sinh học hay những nét tiến hóa của chính bản thân con người và tổ tiên của họ trong mô'i quan
Trang 2426 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
hệ phức tạp với môi trường sống Ngay từ thời cổ đại, khoảng
427 - 436 năm trước công nguyên, những thảm họa thiên tai như lụt lội, hạn hán, núi lửa, động đất,., đã ảnh hưởng đến cuộc sông con người và động vật Đến thế kỷ thứ IV, sau hoạt động của núi lửa Venezualia là những trận động đâ't mạnh và dịch bệnh Từ năm 1348 1451 các dịch bệnh đã hoành hành dữ dội
ớ châu Á, kèm theo nhiều hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ chưa có
cơ sở khoa học giải thích
Những biến đổi từ trường cùng hiện ttrợng đảo cực địa từ
đã ảnh hưởng tới toàn bộ bề mặt Trái Đất, đêh thế giới sinh vật,
trong đó có loài người Trong suô't khoảng 76 triệu năm về trước đã có đến 171 lần đảo cực địa từ, làm thay đổi tính phóng
xạ, gió mặt trời và nhiều hiện tượng khác trên Trái đâ't Đối với
cơ thể sinh học của con người đã làm tăng tần số đột biến trong quá trình tiến hóa Loài ngưòi khéo léo đã sống vào thời kỳ mà hướng các cực từ ngược với hiện nay, người đióng thẳng thay thế người khéo léo vào thời gian trùng với đảo cực định kỳ các cực từ cách đây chừng 700 nghìn năm, người Nê-an-đéc-tan thay thế người đ\ing thẳng Pi-tê-can-tờ-rốp cách đây khoảng
110 nghìn năm khi xảy ra sự thay đổi các cực từ rồi người hiện đại thay thề' người Nê-an-đéc-tan trùng với thời gian đổi các cực trước đây khoảng 30-40 nghìn năm Tất nhiên những ảnh hưởng của các hiện tượng đảo cực địa từ đôl với các sinh vật khác sống trên hành tinh là không tránh khỏi Những biến đổi của chúng không mạnh như đôì với loài người
Ngoài ra, những nghiên CÚ\1 về môi trường t\r nhiên ớ Đông và Nam Phi cho rằng đây là quê hương đẩu tiên của loài người, vào kỉ Đệ Tam và kỉ Đệ Tứ cho thây, hoạt động kiến tạo
đã diễn ra ở khu vực có những đứt gãy lớn, tạo nên các bậc thang và hào sâu, khiến núi lừa hoạt động mạnh Những biến
Trang 25đổi này đã làm cho bộ phận người sống trong vùng có những thay đổi về cấu tạo cơ thể để thích nghi, não bộ tăng Trong khi những loài vượn sống ngoài khu vực trên không hề có những biêh đổi tương ling Tại các địa điểm thuộc Đông và Nam Phi, nơi có trữ lượng quặng uranium phong phú, chúng đã hoạt động như các lò phản ứng phóng xạ tự nhiên, ảnh hưởng trong suốt thời gian dài, gần 600 nghìn năm, tuy với công suâ't không lón Chính hoạt động của những mỏ quặng uranium này đã tạo thành các phóng xạ, rồi tác động lên cơ thể loài người cổ đại, và kê't quả là gây nên sự biến đổi về vật châ't của cơ thể sinh học.Trên khía cạnh sinh học, kiểu gen (Genotype) của mỗi cá thể con người bị hạn chế bởi Genotyp ở 3 mức độ, mức độ của cha mẹ, quần thể hay cộng đồng cùng giới hạn biến thiên của alen qua giao tử bô' mẹ, và ở mức độ của bản thân loài người, ở các nhóm động vật, có thể xảy ra các trường hợp bâ't thường với lai khác loài, nhưng ở người thì không thể xảy ra việc lai khác loài được Việc chuyển giao hay k ế thừa văn hóa - xã hội không xảy ra giống như kế thừa sinh học Sự chuyển giao này được thể hiện và phát triển trong quá trình phát triển và tiêh hóa của
