Thông thường người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt tất cả các giao dịch phù hợp với chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và vì lợi í
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH -THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ 25 (1999-2003)
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Bộ Môn Luật Kinh doanh-Thương mại MSSV: 5992703
Lớp:Luật Thương mại, K.25
Cần Thơ, tháng 7 - 2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37 LDN: Luật doanh nghiệp 1999
8 LDNNN: Luật doanh nghiệp nhà nước 1995
9 LĐTNN: Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 8
1.1 Sự hình thành chế định đại diện của doanh nghiệp 8
1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật về đại diện doanh nghiệp ở Việt Nam 9
1.3 Các khái niệm về đại diện của doanh nghiệp 11
1.3.1 Định nghĩa 11
1.3.2 Đặc điểm 12
1.3.2.1 Đặc điểm chung 12
1.3.2.2 Đặc điểm riêng 14
1.4 Tầm quan trọng của các quy định về đại diện doanh nghiệp 16
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP 18
2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 18
2.1.1 Xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 18
2.1.1.1 Thể thức xác lập 18
2.1.1.2 Điều kiện về năng lực người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 21
2.1.1.3 Phạm vi thẩm quyền đại diện 23
2.1.1.4 Thời hạn đại diện 23
2.1.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 23
2.1.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 24
2.1.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và bên thứ ba 32
2.1.3 Chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 34
2.2 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 38
2.2.1 Xác lập tư cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 38
2.2.1.1 Thể thức xác lập 39
2.2.1.2 Điều kiện về năng lực người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 39
2.2.1.3 Phạm vi uỷ quyền 40
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 52.2.1.4 Thời hạn uỷ quyền 40
2.2.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 40
2.2.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 40 2.2.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp, người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp và bên thứ ba 43
2.2.3 Chấm dứt tư cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 45
2.2.3.1 Công việc được uỷ quyền đã hoàn thành 46 2.2.3.2 Hết thời hạn uỷ quyền 46 2.2.3.3 Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng uỷ quyền 46 2.2.3.4 Người đại diện theo uỷ quyền chết, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án tuyên bố mất tích hoặc bị Toà án tuyên
bố là đã chết 48 2.2.3.5 Doanh nghiệp uỷ quyền đã chấm dứt hoạt động 48
2.2.4 Đại diện cho thương nhân- m ột trường hợp đặc biệt về đại diện theo
uỷ quy ền của doanh nghiệp 49
2.2.4.1 Xác lập tư cách người đại diện cho thương nhân 49 2.2.4.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện cho thương nhân 50 2.2.4.3 Chấm dứt tư cách người đại diện cho thương nhân 52
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
54
3.1 Nhận xét, đánh giá các quy định pháp luật về đại diện của doanh nghiệp
và đề xuất phương hướng hoàn thiện 54
3.1.1 Thiếu sự thống nhất giữa các quy định về đại diện của doanh nghiệp trong các văn bản pháp luật hiện hành 54 3.1.2 Thiếu các quy định pháp luật để điều chỉnh một số vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp 57
3.1.2.1 Đối với việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 57 3.1.2.2 Đối với việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý về đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp 59
3.2 Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về đại diện của doanh nghiệp
và đề xuất phương hướng hoàn thiện 65
3.2.1 Đối với các doanh nghiệp 65 3.2.1.1 Không hiểu biết đầy đủ pháp luật về đại diện của doanh nghiệp 65
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 63.2.1.2 Bị người đại diện của doanh nghiệp lạm dụng thẩm quyền đại diện 66 3.2.1.3 Lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật đại diện của bên cùng tham gia giao dịch 66 3.2.1.4 Che dấu hợp đồng uỷ quyền 68
3.2.2 Đối với các cơ quan xét xử 69
3.2.2.1 Cách hiểu về chế định đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng không thống nhất 69 3.2.2.2 Việc áp dụng cứng nhắc các quy định pháp luật về đại diện doanh nghiệp của một số Toà án .71 3.2.2.3 Một số bản án kinh tế bị huỷ do áp dụng sai các quy định pháp luật
về đại diện doanh nghiệp 73
KẾT LUẬN 76
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện các giao dịch thông qua những người đại diện của doanh nghiệp bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền Do đó, các quy định pháp luật về đại diện đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy các doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều lắm đến các quy định này dẫn đến một số vấn đề pháp lý có liên quan đến đại diện của doanh nghiệp đã nảy sinh Ví dụ, trong thực tiễn giao dịch kinh doanh xảy ra tình trạng một số hợp đồng kinh tế của các doanh nghiệp bị tuyên bố vô hiệu vì người thay mặt một bên giao kết hợp đồng không có thẩm quyền đại diện; hoặc xảy ra trường hợp doanh nghiệp vì lợi ích riêng cố tình che dấu văn bản uỷ quyền để huỷ
bỏ giao dịch do người của doanh nghiệp đã nhân danh doanh nghiệp giao kết với bên thứ ba Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến đại diện của doanh nghiệp về phía các cơ quan xét xử vẫn còn nhiều bất cập Ví dụ, một số toà án áp dụng không thống nhất các quy định pháp luật về đại diện doanh nghiệp dẫn đến một số bản án dân sự- kinh tế bị huỷ, thời gian xét xử bị kéo dài; hoặc áp dụng một cách cứng nhắc các quy định này khiến cho một số phán quyết không được dư luận đồng tình, làm người dân, doanh nghiệp giảm lòng tin đối với
cơ quan xét xử Mặt khác, việc gia tăng về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp cùng với sự mở rộng giao lưu dân sự- thương mại có thể sẽ còn làm nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý phức tạp về đại diện của doanh nghiệp như về việc người đại diện của doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp hoặc về việc người đại diện của doanh nghiệp tiết lộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, tình hình thực tiễn đặt ra nhu cầu cần có những công trình nghiên cứu về đại diện
của doanh nghiệp Đó chính là lý do mà người viết lựa chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành” làm
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân luật
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp, qua đó phát hiện những mặt tích cực, những mặt còn hạn chế của các quy định này và tìm ra các giải pháp phù hợp với tình hình kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay Việc nghiên cứu đề tài này còn nhằm để làm rõ mối quan hệ giữa các quy định chung về đại diện và uỷ quyền trong Bộ luật Dân sự 1995 với các quy định về đại diện của doanh nghiệp trong các văn bản pháp luật kinh doanh- thương mại, góp phần chứng minh mối quan hệ gắn bó giữa pháp luật dân
sự và pháp luật kinh doanh-thương mại Bên cạnh đó, việc thực hiện đề tài này còn hướng đến mục tiêu giúp cho mọi người, nhất là các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu, tuân thủ các quy định pháp luật về đại diện doanh nghiệp trong khi giao kết các hợp đồng kinh tế, dân sự, thương mại
Việc thực hiện đề tài “Những vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp theo Việt Nam hiện hành” đòi hỏi phải xem xét đến rất nhiều văn bản
pháp luật khác nhau trong cả lĩnh vực dân sự và kinh doanh-thương mại Trước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8tiên là phải xem xét đến chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 1995 vì các quy định về đại diện và uỷ quyền trong bộ luật này chính là cơ sở của chế độ pháp lý
về đại diện của doanh nghiệp Song song, cần phải xem xét đến các quy định về đại diện doanh nghiệp nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật kinh doanh- thương mại khác nhau như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật Hợp tác xã 1996, Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000), Luật Thương mại 1997, Luật Doanh nghiệp 1999 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản luật này Thêm vào đó, phải xem xét đến thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đại diện doanh nghiệp và thực tiễn giải quyết các vấn đề pháp lý có liên quan đến đại diện doanh nghiệp
Để Luận văn có tính khách quan và khoa học, việc nghiên cứu đề tài cần phải được thực hiện theo các phương pháp nghiên cứu khoa học thích hợp Chính
vì thế, người viết đã áp dụng phương pháp phân tích luật viết với các công cụ như
áp dụng tương tự pháp luật, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp suy lý vào việc thực hiện Luận văn
Kết cấu của đề tài Luận văn tốt nghiệp “ Những vấn đề pháp lý về đại
diện của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành” gồm ba phần chính
sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về đại diện của doanh nghiệp Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện
của doanh nghiệp
Chương 3: Một số nhận xét và hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện của
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Người viết hy vọng rằng Luận văn này sẽ đóng góp tích cực vào việc phổ biến các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện doanh nghiệp cũng như hy vọng rằng luận văn này sẽ thật sự giúp ích cho những ai muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp Thực hiện Luận văn, người viết còn mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật do Nhà nước ta đề ra
Những kiến thức hữu ích về luật học và phương pháp nghiên cứu luật học
mà người viết đã được đào tạo trong bốn năm qua ở nhà trường chính là nền tảng giúp cho người viết có thể thực hiện được Luận văn tốt nghiệp của mình Chính vì thế, người viết xin bày tỏ lòng tri ân đối với tất cả các thầy cô trong Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ- những người đã tận tâm truyền đạt cho sinh viên những kiến thức quý báu về luật học Người viết cũng xin cảm ơn Thầy Dương Kim Thế Nguyên đã dành thời gian để hướng dẫn việc thực hiện luận văn và đóng góp nhiều
ý kiến quý giá cho việc chỉnh sửa bản thảo luận văn
Người viết
Tăng Thanh Phương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 SỰ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, quy mô của các cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng Những thương nhân làm chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô lớn có nhu cầu thực hiện rất nhiều giao dịch Phạm
