NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỐI NGƯỢC TRONG VẬT LÝ HỌC
Trang 1MỤC LỤC –—
Trang
Mục lục 1
Lời nói đầu 2
Phần nội dung 4
Chương 1: Sóng và hạt 4
Chương 2: Nhanh và chậm 12
Chương 3: Cá thể và tập thể 18
Chương 4: Xa và gần 21
Chương 5: Có hay không có 26
Bài 1: Chất lỏng điện 26
Bài 2: Chất lỏng nhiệt 29
Bài 3: Ête vũ trụ 31
Chương 6: Thuyết Địa tâm và thuyết Nhật tâm 34
Chương 7: Liên tục và gián đoạn 39
Chương 8: Phát minh và đời sống 43
Bài 1: Cơ sở của mọi phát minh 43
Bài 2: Ý nghĩa của phát minh đối với đời sống 48
Bài 3: Mâu thuẫn – Đấu tranh – Tiến bộ 50
Kết luận chung 52
Phụ lục 54
Phụ lục 1: Vẫn chưa kết thúc 54
Phụ lục 2: Niên biểu 76
Phụ lục 3: Bảng tên người 79
Phụ lục 4: Những sự kiện chính trong quá trình ngiên cứu và chinh phục vũ trụ 80
Tài liệu tham khảo 84
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
&&&
1 Lí do chọn đề tài:
Thông thường trong các sách phổ biến khoa học Vật lý, người ta chỉ
quen thông báo cho bạn đọc “những chân lý” không còn phải tranh cãi
nữa Nhưng, để đi đến chân lý đó, các nhà Vật lý phải trải qua những cuộc tranh đấu rất dài, dài hàng chục, hàng trăm năm hoặc hơn thế nữa Chẳng
hạn, để:” Chận Mặt Trời lại và thúc Trái Đất quay” cũng mất hơn
1.300 năm Trong khoảng thời gian ấy các nhà Vật lý học đáng kính đã đấu tranh không ngừng cho sự tiến bộ của vật lý học Đó là những cuộc đấu tranh âm thầm hay trực diện với các thế lực phản tiến bộ Tiến bộ của khoa học được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu và mạng sống của người tìm ra nó
Tôi thấy việc nghiên cứu tiến trình hình thành các tri thức Vật lý
cũng không kém phần quan trọng Nó sẽ hình thành cách tư duy, làm việc của các nhà khoa học Đó cũng chính là lí do để tôi chọn đề tài này
Trong luận văn, tôi chọn ra một số tri thức Vật lý tiêu biểu để
nghiên cứu về tiến trình hình thành Cụ thể là:
• Từ vấn đề nhanh và chậm để đi đến chân lý cuối cùng là thuyết tương đối của Anhxtanh
• Từ vấn đề đối ngược giữa hai quan điểm sóng và hạt, các nhà khoa học đã tìm tòi nghiên cứu Kết quả là sự ra đời của Cơ học lượng tử với các phương trình Schrơđinger, hệ thức bất định Hâyxenbec, thay thế cho các công thức, định luật trong cơ học cổ điển khi nghiên cứu các hạt vi mô
Đó là những câu chuyện đầy kịch tính của khoa học Vật lý Nó sẽ được trình bày trong luận văn này với một mức độ nào đó
2 Các giả thuyết của đề tài:
Tìm hiểu mối quan hệ giữa Vật lý và Triết học, ta đã khẳng định
Trang 3Nội dung luận văn này, minh chứng quy luật đấu tranh và thống
nhất các mặt đối lập của Triết học duy vật Ta sẽ dùng các sự kiện và tri
thức Vật lý minh chứng rằng: Thế giới tự nhiên không là bất khả tri, đúng
như triết học duy vật đã khẳng định
Tuy nhiên, để đạt đến chân lý khách quan khoa học, Vật lý học đã
trải qua rất nhiều lý thuyết khác nhau, ban đầu: nông cạn, phi lí; để giải
thích các vấn đề không biết, đôi khi họ lại nhờ vào cái không biết khác
Biết là sai mà vẫn nói liều Đó là những điều đối ngược mà Vật lý học đã
tiếp cận, sử dụng và vượt qua Để vượt qua những những khó khăn chướng
ngại và đi đến vinh quang như hiện nay, Vật lý học đã khẳng định một
điều: Tri thức mới có thể phủ nhận hoàn toàn cái cũ, đó là cuộc cách
mạng tri thức Tri thức mới bao hàm luôn tri thức cũ, và coi đó là
trường hợp riêng của mình, đó là nguyên lí tương ứng
Vấn đề luận văn đề cập là một phạm trù đòi hỏi rộng và sâu Đây
chỉ là những ý niệm sơ đẳng bước đầu Mong rằng sau này có cơ hội mở
rộng tầm nghiên cứu, bao quát nhiều lĩnh vực và phân tích sâu hơn ở mỗi
phạm trù Để làm được điều đó cần tìm tòi nghiên cứu, học hỏi thêm nhiều
từ Quý Thầy Cô và các bạn
Mặc dù có nhiều cố rắng nhưng chắc chắn đề tài không tránh khỏi
sai lầm thiếu sót, mong rằng sẽ nhận được ý kiến đóng góp quý báu từ
Quý Thầy Cô cùng Bạn đọc
Trang 4M
Hình1
Phần NỘI DUNG
&&&
Chương 1: SÓNG & HẠT
˜˜˜
1 Hai quan điểm đối ngược:
Vật lý học nghiên cứu thế giới vật chất gồm hai đối tượng: Hạt và trường Các tính chất và các quá trình vận động mà chúng trải qua thể hiện bản chất của hai đối tượng ấy Đó là tính sóng và tính hạt, đối ngược
nhau!
“Những tư tưởng vĩ đại thường đơn giản” Câu nói đó không biết có
thật đúng hay không, nhưng những tư tưởng về hạt và trường của Louis De
Broglie quả thực rất đơn giản, một sự đơn giản đến táo bạo Louis De
Broglie đưa ra một giả thiết cho rằng: mọi vật chất chuyển động đều có lưỡng tính sóng hạt chứ không riêng gì ở ánh sáng
Ánh sáng, vào đầu và giữa thế kỷ 20, mang lưỡng tính sóng hạt rõ
ràng, không thể phủ nhận Để giải thích một số hiện tượng điển hình do ánh sáng gây ra: giao thoa và nhiễu xạ, thì phải xem ánh sáng là sóng Để giải thích hiện tượng phân cực do ánh sáng gây ra, Măcxoen bảo rằng: ánh sáng là sóng điện từ Ta không thể giải thích các hiện tượng trên, nếu xem
ánh sáng là hạt bay trong không gian; mà nhất thiết phải xem bản chất
ánh sáng là sóng lan truyền trong không gian, theo thời gian (t )
Thế nhưng, ánh sáng lại còn gây ra một số hiện tượng khác; đó là:
hiệu ứng quang điện và hiệu ứng Cômptông Để giải thích hai hiện
tượng này, ta phải xem ánh sáng là hạt phôton va chạm với electron, chứ
không thể xem ánh sáng là sóng điện từ được
Sóng và hạt là hai hình tượng đối ngược nhau về mặt Vật lý học Ta sẽ xét kỹ hơn về hai hình tượng này để thấy rõ tính đối ngược của chúng
2 Là sóng hay là hạt ?
2.1 Là hạt:
Cơ học, nghiên cứu quá trình vận
động của các hạt vật chất Hạt này bao
gồm cả các hạt đơn lẻ và ta có thể toán
học hoá bằng một chất điểm không có
kích thước (chiều rộng, chiều dài, thể
tích) Học hình học, ta đã biết điểm là
chỗ giao nhau của hai đường ( điểm M )
Mặc dù hạt vật chất này không có kích thước, nhưng nó vẫn có khối
Trang 5Đây là khối lượng quán tính (mqt)hay khối lượng hấp dẫn (mhd) Hai
loại khối lượng này là đại lượng cơ học đặt trưng cho hạt Chúng liên quan
đến hai sự kiện khác nhau ở hạt Đó là quán tính và tương tác hấp dẫn
Giá trị đo được của mqt và mhd bằng nhau (theo " nguyên lý tương đương"
mà Anhxtanh đã phát biểu trong thuyết tương đối rộng)
Các vật thể vĩ mô, cấu thành từ một hệ, gồm nhiều hạt liên kết với
nhau, nên thường gọi là vật rắn Vật rắn có kích thước xác định (giới nội),
tức là thể tích (V) khác không: V≠0 Vật rắn có khối lượng M bằng tổng
khối lượng của các chất điểm (hạt) cấu thành vật rắn đó: M = ∑
Thể tích của vật (cơ hệ) có thể thay đổi; Còn khối lượng người ta
vốn cho rằng nó là không đổi, là bất biến ( khi vật chuyển động cũng thế,
không chuyển động cũng thế ) Quan niệm này ngự trị suốt hằng mấy thế
kỷ (khi mà vật lý học hiện đại chưa ra đời) Đến khi, thuyết tương đối hẹp
của Anhxtanh ra đời, quan điểm này được điều chỉnh lại Anhxtanh nói
rằng khối lượng của vật tăng theo vận tốc, với biểu thức:
2 2 0
1
c v
−
=
Trong đó: v là vận tốc của hạt
m 0 là khối lượng nghỉ của hạt
c là vận tốc ánh sáng trong chân không
Một hạt hay một vật (cơ hệ), sẽ có các hình thức vận động cơ học
sau:
+ Tịnh tiến
+ Quay
+ Dao động
Trong các hình thức trên, ta quan tâm đặt biệt đến hình thức dao
động Ở đây, ta chỉ xét hạt “dao động điều hòa”, ly độ dao động x biến
thiên tuần hoàn theo thời gian (t ) Điều này sẽ được diễn tả toán học bằng
công thức lượng giác sau:
α + ω
= ASin t
t
x
hoặc:
Trang 6• Vật lý học hiện đại, cụ thể hơn là thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh đã xác lập mối liên hệ giữa khối lượng (m) của vật với năng lượng toàn phần ( Etp ) mà vật mang trong nó Biểu thức:
Etp= m.c2
Đó chính là tiêu chuẩn quan trọng nhất để nhận biết một đối tượng bất kỳ
trong tự nhiên, xem xem nó có phải là vật chất hay không Đã là vật chất thì phải có năng lượng, nghĩa là trong tự nhiên không tồn tại vật chất
không trọng lượng (ta sẽ xét vấn đề này cụ thể hơn ở chương 5)
• Đã là một vật thể (vĩ mô) ở dạng hạt thì trạng thái vật lý tại mỗi thời điểm phải được đặt trưng bởi ba đại lượng: m, V và Etp Gía trị của các đại lượng này đều đo được và có giá trị giới nội (đặc biệt là đại lượng V)
nguồn sáng (S) Sóng lan truyền phủ khắp không gian bao quanh nguồn
sáng (S) Khảo sát nó chỉ quan tâm đến vị trí điểm M ( nơi sóng đã lan tới ), tại một thời điểm (t ) nào đó, của toàn bộ không gian mà sóng tồn tại Thế thì không thể nói đến thể tích V của sóng tại điểm M đó được Vấn đề
có tồn tại thể tích V hay không có tồn tại thể tích V cũng chính là điểm đối – ngược giữa hạt (vật thể) và sóng Hạt (vật thể) nào cũng mang một khối
lượng ( m≠ 0 ) Nguồn sáng (vốn là một vật) có kích thước và khối lượng; nhưng tại mỗi nơi mà sóng lan tới, chỉ là dao động điều hoà thực hiện ở nơi
ấy Ta không nói đến thể tích và khối lượng của sóng Vật lý học xem tập hợp sóng tồn tại trong một vùng không gian nào đó là một thực thể vật
chất ở dạng trường
Vậy, bằng so sánh hình thức hai thực thể vật chất mà Vật lý học
nghiên cứu: sóng và hạt mang những đặc trưng đối ngược nhau:
@ Một là: có thể tích ( V ≠ 0) hay không có thể tích (V=0)
@ Hai là: có khối lượng ( m≠ 0) hay không có khối lượng (m=0)
Trang 7* Ta lại xét thêm hình tượng sóng tại một điểm của không gian, nơi
sóng lan tới Sóng là dao động điều hoà Sóng cơ thì tồn tại trong không
gian có chứa môi trường vật chất như: không khí, nước, dầu,… (nói chung
cần môi trường làm giá đỡ cho sóng lan truyền Còn đối với sóng điện từ
(sóng ánh sáng) thì có thể tồn tại cả trong không gian có mặt môi trường
vật chất, cả trong chân không Sóng tại mỗi thời điểm trong chân không,
hay trong môi trường vật chất được đặc trưng bằng tần số góc dao động
(ω ) hay tần số dao động (f ), với: ω =2.π f và bước sóng( λ); với: λ =v T
Trong đó: v là vận tốc truyền sóng
T là chu kỳ dao động gây nên sóng
Vì vậy, cần có đại lượng Vật lý đặc trưng tổng hợp cho mỗi sóng lan
truyền, đó là đại lượng kρ
v n
λ
nρ là vectơ đơn vị dọc theo phương truyền sóng
Nếu hạt (vật vĩ mô) chuyển động (tịnh tiến, quay hay dao động tại chỗ) thì
chẳng cần có các đại lượng đặc trưng là λ và kρ
3 Lưỡng tính sóng hạt:
Xét một đối tượng cụ thể Với cách phân tích hai hình tượng sóng và
hạt ở trên, ta thử vận dụng cho ánh sáng Khi đó, ta thấy:
+ Nếu ánh sáng là sóng, thì đại lượng đặc trưng cho nó sẽ là λ và kρ
+ Nếu ánh sáng là hạt, thì đại lượng đặc trưng cho nó sẽ là m và V
(vì phôton là hạt vi mô nên V = 0) Hạt chuyển động cơ học (tịnh tiến) nên
về phương diện động lực học nó được đặc trưng bằng vectơ xung lượng:
Tóm lại, sóng và hạt là hai hình tượng đối ngược trong vật lý học
Ta phải thừa nhận hình tượng nào đây, hay chấp nhận cả hai ?!