xã hội, có thể bao gồm sự tiếp thu những trải nghiệm và sự hiểu biết của cá thể, cộng đồng hay của xã hội và thậm chí là của cả nhân loại trong quá khứ cũng như hiện tại Nếu như di truyền sinh học được xác định trực tiếp bởi vốn gen của cha mẹ, thì kế thừa văn hóa - xã hội là chức năng của bố mẹ, gia đình hay của
cả xã hội Như vậy, ở mỗi cá thể người, nền tảng văn hóa xã hội
đã được hình thành không chỉ mang dâu ẵh đặc trimg của cha
mẹ, mà còn mang dấu ấn của xã hội và thời đại
Hiện nay, vâh đề môi trường đang là vấn đề cấp bách Môi trường là nơi cung câp nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết
Trang 26cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng như gỗ, ánh sáng, mặt trời,
g ió , Các sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hóa,
du lịch của con người đểu bắt nguồn từ các dạng vật chất tổn tại trên Trái đất và không gian bao quanh Trái đâ't
Ảnh hưởng của ô nhiễm mồi trường nước tới con người
Sự ô nhiêm môi trường nước là sự có mặt của các chất ngoại lai trong môi trường nước tự nhiên, dù châ't đó có hại hay không Khi vượt qua một ngưỡng nào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại với con người và sinh vật
Ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho con người, hủy hoại nguồn thực phẩm thủy sản, làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt Thực tê' cho thấy có nhiều dấu hiệu đáng lo lắng về tình trạng
cấp nước không vệ sinh ở các nước đang phát triển, đó là:
- Nước không an toàn liên quan đến 80% các bệnh tật và 30% ca tử vong
- Khoảng 1,2 tỉ người/ năm nhiễm các bệnh do nưóc uống không an toàn, thiêíi vệ sinh
- Hơn 4 triệu trẻ em chê't do các bệiih qua đường nước
- 15% trẻ em dưới 15 tuổi bị ỉa chảy có thể tránh được nếu nguồn nước sạch và có phương tiện vệ sinh
Trong báo cáo năm 1998, Tổng thư kv Liên hợp quốc đã nhận định "Thiêu và ô nhiễm nước đang gây ra những vâh đề cực kỳ nan giải về sức khỏe cộng đồng, hạn chế phát triển kinh
tế và nông nghiệp, gây tổn hại lớn các hệ sinh thái" Nhũmg vâh
đề nan giải này có thể đe dọa sự cung câ'p lương thực toàn cầu
và dẫn đến trì trệ kinh tế ở nhiều khu vực trên thế giới, gây ra
28 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 27C h ư ơ n g 1 ĐẠI CƯƠNG VẾ HÌNH THẾ NGƯỜI 29
hàng loạt các cuộc khủng hoảng nước ở quy mô quốc gia và khu vực, vói những mối liên đới nghiêm trọng Tương tự như vậy, ô nhiễm nước gây tác hại lớn cho quần xã sinh vật sông dưới nước
Hiện nay, hàng năm, các hoạt động của con người thải vào môi trường và thâm nhập vào các quần xã sinh vật một lượng lớn nitơ quá cao so với mức các quá trình tự nhiên đưa vào
Hiện nay, mặc dù công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam chưa phát triển nhxmg nhiều vùng đô thị và khu công nghiệp
Việt Nam là quốc gia sử dụng khá nhiều thuốc bảo vệ thực vật 15.000 - 20.000 tấn thuốc/năm Phân NPK sử dụng trung bình là 73,5 kg/ha canh tác Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường không khí tới con người
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của một chất lạ khác, một
sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm cho không khí không sạch, hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa
Các hoạt động của con người làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của Trái đất Trong quá khứ, con người cho rằng khí quyển rộng lớn đêh mức các chất do con người thải vào sẽ được phân tán mỏng ra Do đó không gây tác hại đáng kể