vi của các giao dịch này có thể rất rộng thậm chí vượt qua ngoài biên giới quốc gia nên trong một khoảng thời gian hạn chế các thương nhân thường không thể tự mình đứng ra xác lập, thực hiện tất cả các giao dịch kinh doanh Do vậy, đôi khi một thương nhân cần phải giao cho một hay nhiều người khác quyền thay mặt mình xác lập, thực hiện các giao dịch kinh doanh vì lợi ích của chính mình Những người này được gọi là người đại diện cho thương nhân Thông qua những người đại diện một thương nhân có thể cùng lúc ký kết, thực hiện nhiều giao dịch khác nhau Nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên (bao gồm thương nhân được đại diện, người đại diện cho thương nhân và người thứ ba tham gia giao dịch với thương nhân) và đảm bảo tính hợp pháp của tư cách người đại diện thương nhân, kỹ thuật
uỷ quyền đã được áp dụng Thương nhân được đại diện lập ra hợp đồng uỷ quyền làm cơ sở pháp lý để trao cho người khác quyền được nhân danh mình xác lập, thực hiện một hay một số giao dịch nào đó Hợp đồng này cũng thể hiện nghĩa vụ chịu trách nhiệm của thương nhân đối với những giao dịch mà người đại diện của thương nhân đã xác lập trong phạm vi uỷ quyền Đây chính là một trong các cơ sở
để pháp luật về đại diện của doanh nghiệp ra đời và phát triển
Mặt khác, khi sản xuất hàng hoá phát triển thì sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt Để tồn tại các thương nhân phải tập trung được nguồn vốn lớn nhằm cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất Do
đó, họ đã cùng nhau hùn vốn, lập ra các hội thương mại Nền kinh tế hàng hoá càng phát triển các hội thương mại được lập ra càng nhiều Nhằm bảo vệ quyền lợi của các hội viên, các quy định pháp luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của những người đại diện cho các hội thương mại đã được ban hành Quyền và nghĩa
vụ của những người đại diện cho hội thương mại được các quy định pháp luật về
uỷ quyền và lập hội điều chỉnh Pháp luật về uỷ quyền và lập hội xem quan hệ giữa người đại diện (là người quản lý hội) và hội thương mại là quan hệ uỷ quyền Những người đại diện cho hội thương mại dù là hội viên hay không là hội viên của hội cũng đều được coi là người được uỷ quyền của các hội viên và phải hành động
vì lợi ích chung của hội Mặc dù pháp luật về uỷ quyền và lập hội xem quan hệ giữa người đại diện và hội thương mại là quan hệ uỷ quyền nhưng thực ra, người đại diện của hội không hẳn là có tư cách của một người thụ uỷ vì người đại diện của hội, trong phạm vi thẩm quyền được giao, có quyền tự ý hành động mặc dù có hội viên phản kháng và muốn tước quyền của người đại diện hội thì phải có lý do
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10chính đáng và phải tuân theo các thể thức do điều lệ hội quy định1 Hơn nữa, khi pháp luật bắt đầu thừa nhận các hội thương mại có tư cách pháp nhân, nghĩa là thừa nhận các hội thương mại là một thực thể pháp lý độc lập với các hội viên của
nó thì những người đại diện này được xem là những người đại diện của hội chứ không phải là những người đại diện của các hội viên Do đó, vấn đề đại diện cho hội thương mại (hay đại diện cho doanh nghiệp theo cách sử dụng thuật ngữ pháp
lý hiện nay) phần nào đã vượt ra khỏi phạm vi của quan hệ uỷ quyền phát sinh từ hợp đồng Chính vì thế, pháp luật Việt Nam hiện hành đã quy định doanh nghiệp2
có hai loại đại diện khác nhau: đại diện theo pháp luật (được các văn bản pháp luật
về doanh nghiệp quy định) và đại diện theo uỷ quyền (được xác lập theo hợp đồng
uỷ quyền được giao kết giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người được uỷ quyền)
1.2 LICH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, phải đến thời Pháp thuộc mới xuất hiện các quy định về uỷ quyền, lập hội và về các hội thương mại trong Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1939, Bộ luật thương mại Pháp (được người Pháp đem áp dụng ở Nam kỳ từ 1864 và áp dụng ở Bắc Kỳ vào năm 1888), Bộ luật thương mại Trung Kỳ 1942 Các bộ luật của Việt Nam thời kỳ này thực chất là mô phỏng theo các bộ luật của Pháp, vì thế các quy định của pháp luật Việt Nam về uỷ quyền, lập hội và về các hội thương mại thời kỳ này tương tự như các quy định của pháp luật Pháp3
Sau 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 quy định rằng cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ Vì thế, các quy định về uỷ quyền và lập hội và về các hội thương mại trong các Bộ luật do Pháp và triều đình Huế ban hành vẫn được áp dụng4
Từ sau năm 1954, đất nước ta chia làm hai miền có hai hệ thống pháp luật khác nhau Ở miền Bắc, bắt đầu xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Các vấn đề pháp lý về đại diện và uỷ quyền của các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể được điều chỉnh bởi Nghị định số 54- CP của Hội đồng Chính phủ ngày 10/03/1975 ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế Ở miền Nam, vẫn theo chế độ kinh tế tư
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Khoản 1 Điều 3 Luật doanh nghiệp 1999)
Các loại hình doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
3
Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc- Viện nghiên
cứu khoa học pháp lý ,Bộ Tư pháp- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- 1998
Trang 11bản Từ năm 1972 ở miền Nam các vấn đề pháp lý về uỷ quyền, lập hội và các hội thương mại được điều chỉnh bởi Bộ dân luật Sài Gòn 1972 và Bộ luật thương mại Sài Gòn 1972 Các bộ luật này thực chất vẫn là mô phỏng theo các bộ luật của Pháp5
Sau ngày 30/04/1975 đất nước thống nhất, cả nước tiến hành xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Trong giai đoạn 1975-1985 các vấn đề pháp lý về đại diện của các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể vẫn được điều chỉnh bởi Nghị định số 54-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 10/03/1975 ban hành điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế và các văn bản pháp luật khác như Thông tư số 523-HĐ ngày 23/06/1975 của Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn thi hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 10/03/1975, Thông tư số15-NT ngày 23/09/1982 của Bộ Nội thương hướng dẫn việc ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa Xí nghiệp thương nghiệp với Xí nghiệp sản xuất, Nghị quyết số 187-HĐBT ngày 22/11/1982 của Hội Đồng Bộ Trưởng về việc đẩy mạnh thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế hai chiều Tuy nhiên, đối với vấn đề đại diện của các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể, các văn bản pháp luật này chỉ quy định rất sơ sài, chủ yếu là quy định Thủ trưởng (hay Giám đốc) đơn vị là người đại diện của đơn vị và có quyền uỷ quyền cho người khác thay mình ký kết hợp đồng kinh tế; quyền và nghĩa vụ của những người đại diện cho đơn vị kinh tế vẫn chưa được quy định rõ ràng
Từ 1986 khi đất nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường thì các loại hình doanh nghiệp khác nhau mới có điều kiện phát triển và giao lưu thương mại ngày càng mở rộng dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp cần phải được pháp luật điều chỉnh Vấn đề đại diện và uỷ quyền được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Nghị định số 50-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 22/03/1988 về vịêc ban hành điều lệ Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Nghị định số 27-HĐBT ngày 22/03/1989 ban hành điều lệ Liên hiệp xí nghiệp quốc doanh, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Nghị định số 17-HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 16/01/1990 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế Các văn bản này vẫn sử dụng các thuật ngữ “ đại diện”, “uỷ quyền” như trước đây hay sử dụng thuật ngữ “đại diện hợp pháp” như trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 Các thuật ngữ mà chúng ta sử dụng thông dụng hiện nay như “đại diện theo pháp luật” hay “ đại diện theo uỷ quyền” mới được ghi nhận lần đầu trong Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 (từ Điều 5 đến Điều 7).Tuy nhiên, các văn bản pháp luật trên vẫn chỉ quy định về vấn đề đại diện
và uỷ quyền một cách sơ lược, không đầy đủ
Mãi đến năm 1995 Bộ luật dân sự Việt Nam ra đời chế định đại diện ở nước
ta mới có sự hoàn thiện đáng kể Bộ luật dân sự Việt Nam 1995 đã dành toàn bộ Chương VI phần thứ nhất của bộ luật (gồm 10 điều, từ Điều 148 đến Điều 157) để quy định riêng về chế định đại diện Ngoài ra, Bộ luật dân sự còn điều chỉnh về chế định đại diện thông qua phần hợp đồng uỷ quyền (10 điều, từ Điều 585 đến Điều 594) và một số quy định về đại diện của pháp nhân ( Điều 102), đại diện của
hộ gia đình ( Điều 117), đại diện của tổ hợp tác ( Điều 122) Các quy định của Bộ
5
Lê Tài Triển- Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Tập II- Kim Lai Ấn quán- Sài Gòn 1973
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12luật dân sự có thể được coi là cơ sở chính để điều chỉnh về mặt pháp lý đối với đại diện của cá nhân, pháp nhân nói chung, đại diện của doanh nghiệp nói riêng
Bên cạnh Bộ luật dân sự 1995, những vấn đề pháp lý về đại diện của doanh nghiệp Việt Nam còn được điều chỉnh bởi các quy định đặc thù của pháp luật kinh doanh-thương mại như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 (ban hành trước Bộ luật dân sự 1995 nên một số quy định về đại diện trong Pháp lệnh này mặc dù còn hiệu lực nhưng lại không phù hợp với một số quy định về đại diện trong Bộ luật dân
sự6), Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật hợp tác xã 1996, Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000), Luật Thương mại 1997, Luật doanh nghiệp 1999 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành các luật
này
1.3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đưa ra các định nghĩa riêng về đại diện của doanh nghiệp dựa vào các định nghĩa chung về đại diện trong Bộ luật dân
sự Việt Nam 1995 (BLDS)
1.3.1 Định nghĩa
q Đại diện của doanh nghiệp:
Khoản 1 Điều 148 BLDS định nghĩa về đại diện như sau : “ Đại diện là việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh người khác (gọi là người được đại diện ) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện” Dựa vào Điều luật này đại diện của doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau:
Đại diện của doanh nghiệp là việc một người (gọi là người đại diện của doanh nghiệp) nhân danh một doanh nghiệp (gọi là doanh nghiệp được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch của chính doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền đại diện
q Đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đại diện của doanh nghiệp được phân ra làm hai loại: đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền7
• Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Điều 149 BLDS quy định:
“Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định.” Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật về doanh nghiệp như: đại diện theo pháp luật của
6
Những điểm không phù hợp giữa các quy định về đại diện giữa Bộ luật dân sự Việt Nam 1995
và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 sẽ được phân tích ở Chương 3 của Luận văn
Trang 13doanh nghiệp nhà nước được quy định trong Luật doanh nghiệp nhà nước 1995, đại diện theo pháp luật của hợp tác xã được quy định trong Luật hợp tác xã 1996, đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy định trong Luật đầu tư nước ngoài 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000), đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Luật doanh nghiệp 1999 Do