a Nếu dùng hình tượng hạt phôton thì không thể giải thích được hai
hiện tượng vật lý điển hình do ánh sáng gây ra, đó là: hiện tượng
giao thao và nhiễu xạ ánh sáng
Trang 8b Nếu dùng hiện tượng sóng điện từ, thì không thể giải thích được hai hiện tượng Vật lý điển hình cũng do ánh sáng gây ra là hiện tượng quang điện và tán xạ Cômptông
Cùng một đối tượng vật chất là ánh sáng, mà có thể gây ra các hiện tượng nêu trên, thoạt nhìn tưởng như là mâu thuẫn, nhưng khi nghiên cứu kỹ lại hoá ra không Để có kết quả đó, trong lập luận phải thừa nhận rằng:
ánh sáng mang lưỡng tính sóng hạt Đó là kết luận của Louis De Broglie
Không dừng lại ở đó, Louis De Broglie còn mở rộng giả thuyết này cho
mọi đối tượng vật chất có trong tự nhiên: “ Mọi thực thể vật chất trong tự nhiên (cả vi mô lẫn vĩ mô) điều mang lưỡng tính sóng hạt, chứ không riêng gì ánh sáng”
Thiên nhiên không dành lưỡng tính sóng hạt cho riêng ánh sáng,
mà còn dành cho mọi đối tượng vật chất trong tự nhiên Thế thì:
+ Qủa đất vốn là một vật vĩ mô, nhưng trong không gian vô tận ta có thể coi nó như một vật thể có lưỡng tính: là một hạt đang chuyển động, và cũng là một sóng lan truyền
+ Hạt electron (e) là một hạt vi mô, và cũng là một sóng lan truyền
Louis De Broglie nói thêm rằng: “tuỳ theo hiện tượng Vật lý cụ thể ở đối tượng vật chất mà tính sóng, hoặc tính hạt, thể hiện dạng này rõ hơn dạng kia mà thôi” Vậy trong những điều mâu thuẫn, đối ngược vẫn có
điều thống nhất Tính thống nhất ở đây, là tiêu chuẩn dành cho vật chất Đối tượng nghiên cứu của Vật lý học là thế giới vật chất, không phải thế
giới tâm linh Do đó, năng lượng chính là tiêu chuẩn để xem coi đối tượng
đang nghiên cứu, có được công nhận là vật chất hay không
- Hạt vật chất tự do chuyển động có mang năng lượng Etp và có xung lượng là P mv
→
→
= . ; Hạt này sinh ra một sóng lan truyền, sóng này có mang năng lượng Etpvà có bước sóng λ, tạo bởi dao động điều hoà có tần
số f Hiển nhiên phải có một mối quan hệ nào đó giữa sóng và hạt Thật
vậy, vì chúng đều là thuộc tính của cùng một đối tượng vật chất, mang lưỡng tính
E
ρη
h
=
η là hằng số Plăng thu gọn
Đến đây, ta thấy rằng: hằng số vật lý h chính là cầu nối giữa hai
hình tượng đối ngược sóng và hạt Ta cũng có thể dùng hình tượng này làm
Trang 9minh chứng cho một quy luật của thuyết duy vật biện chứng: “ quy luật
đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập”
Theo cơ học cổ điển, trạng thái chuyển động của hai đối tượng vật
chất này, tuân theo “quyết định luận”, được mô tả đầy đủ bằng hai đại
lượng Vật lý:
+ Vectơ định vị r ( )t
→
tại thời điểm t
+ Vectơ vận tốcv ( )t
→
tại vị trí và thời điểm t ấy
Phương trình chuyển động cụ thể như sau:
+ Đối với hạt:
( )
F r
dt
t
m dt
p d
v p
ρ.
+ Đối với sóng:
( ), 1 ( ), 0
2 2 2 2
t r
(2) Trong đó: A ,ρ( )rρt diễn tả dao động điều hoà gây nên sóng
v→ là vận tốc lan truyền sóng
Nếu là sóng điện từ cấu thành từ hai loại dao động cùng tồn tại và cùng chuyển hoá lẫn nhau:E→( )rρ,t
là điện trường biến thiên và ( )r t
.,
0
,
.,
2 2 2
2
2 2 2
2
t
t r H r
t r H
t
t r E r
t r E
ρρρ
ρ
ρρρ
ρ
µ ε
t r E E
,
,
ρρρ
ρρ
ρ
Với:
µ ε µ
1
=
⇒
=v v ; v là vận tốc lan truyền trong môi trường
vật chất (có các hằng số đặc trưng làε và µ)
- Giải phương trình (1) ta sẽ có: v ( )t
→
vàr ( )t
→
với các điều kiện đầu
cho trước: Tại t 0 =0, ta có:
=
=r0r
ρ ρ
ρ ρ
Trang 10- Giải phương trình (2) và (3) cho sóng cơ học hoặc sóng điện từ, ta sẽ có các nghiệm ở dạng chung là:
( t k r)
Cos A
cho biết vận tốc lan truyền của sóng ở thời điểm t tại
điểm quan sát; λ =v T
Năng lượng Etp mà mỗi đối tượng ấy mang theo, được tính theo khối lượng và vân tốc của hạt, hoặc theo biên độ A của sóng
Do sự phân biệt hai đối tượng đối ngược: sóng và hạt, cho nên ở hạt
vi mô ( lấy electron làm ví dụ ) là một đối tượng vật chất, thì tuỳ hoàn cảnh mà phải xem nó là sóng hay là hạt Cụ thể là:
• Electron chuyển động tịnh tiến trong môi trường, hay trong chân không được xem là hạt electron
• Cũng là electron đó, nhưng khi nó chuyển động trong lòng nguyên tử thì nó là một sóng Trạng thái chuyển động của nó được mô tả bằng một hàm sóng: ψ =ψ( )r ,ρt Để cụ thể hơn ta biễu
diễn nó ở dạng hàm mũ phức: ( )
e E t k r
i tp
A
ρ ρ
Ta có thể theo dõi quỹ đạo của hạt electron trong buồng Uynxơn
Ngược lại, ta không thể theo dõi quỹ đạo của electron khi nó là một sóng vật chất lan truyền (khi electron chuyển động trong lòng nguyên tử); Ta
chỉ có thể nói đến xác suất tìm thấy nó ở thời điểm t, tại vị trí rρ( )t nào đó
lớn hay bé mà thôi
Sở dĩ có như vậy là vì:
a Đã là hạt vật chất thì, chuyển động của hạt tuân theo cơ học
Niutơn Nghĩa là tại mỗi thời điểm quan sát t, ta có thể dựa vào
phương trình chuyển động của nó là các phương trình định luật II
F dt
r d m F
đồng thời cả toạ độ và vận tốc của nó Do đó, quỹ đạo là xác
định và có thực
Trang 11b Nếu là sóng, đặc biệt là sóng vật chất ( sóng De Broglie ) thì phải
sử dụng phương trình truyền sóng vật chất là phương trình
Schrơđinger với nghiệm là: ψ =ψ( )r ,ρt
Qúa trình chuyển động này không tuân theo các quy luật cơ học cổ
điển thông thường, mà tuân theo nguyên lí bất định Hây xen bec:
h
p
x ∆ x ≥
∆
tức là không thể xác định chính xác đồng thời cả vận tốc và toạ độ của
hạt tại mỗi thời điểm ( xem quyển “ Cơ Học Lượng Tử là gì?” )
Ø Tóm lại: sóng và hạt trong Vật lý học là hai khái niệm đối ngược
Và trong quá trình đi tìm hướng giải quyết mâu thuẫn này, đã có nhiều
kiến thức Vật lý mới được hình thành, điển hình là sự ra đời của lý thuyết
Lượng tử và Cơ học lượng tử; Các lý thuyết này là cơ sở vững chắc cho sự
ra đời của Vật lý hiện đại Sóng & hạt là hai quan điểm mâu thuẫn nhưng
không triệt tiêu nhau mà lại bổ sung cho nhau Điều đó cũng dễ hiểu thôi,
vì hai hình tượng ấy cùng thuộc về một đối tượng vật chất nào đó Và cố
nhiên, ta cần phân biệt: sóng cơ học (D'alembert) với sóng vật chất (sóng
Đơbrơi ) Ta có bảng:
Sóng cơ học ( D'alembert ) Sóng vật chất ( sóng Đơbrơi )
Tuân theo phương trình Schrôđinger
Không mang ý nghĩa Vật lý trực tiếp
Chương 2: NHANH & CHẬM
˜˜˜
Khi tìm hiểu chuyển động của đối tượng vật chất, diễn ra trong
không gian, theo thời gian Ngoài ý niệm không gian đối ngược: xa với
gần; ta còn có ý niệm đối ngược về sự nhanh và chậm Ở đây ta chỉ xét
vấn đề xoay quanh đại lượng vận tốc (v)
Sau đây ta tìm hiểu tính đối ngược của vận tốc chuyển động: chậm
và nhanh ( tức v lớn hay bé ) ở chuyển động tịnh tiến
+ Vật lý học khẳng định rằng, dù là sóng hay hạt cũng thế, vận tốc
chuyển động, tại mỗi thời điểm trong môi trường, ở từng vị trí sẽ có v lớn
hay bé phụ thuộc vào bản chất của môi trường Kể cả chân không là
không gian không chứa một thứ vật chất nào Môi trường sẽ cản trở
Trang 12chuyển động của vật chất chứa trong nó Cụ thể là: môi trường sẽ gây lực
ma sát cản trở chuyển động của hạt và gây lực cản ngăn cản dao động
sóng Thật vậy, công thức vận tốc v được xác định ở Điện động lực là:
m
0 0
10 3
1
µ
Trong đó: c là vận tốc ánh sáng trong chân không
+ Trong thuyết tương đối hẹp, Anhxtanh có phát biểu một tiên đề
nói rằng:“ vận tốc ánh sáng trong chân không là một hằng số: c = const” Tiên đề ấy hàm ý rằng: “ vận tốc ánh sáng trong chân không không phụ thuộc vào hệ quy chiếu quán tính dùng để đo, không phụ thuộc vào nguồn phát sáng đang chuyển động hay nằm yên; cũng không phụ thuộc vào máy thu ánh sáng đứng yên hay chuyển động” Đây là một sự thật vật lý
học Còn hơn thế, c không những là một hằng số mà nó còn là vận tốc truyền tín hiệu cực đại Không có vật thể nào, tín hiệu nào có vận tốc
chuyển động vượt quá c Tức là: v ≤ c
+ Nhanh hay chậm là hai mức độ của chuyển động Chúng đối ngược
nhau Khi ta bảo một vật nào đó chuyển động nhanh hay chậm, thì trong
câu nói đó đã bao hàm một sự so sánh vận tốc của vật Nhưng đã so sánh
thì cần phải có mốc so sánh Vậy thì chọn vận tốc của vật nào, của đối tượng vật lý nào làm mốc cho phép so sánh nhanh chậm này đây? Mốc mà
ta chọn để so sánh đó là vận tốc ánh sáng c; thế thì:
1 Đối với chuyển động chậm, ta có: v << c
2 Đối với chuyển động nhanh, ta có:v ≈ c
3 Không có trường hợp nào v > c
( Hiện tại, Vật lý học cũng có suy tưởng rằng có thể có những đối
tượng chuyển động nhanh hơn c và đặt tên chúng là các”Tachion” nhưng
do giới hạn của đề tài ta không xét vấn đề này Nếu bạn đọc muốn tìm hiểu vấn đề này, xin hãy tìm xem quyển “Vũ trụ nhìn thấy và không nhìn thấy” )