Trang 2830 ĐẶC ĐIỂM HlNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Nhưng thực tế hiện nay cho thây, hàng loạt các dạng ô nhiễm không khí đã hủy hoại hệ sinh thái và theo đó là ảnh hưởng nghiêm trọng đêh sức khỏe con người
Một trong những tác động của ô nhiễm không khí ảnh hưởng lớn tới con người đó là:
- Mưa axit; Sản xuất công nghiệp phát triển đã thải vào môi trường không khí một lượng lớn nitrat, suníat Khi gặp nưóc, chúng sẽ tạo ra axit HNO3 và H2SO4 ở Hoa Kỳ, hàng năm có
21 triệu nitrat và 19 triệu suníat thải vào không khí Các axit này liên kết với những đám mây và khi tạo mưa đã làm
giảm pH của các ao, hồ, sông suối trên lục địa, làm chết nhiều
động, thực vật Khi độ axit ở các thủy vực nước ngọt tăng lên, nhiều cá con và cá trưởng thành bị chết ngay
- Sự sản sinh ozon và lắng đọng nitơ: Hoạt động giao thông vận tải, các hoạt động công nghiệp, các nhà máy điện đã thải ra khí oxit nitơ và hydrocacbon Dưới ánh sáng mặt trời, các châ't này sẽ tác dụng với khí quyển tạo ra khí ozon và hóa châ't phụ khác Tâ't cả chúng được gọi là châ't mù quang hóa Mặc dù ozon ở tầng trên címg của khí quyển ngăn không cho các tia cực tím chiếu xuống Trái đất, nhưng nổng độ ozon cao ở tầng khí quyển gần mặt đât sẽ giết chê't các mô thực v ậ t gây tổn hại các quần xã sinh vật, giảm năng suất nông nghiệp Từ đó ảnh hưởng đến nguổn sản xuất lương thực của con người
- Các khí độc hại: Các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, thải ra một lượng lớn chì, thiếc, vào khí quyển Các hợp châ't này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động thực
vật Ô Iiliiễni không klu' còn tác động làm suy yếu và phá hủy
hệ sinh thái rừng và do đó ảnh hưởng đến sự sôhg chung, trong
đó có cuộc sôhg của con người
Trang 29- Hiệu ứng nhà kính; Nhiệt độ bề mặt Trái đất được tạo
thành bởi sự cân bằng giữa năng lượng m ặt trời chiếu xuống
Trái đất và lượng bức xạ nhiệt của mặt đất phản xạ vào khí
quyển, v ề bản chất, bức xạ m ặt trời là bức xạ sóng ngắn nên nó
dễ xuyên qua các lớp khí CO2 và tầng ozon rồi xuống mặt đâ't Trái lại, bức xạ nhiệt là bức xạ sóng dài, không có khả năng xuyên qua lớp CO2 và tầng ozon rồi xuôhg mặt đâ't, nó bị CO2
và hơi nước trong không khí hấp thụ Do đó làm tăng nhiệt độ bao quanh Trái đất của khí quyển và làm tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất Hiện tượng này được gọi là Hiệu xing nhà kừih (Green House Effect), trong đó, lớp khí CO2 có tác dụng như lóp kính giữ nhiệt của tòa nhà trồng rau xanh trong mùa đông Điều khác biệt là nó diễn ra với quy mô toàn cầu Chính vì tác động
trên quy mô toàn cầu nên tác động tới con người là điều dê nhận thấy khi không khí ngột n g ạ t nóng nực và nạn nhân của
sự tan băng hai cực ưmg giờ, tàng ngày Bên cạnh đó con người
còn hxíng chịu những tác động bâ't lợi tới sức khỏe khi các bệnh
ung thư phổi, bệnh thẩn kinh ngày càng gia tăng
Ảnh hưởng của ô nhiễm m ôi trường tiếng ổn tới con người
Tiếng ổn là tập hợp của những âm thanh có cường độ và
tần SỐ khác nhau, được phát sinh không có trật tự, gây khó chịu
cho người nghe, cản trở con người làm việc, nghỉ ngơi Cường
độ âm thanh tính theo đơn vị dexiben (dB), tần số tính theo đơn
vị hez (Hz) Nó gây tác hại không chỉ với hoạt động sản xuất
mà còn với sức khỏe của con người.