vậy, đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau:
Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là đại diện do pháp luật quy định
• Đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp: Khoản 1 Điều 151 BLDS
quy định: “Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện.” Tuy nhiên, chính Bộ luật dân sự lại quy định đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì chỉ có người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác mới có thể uỷ quyền cho người khác nhân danh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (xem Khoản 1 Điều 152 BLDS) Điều 102 BLDS về đại diện của pháp nhân cũng quy định: “Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác thay mình thực hiện nhiệm vụ đại diện” Chính vì thế, đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp thực chất là quan hệ đại diện được xác lập theo hợp đồng uỷ quyền giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người được uỷ quyền Người được uỷ quyền sẽ thay mặt người đại diện theo pháp luật thực hiện nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền được giao theo hợp đồng uỷ quyền vì lợi ích của chính doanh nghiệp Do đó, có thể định nghĩa về đại diện theo uỷ quyền
của doanh nghiệp như sau:
Đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp là đại diện được xác lập theo theo hợp đồng uỷ quyền giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
và người được uỷ quyền vì lợi ích của chính doanh nghiệp
1.3.2 Đặc điểm
1.3.2.1 Đặc điểm chung
Cả hai loại đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp có một số đặc điểm chung như sau:
q Nhân danh doanh nghiệp: Nhân danh người được đại diện là đặc điểm
đầu tiên của quan hệ đại diện Đặc điểm này được ghi nhận ở ngay trong định nghĩa về đại diện ở Khoản 1 Điều 148 BLDS Khoản 3 Điều 96 BLDS cũng có đề cập đến đặc điểm này như sau: “Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện
theo uỷ quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự.” Đặc
điểm này cũng là dấu hiệu đầu tiên để xác định xem một người có phải là đại diện của doanh nghiệp hay không Do đặc điểm này nên dù một cá nhân là người đại diện theo pháp luật hay người đại diện theo uỷ quyền của một doanh nghiệp thì đều phải nhân danh chính doanh nghiệp đó chứ không được nhân danh bản thân mình trong khi xác lập, thực hiện giao dịch cho doanh nghiệp Nếu người này xác lập, thực hiện giao dịch cho doanh nghiệp nhưng không nhân danh doanh nghiệp
mà nhân danh chính mình thì người cùng tham gia giao dịch không thể nào biết
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14được (và được suy đoán là không biết) người này là đại diện của doanh nghiệp Người cùng tham gia giao dịch hoàn toàn có quyền xem người này là bên cùng tham gia giao dịch (chứ không phải là doanh nghiệp được đại diện) và có quyền yêu cầu người này thực hiện các cam kết do họ đưa ra mà không cần biết đến doanh nghiệp được đại diện Ví dụ: ông A là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp X, tham gia một giao dịch phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng khi tham gia giao dịch đó ông A nhân danh chính mình mà không nhân danh doanh nghiệp thì bên tham gia giao dịch với ông A có quyền xem ông A chính là bên cùng tham gia giao dịch mà không cần quan tâm đến doanh nghiệp X Như vậy, yếu tố đầu tiên xét coi một người có phải là đại diện của một doanh nghiệp hay không là phải xem người đó có nhân danh chính doanh nghiệp đó để tham gia giao dịch hay không.Tất nhiên, để đề phòng việc một người nhân danh doanh nghiệp nhưng thực chất không phải là người đại diện của doanh nghiệp thì người giao dịch với người nhân danh doanh nghiệp phải yêu cầu họ chứng minh về thẩm quyền đại diện ví dụ như xuất trình quyết định bổ nhiệm Giám đốc, xuất trình văn bản uỷ quyền
q Xác lập, thực hiện các giao dịch của chính doanh nghiệp: Đặc điểm
thứ hai của đại diện doanh nghiệp là người đại diện phải xác lập, thực hiện các giao dịch của chính doanh nghiệp Như đã nói, doanh nghiệp là một tổ chức, không phải là một con người cụ thể vì thế tự bản thân nó không thể xác lập, thực hiện các giao dịch của chính nó mà phải thực hiện thông qua các người đại diện vì thế đặc điểm này cũng chính là lý do mà doanh nghiệp cần phải có người đại diện Thông thường, một giao dịch được coi là giao dịch của chính doanh nghiệp thì giao dịch đó phải phù hợp với chức năng, ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đã đăng ký (hoặc phù hợp với giấy phép kinh doanh nếu lĩnh vực ngành nghề hoạt động cần có giấy phép) Ngoài ra, các giao dịch do người đại diện của doanh nghiệp thực hiện vì lợi ích của doanh nghiệp phù hợp với thẩm quyền được giao cũng được coi là giao dịch của doanh nghiệp
q Thực hiện công việc của doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền đại diện 8
: Người đại diện của doanh nghiệp phải thực hiện công việc trong phạm
vi thẩm quyền đại diện, nếu không thì sẽ bị coi là vượt quá thẩm quyền hay thực hiện công việc không đúng thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về những giao dịch vượt quá thẩm quyền hay không đúng thẩm quyền đại diện Để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và bên thứ ba tham gia giao dịch, pháp luật quy định người đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền của doanh nghiệp đều phải có trách nhiệm thông báo cho bên thứ ba tham gia giao dịch về phạm vi thẩm quyền đại
8
Điều 153 BLDS quy định:
1- Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự
vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định khác
2- Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo văn bản uỷ quyền
3- Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện
4- Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình
5- Người đại diện không đượoc thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15diện của mình (Khoản 4 Điều 153 BLDS) Nếu không thông báo, một khi đã thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện thì người đại diện phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ ba về phần giao dịch vượt quá thẩm quyền chứ doanh nghiệp không chịu trách nhiệm Nếu người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện mà gây thiệt hại cho doanh nghiệp thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho doanh nghiệp
q Làm phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp: Giao dịch do người
đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Giao dịch do người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo uỷ quyền nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện là giao dịch của chính doanh nghiệp, không phải là giao dịch của bản thân người đại diện nên không làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với họ Người đại diện của doanh nghiệp xác lập, thực hiện giao dịch là nhằm phục vụ lợi ích của doanh nghiệp nên chính doanh nghiệp là “người” có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó Đối với trường hợp đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp mặc dù quan
hệ đại diện là do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đứng ra xác lập nhưng lại vì lợi ích của chính doanh nghiệp (chứ không phải vì lợi ích của bản thân người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) nên giao dịch do người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp xác lập, thực hiện vẫn làm phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp (chứ không phải là trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp)9
1.3.2.2 Đặc điểm riêng
Bên cạnh các đặc điểm chung, đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp còn có một số đặc điểm riêng sau đây:
q Khác biệt về cách thức xác lập tư cách người đại diện: Xét về cách
thức xác lập, đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể được xác định theo các cách thức do pháp luật quy định Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, cách thức xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp thường được pháp luật quy định khác nhau.Ví dụ: đối với doanh nghiệp tư nhân thì luật quy định chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp,
tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp tư nhân của chủ doanh nghiệp được xác lập ngay khi doanh nghiệp nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; đối với doanh nghiệp nhà nước, tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp của Giám đốc (Tổng Giám đốc) được xác lập theo quyết định bổ nhiệm của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nếu cách thức xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là do pháp luật quy định thì cách thức xác lập tư cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp là do sự tự do thoả thuận giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người được uỷ quyền Pháp luật chỉ quy định về hình thức của việc xác lập qua quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản
Trang 16q Khác biệt về thẩm quyền đại diện: Người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp có quyền đại diện cho doanh nghiệp trong mọi giao dịch liên quan đến doanh nghiệp còn người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp chỉ được quyền đại diện cho doanh nghiệp trong phạm vi công việc được uỷ quyền
Phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp rất rộng Thông thường người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt tất cả các giao dịch phù hợp với chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và vì lợi ích doanh nghiệp, trừ trường hợp pháp luật hay điều lệ của doanh nghiệp có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền có quyết định khác Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
có quyền tự do xác lập, thực hiện tất cả các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện đã xác định ngay cả khi có sự phản kháng của một hoặc một số chủ sở hữu doanh nghiệp vì người đại diện theo pháp luật là đại diện của doanh nghiệp chứ không phải là đại diện của các chủ sở hữu doanh nghiệp (trừ trường hợp doanh nghiệp tư nhân vì chủ doanh nghiệp tư nhân chính là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và quyền lợi của bên thứ ba giao dịch với doanh nghiệp pháp luật quy định người đại diện theo pháp luật phải đứng ra chịu trách nhiệm chính trước pháp luật và trước những người khác về tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp thực hiện các hành vi như trốn thuế, buôn lậu, lừa gạt các bên cùng tham gia giao dịch thì chính người đại diện theo pháp luật là người đầu tiên trong doanh nghiệp bị truy cứu trách nhiệm Chính vì vai trò quan trọng của người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp và trách nhiệm của người này đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp, pháp luật thường quy định chỉ có người đứng đầu doanh nghiệp ví dụ như
là người nắm giữ chức danh Giám đốc (Tổng Giám đốc) mới được giao thẩm quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp
Ngược lại, thẩm quyền đại diện của người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp thường có phạm vi hẹp hơn, chỉ được xác định theo quy định cụ thể trong văn bản uỷ quyền Người đại diện theo uỷ quyền chỉ là người thay mặt người đại diện theo pháp luật thực hiện một phần nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp theo
sự phân công của người này Vì thế, pháp luật không có quy định về số lượng người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp Tuỳ theo nhu cầu thực hiện nhiệm
vụ đại diện, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể giao thẩm quyền đại diện theo uỷ quyền cho một hay nhiều người khác nhau kể cả người ngoài doanh nghiệp
q Người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp phải tuân theo chỉ thị của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Chính đặc điểm này
phân biệt rõ đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp vì người đại diện theo uỷ quyền mặc dù có quyền xác lập, thực hiện giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện nhưng vẫn phải tuân theo chỉ thị của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Nếu người đại diện theo uỷ quyền không tuân theo các chỉ thị của người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật
có quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền Khác với người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp, dù người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không tuân thủ ý định của một hoặc một số chủ sở hữu doanh nghiệp nhưng tư cách đại diện theo pháp luật của người này không thể bị chấm dứt một cách dễ dàng mà chỉ có thể bị chấm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17dứt khi có quyết định bãi nhiệm, cách chức do đa số các chủ sở hữu (như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn) hoặc do đa số những người quản lý doanh nghiệp thông qua (như đối với công ty cổ phần) tuỳ theo quy định của pháp luật hoặc điều
lệ của doanh nghiệp
Từ các phân tích trên chúng ta có thể thấy rằng đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp có nhiều điểm giống nhau đó là do về bản chất cả hai đều là đại diện của doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa hai loại đại diện này vẫn có những đặc điểm khác nhau đáng kể và chính các đặc điểm khác biệt đó làm cho người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền đóng vai trò quan trọng khác nhau trong doanh nghi ệp: Mọi doanh nghiệp đều bắt buộc phải
có người đại diện theo pháp luật còn người đại diện theo uỷ quyền thì tuỳ nghi (có thể có hoặc không tuỳ theo nhu cầu công việc của doanh nghiệp) Điều này sẽ được làm rõ hơn qua các nội dung tiếp theo
1.4 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẠi DIỆN DOANH NGHIỆP
Thông thường, mỗi doanh nghiệp thực hiện các giao dịch kinh doanh và các giao dịch cần thiết khác thông qua người đại diện theo pháp luật và những người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp, do đó có thể nói rằng các quy định về đại diện của doanh nghiệp là một bộ phận không thể thiếu được của pháp luật kinh doanh-thương mại Thêm vào đó, những quy định về đại diện đặc biệt cần thiết đối với các loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Về mặt lý luận, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được xem là một thực thể pháp lý độc lập với những người góp vốn vào nó Tuy nhiên, do pháp nhân ch ỉ là một “con người giả tạo” nên
tự bản thân nó không thể nào thực hiện được các hoạt động của chính nó mà chỉ có thể hành động thông qua những người đại diện là những con người cụ thể Chính
vì thế, đối với doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thì các giao d ịch kinh doanh của doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện thông qua những người đại diện của chính doanh nghiệp Theo xu hướng hiện nay, số lượng các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân ngày càng tăng do các loại hình doanh nghiệp này được các nhà đầu tư
ưa chuộng hơn vì tính trách nhiệm hữu hạn và khả năng tích tụ vốn dễ dàng của chúng Xu hướng này cũng làm cho pháp luật về đại diện của doanh nghiệp ngày càng có vai trò quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp
Trong hai loại đại diện của doanh nghiệp: đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền thì vai trò của người đại diện theo pháp luật quan trọng hơn Theo quy định của pháp luật, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người có quyền đứng ra đại diện cho doanh nghiệp xác lập mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp (trừ khi pháp luật hoặc điều lệ doanh nghiệp có quy định khác) Một người không phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chỉ có quyền đại diện cho doanh nghiệp khi được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp uỷ quyền Vì thế, nếu không có người đại diện theo pháp luật, doanh nghiệp không thể tồn tại và hoạt động Do đó, theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành “đại diện theo pháp luật” được xem là một thể chế của doanh nghiệp, tồn tại cùng với sự tồn tại của doanh nghiệp và chỉ chấm dứt khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động Tuy nhiên, không vì thế mà nói rằng người đại diện theo uỷ quyền không quan trọng đối với doanh nghiệp Trong thực tế, doanh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18nghiệp rất cần có những người đại diện theo uỷ quyền vì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thường không thể tự mình tham gia xác lập, thực hiện tất cả các giao dịch nhân danh doanh nghiệp Ví dụ người đại diện theo pháp luật không thể cùng một lúc tham gia xác lập, thực hiện nhiều giao dịch khác nhau ở những địa điểm khác nhau; hoặc do hạn chế về khả năng chuyên môn đối với một số loại giao dịch riêng biệt nên trong nhiều trường hợp cần thiết người đại diện theo pháp luật sẽ phải uỷ quyền cho người khác thay mình thực hiện nhiệm vụ đại diện
Mọi giao dịch do người đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện đều làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp nên để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp và quyền lợi của các nhà đầu tư, tránh trường hợp người đại diện theo pháp luật hay người đại diện uỷ quyền thực hiện các giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện hay lạm dụng thẩm quyền đại diện cần có các quy định pháp luật điều chỉnh chặt chẽ về thẩm quyền và trách nhiệm của cả hai loại người đại diện này Bên cạnh đó, cần phải có các quy định để bảo vệ quyền lợi của người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp, tránh trường hợp doanh nghiệp chối bỏ trách nhiệm đối với các giao dịch do họ xác lập trong phạm
vi thẩm quyền đại diện Ngoài ra, cũng cần phải có các quy định để bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba trong quan hệ đại diện Chính vì thế, pháp luật về đại diện của doanh nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của doanh nghiệp cũng như trong giao lưu dân sự- thương mại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19CHƯƠNG 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
Những vấn đề pháp lý về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Việt Nam được điều chỉnh bởi chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 1995 và các quy định về người đại diện theo pháp luật trong các văn bản pháp luật kinh doanh như Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995, Luật hợp tác xã 1996, Luật đầu tư nước ngoài
1996 (đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000), Luật doanh nghiệp 1999
2.1.1 Xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện của theo pháp luật của doanh nghiệp trước tiên phải tìm hiểu các quy định về việc xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật Tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác lập theo những cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau và tuỳ thuộc vào quy định của điều lệ doanh nghiệp trong phạm vi pháp luật cho phép
2.1.1.1 Thể thức xác lập:
a Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước
1995 (LDNNN):
• Doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng quản trị (tổng công ty nhà
nước và doanh nghiệp nhà nước độc lập có quy mô lớn): Điều 37 LDNNN quy định Tổng giám đốc (Giám đốc) là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Vì Tổng giám đốc (Giám đốc) do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Hội đồng quản trị nên tư cách người đại diện theo pháp luật của DNNN
có Hội đồng quản trị được xác lập bởi quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc (Giám
đốc)
• Doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng quản trị (DNNN có quy
mô nhỏ và vừa): Theo Điều 39 LDNNN Giám đốc là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp Giám đốc do người quyết định thành lập doanh nghiệp bổ nhiệm nên tư cách người đại diện theo pháp luật của DNNN không có Hội đồng quản trị
cũng được xác lập bởi quyết định bổ nhiệm Giám đốc doanh nghiệp
b Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật hợp tác xã 1996 (LHTX)
Khoản 1 Điều 33 LHTX quy định chủ nhiệm hợp tác xã đại diện hợp tác xã (HTX) trước pháp luật Chức danh Chủ nhiệm phải được Đại hội xã viên bầu ra
Vì thế, tư cách người đại diện theo pháp luật của HTX được xác lập khi Đại hội xã
viên bầu ra Chủ nhiệm HTX
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20c Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp 1999 (LDN)
q Doanh nghiệp tư nhân (DNTN): Khoản 3 Điều 101 LDN quy định
chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Như vậy, tư cách đại diện theo pháp luật của chủ DNTN được xác lập khi doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận tức là ngay khi DNTN được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
q Công ty hợp danh (CTHD): LDN quy định tất cả thành viên hợp
danh đều có quyền quản lý và đại diện cho công ty nhưng không quy định ai là người đại diện theo pháp luật của công ty, nên người đại diện theo pháp luật của CTHD sẽ được quy định bởi điều lệ của công ty LDN quy định chỉ có thành viên hợp danh mới có quyền quản lý và tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty do đó người đại diện theo pháp luật của công ty phải là thành viên hợp danh Nếu người đại diện theo pháp luật của CTHD là Giám đốc công ty thì tư cách đại diện theo pháp luật của người này sẽ được xác lập khi tất cả các thành viên hợp danh biểu quyết chấp thuận việc cử giám đốc công ty (Xem Điều 29 Nghị
định số 03/2000/ NĐ-CP ngày 03/02/2000)
q Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH):
• Về công ty TNHH có hai thành viên trở lên: Điều 41 LDN quy định
trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật, thì Giám đốc (Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty Như vậy, tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có hai thành viên trở lên được xác lập cùng với việc xác lập chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên (nếu điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là đại diện theo pháp luật của công ty) hoặc chức danh Giám đốc (nếu điều lệ công ty quy định Giám đốc là đại diện theo pháp luật của công ty)