Nội dung tiên đề trên lại đối ngược ngay với một tiên đề khác của
Anhxtanh; đó là nguyên lý tương đối mang tên ông:” mọi hệ quy chiếu quán tính điều tương đương nhau, đối với mọi hiện tượng vật lý” Tiên đề
này là sự mở rộng nguyên lý tương đối Galilê Công thức cộng vận tốc
Trang 13Hình 2
khi chuyển từ hệ quy chiếu quán tính này sang hệ quy chiếu quán tính
khác, đòi hỏi c ( vốn là vận tốc) phải mang tính tương đối, c ≠ const
Anhxtanh buộc chúng ta phải tuân theo hai điều đối ngược, từ cửa
miệng của một người nói ra(Anhxtanh) Thế thái nhân tình không cho phép
như vậy Song thuyết tương đối hẹp Anhxtanh muốn như vậy Hai tiên đề
đối ngược ấy lại cùng là chân lý khoa học hiện đại, là cơ sở của thuyết
tương đối hẹp Anhxtanh Ta đã biết rằng, khi tìm hiểu các tính chất của
không gian và thời gian Galilê đã xây dựng các công thức biến đổi tọa độ,
khi chuyển từ hệ quy chiếu quán tính k giả định đứng yên sang một hệ quy
chiếu quán tính k’ khác chuyển động thẳng đều so với k, với vận tốc v→
z z
y y
vt x
x
(I)
Hệ (I) đã dẫn đến phép
cộng vận tốc cổ điển Galilê: u ρ = u ρ ′ + v ρ
Các công thức này đảm bảo quan sát viên đứng ở bất cứ hệ quy
chiếu quán tính nào để quan sát một hiện tượng cơ học, đều thấy hiện
tượng ấy diễn ra trước mắt mình như nhau Phương trình diễn tả quá trình
vận động ấy sẽ phải có dạng như nhau Ta bảo rằng: ” chúng bất biến
Galilê” Đó là câu chuyện của thế kỷ 17 Gần ba trăm năm sau, ở thế kỷ
20 Anhxtanh dùng một cách biến đổi toạ độ mới: ”phép biến đổi tọa độ
lorentz”
Bảng công thức:
Trang 142 2
11
c v
x c
v t
t
z z
y y
c v
vt x
x
(II)
Từ (II) ta có thể suy ra các công thức cộng vận tốc, Anhxtanh đã làm
và thu được kết quả sau:
2
2 ,
z
z
, x 2
2
2 ,
y y
, x 2
, x x
uc
v1
c
v1uu
uc
v1
c
v1uu
uc
v1
vu
b Hiện tượng dãn thời gian khi xem đồng hồ
Galilê nói rằng các khoảng cách không gian đều bất biến Anhxtanh bảo rằng không
Galilê nói rằng mọi đồng hồ chỉ giờ như nhau Anhxtanh bảo rằng không phải như vậy
Chuyện cổ tích xưa có kể rằng: một du khách đi và về chỉ trong một vài năm; lúc ra đi còn trẻ mái tóc còn xanh Khi về quê cũ tuổi mới thay
,
, ,
z ,
, ,
y ,
, ,
x
dt
dz u
, dt
dy u
, dt dx
Trang 15đổi một ít Ngở rằng mái tóc, vẽ mặt vẫn thanh xuân Thế nhưng, lúc trở
về mới hay rằng những bà con cùng thế hệ đã chết lâu rồi, những người
mà ông ta gặp lại là cháu mấy đời của ông ta, nhìn qua gương mới biết
mình quá già Điển tích này cho thấy ý niệm về sự nhanh chậm cũng từng
được nhắc đến từ rất lâu (từ xưa); ở Việt Nam ta điều này cũng được nhắc
đến trong các vỡ cải lương, trong các câu chuyện thần thoại, ví dụ như câu
nói: “một ngày trên trời bằng một năm ở hạ giới” … Đáng tiếc là thời đó
không có những Anhxtanh như thế kỷ 20
Ý niệm không gian và thời gian còn đâu là tuyệt đối! Tại sao,
không gian và thời gian lại không mang tính khách quan, tuyệt đối; quá
trình vận động của các vật thể trong hệ dính dáng với nhau, còn không
thời - gian thì dính dáng cả với quá trình vận động của hệ Hoá ra sự việc
này có nguồn gốc từ vận tốc chuyển động của vật thể (v): nhanh hay
chậm Tức là phải quan tâm đến các bất đẳng thức so sánh (xem trang 13)
Triết học khẳng định vật thể luôn vận động, thuyết động học phân tử
cũng công nhận thế Do đó, vật thể sẽ mặt nhiên thừa nhận vận tốc là một
thuộc tính của mình Vậy mối quan hệ của vật với vận tốc của nó ra sao?
Theo định nghĩa của vận tốc: ( )
dt
t r d v
ρ
ρ = với r ρ ( ) t
là vectơ định vị của vật thể Vật thể chuyển động với vận tốc nào, là việc riêng của vật, với yêu
cầu riêng của nó Người quan sát nó, lấy mắt nhìn vật Vật phát sóng điện
từ; mắt người thu nhận ở mưcù độ nào, chẳng hề dính dáng đến vật; Thế
nhưng thực tế cuộc sống cho thấy kết quả nhìn của mắt lại khác nhau, tuỳ
thuộc người quan sát đứng ở hệ quy chiếu quán tính nào Tại sao lại có sự
mâu thuẩn giữa lý thuyết và thực tế?!
Chưa hết, Cơ học cổ điển coi khối lượng(m) là một thuộc tính
không thể thiếu của mọi đối tượng vật chất Niutơn cho rằng: lúc đứng yên
vật có khối lượng bao nhiêu, thì trong suốt quá trình vận động khối lượng
vẫn không đổi (m = const) Ta có: m = m 0 ( m là khối lượng vật lúc chuyển
động, m0 là khối lượng vật khi đứng yên ) Xuất phát từ quan điểm này,
người ta đã đưa ra định nghĩa khối lượng: “khối lượng là lượng vật chất
có trong vật ”
Nhưng rồi, quan niệm này không còn phù hợp đối với các vật có vận
tốc chuyển động lớn (v ≈ c) Khi đó khối lượng sẽ thay đổi, thuyết tương
Trang 16= Đến đây ta cần điều chỉnh lại ý nghĩa Vật lý của từ khối
lượng Khối lượng không phải là vật chất cấu thành vật Khi vật chuyển
động với vận tốc khá lớn (gần bằng vận tốc ánh sáng) nó không hề nhặt
thêm vật chất mà khối lượng của nó vẫn tăng Điều đó cho thấy yếu tố nhanh chậm cũng ảnh hưởng đến khối lượng Thực tế là vậy Với công nghệ hiện nay, các máy gia tốc đã tăng tốc cho chùm hạt lên gấp nhiều lần, khi đó khối lượng của nó tăng đúng theo công thức:
2 2 0
1
c v
m m
−
=
Có thể nói chậm và nhanh là hai khía cạnh của một vấn đề Niutơn chỉ làm việc với hạt chậm, Anhxtanh lại tiếp cận tới các hạt chuyển động nhanh Do đó các kết quả nghiên cứu của họ không giống nhau: Cơ học kinh điển Niutơn là tri thức Vật lý của các hạt chậm Cơ học tương đối tính Anhxtanh là tri thức Vật lý của các hạt nhanh Tuy nhiên, ở hai lý thuyết đó cũng có sự tương đồng Các công thức Cơ học tương đối tính Anhxtanh bao hàm cả các công thức Cơ học kinh điển Niutơn; nó thừa nhận cơ học kinh điển là trường hợp riêng của mình khi áp dụng cho các hạt chậm Thật vậy, áp dụng công thức
2 2 0
c
v1
mm
011
m m
c v
tính khối lượng theo Cơ học tương đối tính Anhxtanh vẫn đúng cho các hạt chuyển động chậm
Trang 17Trước đó Mincôpxki, thầy học của Anhxtanh đã xây dựng phần hình
học không gian bốn chiều, với hệ toạ độ bốn chiều Anhxtanh đã vận
dụng hình học này để toán học hoá thuyết tương đối hẹp để cho ra đời các
công thức tương đối tính đẹp đẽ như ngày nay (Xem “hình học vũ trụ” và
“lực làm thế giới chuyển động” )
Nhờ thắng lợi trong việc giải thích nghịch lý nhanh & chậm, cơ học
tương đối tính lại có thêm một đứa em lớn tuổi cơ học cổ điển
Trong quá trình chuyển đổi nhằm hiện đại hoá Vật lý học, vận tốc ánh
sáng trong chân không (c) đã đóng vai trò như một chiếc cầu, kết nối chậm
với nhanh Qua chiếc cầu c ấy, hay ý niệm chậm và nhanh sẽ không cò
cách biệt Trong nhanh có chứa chậm
Chiếc cầu thứ hai gắn cơ học tương đối tính với cơ học kinh điển là hệ
β Hai chiếc cầu nối ấy thực ra chỉ là một
Chính những cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề nhanh – chậm đã
khiến một loạt quan niệm cơ học mới được hình thành, làm rộng thêm tri
thức vật lý Ví dụ: khối lượng không là bất biến, khoảng cách thời gian và
không gian không phải bất biến…
Trang 18Chöông 3: CAÙ THEƠ & TAÔP THEƠ
˜˜˜
Vaôt lyù hóc quan tađm ñeân caù theơ vaø taôp theơ vì nhieău lyù lẹ, vôùi noôi
dung khaùc haún
Khi baĩt ñaău tìm hieơu caâu truùc “vi mođ” cụa giôùi töï nhieđn, Vaôt lyù hóc noùi raỉng, mói vaôt theơ (vi mođ) ñeău caâu thaønh töø caùc “phađn töû” (molicule), soâ löôïng phađn töû caẫu thaønh heô vi mođ laø raât lôùn Ñeâm döôïc soâ löôïng naøy laø cạ moôt vaân ñeă cam go cụa vaôt lyù hóc thöïc nghieôm Thaôt khoù, song roăi cuõng ñeâm ñöôïc
+ Ví dú: moôt löôïng khí chöùa trong moôt theơ tích V =22.4 lít, aùp suaât 1 atmotphe (moôt mol khí ) coù chöùa NA = 6,023.1023 hát Soâ naøy do Avođgadrođ
tìm ra neđn ñöôïc gói laø soâ Avođgadrođ, soâ naøy tuy giôùi noôi nhöng khaù lôùn
Cô hóc NiuTôn khạo saùt chuyeơn ñoông cô hóc cụa caùc chaât ñieơm vaø
caùc cô heô coù lieđn keât Moêi cô heô coù soâ baôc töï do s = 3N - k ; k laø soâ moâi
lieđn keât coù maịt trong heô cô Cô hóc cho raỉng soâ baôc töï do ôû cô heô toâi ña laø
s = 6 Moêi chaât ñieơm töï do, rieđng lẹ coù soâ baôc töï do laø 3
Neâu trong loøng cô heô khođng coù moâi lieđn keât naøo (k=0) thì soâ baôc töï
do cụa cô heô laø s = 3N - k = 3N + 0 = 3N
Khạo saùt moôt soâ heô cô hoaøn toaøn töï do aây phại bieât thieât laôp 3N phöông trình cho töøng chaât ñieơm cụa cô heôVeă nguyeđn taĩc thì coù theơ thöïc hieôn Nhöng thöïc teâ, thì baât löïc Krođnic noùi ñuøa “ phại caăn ñeân bao nhieđu giaây möïc, bao nhieđu cođng söùc, moă hođi ñeơ thieât laôp caùc phöông trình dieên tạ hình thaùi söï vaôt ñađy ”