- Tác hại đối với sản xuâ't: gây khó chịu, ức chê'thần kinh, làm giảm sự chú ý, do đó ảnh hưỏng đến năng suâ't lao động, chất lượng sản phẩm, thậm chí gây tai nạn
Trang 3032 ĐẶC ĐIỂM HlNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
- Tác hại đối với con người; gây tổn thương, váng ù tai, giảm khả năng nghe, gây điếc nghề nghiệp Có thể gây ra trạng thái đau đầu, khó chịu, mệt mỏi, nhiều hội chứng xuất hiện: đau nhức, rô'i loạn tim mạch, bộ máy hô hấp, tiêu hóa, thần kinh thực vật, gây bệnh tâm thần, giảm tuổi thọ và chết
Anh hưởng của ô nhiễm môi trường đất tới đời sông con người
Ô nhiễm đất là hiện tượng nhiễm bẩn môi trường đâ't bởi các tác nhân ô nhiễm Gây ô nhiễm môi trường đâ't có nhiều nguồn gôc, bao gồm;
- Hoạt động sản xuâ't nông nghiệp đã phá hủy cấu trúc sinh thái đâ't
- Chất thải sinh hoạt, các rác thải chưa qua xử lý trong nông nghiệp
- Châ't thải của các hoạt động sản xuâ't công nghiệp
Vấn đề xử lý rác thải ở Việt Nam nhất là ở những khu đô thị lớn mới dừiig lại ở việc tim bãi để đổ Đây là một trong
những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, lan truyền nhiều mầm bệnh và dịch bệnh.
Ảnh hưởng của ô nhiễm kim loại, nhiệt và phóniỊ xạ tới con người
Các châ't thải từ công nghiệp khai thác khoáng sản ở các
vùng đầu nguồn sông SUÔI gây độc hại đôi với râ't nhiều loài
sinh vật Các kim loại nặng như đổng, kẽm, thủy ngân theo sông suối đổ ra biển gây ô nhiễm cho nhiều vùng rộng lớn ở Caliíornia các chất độc hại này đã gây dị dạng cho nhiều loài chim Nó còn ngấm sâu trong đất đi vào chuỗi thức ăn rồi tập trung trong cơ thể động vật, ở các bậc dinh dưỡng cao, lượng chất kim loại nặng tích lũy càng nhiều
Trang 31Nguồn gốc của ô nhiễm nhiệt là do con người và do thiên nhiên Tuy nhiên chúng ta chỉ quan tâm đến các nguồn gốc ô nhiễm do tác động của người: Thâ't thoát nhiệt trong sản xuất ở
lò hơi, lò nung, thải nhiệt từ các quy trình công nghệ, do quá trình đô't nhiên liệu hóa thạch,
Tác động của ô nhiễm nhiệt:
- Tác hại đến sức khỏe, tâm sinh lý của con người, gây rối loạn chức năng của các hệ cơ quan
- Sự "ấm lên toàn cầu": đe dọa nghiêm trọng đêh đời sôhg
của con người và sinh vật trên Trái đâ't
- Ô nhiễm nhiệt làm thay đổi khí hậu, đặc biệt khu vực có
đô thị và các khu vực công nghiệp phát triển
Chất phóng xạ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong y học, kỹ nghệ, canh nông, nhà máy điện nguyên tử, Bên cạnh những lợi ích đôi với con người, chất phóng xạ khi thải ra ồ ạt
sẽ gây ảnh hưởng tai hại Tùy vào lượng châ't phóng xạ, tính chất lý học, thời gian tiếp xúc, tuổi sinh vật, loài, mà hậu quả
ô nhiễm khác nhau Khi có sự tiếp xúc phóng xạ sẽ gây thiêu
máu, loét da, rụng tóc, xuất huyết dưới da, giảm bạch cầu, rối
loạn thần kinh, ung thư, biến dị di truyền,
Ảnh hưởng của các yếu tô'xã hội tới con người
Nhóm yếu tố xã hội trước hết phải kể đến là lao động.Chính lao động hay biết chế tạo công cụ một cách có hệ thống
là mốc đánh giá giai đoạn vượn người chấm dứt, và tiếp theo
đó là giai đoạn hình thành và tiêh hóa loài người, cùng với sự xuất hiện của người khéo léo Do đột biến mà tổ tiên con người mất đi những chiếc nanh lớn, vốn là thứ công cụ quan trọng