- Giám đốc công ty được Hội đồng thành viên bổ nhiệm (Điểm đ Khoản 2 Điều 35 LDN) vì thế nếu Điều lệ công ty quy định Giám đốc là đại diện theo pháp luật của công ty thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty được xác lập cùng lúc với quyết định bổ nhiệm Giám đốc của Hội đồng thành viên
- Chủ tịch Hội đồng thành viên được Hội đồng thành viên bầu ra (Điểm đ Khoản 2 Điều 35 LDN) nên nếu Điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty được xác lập khi một thành viên được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty
Áp dụng Điều 153 BLDS đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì người này phải có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Thẩm quyền này tương ứng với thẩm quyền của Giám đốc công ty TNHH (quy định ở Điều 41 LDN) chứ không tương ứng với thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên (quy định ở Điều 36 LDN) như: Giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty, nhân danh công ty ký kết các hợp đồng trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch hội đồng thành viên Bởi vậy, thông thường chỉ trong trường hợp điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21nhiệm chức danh Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty thì điều lệ công ty mới quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên là đại diện theo pháp luật của công ty Hơn nữa,
về mặt lý luận, dễ dàng nhận thấy rằng nếu Chủ tịch Hội đồng thành viên không kiêm nhiệm Giám đốc nhưng được Điều lệ công ty quy định là người đại diện theo pháp luật của công ty thì người nắm giữ chức danh Giám đốc của công ty sẽ có quyền lực hạn chế và khi tham gia các giao dịch nhân danh công ty phải có giấy uỷ quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên Lúc đó Giám đốc chỉ có thể hành động như là một người phụ tá cho Chủ tịch Hội đồng thành viên
cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý công ty nên tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ được xác lập theo cách thức do chủ sở hữu công ty quyết định phù hợp với các quy định chung của Luật doanh nghiệp
- Trong trường hợp công ty tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch công ty: Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 quy định
Giám đốc (Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty Tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ được xác lập theo quyết định bổ nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) của chủ sở hữu công ty
q Công ty cổ phần (CTCP): Theo Điều 85 LDN, trong trường hợp Điều
lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc (Tổng giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty Tương tự như đối với công ty TNHH, thông thường Điều lệ công ty chỉ quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty khi Điều lệ công ty có quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm Giám đốc (Tổng Giám đốc) của công ty do quyền hạn và nhiệm vụ của Giám đốc (Điều 85 LDN) tương ứng với thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật còn quyền hạn và nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị (Điều 81 LDN) thì không tương ứng Đối với các CTCP có quy mô lớn, để quản lý có hiệu quả phải có sự tách bạch giữa quản lý và điều hành công ty nghĩa là phải tách bạch giữa quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng quản trị và quyền hạn của Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty Do đó, Điều lệ CTCP nên quy định Giám đốc (Tổng Giám đốc) là người đại diện theo pháp luật
của công ty
- Nếu Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) được điều lệ quy định là đại diện
theo pháp luật của CTCP thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ được xác lập theo quyết định bổ nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) của Hội đồng quản trị (Điểm e Khoản 2 Điều 80 LDN)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22- Nếu Chủ tịch Hội đồng quản trị được điều lệ quy định là đại diện theo pháp luật của CTCP thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ được xác lập ngay khi chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị được các thành viên Hội đồng quản trị bầu ra (Khoản 1 Điều 81 LDN)
d Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài:
q Doanh nghiệp liên doanh: Điều 20 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày
31/7/2000 quy định: “Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định khác” Như vậy, nếu Điều lệ doanh nghiệp không quy định khác thì tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp liên doanh của người nắm giữ chức danh Tổng Giám đốc sẽ được xác lập bởi quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc của Hội đồng quản trị (Điều 12 và Điều 14 LĐTNN)
q Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Theo Điều 24 và Điều 26
của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổng Giám đốc, trừ trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định khác; việc thành lập bộ máy quản lý và cử nhân sự của doanh nghiệp do Nhà đầu tư nước ngoài quyết định Vì thế, nếu điều lệ doanh nghiệp không quy định khác thì tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài sẽ được xác lập theo quyết định bổ nhiệm Tổng Giám đốc của Nhà đầu tư nước ngoài
q Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài: Nghị định số
38/2003/NĐ-CP ngày 15/04/2003 của Chính Phủ vừa cho phép chuyển đổi một số doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần Như vậy, trong thời gian tới loại hình CTCP có vốn đầu tư nước ngoài sẽ xuất hiện ở Việt Nam Theo Điều 19 của Nghị định số 38/2003/NĐ-CP về việc áp dụng một số quy định của Luật doanh nghiệp đối với CTCP có vốn đầu tư nước ngoài thì tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty được xác lập giống như việc xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của CTCP hoạt động theo Luật doanh nghiệp
2.1.1.2 Điều kiện về năng lực người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
a Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước
Do Giám đốc (Tổng Giám đốc) là đại diện theo pháp luật của DNNN nên các điều kiện về năng lực người đại diện theo pháp luật của DNNN chính là điều kiện về năng lực của Giám đốc (Tổng Giám đốc) Như vậy, theo Điều 32 LDNNN người đại diện theo pháp luật của DNNN phải đáp ứng được các điều kiện sau: là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam; có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật; có trình độ, có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp; không đồng thời đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước; những người đã là thành viên Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp đã bị tuyên bố phá sản thì phải tuân theo quy định tại Điều 50 Luật phá sản doanh nghiệp; không được thành lập hoặc giữ các chức danh quản lý, điều hành DNTN, công ty TNHH, CTCP và không được có
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23các quan hệ hợp đồng kinh tế với các DNTN, công ty TNHH, CTCP do vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con giữ các chức danh quản lý điều hành
b Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật hợp tác xã
Đại diện theo pháp luật của hợp tác xã là Chủ nhiệm HTX và Chủ nhiệm HTX (cùng với các thành viên Ban quản trị khác) phải đáp ứng được các tiêu
chuẩn như: phải là xã viên HTX, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực
quản lý HTX; không được đồng thời là thành viên Ban kiểm soát, kế toán trưởng, thủ quỹ của HTX và không phải là cha, mẹ, vợ, chồng, con hoặc anh, chị, em ruột của họ (Điều 31 LHTX)
c Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Căn cứ vào Điều 9 LDN những người sau đây không thể là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp:
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp Nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người thành niên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị Toà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng
và các tội khác theo quy định của pháp luật;
- Chủ DNTN, thành viên hợp danh của CTHD, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, trừ các trường hợp quy định tại Luật phá sản doanh nghiệp;
- Người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam
d Đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài:
LĐTNN và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định về điều kiện năng lực của Tổng giám đốc đồng thời là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài trừ quy định nếu Phó Tổng Giám đốc thứ nhất của doanh nghiệp liên doanh là người nước ngoài thì Tổng Giám đốc phải là công dân Việt Nam (Điều 12 LĐTNN) Tuy nhiên, do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
là người có quyền thay mặt doanh nghiệp xác lập, thực hiện mọi giao dịch của
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24doanh nghiệp nên ít nhất người đại diện theo pháp luật các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài cũng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn chung như: phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phải có năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp; nếu
là người nước ngoài thì phải thường trú tại Việt Nam
2.1.1.3 Phạm vi thẩm quyền đại diện
Theo Khoản 1 Điều 153 BLDS10 người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, trừ khi pháp luật, điều lệ của doanh nghiệp có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khác Như vậy, phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là rất rộng Trường hợp thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật có thể bị hạn chế do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ xảy ra đối với DNNN, đối với các loại hình doanh nghiệp khác chỉ có thể xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp bị xem xét theo thủ tục phá sản (xem Luật phá sản doanh nghiệp 1993) Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch phù hợp với ngành nghề kinh doanh doanh nghiệp đã đăng ký hay thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích chính đáng của doanh nghiệp trừ trường hợp pháp luật hoặc điều lệ doanh nghiệp có quy định hạn chế Ví dụ nếu người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần là Tổng Giám đốc đại diện cho công ty ký kết các hợp đồng dân sự-kinh tế với chính mình hoặc với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần có quyền biểu quyết và với người quen của họ thì phải được sự chấp thuận của Đại hội cổ đông hoặc Hội đồng quản trị (Điều 87 LDN) Nếu chưa được sự chấp thuận của Đại hội cổ đông hoặc Hội đồng quản trị mà người đại diện theo pháp luật đã ký loại hợp đồng này thì hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu và người đại diện theo pháp luật phải bồi thường thiệt hại cho công ty
2.1.1.4 Thời hạn đại diện