Tuy nhieđn, xaõ hoôi ñaõ yeđu caău, khoa hóc khođng theơ töø nan Caăn tìm ra moôt phöông phaùp cho caùc heô phöùc táp aây Ngöôøi ta ñaõ nghó ñeân caùc giaù trò trung bình: Naíng löôïng trung bình ( )E tp ; vaôn toâc trung bình ( )v ; ñoông naíng trung bình ( )E d … cụa moêi hát Muoân coù giaù trò tung bình cụa caùc ñái löôïng aây (ñeơ mođ tạ tráng thaùi cụa heô), phại duøng ñeân phöông phaùp thoâng keđ, lyù
thuyeât xaùc suaât .trong toaùn hóc
Chư baỉng caùch vaôn dúng “phöông phaùp thoâng keđ” môùi coù theơ mođ tạ
ñöôïc hình thaùi söï vaôt Heô nhieău hát coù nhöõng tính chaât caăn phại nhôø ñeân
Trang 19lyù thuyeât taôp hôïp môùi coù theơ dieên tạ noơi Caùch mođ tạ caù theơ ñeơ coù caùi nhìn
veă taôp theơ khođng aùp dúng ñöôïc
Haỉng soâ Bođnzôman k B ra ñôøi töø ñoù Tröôùc tieđn, noù ñöôïc duøng ñeơ mođ
tạ moâi quan heô giöõa nhieôt ñoô tuyeôt ñoâi T vôùi ñoông naíng trung bình ( )E ñ cụa
moêi phađn töû trong heô Sau ñoù, noù xuaât hieôn trong caùc pheùp tính thoâng keđ
ñeơ phạn aùnh tính chaât thoâng keđ cụa caùc quy luaôt töï nhieđn Caùc quaù trình
nhieôt ñoông nghieôm ñuùng nguyeđn lyù II nhieôt ñoông löïc hóc do Bođnzôman
phaùt bieơu Döïa vaøo heô thöùc ñònh nghóa:
N
R
k B=
Trong ñoù k B = 1,38066.10-23 J/ ñoô laø haỉng soâ Bođnzôman
R laø haỉng soâ khí tính cho moôt phađn töû
* Coù hai loái thoâng keđ: Thoâng keđ coơ ñieơn vaø thoẫng keđ löôïng töû :
a Thoâng keđ hóc coơ ñieơn: ñöôïc phaùt bieơu trong caùc cođng trình cụa
Clao-di-uùyt, Maícxoen, Bonzôman vaø moôt soâ nhaø vaôt lyù khaùc
W = (theo keât quạ chöùng minh cụa Vaôt Lyù Lyù thuyeât)
Trong ñoù: N laø soâ hát coù trong heô
Chư soâ i chư soâ nhoùm naíng löôïng vôùi caùc giaù trò ε1,ε2,ε3, ,ε n
ni laø soâ hát toăn tái ôû nhoùm thöù i
W laø xaùc suaât tìm thaây hát ôû moêi nhoùm
Vì raỉng Entropi S cụa heô nhieôt ñoông vaø xaùc suaât W ( theo Bođnzôman
) chuùng lieđn heô vôùi nhau theo heô thöùc:
S = k B Lnw
Hay
!
! ln
i i
B
n
N k S
π
=
Trong ñoù: π laø kyù hieôu laây tích
Neâu nhö soâ hát N trong heô raât lôùn, vaø soâ hát trong moêi nhoùm cuõng
Trang 20( n)
i n n n n
i n n
e n n
n
e N
2 1 2
1 Vì: n1+n2+….+nn= N nên ta có:
i
i
N n
i N
N N
n
N n
e
e N W
π
=
Một cách gần đúng ta có:
B n i
N
n
N ln k S
b Thống kê lượng tử: Các kết quả nghiên cứu của Vật lý thống
kê cho ta: Các Fecmion tuân theo nguyên lý Paoli; Các Bozon không tuân theo nguyên lý Paoli Nhưng cả hai đều tuân theo thống kê học lượng tử: Fecmi-Đirăc hoặc Bozơ-Anhxtanh
Xem chương IV Giáo trình Vật lý thống kê của Ths Trần Minh Quý
* Tóm lại: Trong công cuộc đấu tranh giải quyết hai vấn đề đối ngược của vật lý: cá thể và tập hợp (tập thể) Vật lý học cổ điển đã dần
dần bộc lộ nhược điểm của mình; càng đi sâu vào cấu trúc bên trong
nguyên tử nó càng bộc lộ nhiều sai sót Lúc này, Cơ học cổ điển không còn đúng đối với hệ nhiều hạt (một tập hợp); mà phải nhờ đến vật lý
thống kê Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì tập hợp có nhiều đặc tính không có ở hạt đơn lẻ Hằng số Bônzơman k B là cái cầu nối đơn lẻ với tập hợp
Chương 4: XA & GẦN
˜˜˜
Trong đời sống hằng ngay, có vô số các hiện tượng Vật lý quen thuộc đang diễn ra dưới mắt con người, nhưng hầu như không ai chú ý đến,
Trang 21họ cho rằng đó là chuyện bình thường trong cuộc sống Thế nhưng, cũng
có một số người cho rằng các hiện tượng đó không bình thường chút nào
Họ lao vào nghiên cứu các hiện tượng đó Đây là điểm khác biệt cơ bản
của người bình thường và các nhà khoa học Nhờ vậy, các hiện tượng tự
nhiên không còn là hiện tượng kỳ bí Nó sẽ được khoa học soi sáng, vấn đề
là sớm hay muộn mà thôi Tuy nhiên để đưa một hiện tượng kỳ bí nào đó
của tự nhiên ra ánh sáng khoa học, cũng gặp không ít khó khăn Đôi khi là
cả một cuộc tranh luận kéo dài hàng thế kỷ Thật vậy, quá trình hình thành
khái niệm tương tác đã minh chứng cụ thể Đó là cuộc đấu tranh xoay
quanh vấn đề tương tác giữa các vật trong tự nhiên ( tương tác xa hay
tương tác gần? ) Ta hãy đi tìm hiểu vấn đề này
Nói đến tương tác, ta cần đặt biệt chú ý đến thời gian xảy ra tương
tác và tầm tác dụng của tương tác đó
1 Thời gian tương tác:
Vì phải tiếp xúc với tự nhiên hằng ngày, nên con người sớm thấy
được hiện tượng tương tác gần Có hai loại hình tương tác gần: tương tác
trực tiếp không thông qua vật trung gian truyền tương tác hay gián tiếp qua
vật trung gian (gọi chung là tương tác gần)
Trong quyển “Lược sử vật lý tiềm nguyên tử”, có trình bày những
điều cơ bản, liên quan đến tương tác “xa” hay “tức thời”, tương tác hấp
dẫn của Niutơn ( tương tác hút ); tương tác tức thời của hạt mang điện với
lực tương tác là lực Culông ( lực hút hoặc lực đẩy tĩnh điện, tĩnh từ ) Các
lực tương tác này đều tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách ( r ) giữa
chúng (các vật tương tác) Và được truyền tức thời từ vật gây tương tác
đến vật chịu tương tác Đó chính là tương tác xa hay tương tác tức thời Vật
lý học vẫn đinh ninh như vậy (thực ra vẫn có một số ít người không đồng ý
nhưng họ không làm sao lý giải nổi cơ chế các tương tác hấp dẫn, tương tác
điện; từ, do đó họ đành chịu )
Trải qua hàng mấy thế kỷ; mọi người vẫn chung sống với hai quan
niệm đối ngược: tác dụng xa và tác dụng gần
Trang 22* Mãi về sau, cho đến khi Quang học đo dược vận tốc ánh sáng: trong
chân không ánh sáng có vận tốc là v = c = 3.108m/s; còn trong môi trường
có chiết suất n thì:
không sao thực hiện tức thời được Nó cần có một khoảng thời gian nhất định để lan truyền Kết quả nầy hết sức bất lợi cho quan điểm cho rằng: tồn tại tương tác xa
* Để đo khoảng cách thời gian ta dùng đến đồng hồ Chế tạo đồng hồ
chính xác là vấn đề kỹ thuật, và nó đã được cải tiến dần theo thời gian
Tuy nhiên, số chỉ của đồng hồ lại không thật sự khách quan Thật vậy,
theo thuyết tương đối hẹp, cụ thể là phép biến đổi Lorentz thì:
2 2 2
, 0 0
c
v1
'xc
vtt
−
+
2 2 2 ,
c
v1
'xc
vtt
Trang 23chuyển động (υ) của người sử dụng đồng hồ mà nó có thể đi nhanh hoặc
chậm
Điện động lực Măcxoen, tuy được coi là một phần đại diện của “vật
lý kinh điển” cũng đã nói c là giới nội:
Do đó không thể tồn tại “tương tác tức thời được”
Con người quan sát được mọi vật là nhờ ánh sáng (sóng điện từ) từ vật
lan truyền qua không gian đến mắt người hoặc một máy thu sóng (hồng
ngoại) Nếu chỉ xét trong phạm vi nhỏ hẹp trên mặt đất này, thì ta sẽ có
cảm giác như thấy tức thời vật mình quan sát (nhìn là thấy liền) Thế
nhưng Vật lý học đâu chịu dừng lại ở dó; ngoài nhìn gần, nhìn sâu, nó còn
phóng tầm mắt vào trong vũ trụ, với các thiên hà xa xăm
Tầm xa xăm này dường như không có điểm cuối ( vũ trụ là bao la )
Thật vậy, Thái dương hệ với Mặt Trời, Sao Kim, Sao Thuỷ… tưởng là rất
xa Trái Đất, hoá ra cũng khá gần Ánh sáng phát ra từ Mặt Trời đi đến
Quả đất cần 8 phút thời gian Khi đó ta có thể coi gần đúng ∆ t ≈ 0(tức thời
) Nhưng với các vì sao trong thiên hà cách Quả đất thiên vạn dặm Thời
gian lan truyền từ đó đến quả đất phải đo bằng đơn vị năm ánh sáng ( là
khoảng đường ánh sáng đi được trong một năm thời gian ) Do đó, con
người nhìn vào vũ trụ xa xăm, chỉ nhìn được những gì thuộc về quá khứ
Qúa trình này rõ ràng là không tức thời Đây lại là một kết quả bất lợi cho
khái niệm tức thời Nó nói lên sự không phù hợp của khái niệm đó
2 Tầm tác dụng:
Ở phần trên ta nói đến đối ngược: “xa- gần” thông qua tương tác Để
hiểu thêm vấn đề này ta xét thêm một sự kiện liên quan đến tương tác;
ngoài “thời gian” gây tác dụng ( )∆ t ta nghiên cứu ở trên còn có vấn đề thứ
hai là “tầm” tác dụng Theo ý nghĩ thông thường ta tưởng rằng lực tương
tác mạnh (cường độ lớn) thì tầm tác dụng của lực ấy sẽ rộng hơn là hẹp
Trang 24Mô hình: Quỹ đạo chuyển động của các hành tinh dưới
tác dụng của lực hấp dẫn
Mô hình: Hạt nhân nguyên tử
Thế nhưng, tính chất này lại mang tính chất đối ngược: lực yếu lại toả rộng, còn lực mạnh lại có tầm tác dụng hạn hẹp Ta nói cụ thể thêm:
a Lực hấp dẫn vũ trụ Niutơn là loại lực
tương tác phổ biến ở mọi vật thể vì nguồn gốc
của lực là khối lượng hấp dẫn (mhd) Ở thế
giới vi mô, lực hấp dẫn ( )f hd vẫn tồn tại nhưng
nhỏ coi như không đáng kể
b Lực điện (lực hút
giữa hạt nhân mang điện
dương và các electron mang điện âm) tuy tồn tại đấy nhưng không đáng
kể.Nói không đáng kể là có sự so sánh: so sánh giữa hai lực tương tác này
với một loại lực tương tác thứ ba: “lực hút hạt
nhân” Cường độ loại lực này rất dữ dội, nó lại
có tính độc lập điện tích Nhờ có nó mà các hạt
proton (cùng tích điện dương) có thể nằm khá
gần nhau (trong phạm vi 10-13cm); bất chấp sự
có mặt của lực Culông, chúng vẫn không tung
toé ra ngoài!