Trang 32của vượn người Rồi khả năng đi đứng thẳng người, di chuyển nhờ chi sau, lại do có thể lực yêíi hơn tổ tiên, nên loài người kém thích nghi với điều kiện sông tự nhiên Trước tình hình đó, những biến đổi thích nghi của loài người là điều kiện quan trọng và đầu tiên để tránh khỏi họa diệt vong Loại hoạt động này chính là kỹ năng làm công cụ sản xuất, nghĩa là chế tạo công cụ từ những vật phẩm tự nhiên và tổ chức thành xã hội Kết quả là hiệu quả lao động tăng, sản phẩm ngày càng nhiều
và lao động đã mang tính chất xã hội
Do nhu cầu phối hợp, trao đổi kinh nghiệm và hàng hóa ngày càng tăng ở ngưòi dần dần xuất hiện tiêhg nói có âm tiêl, giàu nội dung hơn, thay vì những tín hiệu la hét nghèo nàn về nội dung ở vượn Cùng vói lao động, tiêhg nói đêh lượt mình lại kích thích lên não bộ và các cơ quan cảm giác phát triến Trên cơ sở đó, quá trình hình thành ý thức ở người, tư duy trùii tượng cũng dẩn dẩn hoàn thiện, về giải phẫu học, cấu trúc của
đầu và CỔ cũng có Iihững biến đổi quyết định, như phần yết
hầu nằm thâp xuống, cuống lưỡi dài ra, vòm khẩu cái ngắn bớt, xuất hiện ỉồi cằm, Tất cả những biến đổi đó góp phần làm cho bộ máy phát âm ở loài người hoàn thiện hơn Yếu tó phát hiện và dùng lửa xét về xã hội học đã có vai trò quan trọng trong đời sống loài người Cùng một lúc việc con người biết chế tạo công cụ và tìm ra lửa đã có vai trò quan trọng trong đời sông loài người Nhờ tìm ra lửa mà con người đã chuyêh từ ăn thực vật sang ăn thức án động vật và từ ăn sống sang ăn chín,
do đó châ't lượng dinh dưỡng được tăng lên, làm cơ sỏ tăng cưòng cho sức khỏe, thể chất, đặc biệt là phát triển bộ não của loài người
34 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 33Như vậy nhờ lao động, tìm ra lửa và phát triển hệ thống tín hiệu thứ hai mà quá trình tiêh hóa sinh học và văn hóa - xã hội của loài người phát triển mạnh mẽ Hệ thống tín hiệu này làm
cho SỐ lượng và chất lượng các phản xạ có điều kiện phong phú
hơn các động vật Loài người có được khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa thực tại cuộc sông và sản xuâ't và có thể chuyển giao trải nghiệm cho các thế hệ tiếp theo
Hai từ "ô nhiễm" không chỉ được tìm thây ở môi trường vật chất, không gian sống, đường phố, sông ngòi, thực phẩm; thực tế lâu nay, vấn đề ô nhiễm môi trường văn hóa đã được nhiều người cảnh báo Thế nhưng, sự ngăn chặn và thanh lọc rác bẩn văn hóa còn chưa có hồi kết
Khác với ô nhiễm các vấn đề về tự nhiên, ô nhiễm các vâh
đề về xã hội nó không chỉ gây hậu quả trực tiếp mà còn gián tiếp
và lâu dài, ảnh hưởng trên nhiều phương diện Những vẵh đề vể
ô nhiễm nền văn hóa - xã hội không chỉ ảnh hưởng tới một hoặc một nhóm cá nhân mà nó có thể ảnh hưởng tới cả một quy mô rộng lớn, có thể kể đến là nền kữih tế và an ninh quốc gia
Các loại ô nhiễm văn hóa xã hội có thể kể đêh bao gồm:
- Nạn mại dâm, ma túy, và các tệ nạn xã hội khác
- Sách báo, văn hóa phẩm đồi trụy, phản động ngoài luồng
- Mê tín dị đoan
- Lợi dụng tôn giáo tự do để chôhg phá đất nước, âm mưu
chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc.