Pháp luật Việt Nam không có quy định về thời hạn đại diện của người đại diện theo pháp luật Tuy nhiên, có thể thấy thời hạn đại diện đương nhiên chấm dứt khi tư cách đại diện theo pháp luật của người được doanh nghiệp giao cho thẩm quyền đại diện bị chấm dứt Vấn đề này sẽ được phân tích ở Phần 2.1.3
2.1.2 Nội dung của việc xác lập tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có phạm vi thẩm quyền đại diện rất rộng (Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp trừ trường hợp pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định khác.) và do doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ các giao dịch mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhân
10
Khoản 1 Điều 153 BLDS quy định: Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện nên để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp các văn bản pháp luật về doanh nghiệp thường
có các quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp Ngoài ra, đôi khi các văn bản pháp luật này còn quy định về nghĩa
vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đối với bên thứ ba Nhìn chung, các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật thuộc các loại hình doanh nghiệp khác nhau tương đối giống nhau
Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài, pháp luật Việt Nam dành quyền quy định các vấn đề tổ chức quản lý doanh nghiệp cho các nhà đầu tư vì thế luật không quy định về các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Tuy nhiên, vì các doanh nghi ệp có vốn đầu tư nước ngoài được xem là pháp nhân Việt Nam và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam nên người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có các quyền và nghĩa vụ theo quy định chung trong BLDS (sẽ được phân tích dưới đây) Sắp tới, sẽ có một
số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần Theo Điều 19 của Nghị định số 38/2003/NĐ-CP thì quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của CTCP có vốn đầu tư nước ngoài giống như quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của CTCP được quy định trong Luật doanh nghiệp Bởi các lý do trên, phần này sẽ không đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài Ngoài ra, đối với doanh nghiệp tư nhân do tính chất đặc biệt: chủ DNTN chính là người đại diện theo pháp luật của DNTN nên quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của
DNTN sẽ được phân tích ở một phần riêng biệt
2.1.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
a Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp
q Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
• Nghĩa vụ thực hiện công việc: Thông thường, doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng làm việc và ý thức trách nhiệm đối với doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật Vì thế, nghĩa vụ quan trọng nhất của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là phải thực hiện các nhiệm vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Nghĩa vụ này được quy định trong hầu hết các văn bản pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp: Đối với người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, CTCP, CTHD (và những người quản lý doanh nghiệp khác) nghĩa vụ này được quy định trực tiếp ở Điểm a Khoản 3 Điều 41 LDN, Khoản 1 Điều 86 LDN, Điểm d Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 Đối với người đại diện theo pháp luật của DNNN, nghĩa vụ này được quy định gián tiếp thông qua quy định Giám đốc (Tổng Giám đốc) của DNNN (và các thành viên Hội đồng quản trị khác) phải có phẩm chất đạo đức, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật, có trình độ, có năng lực kinh doanh và
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26tổ chức quản lý doanh nghiệp (Khoản 2 và Khoản 3 Điều 32 LDNNN) Đối với người đại diện theo pháp luật của HTX, nghĩa vụ này cũng được quy định gián tiếp thông qua quy định Chủ nhiệm HTX (và các thành viên Ban quản trị khác) phải có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, có năng lực quản lý HTX ( Điều 31 LHTX)
Để hoàn thành tốt nghĩa vụ thực hiện công việc, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ được doanh nghiệp giao cho một cách tận tâm như là thực hiện công việc của chính mình Thêm vào đó, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thực hiện công việc tương xứng với năng lực làm việc của mình vì chính do có năng lực đó mà người đại diện theo pháp luật được những người chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc những người đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tin tưởng giao phó thẩm quyền đại diện cho doanh nghiệp Khi thực hiện công việc cho doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật phải luôn đặt lợi ích của doanh nghiệp lên trên lợi ích của mình, không được làm điều gì có hại cho lợi ích của doanh nghiệp Hơn nữa, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp còn phải thực hiện công việc đại diện một cách trung thực, không được ngầm thoả thuận với bên thứ ba để làm thiệt hại đến quyền lợi của doanh nghiệp như là không được nhận quà hay tiền hối lộ của bên thứ ba để thực hiện công việc bất lợi cho doanh nghiệp
• Không được lạm dụng dịa vị và quyền hạn, sử dụng tài sản của doanh nghiệp để thu lợi riêng cho bản thân, cho người khác: Người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp có quyền hạn rất lớn trong doanh nghiệp nên để tránh việc người này lạm dụng địa vị và quyền hạn, sử dụng tài sản doanh nghiệp để thu lợi riêng đa số các văn bản pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp đều đưa ra quy định cấm người này lạm dụng địa vị và quyền hạn, sử dụng tài sản của doanh nghiệp để thu lợi riêng cho bản thân, cho người khác
- Đối với người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, CTCP nghĩa vụ này được quy định ở Điểm b Khoản 3 Điều 41 LDN, Khoản 2 Điều 86 LDN11 Ngoài ra, nghĩa vụ này còn được quy định thông qua các quy định về việc ký kết các hợp đồng tư lợi ( xem Điều 42 LDN, Điều 87 LDN12)
2- Trường hợp có thành viên phát hiện hợp đồng có tính chất tư lợi thì có quyền yêu cầu Hội đồng thành viên xem xét và quyết định Trong trường hợp này hợp đồng chỉ được ký sau khi
có quyết định của Hội đồng thành viên Nếu hợp đồng được ký mà chưa được Hội đồng thành viên chấp thuận, thì hợp đồng đó vô hiệu và phải được xử lý theo quy định của pháp luật Những người gây thiệt hại cho công ty phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty tất cả các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng đó
* Điều 87 LDN quy định về các hợp đồng của công ty cổ phần phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận như sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27- Đối với người đại diện theo pháp luật của CTHD nghĩa vụ này được quy định thông qua các quy định cấm thành viên hợp danh không được đồng thời là thành viên hợp danh của CTHD khác hoặc chủ DNTN; không được tự mình hoặc nhân danh người thứ ba thực hiện hoạt động kinh doanh trong cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty; không được nhân danh công ty ký kết hợp đồng, xác lập
và thực hiện các giao dịch khác nhằm thu lợi riêng cho cá nhân và người khác (Điểm e, g, h Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000)
- Đối với người đại diện theo pháp luật của DNNN: LDNNN không quy định về nghĩa vụ này nhưng Điều 15 của Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 39/CP ngày 27/06/1996
có quy định về nghĩa vụ này đối với người đại diện theo pháp luật của Tổng công
ty nhà nước như sau: không được đặt mình vào vị thế nào làm hạn chế khả năng thực hiện đức tính lương thiện, chí công vô tư hoặc gây mâu thuẫn giữa lợi ích Tổng công ty và lợi ích cá nhân; không được lợi dụng chức vụ để trục lợi cho mình hoặc có hành động chiếm đoạt cơ hội kinh doanh của Tổng công ty, làm thiệt hại lợi ích Tổng công ty; không được hành động vượt quá quyền hạn quy định trong Điều lệ doanh nghiệp; không được nhân danh cá nhân mình để thành lập DNTN, công ty TNHH, CTCP; không được giữ các chức danh quản lý, điều hành DNTN, công ty TNHH, CTCP; không được có các quan hệ hợp đồng kinh tế với các DNTN, công ty TNHH, CTCP do vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con giữ chức danh quản
lý, điều hành trong các đơn vị này
- Đối với người đại diện theo pháp luật của HTX: LHTX không có quy định
về nghĩa vụ này
BLDS cũng có quy định cấm người đại diện (bao gồm cả người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền) không được lợi dụng thẩm quyền đại diện để gây thiệt hại cho người được đại diện ở Khoản 5 Điều 153 BLDS như sau: “Người đại diện không được thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cùng là người đại diện cho người đó” LDN cũng
có quy định tương tự nhưng thoáng hơn: theo Điều 42 và Điều 87 LDN thì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, CTCP có thể thực hiện các giao dịch
có tính chất tư lợi nhưng phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên (đối với công ty TNHH), của Hội đồng quản trị hay Đại hội đồng cổ đông (đối với CTCP) Quy định ở Khoản 5 Điều 153 BLDS chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi
1- Các hợp đồng kinh tế, dân sự của công ty với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc), thành viên Ban kiểm soát, cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần có quyền biểu quyết và với người có liên quan của họ chỉ được ký kết theo quy định sau đây:
a) Đối với các hợp đồng có giá trị lớn hơn 20% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trước khi ký Cổ đông hoặc cổ đông có người có liên quan là bên ký hợp đồng không có quyền biểu quyết
b) Đối với các hợp đồng có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn 20% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty thì phải được Hội đồng quản trị chấp thuận trước khi ký Thành viên Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị có người có liên quan là bên ký hợp đồng không có quyền biểu quyết
2- Trường hợp hợp đồng quy định tại khoản 1 Điều này được ký mà chưa được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận thì hợp đồng đó vô hiệu và được xử lý theo quy định của pháp luật Những người gây thiệt hại cho công ty thì phải bồi thường
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28của người được đại diện vì thế nếu việc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện giao dịch với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện cho người đó đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và được những người chủ sở hữu và quản lý của doanh nghiệp chấp nhận thì việc giao dịch vẫn có thể thực hiện được
• Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin: Người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp có quyền lực rất lớn trong doanh nghiệp (là người đứng đầu doanh nghiệp)
và thường là người đứng ra điều hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nên dễ dàng nắm giữ được các thông tin quan trọng của doanh nghiệp như biết rõ về kế hoạch kinh doanh, điều kiện tài chính của doanh nghiệp, thông tin về khách hàng Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp còn có thể tiếp cận được các thông tin về quy trình sản xuất, các khám phá