Thế nhưng cách hạt nhân chẳng bao xa (10-8cm) là vỏ electron của nguyên tử Lực hạt nhân lại chẳng có tác dụng gì Điều này chứng tỏ tầm tác dụng của lực hạt nhân quá ngắn Nếu không như vậy thì nguyên tử sẽ không còn là nguyên tử nữa tất cả sẽ nhập lại thành một khối cỏn con Thực tế nguyên tử vẫn bền vững, tồn tại
Lại nói đến tương tác yếu thể hiện trong lòng hạt nhân trong các
hiện tượng rã β ± Quá trình làm chuyển đổi n thành p và ngược lại Số Nuclêon vẫn bảo toàn để đảm bảo sự tồn tại của nguyên tử nhưng lại làm
xuất hiện một loại hạt lefton: e- hoặc e+ và nơtrino e ( 0 )
0γ e hoặc phản Nơtrino e-
0 Tương tác tưởng là “yếu” lại có khả năng đẩy hạt Nơtrino e bay xa vô cùng, với khả năng xuyên sâu kỳ lạ Nắm bắt nó
chẳng dễ dàng gì, khiến một thời gian khá dài, tưởng như không có nó thì
Trang 25định luật bảo toàn năng lượng lâu nay vốn coi là phổ biến trong mọi quá
trình, sẽ bị vi phạm
Vì tư tưởng cho rằng định luật bảo toàn năng lượng này nhất thiết
không thể bị vi phạm nên Paoli ( nhà Vật lý Áo) mới giả định rằng trong
phân rã β ±có một hạt (một tên trộm) đánh cắp một phần năng lượng bay
đi xa Thực tế là như vậy
Thế thì loại tương tác này có còn gọi là “yếu” hay không? Rõ ràng
mạnh và yếu chỉ mang tính chất tương đối và nó được thống nhất một cách
kì lạ trong một thực thể vật chất
Tóm lại: Vật lý học lại tiếp cận với vấn đề đối ngược trong tương
tác và đi đến kết luận: Không thể tồn tại tương tác tức thời; tầm tương tác
có thể rộng hay hẹp, hai phạm trù ấy thống nhất trong cùng một thực thể
vật chất, đáng lẽ phải là rộng mà hoá ra hẹp, tưởng rằng hẹp mà hoá ra
rộng
Trang 26Chương 5: CÓ HAY KHÔNG CÓ
˜˜˜
Vật lý học là một ngành khoa học, phản ánh trung thực thế giới vật chất
- "Có" thì nói rằng "có"; khi đó đòi hỏi đối tượng phải có thực
- "Không có" thì bảo rằng "không", đã không có thì không thể dùng
cái không có ấy lý giải vấn đề
Thế nhưng, lịch sử vật lý học đã trải qua nhiều sự kiện, khi cần giải thích, các nhà vật lý đã từng nói "liều", bất chấp quy luật đã được thừa nhận , không phải "phủ nhận" vì tính hiển nhiên!
Cụ thể là câu chuyện về "chất lỏng không trọng lượng"
Bất cứ vật thể nào, trong phạm vi ảnh hưởng của trường "trọng lực",
do sức hút của quả đất gây ra, vật thể đều có mang “ trọng lượng P “
Ta có: P = m.g, với: m là khối lượng hấp dẫn của vật; g là gia tốc trọng trường nơi đặt vật
Thừa nhận định luật hấp dẫn vũ trụ, mặc nhiên là thừa nhận sự kiện này: mọi vật thể đều có trọng lượng, trọng lượng vật chỉ có thể thay đổi khi g thay đổi Trọng lượng không thể triệt tiêu, trừ trường hợp g = 0, là lúc vật thể đã rời xa quả đất, đi vào khoảng không vũ trụ
Thế nhưng, khi giải thích nhiều hiện tượng Vật lý, để tránh bế tắc
nhà vật lý học nói liều: trong tự nhiên có:
a "Chất lỏng điện" là chất lỏng không trọng lượng ( để giải thích hiện tượng lan truyền của điện tích )
b Chất lỏng nhiệt: là chất lỏng không trọng lượng ( để giải thích quá trình truyền nhiệt )
c Ête vũ trụ là chất lỏng không trọng lượng ( giải thích cơ chế hấp dẫn )
Ta lần lượt tìm hiểu về quan niệm "đối – ngược" này: có hay không có trọng lượng ở các đối tượng vật chất kể trên
§1: CHẤT LỎNG ĐIỆN
λ là độ dẫn điện của môi trường dẫn
+ Ở môi trường rắn, cấu trúc theo kiểu "liên kết kim loại", các
electron ở xa hạt nhân Do đó, trong nguyên tử, một số electron bị hạt nhân
Trang 27hút rất yếu; nó có thể dễ dàng rời bỏ nguyên tử thành "electron tự do",
chuyển động hỗn loạn
+ Chà xát thanh điện môi êbônit bằng khăn lụa, làm cho êbônic hút
được mạt sắt Một số electron là hạt mang điện tích nguyên tố, e=1,6.10
-19 (Culông); đã rời thanh êbônit làm cho điện môi này tích điện
Đó là một sự thật đã được chứng nghiệm và lý giải
Thế nhưng, trước đó để giải thích hiện tượng nhiễm điện, sự truyền
điện, Vật lý học đã từng bảo rằng vật thể nhiễm điện là do trong vật thể
có tồn tại một chất lỏng không có trọng lượng: "chất lỏng điện" Chất lỏng
này sẽ quyết định loại điện tích của vật: khi chất lỏng này chiếm đầy trong
lòng vật mang điện thì vật trung hoà về điện; nếu không đầy vì mất bớt thì
đó là vật mang điện dương; nếu nó đầy thừa thì vật đó mang điện âm
Thêm hay bớt chất lỏng này trọng lượng vật không bị ảnh hưởng: nhẹ đi
hay nặng hơn
Khi để hai thanh kim loại nhiễm điện tiếp xúc nhau thì chất lỏng
điện không có trọng lượng ấy sẽ chảy từ vật này sang vật kia; vì có hai thứ
chất lỏng mang điện âm (-) và dương (+), nên sự tiếp nhận chất lỏng điện
có thể làm cho vật mất đi điện tích (từ nhiễm điện trở thành trung hoà)
hoặc điện tích dấu này, hay dấu kia được tăng cường
Vật thể được tích điện không hề mất bớt hay tăng thêm trọng lượng,
vì chất lỏng điện không có trọng lượng Suốt một thời gian dài, quan niệm
này có tác dụng cụ thể, nó làm cho thiên hạ yên trí, chỉ cần lo giải thích
các hệ qủa do các điện tích nằm yên hay dịch chuyển gây ra Ví dụ: sự toả
nhiệt, sự cảm ứng.v.v sự thật là thế nào? Không một tài liệu chính thức
nào dám công nhận có hoặc không môi trường này, mặc dầu mọi người
đều biết rằng, Vật lý học đang phải thừa nhận, sử dụng quan điểm sai trái:
Đã là vật chất mà lại không có khối lượng hấp dẫn (mhd=0); Thật vô lí,
đã là vật nằm trong trường trọng lực thì phải chịu lực hấp dẫn của quả đất
Chính cường độ trường trọng lực tác dụng vào vật gây ra gia tốc g Vì thế
vật nào cũng phải có trọng lượng:
mg g m
Pρ= ρ =
Trong đó m là đặc trưng không thể thiếu của mọi đối tượng vật chất
Nghĩa là đã là vật chất, thì phải có khối lượng: m ≠ 0 Tuy nhiên đó cũng
chỉ là lý luận suông, chưa được thực nghiệm xác nhận Tiếc là kỹ thuật cân
đo thời đó chưa được cải tiến Chưa hề dùng những phương tiện tinh vi vào
Trang 28việc tìm kiếm chất lỏng không trọng lượng Từ đó có thể đưa ra kết luận chính xác về vấn đề này: nếu tìm thấy thì kết luận có và ngược lại
Sau này nhờ cải tiến phương tiện phép đo lường, Milikan đã cân
được electron bằng cân xoắn ( năm 1909 ): m = 9,1.10-31kg là một hằng số vật lý
Hạt electron là hạtcơ bản, cùng với proton (z = + e) và nơtron trung hoà (q = 0), tạo nên nguyên tử cũng trung hòa về điện, khi một vài electron tách rời nguyên tử thì nguyên tử không còn là trung hoà nữa mà biến thành một ion dương (+)
Trong trường hợp ion hoá bậc 1, ion ấy có điện tích:
q = + e
Trong trường hợp ion hoá bậc 2:
q = + 2 e
Các electron rời nguyên tử sẽ tạo nên dòng điện dẫn trong môi
trường dẫn hoặc bám vào nguyên tử khác của vật khác tiếp xúc, làm cho các nguyên tử trung hoà có thêm một vài electron ngoài z hạt electron sẵn
có Khi đó, nguyên tử sẽ biến thành ion âm Được thêm hoặc bớt electron, hiển nhiên làm cho nguyên tử, vật thể hoặc bị giảm bớt trọng lượng hoặc được tăng thêm trọng lượng
Nếu cho rằng dòng điện tích trao đổi trong cơ chế nhiễm điện (dương
hay âm) ở vật thể, và dòng điện dẫn chảy qua các phần khác nhau của vật
môi trường vật chất là do ion và electron thì "chất lỏng điện" phải có trọng lượng
Dùng "chất lỏng điện", ta có thể giải thích hợp lý hiện tượng nhiễm điện và truyền điện Thực nghiệm thời bấy giờ, chưa phát hiện được sự thay đổi trọng lượng quá nhỏ bé
Chất lỏng điện có trọng lượng mà lại bảo rằng không, đối - ngược
này đã được khắc phục Vật lý học ngày nay khẳng định rằng: trong trường trọng lực của quả đất không một vật thể nào không có trọng lượng
Thuyết electron cổ điển và lý thuyết miền năng lượng đã giải
thích hợp lý về sự nhiễm điện và bản chất dòng điện dẫn
Sau đây ta khảo sát xem có hay không có chất lỏng nhiệt
§2: CHẤT LỎNG NHIỆT
–—
Sờ vào một vật thể, ta có thể thấy các phần khác nhau của nó có độ nóng, lạnh khác nhau Sờ vào hai vật khác nhau ta cũng có cảm giác như
Trang 29vậy Để hai vật nóng, lạnh khác nhau tiếp xúc nhau; sau một khoảng thời
gian nào đó, hai vật sẽ cân bằng mức độ nóng lạnh:”cân bằng nhiệt"
Tại sao vậy? Có một thời Vật lý học đã bảo rằng: Trong mỗi vật có
chứa một thứ "chất lỏng không trọng lượng" gọi là "chất lỏng nhiệt"
Vật nào chứa nhiều chất lỏng nhiệt thì nhiệt độ cao (nóng), chứa ít
thì nhiệt độ thấp (lạnh)
Phần nào của vật tích tụ nhiều thì phần ấy (chổ ấy) có nhiệt độ cao
(nóng) và ngược lại
Chắc chắn trạng thái cân bằng nhiệt rồi, sớm hay muộn, sẽ xảy ra ở
vật có chênh lệch nhiệt độ giữa các phần Và sớm hay muộn không ai biết,
nhưng có một điều chắc chắn rằng: nhiệt giữa hai vật chênh lệch nhiệt độ
đặt tiếp xúc nhau, sẽ đạt tới trạng thái cân bằng
Chất lỏng nhiệt giảm hay tăng thêm, đều không làm thay đổi trọng
lượng vật Chấp nhận giả thiết tồn tại chất lỏng nhiệt, ta sẽ giải thích cơ
chế truyền nhiệt dễ dàng Nhưng, đã là chất mà không có trọng lượng là
quá không hợp lí Các nhà khoa học chân chính làm sao có thể chấp nhận
một nghịch lý như thế!