Tất cả các loại đã nêu ữên không những làm cho ngưòd lớn trở nên xấu, mà còn làm cho con ngưòd bị hư hỏng, mất ý chí phâh đấu, mất sự tự tin, lười lao động, và dễ trở thành kẻ phạm tội
Trang 341.6 Các nghiên cứu vê hình thể người trên thế giới
Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm hoạ sỹ thời Phục hưng như Leonard de Vinci, Mikenlangielo, Raphael đã tìm hiếu rất kỹ cấu trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa lên những tác phẩm hội hoạ của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sôhg cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski
Vào đầu những năm 20 của thế kỷ XIX, Rudolf Martin nhà nhân trắc đi tiên phong người Đức đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ để đo đạc kích thước cơ thể con người Ông đã xuất bản cuôh sách "Giáo trình về nhân học" (1919) Đó ]à cuốn sách đẩu tiên trình bày một cách đầy đủ các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học với sự xâm nhập của toán học, đặc biệt là thống kê sinh học Năm 1942, ông đã cho ra đời cuốn " Kim chi nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê" Cuốn sách của Rudolí Martin được coi là kim chi nam cho môn khoa học này và ông được coi là ngưòi đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại Các phương pháp được Rudolf Martin sử dụng hiện tại vẫn là phương pháp nghiên cim thông dụng trong nghiên cứu nhân trắc học
Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuâ't của ông cho phù hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P.N Baskirov - "Nhân trắc học ", Evan Dervael- "Nhân trắc học", công trình của Bunak, A.M Uruxon Song song với sự phát triển của các bộ mÔR Di truyền, Sinh lý học, Toán học
36 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 35C h ư ơ n g 1 ĐẠI CƯONG VỄ HÌNH THỂ NGƯỜI 37
việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn vấn đề này được thể hiện qua các công trình của
X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M Sempé, G Pédron, M.p Rog- Pernot
Từ đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu thể lực của con người được tiêVì hành ở nhiều nước trên thê' giới như Liên Xô (cũ), Trung Quốc, Đức, Rumani, Mỹ, Pháp Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh nhât
ở tuổi dậy thì do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết trong thời kì chín sinh dục Tốc độ tăng trưởng và thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào các điều kiện xã hội và điều kiện môi trường sông.Năm 1961, có hai công trình nghiên cứu lớn, thứ nhất là
"Đ ề tài nghiên cún ảnh hưởng của địa lý đến sự tăng trưởng về chiều cao cơ thể và chứng minh rõ những yếu tô ảnh hưởng đó
có thật của Nold và Volsuski Thứ hai là "Đ ề tài nghiên cứu thu thập số liệu và chứng minh tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt tới sự gia tăng của các kích thước cơ thê, đặc biệt
là chiều cao và cân nặng của Graeí và Cone
Năm 1962 "Học thuyết về sự phát triển thể lực con người" của tác giả Baskirop bàn luận về các quy luật phát triên cơ thê con người dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống Năm
1954, nhà nghiên cứu nhân trắc học Ba Lan đã nhận định khi đi sâu nghiên cứu sự liên hệ giữa hình thái phát triển cơ thê chịu ảnh hưởng của lao động Cũng năm đó, F Vandervael, một thầy thuôc người Bỉ đã viết cuốh sách giáo khoa về nhân trăc học, đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triên thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng những đặc trưng thôVig kê trung bình cộng và độ lệch chuẩn
Trang 36Hình dáng bên ngoài và các kích thước cơ thể người được tạo thành do rửiiều yêli tố, từ trong ra ngoài, đầu tiên là khung xương và mẫu chuyển của xương, dây chằng, gân, các cơ, mạch máu và sự phân bô' của mỡ Khi nghiên cứu vê' sự phát triển của hình thể người, nhiều tác giả đã chỉ rõ cơ thể người thay đổi rất nhanh theo thời gian đặc biệt là nữ giới.