về kỹ thuật, phương pháp sản xuất của doanh nghiệp Các bí mật kinh doanh này thường là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp, nếu bị tiết lộ ra ngoài sẽ gây ra thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp Vì thế, việc pháp luật quy định
về nghĩa vụ giữ bí mật thông tin đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là rất cần thiết Tuy nhiên, nghĩa vụ giữ bí mật thông tin chỉ mới được quy định đối với người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, CTCP (và những người quản lý khác) ở Điểm b Khoản 3 Điều 41 LDN, Khoản 2 Điều 86 LDN13.Đối với người đại diện theo pháp luật của CTHD, DNNN và HTX nghĩa vụ này vẫn chưa được luật quy định và do vậy là một thiếu sót đáng kể
• Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: Vì người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp nắm giữ quyền hạn rất lớn trong doanh nghiệp nên khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp của người này cũng không nhỏ Do đó, việc pháp luật quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp là rất cần thiết Nghĩa vụ này được quy định ở Khoản 3 Điều 155 BLDS như sau: “Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá thẩm quyền đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện, thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường” Bên cạnh BLDS, nghĩa vụ này còn được quy định trong một số văn bản pháp luật về doanh nghiệp Đối với người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, CTCP nghĩa vụ này được quy định ở Điều 42 LDN, Điều 87 LDN với nội dung chủ yếu là người đại diện theo pháp luật (và những người quản lý khác) của doanh nghiệp nếu ký kết hợp đồng có tính chất tư lợi gây thiệt hại cho công ty thì phải bồi thường Đối với người đại diện theo pháp luật của DNNN (và các thành viên Hội đồng quản trị), nghĩa vụ này được quy định ở Điều 35 LDNNN như sau: Trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ được giao, vi phạm Điều lệ doanh nghiệp, quyết định sai hoặc vượt thẩm quyền, lạm dụng chức quyền, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và Nhà nước thì phải chịu trách nhiệm và bồi thường vật chất đối với
13
Điểm b Khoản 3 Điều 41 LDN, Khoản 2 Điều 86 LDN quy định Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, Hội đồng quản trị, Giám đốc và những người quản lý công ty cổ phần có nghĩa vụ:
“Không được tiết lộ bí mật của công ty”
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29các thiệt hại do mình gây ra theo quy định của pháp luật14 Đối với người đại diện theo pháp luật của CTHD và HTX luật không có quy định về nghĩa vụ này
q Quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp nên quyền đầu tiên mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải có là quyền điều hành hoạt động của doanh nghiệp Đây chính là quyền của Giám đốc doanh nghiệp vì thế các văn bản điều chỉnh về doanh nghiệp luôn quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là Giám đốc (Tổng Giám đốc), chỉ có một số ít trường hợp luật cho phép điều lệ doanh nghiệp có thể quy định người khác như đối với công ty TNHH hoặc CTCP điều lệ doanh nghiệp có thể quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Thế nhưng Luật doanh nghiệp hoàn toàn không quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên (xem Điều 36 LDN) hay Chủ tịch Hội đồng quản trị (xem Điều 81 LDN) có quyền điều hành doanh nghiệp (Hội đồng thành viên hay Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý doanh nghiệp, làm việc theo chế độ biểu quyết tập thể) Do đó, chỉ trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc công ty TNHH hay Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc CTCP thì điều lệ doanh nghiệp mới nên quy định họ là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
• Quyền điều hành hoạt động doanh nghiệp: Để thực hiện thẩm quyền
đại diện được doanh nghiệp giao, người đại diện theo pháp luật phải có quyền điều
hành hoạt động doanh nghiệp như quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt
động hàng ngày của doanh nghiệp, tổ chức thực hiện các quyết định của ban quản
lý hoặc của chủ doanh nghiệp, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp, ban hành quy chế quản lý nội bộ doanh nghiệp, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong doanh nghiệp theo thẩm quyền được điều lệ doanh nghiệp quy định, ký kết hợp đồng nhân danh doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền đại diện, tuyển dụng lao động Quyền điều hành hoạt động doanh nghiệp của người đại diện theo pháp luật của DNNN được quy định ở Khoản 9 Điều 38 và Khoản 3 Điều 40 LDNNN; của người đại diện theo pháp luật của HTX được quy định ở Điểm b Khoản 1 Điều 33 LHTX; của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH được quy định ở Điều 41 LDN; của người đại diện theo pháp luật CTCP được quy định ở Điều 41 và Điều
85 LDN; của người đại diện theo pháp luật của CTHD được quy định ở Điểm b Khoản 6 Điều 29 Nghị định 03/2000/NĐ-CP
• Quyền uỷ quyền cho người khác thay mình thực hiện nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp: Theo Khoản 1 Điều 152 và Khoản 3 Điều 102 BLDS
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có quyền uỷ quyền cho người khác thay mình thực hiện nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp.Quyền này cũng được quy định thêm trong một số văn bản pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp Ví dụ: Đối với DNNN, Điều 37 LDNNN quy định: Phó tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc giúp Tổng giám đốc hoặc Giám đốc điều hành doanh nghiệp
14
Quy định ở Điều 35 LDNNN được áp dụng cho tất cả các thành viên Hội đồng quản trị trong đó
có cả người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhà nước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30theo phân công và uỷ quyền của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc hoặc Giám đốc về nhiệm vụ được Tổng giám đốc hoặc Giám đốc phân công và uỷ quyền Đối với HTX, Khoản 2 Điều 33 LHTX quy định: Khi vắng mặt, Chủ nhiệm HTX được uỷ quyền cho Phó chủ nhiệm hoặc một thành viên Ban quản trị điều hành công việc HTX Đối với doanh nghiệp liên doanh, Khoản 3 Điều 20 Nghị định số 24/2000/NĐ-CP quy định: Trường hợp Tổng Giám đốc vắng mặt, Phó Tổng Giám đốc thứ nhất được uỷ quyền thay mặt Tổng Giám đốc điều hành doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc về công việc của mình Dĩ nhiên, bên cạnh việc uỷ quyền cho những người nêu trên, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp còn có quyền uỷ quyền cho những người khác, kể cả cho người ngoài doanh nghiệp thay mình xác lập, thực hiện các giao dịch cho doanh nghiệp tuỳ theo nhu cầu công việc phát sinh
• Quyền được trả lương: Do người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp phải dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp nên có quyền được trả lương tương xứng với công sức của mình đã
bỏ ra Đối với công ty TNHH, CTCP mức lương, lợi ích của người đại diện theo
pháp luật được quy định trong Điều lệ công ty hoặc theo quyết định của Hội đồng thành viên (Điểm e Khoản 2 Điều 35 LDN) hay quyết định của Hội đồng quản trị (Điểm e Khoản 2 Điều 80 LDN) Đối với CTHD Luật doanh nghiệp không quy định về quyền này, do đó vấn đề này sẽ do Hội đồng thành viên công ty tự quyết định Đối với DNNN, người đại diện theo pháp luật của DNNN (Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc) là cán bộ nhà nước nên chế độ tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp
do Chính phủ quy định (Điều 34 LDNNN) Đối với HTX, Khoản 9 Điều 27 LHTX quy định mức thù lao cho Chủ nhiệm HTX do Đại hội xã viên thảo luận và quyết định
b Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp:
là giao dịch của chính doanh nghiệp, vì lợi ích của doanh nghiệp nên chính doanh nghiệp là “người” có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó Người đại diện theo pháp luật không có quyền, nghĩa vụ gì phát sinh từ giao dịch đã thực hiện cho
15
Khoản 4 Điều 148 BLDS quy định: “ Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh
từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện.”
Trang 31doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền đại diện Ở đây vấn đề mà chúng ta cần phải xem xét là các giao dịch nào được coi là thuộc thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật và các giao dịch nào bị coi là vượt quá thẩm quyền đại diện của người này Dựa theo Khoản 1 Điều 153 BLDS17, Khoản 1 Điều 8 LDN18, Khoản 1 Điều 9 LHTX19, Khoản 1 Điều 11 và Khoản 1 Điều 38 LDNNN20 mọi giao dịch do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập phù hợp với chức năng, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và vì lợi ích của doanh nghiệp thì đều được coi là các giao dịch thuộc phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật trừ các trường hợp pháp luật, điều lệ doanh nghiệp có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định khác Do hiện nay nhà nước quản lý kinh tế bằng công cụ pháp luật là chủ yếu nên trường hợp các giao dịch phù hợp với chức năng kinh doanh, ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho rằng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không có quyền xác lập, thực hiện thì không thấy luật nào quy định Như vậy, có hai loại giao dịch do người đại diện theo pháp luật
xác lập bị xem là vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện:
- Loại thứ nhất: Các giao dịch không phù hợp với chức năng kinh doanh, ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thì được coi là giao dịch vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
- Loại thứ hai: Các giao dịch phù hợp với chức năng kinh doanh, ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp nhưng pháp luật, điều lệ của doanh nghiệp quy định là không thuộc phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật Loại giao dịch này được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật hoặc trong điều lệ doanh nghiệp
+ Đối với công ty TNHH: Điểm d Khoản 2 Điều 35 LDN quy định Hội đồng thành viên có quyền thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty Như vậy, nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập các hợp đồng này mà không có sự cho phép của Hội đồng thành viên thì xem như người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã thực hiện công việc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện Ngoài
ra, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty ký kết các hợp đồng có tính chất
tư lợi mà không được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên thì người đại diện
17
Khoản 1 Điều 153 BLDS quy định: “Người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ khi pháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khác.”
18
Khoản 1 Điều 8 LDN quy định: “Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này có nghĩa
vụ hoạt động kinh doanh theo đúng các ngành, nghề đã đăng ký.”