Lại một lần nữa vật lý học bí thế nói liều! Chứ làm gì có chất lỏng
nhiệt (chất lỏng không trọnglượng nhưng truyền nhiệt được) tồn tại trong
trường trọng lực
Nói liều mà được việc Nhiệt học, nhiệt động lực học, với các
nguyên lý I và II đã được lý giải căn nguyên nhờ giả thuyết này Chất lỏng
nhiệt còn có vai trò tích cực hơn là chất lỏng điện nữa kia!
Thế thì bản chất của "nhiệt" đã truyền là gì?
Phải tốn bao nhiêu trí tuệ, qua bao nhiêu cuộc tranh cải trong lịch sử
"nhiệt học và vật lý phân tử" mới dần dà tìm ra được chân lý
Hoá ra có một nhằm lẫn không thể tha thứ: nhiệt nào có phải là vật
chất đâu, do đó cần gì phải cực khổ đi tìm trọng lượng cho nó? Các đặt
trưng khối lượng m, trọng lượng p = mg là thuộc tính cơ bản của mọi đối
tượng vật chất Chất lỏng nhiệt không phải vật chất, do đó không cần có
thuộc tính này
Nhiệt chỉ là một hình thức vận động, là chuyển động cơ học của các
hạt vi mô (phân tử) cấu thành hệ vĩ mô (vật thể), bao gồm: tịnh tiến, quay
và dao động
Trang 30Dạng chuyển động của các hạt ấy phụ thuộc vào môi trường mà nó là thành viên; môi trường này quyết định thực hiện chuyển động nào là chủ yếu.Ví dụ:
a/ "Khí" trong bình: phân tử chuyển động tịnh tiến
b/ Chất lỏng trong bình: phân tử vừa chuyển động tịnh tiến, vừa dao động, vừa quay
c/ Ở vật rắn kết tinh, các hạt cấu thành chỉ thực hiện dao động quanh vị trí cân bằng (nút mạng)
Tất cả các hình thức chuyển động cơ học ấy của các phân tử gọi
chung là chuyển động nhiệt với mức độ hỗn độn và trật tự khác nhau
Vật lý phân tử nói rằng, năng lượng chuyển động nhiệt được phân bố đều theo số bậc tự do ( theo Bônzơman )
Nếu i là số bậc tự do của phân tử các loại ( phân tử đơn nguyên tử, lưỡng nguyên tử, đa nguyên tử ) thì năng lượng trung bình chuyển động nhiệt là: k T
2
i
Eđ = B , kB là hằng số Bônzơman
Trong quá trình chuyển động nhiệt hỗn loạn ấy, các phân tử có thể
va chạm nhau, truyền động năng cho nhau; phân tử có động năng bé thì
nhận thêm Hệ quả là nhiệt độ toàn hệ sẽ được cân bằng; giữa hai vật nhờ
sự trao đổi động năng, cả hai sẽ đạt tới trạng thái cân bằng nhiệt động tại
một nhiệt độ T
Tóm lại: Quá trình truyền nhiệt là truyền một phần năng lượng dưới
dạng động năng Qúa trình truyền nhiệt không hề liên quan gì đến một
"chất lỏng nhiệt" Các nhà khoa học bí thế phải nhờ đến một dạng vật chất đặt biệt: chất lỏng nhiệt để rồi gán cho nó thuuộc tính không trọng
lượng; khiến nó vi phạm chân lý vĩnh hằng: đã là vật chất thì phải có
trọng lượng Điều này đã làm xôn xao dư luận suốt một thời gian dài Đến
khi nhà bác học Nga Lômônôxôp đề xướng thuyết động học phân tử và
vận dụng nó giải thích thành công quá trình truyền nhiệt: nhiệt lượng chính
là phần năng lượng đã được truyền thông qua động năng của các phân tử,
thì vấn đề có hay không có chất lỏng không trọng lượng đã được giải
quyết thỏa đáng Dù sao thuyết ấy cũng có vai trò tích cực một thời gian dài trong lịch sử vật lý học
§3: ÊTE VŨ TRỤ
–—
Ta đã nói rằng: vật chất ngoài dạng hạt, còn ở dạng trường Một loại
trường có ứng dụng kỹ thuật đặc biệt là trường điện từ Lý thuyết về trường điện từ đã được Măcxoen tổng kết và xây dựng hoàn chỉnh với hệ
Trang 31các phương trình Măcxoen ở dạng vi phân, mà ta đã nói ở phần sóng hạt
Theo Măcxoen, sóng điện từ là trường điện từ tự do lan truyền trong không
gian với vận tốc
εµ
1
=
v Các hằng số điện môi ε và độ từ thẩm µ đặc
trưng cho môi trường làm giá đỡ để sóng lan truyền
Thế nhưng, sóng điện từ khác sóng cơ học ( ví dụ: sóng âm ); sóng
điện từ có thể lan truyền được cả trong chân không, với vận tốc
truyền:v c 1 3.108m/s
0 0
=
=
=
µ
ε mà ta đã nói ở vấn đề đối ngược giữa
nhanh và chậm Sóng cơ không lan truyền được trong chân không
Một vấn đề quan trọng mới nảy sinh: sóng điện từ lấy gì làm "giá
đỡ", để lan truyền được trong chân không? Đây là một câu hỏi thời sự vật
lý rất khó trả lời Để gỡ bế tắc, các nhà vật lý lại đưa ra giả thuyết về sự
tồn tại của một môi trường vật chất đàn hồi, xâm nhập khắp nơi, kể cả
chân không (gọi là ête vũ trụ)
Ête vũ trụ tồn tại khắp nơi, lại là chất đàn hồi, không có trọng lượng
Mọi vật chất trong không gian đều thấm nhuần ête Khi vật chuyển động
sẽ kéo theo hoặc không hề kéo theo ête Nếu có kéo theo thì có thể: hoặc
kéo theo toàn bộ hay chỉ một phần Giả thuyết này đã tháo gỡ ngay vấn
đề: giá đỡ giúp cho sóng điện từ lan truyền được trong chân không Chất
lỏng này có những thuộc tính đặt biệt kì lạ, kì lạ đến mức khiến nhiều
người nghi hoặc: "có ête hay không có ête vũ trụ"? Một vấn đề đối ngược
mới lại nảy sinh: nếu không chấp nhận sự có mặt của ête thì không sao
giải thích được sự lan truyền sóng điện từ trong chân không; còn công nhận
sự có mặt của ête thì phép cộng vận tốc Galilê ( Khi chuyển từ hệ quán
tính K’ chuyển động thẳng đều so với hệ quy chiếu quán tính K đang nằm
yên thì ta có phép cộng vận tốc: Uρ=Uρ′ +Vρ⇒U =U′ ±V) bị vi phạm, điều
này không thể chấp nhận được (vì công thức này lâu nay vẫn được áp dụng
rộng rãi và luôn cho kết quả đúng)
Để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết ête, Măcxoen đã đề nghị
tiến hành một thí nghiệm về giao thoa ánh sáng ( vốn được coi là sóng
điện từ ) nhằm khẳng định sự tồn tại của ête, vì ête bị quả đất bị kéo theo
hoàn toàn, trong quá trình quả đất chuyển động trên quỹ đạo quanh mặt
trời Moocly cùng Maikensơn đã thực hiện thí nghiệm quan trọng đó
Theo dự đoán ban đầu thì các vân giao thoa phải dịch chuyển một đoạn
Trang 32nghiệm hoàn toàn không đúng như mong đợi, các vân giao thoa hoàn
không dịch chuyển Kết quả này như một bản án tử hình cho diễn viên vật
chất thần bí ête Nhưng có ai dám chấp nhận kết quả âm vĩ đại này, vì nếu
thế có nghĩa là Măcxoen nói sai, thế thì lý thuyết trường điện từ do ông ta
xây dựng cũng có vấn đề chăng Mọi người đều tin ở Măcxoen Không
chấp nhận thì phải làm lại, Maikensơn quyết tâm tìm cho được tên diễn viên đang lẫn trốn- ête
Hình 5: Sơ đồ thí nghiệm Maikensơn - Moocly
Mặc dù kiên trì thực hiện, cải tiến nhiều phen, thế nhưng kết quả thí nghiệm của Maikensơn trước sau vẫn như một: Vân giao thoa không hề
dịch chuyển; nghĩa là: không thể phát hiện sự có mặt của ête Cơ sở lý
thuyết của thí nghiệm hoàn toàn chính xác! Công việc thí nghiệm được tiến hành cẩn thận tối đa; giao thoa kế rất hoàn hảo, nhưng kết quả thí
nghiệm vẫn âm
Vì sao vậy?! Vật lý học đương thời đành chịu bí Nhưng đó chỉ là
tạm thời, như người ta thường nói ”nhu cầu vĩ đại sản sinh ra con người vĩ
đại” Anbe Anhxtanh chính là con người vĩ đại đó; từ một số sự kiện vật
lý đơn lẽ, ông đã khái quát lên thành một tiên đề khá ngắn gọn cho quang
học, nhưng khả năng công phá của nó đối với lý thuyết cũ thật to lớn: vận tốc ánh sáng trong chân không là một hằng số vũ trụ Đây là một trong hai tiên đề làm cơ sở cho thuyết tương đối hẹp Anhxtanh Với phép cộng
vận tốc Anhxtanh (thay cho phép cộng vận tốc Galilê) dùng cho trường hợp vật có vận tốc nhanh; nhanh nhất chính là vận tốc của sóng điện từ lan
truyền trong chân không (c) Anhxtanh đã giải thích vì sao hiệu quang trình
∆ giữa hai tia sáng giao thoa này, dẫu đi theo hai đường khác nhau, khi qua giao thoa kế, luôn luôn triệt tiêu: ∆ = 0 điều này giải thích hiện tượng vân giao thoa không dịch chuyển trong thí nghiệm Maikensơn
Sóng điện từ lan truyền được trong chân không là một thực tế, ai cũng công nhận; khả năng đó là đặc tính vốn có của sóng điện từ; do đó khi lan truyền nó không cần đến giá đỡ Các nghiên cứu của nhiều nhà vật
lý (tiêu biểu nhất là Lômônôxôp với thuyết động học phân tử ) đã đi đến
Trang 33khẳng định: “Vận động là thuộc tính vốn có của vật chất, nằm yên chỉ là