Một hướng khác, đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên ciÍTi sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiêh sỹ của Christian Pridrich Ịumpert người Đức vào năm 1754 Công trình này được nghiên cíhi theo phương pháp cắt ngang (Cross
- sectional study) là phương pháp được dùng phổ biêh do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được trên nhiều đối tượng cùng một lúc
Cũng trong khoảng thời gian này Philibert Guéneau de Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc (Longitudinal studv) trên con trai mình tìí năm 1759 đêh nătn 1777 Đây là phương pháp rất tốt đã được ling dụng cho đêh ngày nay Sau đó còn
có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.p Bowditch ở Mỹ; Paul Godin ở Pháp Năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dâu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vâh đề nàv trên thế giới Tuy nhiên các nghiên cím về nhân trắc kể trên chủ yếu là mô tả hoặc sử dụng thông tin vê' hình thái nhằm xing dụng trong thực tiễn cuộc sống mà chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân hay tác động ảnh
hưởng từ các yếu tố sinh thái lên các chỉ s ố nhân trắc.
38 ĐẶC ĐIẾM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 371.7 Các nghiên cứu về hình thể người ờ Việt Nam
Nhân trắc cơ thể con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của thế kỷ XX tại Viện Viên Đông Bác Cổ, sau đó
là tại Trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một SỐ công trình nghiên cứu về vấn đề này Tác phẩm
"Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương" của p Huard, A Bigot và "Hình thái học Người và giải phẫu thẩm mỹ học" của p Huard và Đỗ Xuân Hợp được xem
là những công trình đầu tiên nghiên o h i về hình thái người Việt Nam Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng các tác phẩm này
đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành
lập bộ môn hình thái học ở m ột số ữường đại học và viện nghiên
cihi Các hội nghị về lĩnh vực này đã được tổ chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quô'c gia và địa phương được thực hiện Đó là công trình "Hằng
số sinh học người Việt Nam" năm 1975 do GS Nguyễn Tân Gi Trọng chủ biên Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đẩy
đủ các thông SỐ v ề thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong
đó có lớp tuổi tà 18 đến 25 Đây mới là các chỉ số sinh học của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực sự là chô dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Sau này cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thể con người Việt Nam
Qua các công trình này có thể thây, tầm vóc và thê lực ngưòi Việt Nam nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ Đa số các
C h ư ơ n g 1 eẠI CưaNGVỀ HÌNH ĨHẾ NGƯỜI_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ 3 ^
Trang 38kích thước về tầm vóc - thể lực của nam lớn hơn của nữ Các kích thước này tăng dần theo tuổi, đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi
26 - 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41 đêh 60 tuổi Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60 Đối với
nữ, tầm vóc thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 -25 tuổi
Từ 26 đêh 40 tuổi các chỉ sô' thể lực ở nữ đã có xu hướng giảm
và giảm rõ nhất ở lớp tuổi 41 - 55 Từ 56 tuổi trở đi các chỉ số thế lực của phụ nữ ngày càng giảm nhiều hơn
"Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động" do Võ Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cím nhân trăc người Việt Nam trên cả ba miền của đất nước Qua công trình này, tác giả đã nêu lên được các quy luật phát triêh tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt Nam
Các chỉ tiêu nhân trắc người miền Bắc Việt Nam trưởng thành trong thập niên 90" do Trịnh Văn Minh và cộng sự thực hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 - 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam) Nam giới có chiều cao, cân nặng và các kích thước liên quan đêh thể lực, cụ thể là với hoạt động cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới Trong khi đó, các chỉ số khác
có liên quan đêh dinh dưỡng, khối mỡ, chi sô' Pignet thì của nữ lại cao hơn so với của nam
Lê Nam Trà và cộng sự trong đề tài KX 07-07 đã cho thấy trong giai đoạn tù’ 18 đêh 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng trưcrng Tuy nhiên, mức độ thay đổi không nhiều nhu ở những lớp tuổi trước đó Đê'n tuổi 25 ở cả hai giới đều có các chi
s ố thể lực ốn định lìlìư ở tuổi trưcmg thành Năm 1992, đề tài
Đặc điêm hình thái và thể lực học sinh một trường phổ thông
cơ sở ở Hà Nội" của Thẩm Thị Hoàng Điệp đã mang lại cho
40 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THẾ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI
Trang 39lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc ở Việt Nam một bứt phá mới khi lựa chọn phương pháp theo dõi dọc để tiến hành theo dõi một nhóm học sinh trong 10 năm liên tục từ năm 1981 - 1992, từ đó đưa ra quy luật phát triển về chiều cao, quy luật phát triển về cân nặng, quy luật phát triển của các kích thước vòng, Từ đó cho đến nay phương pháp này cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và áp dụng.