trường hợp riêng khi vật vận động với vận tốc v=0” Thực ra, dao động
điện từ là tổ hợp của dao đôïng điện và dao động từ Hai dao động này tự
chuyển hoá lẫn nhau và tự dịch chuyển Dao động hoàn toàn tự lực, không
cần giá đở Nếu dao động điện từ thực hiện trong môi trường thì chính môi
trường hấp thụ bớt năng lượng dao động nên v<c
Đến đây mọi ý tưởng về sự tồn tại ête vũ trụ đã không còn nữa Ête
vũ trụ chẳng có vai trò gì cả, việc gì phải tranh cải nhau rằng nó có hay
không? đó là một điều vô bổ Đã không cần đến nó thì không cần bàn xem
nó là chất gì? Đàn hồi không? có trọng lượng không? Tất cả những việc
đó là hảo huyền, vô ích
Giá như các nhà khoa học sớm biết trước được rằng: cùng là sóng
nhưng sóng cơ khác sóng điện từ và không nhất thiết sóng nào cũng cần
giá đỡ để lan truyền, thì thật là diễm phúc cho khoa học Vật lý biết bao;
nếu thế, chắc hẳn khoa học không chỉ như hiện tại mà có lẽ nó đã…
Tóm lại: Trong toàn vũ trụ không hề có chất lỏng không trọng
lượng Sự góp mặt của nó một thời gian trong làng khoa học đã sớm trở
thành chuyện viễn tưởng Câu chuyện khởi nguồn từ một số nhà khoa học,
họ nghĩ đến chất lỏng không trọng lượng và nhờ nó để giải quyết một số
khó khăn nhất thời vượt khỏi khả năng của họ Đến khi khó khăn được giải
quyết thì cũng là lúc các giả thuyết đó phải ra đi vĩnh viễn
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng sự góp mặt của chất lỏng đặt
biệt này đã góp phần làm tăng thêm sự phong phú của Vật lý, nhờ tìm hiểu
nó mà một số phát kiến mới ra đời Tiêu biểu là giao thoa kế của
Maikensơn, cách vẽ đới cầu của Huyghen và một số khái niệm-định luật
vật lý khác
Chương 6: THUYẾT ĐỊA TÂM & THUYẾT NHẬT TÂM
˜˜˜
Trong quyển “ lịch sử vật lí ” của Đào Văn Phúc có đề cập khá tỉ mỉ
về hai thuyết đối ngược thiên văn vật lí Đó là Thuyết Địa tâm của
Ptôlêmê và thuyết nhật tâm của Côpécnic Ở đây ta không nhắc lại tỉ mỉ
về nguồn gốc nảy sinh, nội dung hai Thuyết Thiên văn Vật lí đối ngược
Trang 34Thuyết địa tâm của Ptôlêmê đã xem trung tâm vũ trụ là Quả đất
(hình cầu), nơi con người sinh sống Từ Quả đất nằm yên này con người quan sát vũ trụ, với đôi mắt trần trụi thấy rằng Mặt Trăng, Mặt Trời, Kim tinh, Thổ tinh…và rất nhiều các vì sao Tất cả các hành tinh và các sao này chuyển động quanh Trái đất Mỗi ngôi sao ấy được gắn tại các thiên cầu đồng tâm ( O ) là Quả đất Mỗi thiên cầu có bán kính và tốc độ quay khác
nhau: đó là “nội luân” Mỗi ngôi sao ấy lại có một chuyển động phụ trên
thiên cầu theo một vòng tròn “ngoại luân” Tâm của vòng tròn này là giao điểm của đường thẳng qua tâm O của quả đất với các đường tròn nội luân
của mỗi thiên cầu
Bên ngoài là một mặt cầu cố định, gắn tất cả các vì sao (định tinh)
Đêm đêm con người trên trái đất thấy các định tinh ở đúng một phương nhất định, chẳng hề thay đổi Cấu trúc hữu hạn này, lấy quả đất đứng yên làm tâm; điều này hoàn toàn phù hợp với các điều ghi trong kinh thánh
Hình 6: Mô hình thái dương hệ của Ptôlêmê
Chúa đã ưu tiên ban cho con người một quả đất, để an cư lạc nghiệp
Vì con người là con yêu của chúa Thế chúa ở đâu? Các con của chúa
không ai biết, nhưng giáo hội thì biết; kinh thánh có ghi: “ngoài vòm cầu cố định là không gian vô tận dành cho chúa” Ở đấy có thiên đàng, địa ngục
Thuyết địa tâm của Ptôlêmê được loài người ghi tâm Loài người hiểu thế vì xưa kia họ có những bậc thầy, trong đó các nhà hiền triết Aristốt
giảng như vậy Theo Aristốt, vũ trụ được cấu thành từ bốn chất nguyên
thủy: đất, nước, không khí và lửa Đất nặng nằm dưới cùng, nước loảng
nhẹ hơn trãi đầy trên mặt đất tạo thành : đại dương, sông hồ…; không khí quá loãng, nhẹ nằm ở trên mặt nước và cuối cùng là các ngọn lửa trong đó
Trang 35có Mặt Trời soi sáng thế gian ban ngày Ban đêm có Mặt Trăng ru êm giấc
ngủ cho con người và sinh vật trên Quả đất
Thế nhưng, con người mà chúa ban cho trí tuệ đã chẳng chịu an nhàn
Họ sản xuất giao lưu, đi lại,… Họ tìm hiểu thời tiết, thiên văn Dần dần, họ
nhận thấy Quả đất không phải là cái mâm tròn phẳng mà là một quả cầu
di động Mặt Trời trên cao kia mới là cố định Côpécnic ( 1473 - 1543 )
một tu sĩ ở Frombork – một thị trấn trên bờ sông Visla, đất nước Ba Lan,
đã viết trong một tác phẩm mang tên “về chuyển động quay của các thiên
thể” ( xuất bản năm 1543 ) Trong tác phẩm, cấu trúc hệ hành tinh được
trình bày theo một thuyết mới đối ngược với Thuyết Địa tâm đó là Thuyết
Nhật tâm Côpécnic Thuyết nhật tâm nói rằng: “Thái dương hệ lấy Mặt
Trời làm tâm Mỗi hành tinh trong đó có địa cầu quay quanh Mặt Trời trên
các quỹ đạo tròn, Mặt Trăng không tự phát sáng mà phản xạ ánh sáng Mặt
Trời, là một vệ tinh của Quả đất”
Hình 7: Mô hình Thái dương hệ của Côpécnic
Thuyết Nhật tâm phản bác lại kinh thánh nên bất cứ ai ủng hộ, tán
thưởng, truyền bá nó là có tội đối với giáo hội
Brunô (1548 - 1600) không những tán thưởng thuyết nhật tâm mà còn
phát triển thêm: trong vũ trụ bao la, ngoài Thái dương hệ chúng ta còn có
nhiều Thái dương hệ khác Ông đã bị toà thánh kết tội và thiêu sống ông
trên giàn hoả Đó là cái giá phải trả cho những ai dám chống lại kinh
thánh Nhưng tinh thần yêu khoa học của các nhà khoa học chân chính là
bất diệt, hết người này đến người khác thay phiên nhau gìn giữ và phát
triển nó Sau Brunô có Galilê
Galilê (1564 - 1642) chính là ông tổ của khoa học thực nghiệm, ông
Trang 36chống lại giáo hội - một thế lực hùng mạnh luôn ngăn cản sự tiến bộ Đối với ông , bao giờ: “Thực nghiệm cũng là tiêu chuẩn của chân lý” Ông đã
thực hiện nhiều thí nghiệm để phản bác kinh thánh ngay trước mắt các
chức sắc trong giáo hội Thế nhưng các vị chức sắc đáng kính ấy chẳng dám làm gì ông chỉ biết đỏ mặt tía tai, đứng trơ mắt ếch ra nhìn Họ còn biết làm gì hơn khi trước mắt họ là sự thật hùng hồn không thể chối cãi
Bằng kính viễn vọng tự chế tạo, ông đã quan sát bầu trời và thấy
rằng : sao Mộc trong Thái dương hệ cũng có các vệ tinh như Mặt Trăng của Trái đất và bằng thí nghiệm về sự rơi ông đã kết luận: Quả đất chuyển động quanh Mặt Trời Ông khẳng định: đứng trên Trái đất không thể thực hiêïn thí nghiệm nào để chứng tỏ Trái đất di chuyển! Từ đó Galilê phát
biểu nguyên lí tương đối mang tên ông – “nguyên lí tương đối Galilê”:
mọi hiện tượng cơ học diễn ra như nhau trong mọi hệ qui chiếu quán tính
Johan Kepler (nhà thiên văn người Đức) nhờ sử dụng các tài liệu đo
đạc thiên văn của Tikhô Brahê, đã điều chỉnh quỹ đạo chuyển động của các hành tinh trong thái dương hệ đi một chút: ông chuyển từ đường tròn
sang đường elíp và Mặt trời nằm cố định tại một trong hai tiêu điểm của elíp đó Đó là nội dung của định luật I Kepler Về sau, ông còn xây dựng
tiếp hai định luật nữa liên quan đến tốc độ thay đổi diện tích và mối quan hệ định lượng giữa bán kính quỹ đạo với chu kỳ chuyển động của mỗi
hành tinh, đó là định luật II và III Kepler
Tất cả ba định luật của Kepler đã mô tả chuyển động các thành viên trong thái dương hệ rất chính xác, cho đến nay vẫn chưa sửa chữa gì
Thế nhưng ba định luật của Kepler chỉ mới mô tả mặt động học, về
phương diện động lực học phải nhờ NiuTơn; ông là người phát biểu định luật vạn vật hấp dẫn, với công thức định lượng:
r
r r
m m G
Fhd
ρ ρ
2 2
Fhd = ; G là
hằng số hấp dẫn
Bằng suy luận logíc, NiuTơn đã đi đến định luật này và viết nên một
chương trong tác phẩm “các nguyên lí” Công thức đã diễn tả lực vạn vật
hấp dẫn thật là gọn gàng, duyên dáng Chỉ cần thay các chữ bằng các trị số của chúng là ta có được độ lớn của lực vạn vật hấp dẫn, chẳng hạn :
Mặt Trời hút Trái đất một lực : 1022 N
Quả đất hút Mặt Trời một lực : 1020 N
Một người cân nặng được 70 kg bị Trái đất hút một lực 678 N
Hai người đứng cạnh nhau một bước chân, hút nhau bằng một lực cỡ
Trang 37Bao nhiêu hệ quả tốt đẹp, chính xác đã được ngoại suy từ công thức
ấy Hallây nhờ công thức ấy đã tiên đoán rằng sao chổi (Hallây) sẽ xuất
hiện lại vào năm 1759 ( sau khi cả NiuTơn và Hallây đều đã mất )
Lơveriê phát hiện một hành tinh mới của Thái dương hệ: Hải Vương tinh,
khi khảo sát sự bất thường của quỹ đạo Thiên Vương tinh Lơveriê thông
báo dự đoán của mình cho nhà thiên văn Jôhan Gôtfrit Gale, để rồi vào
một đêm tháng 9 năm 1846 Gale trực diện thấy Hải Vương tinh qua ống
kính thiên văn
Định luật vạn vật hấp dẫn NiuTơn còn được vận dụng ra ngoài Thái
dương hệ Năm 1842, nhà thiên văn Đức Bessel quan sát sự nhảy múa của
sao Thiên lang tại vùng Bắc cực và vận dụng định luật vạn vật hấp dẫn đã
xác định được một vệ tinh ngôi sao này Sau này người ta coi vệ tinh đó là
một “sao đôi” cùng cặp với sao Thiên lang
Có một điều bất ngờ khá lý thú là, từ định luật vạn vật hấp dẫn
NiuTơn, có thể suy ra ba định luật động học của Johan Kepler Điều này
thể hiện tính thống nhất của một chân lý khoa học
Ở đây ta chỉ xét tính đối ngược giữa hai quan điểm thiên văn học: Địa
tâm và Nhật tâm Để có được thuyết nhật tâm, Côpécníc đã mạnh dạn tiến
hành cuôïc cách mạng về tri thức vật lí Đó là một cuộc cách mạng lần I
trong lịch sử phát triển vật lí học
Tính cách mạng thể hiện ở chổ Côpécnic đã phủ nhận hoàn toàn một
học thuyết cũ: Thuyết Địa tâm, chuyển trọng tâm vũ trụ từ Trái đất sang
Mặt trời Chân lí đã đảo ngược lý thuyết cũ
Thuyết Côpécnic hiển nhiên, còn nhiều thiếu sót; Nó đã được một số
nhà khoa học đương thời sửa chữa, bổ sung …, trên cơ sở nội dung cơ bản
chính xác khách quan của nó và mãi đến tận bây giờ nó vẫn đúng Ngày
nay, người ta coi thiên văn học thời ấy ( lý thuyết Thái dương hệ) là một
phần cơ sở của vũ trụ học rộng lớn
Tóm lại : nội dung “đối- ngược ” nầy là nội dung cuộc cách mạng
khoa học lần thứ nhất của nhân loại Giải quyết xong vấn đề đối ngược đó
cũng chính là thành công của cuộc cách mạng Thành công đó đã đưa loài
người thoát khỏi thời kỳ đen tối của khoa học, thoát khỏi sự kìm chế của
tôn giáo Nó mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên tôn vinh tri thức
Hướng loài người vào khoảng không vũ trụ bao la để khai phá
Trang 38Chương 7: LIÊN TỤC & GIÁN ĐOẠN
˜˜˜
Vật lý học đã xoá bỏ được sự đối ngược giữa: chậm và nhanh Vật lý lại có một động tác ngược lại là tìm chân lý ở sự tồn tại một đối ngược với một quan điểm tưởng như vĩnh hằng, phổ biến: “Từ bao thế kỷ, Vật lý học biết rằng năng lượng là tiêu chuẩn của thế giới vật chất Năng lượng có
nhiều dạng và có thể chuyển hoá cho nhau Định luật bảo toàn năng lượng có tính phổ biến ở mỗi dạng vận động Vật lý Có điều đặc biệt là giá trị
năng lượng bức xạ hay hấp thụ đều biến thiên liên tục”
Bởi đinh ninh là như vậy, nên khi gặp phải một tai biến lịch sử “tai biến tử ngoại”, các nhà Vật lý học kinh điển, đầy trí tuệ đành chịu bó tay:
không biết phải giải thích nó ra sao!
Xin lược kể vài sự kiện này:
Tìm hiểu thực nghiệm về “năng suất bức xạ cân bằng đơn sắc” ở một
“vật đen tuyệt đối”, người ta lần lượt đo đạc, chỉnh lý và vẽ nên đồ thị của
hàm ρ λ,T = f( )λ,T là đại lượng Vật lý nói trên, nhằm qua đồ thị ấy suy diễn ra một vài hệ quả mới Đồ thị là một đường cong không đơn điệu ở nhiệt độ T xác định Nó tăng dần theo bước sóng (λ) bức xạ, rồi đến giá trị
cực đại, sau đó giảm liên tục đến 0 khi λ → ∞, (tại một nhiệt độ cân bằng
T giá trị cực đại của ρ λ,T ứng với một bước sóng gọi là λmax)
Hình 9: Đồ thị của hàm ρ λ,T = f( )λ,T
Nhà Vật lý học Đức là G.Kiêcsốp (1824 - 1887) và Panfe-Sivoa
(1828 - 1887) người Ecốt, phân tích và kết luận rằng ρλ,T là hàm chỉ phụ thuộc vào bước sóng λ của bức xạ và nhiệt độ T chứ không hề phụ thuộc vào vật bức xạ là gì: ρλ,T = f ( ) λ , T
Họ không phải là các nhà Vật lý lý thuyết nên đã đề nghị các giới khoa học đương thời sớm tìm kiếm biểu thức của hàm f( )λ,T ấy
Trang 39Nhiều nhà Vật lý đã tham chiến Họ đã đổ vào ấy không biết bao
nhiêu công sức và cuối cùng đã lần lượt đưa ra một số ý kiến sau:
+ Năm 1879, Stêphan (1835-1893), nói rằng: “Mật độ năng lượng
bức xạ của một vật thể tỉ lệ thuận với luỹ thừa bậc bốn của nhiệt độ T của
vật”
+ Bonzơman (1844 - 1906), học trò của Stêphan dựa vào nguyên lý
nhiệt động lực học đã xác minh kết luận của Stêphan Ngoài ra: Béctơli,
Lêbêđef, Niêon đều xác nhận ý kiến của Stêphan
+ Năm 1893, Vinhen-Viên (Đức) phát biểu định luật chuyển dời cho
rằng: “Tích của bước sóng cực đại (λmax) với nhiệt độ T của vật bức xạ là
một hằng số”
Sau khi Kiêcsốp đề xuất vấn đề thì có:
+ Năm 1896, Viên đã kết hợp nhiệt động lực học với lý thuyết
trường điện từø của Măcxoen, xây dựng nên công thức mang tên ông:
T b
T C e λ
ρ = − 5 −,
+ Năm 1890, Huân tước Ray- lây (1842 - 1919) người Anh, xây dựng
công thức ρλ,T và được Jinxơ hiệu chính để đi đến dạng:
, = λ , = 2 π λ−
ρλ T f T c kBT
Trong đó có kB là hằng số Bonzơman Để xây dựng được các công
thức trên, tất cả họ (Ray- lây, Jinxơ, Vinhen-Viên…) đều sử dụng một quan
điểm mà bấy lâu nay được xem là chân lý: “Mọi giá trị của các đại lượng
Vật lý biến thiên liên tục, từ 0 →∞” Hiển nhiên năng lượng cũng thế
Trong biểu thức cần tìm của hàm ρ λ,T = f( )λ,T , bước sóng bức xạ biến
thiên liên tục, tại một nhiệt độ T cân bằng
Tiếc thay, các công thức Viên và Raylây – Jinxơ chỉ phù hợp với thực
nghiệm một phần mà thôi:
a Công thức Viên phù hợp với thực nghiệm chỉ ở phần bước sóng
ngắn, ở phần bước sóng dài thì lại ngược với đồ thị thực nghiệm ( nó từ
trên cao đi xuống đến 0, trong khi đồ thị lý thuyết lại biến thiên đơn điệu
đến ∞ khi λ → ∞)
b Công thức Raylây – Jinxơ thì ngược lại, đường biểu diễn thực
nghiệm và lý thuyết chỉ trùng nhau ở bước sóng dài, tại vùng sóng ngắn
đường cong biểu diễn cứ đi lên đơn điệu khi λ giảm dần đến 0
Trang 40Với bức xạ điện từ ( là sóng ngắn ), ta có λ thuộc vùng tử ngoại Vì
vậy sự kiện trái ngượi giữa lý thuyết và thực nghiệm này được gọi là “tai biến tử ngoại”
“Thực nghiệm là tiêu chuẩn của chân lý” Thế thì công thức lý thuyết này sai chăng? Giải thích thế nào đây! Chỉnh lý thế nào cũng không đạt được sự phù hợp hoàn toàn giữa công thức lý thuyết và thực nghiệm Thế kỷ 19 sắp qua rồi! Mùa xuân thế kỷ mới sắp đến! Vậy mà sự kiện vẫn sờ sờ u tối Có vò đầu bức tóc mãi cũng chẳng ăn thua!
Ngày xưa, thời tam quốc, Hậu Hán ở Trung Hoa, Chu Du bế tắc thì đã có Gia Cát Lượng cầu “gió Đông” để đánh Tháo…
Xưa cũng thế, nay cũng thế, thực tế đã chứng minh để đáp ứng nhu cầu vĩ đại cần có con người vĩ đại Nhà khoa học trẻ M.Plăng (Mackoe Ecxtơ Lutvich Plăng; 1858-1947) khi đứng trước sự bất lực của các bậc thầy, đã có ý nghĩ táo bạo rằng:
“Cớ sao lại cứ bám mãi vào quan điểm cho rằng năng lượng chỉ biến thiên liên tục mà không mạnh bạo cho rằng năng lượng biến thiên gián đoạn”
Liên tục và gián đoạn là hai ý kiến đối ngược Ta phải chọn ý kiến
nào đây?
Vận dụng ý nghĩ táo bạo này, Plăng dựa vào điện động lực học cổ
điển, tính giá trị trung bình của năng lượng bức xạ và hấp thụ có tần số
dao động là γ phụ thuộc vào năng lượng trung bình Etp của dao động từ Để tìm Etp, Plăng vận dụng khái niệm Entrôpie S S phụ thuộc Etp
(xem quyển Vật lý đại cương tập 3 – NXB THCN để biết rõ thêm) Từ đó
Plăng suy ra công thức của hàm ρ λ,T = f( )λ,T như sau:
1
2 ,
Với giả thuyết sau đây: Năng lượng hấp thụ hay bức xạ ở các dao
động tử có giá trị biến thiên gián đoạn theo công thức: En = nh γ với n = 1,2,3,… Còn h γ là lượng tử năng lượng, h=6,625.10−34 jsgọi là hằng số
Plăng Đó chính là nội dung của thuyết lượng tử năng lượng
Ngoài ra Plăng còn chỉnh lí công thức bức xạ vật đen:
γ π
=
1 e
h 2 T K h 3
2 T