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ sô' sinh lý
ở người đã cho thấy, khí hậu khắc nghiệt vùng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biêh đổi về cấu trúc hình thái Các chỉ
SỐ về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số Pignet, Broca, Skelie của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này ở người Việt Nam Tác giả cho rằng đây là điểm đặc trung cho sự thích nghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm.Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về nhân trắc của sinh viên và thanh niên Việt Nam đều cho thây có sự tăng lên đáng
kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ nhiều năm trước Đặc biệt là từ sau năm 1975 đêh nay khi tình hình kinh tế, văn hoá,
xã hội của nước ta có nhiều thay đổi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đêh tầm vóc, sức khoẻ của con người Việt Nam Thanh niên
thành phô' thường có các chỉ số nhân trắc tô't hơn thanh niên
nông thôn Để giải thích sự khác biệt này, có tác giả cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuâ't hiện hiện ttrợng này là châ't lượng cuộc sống Do điều kiện sông ở thàrủì phô' được cải thiện nhiều hơn nên thanh niên thành phố thường có chiều cao, cân nặng tô't hơn thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi
Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sôhg, quá trình rèn luyện thân thể cũng là những yếu tố tác động đến thể lực
Trang 40của sinh viên và thanh niên Năm 1998, Nguyễn Quang Mai và cộng sự đã nghiên ciki trên nữ sinh các dân tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn nữ sinh các vùng đồng bằng và thành thị Tác giả cho rằng nguyên nhân chủ yêu của hiện tượng này
là do ảnh hưởng của các yếu tố ttr nhiên, môi trường, chủng tộc, điều kiện kinh tế
Một trong những nghiên cihi tổng thể trên diện rộng mới được diễn ra ở thập niên CUÔI của thế kỷ XX đã cho thấy phô thông tin tương đối đa dạng về "Các giá trị sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 thế kỷ XX" có những thay đổi đáng kể so với
"Hằng số sinh học người Việt Nam 1975" Kết quả nghiên cứu của Lê Nam Trà cùng với các cộng sự đã cho ta cái nhìn mới nhất và cụ thể nhất về thực trạng nhân trắc người Việt Nam đương đại Có thể coi đây là những thông số cập nhật nhất về các chỉ số nhân trắc của người Việt Nam hiện nay Năm 2003 công trình "Các giá trị sinh học người Việt nam thập kỷ 90 thế
kỷ 20" đã được hoàn thành và nó đã nhanh chóng trở thành
cẩm nang của các nhà nhân chủng học Việt Nam Tuy rứiiên các kết quả điểu tra nàv chi cho thấy thực trạng các giá trị sinh học người Việt Nam chủ yếu phục vụ cho ngành Y tê'mà chưa chỉ
ra các nguyên nhân và giái pháp nhằm nâng cao chất lượng người Việt Nam trong tương lai Việc tim hiểu các giá trị nhân trắc theo vùng sinh thái vẫn là một khoáng trống, trong khi đó ánh hưởng của các yêu tố sinh thái lên hình thái người là râ't quan trong lại chưa được nhiều nghiên cứu đề cập đến một cách tổng thể và hệ thống
Năm 2000, trong nghiên cứu về nhân trắc người các dân tộc Êđê và người Kinh định cư ở Đaklak, Đào Mai Luvến khẳng
42 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ NGƯỜI VIỆT NAM THEO VÙNG SINH THÁI