lý, sử dụng theo mục tiêu, nhiệm vụ Nhà nước giao cho doanh nghiệp”
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32theo pháp luật của công ty cũng bị xem là vượt quá thẩm quyền đại diện theo pháp luật ( Xem Điều 42 LDN)
+ Đối với công ty cổ phần: Tương tự như đối với người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, người đại diện theo pháp luật của CTCP bị xem là thực hiện công việc vượt quá thẩm quyền đại diện nếu ký kết các hợp đồng mua bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn được quy định tại Điều lệ của công ty mà không được sự chấp thuận của Hội đồng quản trị (xem Điểm đ Khoản 2 Điều 80 LDN) Ngoài ra, nếu người đại diện theo pháp luật của CTCP ký kết các hợp đồng có tính chất tư lợi mà không được Hội đồng quản trị hoặc Đại hội cổ đông chấp thuận thì cũng bị coi là vượt quá thẩm quyền đại diện (xem Điều 87 LDN)
+ Đối với DNNN: Khoản 3 Điều 15 của Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty nhà nước ban hành kèm Nghị định số 39/CP ngày 27/6/1996 quy định người đại diện theo pháp luật của tổng công ty nhà nước (là Tổng Giám đốc) không được có các quan hệ hợp đồng kinh tế với các DNTN, công ty TNHH, CTCP do vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con giữ chức danh quản lý, điều hành trong các đơn vị này Như vậy, nếu người đại diện theo pháp luật của Tổng công ty nhà nước giao kết các hợp đồng kinh tế với các đối tượng trên thì bị xem là vượt quá thẩm quyền đại diện Trong thực tế, quy định này được ghi nhận trong đa
số các bản điều lệ của các doanh nghiệp nhà nước
Đối với các loại giao dịch vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật thì doanh nghiệp có quyền chấp thuận hay không chấp thuận (xem Điều 155 BLDS) Nếu doanh nghiệp chấp thuận thì doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các giao dịch này như là đối với trường hợp giao dịch phù hợp với thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không chấp thuận thì người đại diện theo pháp luật sẽ phải tự mình thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch (xem Phần 2.1.2.2 tiếp theo)
• Trả lương cho người đại diện theo pháp luật: Nghĩa vụ này tương ứng
với quyền được trả lương của người đại diện theo pháp luật đã nêu ở trên
Điều 148 BLDS)
• Được bồi thường thiệt hại do người đại diện theo pháp luật vi phạm các nghĩa vụ của mình: Quyền này tương ứng với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã nêu ở trên
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33v Đối với doanh nghiệp tư nhân: DNTN là doanh nghiệp do một cá
nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp DNTN không có tư cách pháp lý độc lập đối với chủ sở hữu của nó Vì thế, mặc dù chủ DNTN có thể thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng cả trong trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chủ DNTN là nguyên đơn,
bị đơn hoặc người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp Tương ứng với các trách nhiệm này, chủ DNTN có toàn quyền đối với doanh nghiệp như có quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cho thuê doanh nghiệp, bán doanh nghiệp hay tạm ngưng hoạt động của doanh nghiệp (Xem Điều 101, 102,103 LDN) Tóm lại, toàn bộ hoạt động và sự tồn tại của DNTN đều phụ thuộc vào quyền quyết định của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (chủ DNTN) Nếu đối với các loại hình doanh nghiệp khác thì các giao dịch do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, không làm phát sinh trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật thì ngược lại đối với DNTN trách nhiệm của doanh nghiệp cũng chính là trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Vì thế, không có sự tách bạch giữa quyền lợi và trách nhiệm của DNTN với quyền lợi và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
2.1.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và bên thứ ba
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với bên thứ ba và mối quan hệ giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với bên thứ ba trong các giao dịch do người đại diện theo pháp luật nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện được xét theo hai trường hợp sau:
a Trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện công việc phù hợp với thẩm quyền đại diện
Như đã phân tích ở trên, trong trường hợp này, chính doanh nghiệp được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập trong phạm vi thẩm quyền đại diện Nghĩa là, doanh nghiệp được đại diện phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba về việc thực hiện các giao dịch mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp xác lập Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không có quyền
và nghĩa vụ gì với bên thứ ba tham gia giao dịch trừ nghĩa vụ thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình
• Nghĩa vụ thông báo cho bên thứ ba về phạm vi thẩm quyền đại diện:
Khoản 4 Điều 153 BLDS quy định: “Người đại diện phải thông báo cho người thứ
ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình.” Do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp trừ trường hợp pháp luật, điều lệ có quy định khác nên áp dụng Điều luật này đối với người đại diện theo pháp luật của
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34doanh nghiệp thì người này chỉ phải có nghĩa vụ thông báo cho bên thứ ba biết về những hạn chế đối với thẩm quyền đại diện của mình trong trường hợp Điều lệ doanh nghiệp có quy định Đối với hạn chế về thẩm quyền đại diện do luật định thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể không bắt buộc phải thông
báo vì xem như bên cùng tham gia giao dịch đã biết
Ngoài ra, đối với công ty TNHH, CTCP Luật doanh nghiệp còn quy định người đại diện theo pháp luật của hai loại doanh nghiệp này có nghĩa vụ thông báo
về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho bên thứ ba tham gia giao dịch khi doanh nghiệp không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả
• Nghĩa vụ thông báo về tình hình tài chính của doanh nghiệp: Nghĩa
vụ này được quy định ở Điểm c Khoản 3 Điều 41 LDN (đối với công ty TNHH),
Khoản 3 Điều 86 LDN (đối với CTCP) với nội dung như sau: Khi công ty không
thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả thì người đại diện theo pháp luật (và những người quản lý công ty) phải thông báo tình hình tài chính của công ty cho tất cả thành viên công ty và chủ nợ biết; không được tăng tiền lương, không được trả tiền thưởng cho công nhân viên của công ty, kể cả cho người quản lý; phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại xảy ra đối với chủ nợ do không thực hiện nghĩa vụ này; kiến nghị biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính của công ty Nghĩa vụ này nhằm để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên thứ
ba tham gia giao dịch với doanh nghiệp, vì thế cần được quy định đối với người đại diện theo pháp luật của các loại hình doanh nghiệp khác
b Trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện công việc vượt quá thẩm quyền đại diện
Áp dụng quy định ở Điều 155 BLDS21 thì mối quan hệ giữa doanh nghiệp
và bên thứ ba, mối quan hệ giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và bên thứ ba được xem xét căn cứ vào sự ngay tình của bên thứ ba
q Bên thứ ba ngay tình: Nếu bên thứ ba ngay tình thì mối quan hệ
giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với bên thứ ba cùng như mối quan hệ giữa doanh nghiệp được đại diện với bên thứ ba có thể được xem xét theo bốn trường hợp sau đây:
2- Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá thẩm quyền hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá thẩm quyền đại diện mà vẫn giao dịch
3- Trong trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá thẩm quyền đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại
diện, thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35• Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện công việc
vượt quá thẩm quyền đại diện nhưng được doanh nghiệp chấp thuận và bên thứ ba tham gia giao dịch không có ý định đơn phương đình chỉ hoặc huỷ bỏ giao dịch:
Mối quan hệ giữa các bên được giải quyết tương tự như trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện công việc theo đúng thẩm quyền đại diện
• Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện công việc
vượt quá thẩm quyền đại diện và không được doanh nghiệp chấp thuận nhưng bên thứ ba tham gia giao dịch không có ý định đơn phương đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải chịu trách
nhiệm trước bên thứ ba về việc thực hiện phần giao dịch do người này xác lập vượt quá thẩm quyền đại diện Doanh nghiệp được đại diện chỉ chịu trách nhiệm thực hiện phần giao dịch mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện
• Doanh nghiệp có thể chấp thuận hoặc không chấp thuận phần giao dịch
do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập vượt quá thẩm quyền đại diện nhưng bên thứ ba tham gia giao dịch quyết định đơn phương đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch đối với phần vượt quá thẩm quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải bồi thường
thiệt hại cho bên thứ ba do việc vượt quá thẩm quyền đại diện của mình Doanh nghiệp được đại diện chỉ phải chịu trách nhiệm trước bên thứ ba về phần giao dịch được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập phù hợp với thẩm quyền đại diện mà doanh nghiệp đã giao
• Doanh nghiệp có thể chấp thuận hoặc không chấp thuận phần giao dịch
do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xác lập vượt quá thẩm quyền đại diện nhưng bên thứ ba tham gia giao dịch quyết định đơn phương đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch đối với toàn bộ giao dịch và yêu cầu bồi thường thiệt hại: Tương tự như trường hợp thứ ba, chính bản thân người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp còn phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp do không những đã không hoàn thành công việc được giao mà còn gây thiệt hại cho doanh nghiệp vì toàn bộ giao dịch bị huỷ bỏ
q Bên thứ ba không ngay tình:
• Bên thứ ba biết hoặc phải biết về việc vượt quá thẩm quyền đại diện của
người đại diện theo pháp luật mà vẫn giao dịch nhưng không gây thiệt hại cho doanh nghiệp: bên thứ ba phải tự chịu trách nhiệm về phần giao dịch vượt quá
thẩm quyền đại diện và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng không có trách nhiệm bồi thường cho bên thứ ba Doanh nghiệp được đại diện chỉ chịu trách nhiệm trước bên thứ ba về thực hiện phần giao dịch phù hợp với thẩm quyền đại diện đã giao cho người đại diện theo pháp luật
• Người đại diện theo pháp luật và bên thứ ba tham gia giao dịch cố ý xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá thẩm quyền đại diện gây thiệt hại cho doanh nghiệp được đại diện: Do trường hợp này cả người đại diện theo pháp luật
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36của doanh nghiệp và bên thứ ba đều có lỗi cố ý và có sự thoả thuận trước với nhau nhằm xác lập, thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền nên người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và bên thứ ba phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp
2.1.3 Chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Bộ luật dân sự 1995 chỉ quy định về chấm dứt đại diện theo pháp luật của
cá nhân (Khoản 1 Điều 156 BLDS) và pháp nhân (Khoản 1 Điều 157 BLDS), không quy định về chấm dứt đại diện theo pháp luật của các tổ chức không có tư cách pháp nhân như DNTN, CTHD Tuy nhiên, có thể áp dụng quy định về chấm dứt đại diện theo pháp luật của pháp nhân đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân theo nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật ở Điều 14 BLDS
Khoản 1 Điều 157 BLDS quy định: Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt Như vậy, theo quy định này “đại diện theo pháp luật của pháp nhân” được xem như là một thể chế của pháp nhân- thể chế này xuất hiện, tồn tại và chấm dứt cùng với sự xuất hiện, tồn tại và chấm dứt của pháp nhân Như vậy Điều Khoản này chỉ quy định về việc chấm dứt thể chế “đại diện theo pháp luật của pháp nhân” mà không quy định về việc chấm dứt tư cách đại diện theo pháp luật đối với cá nhân người được giao thẩm quyền đại diện cho pháp nhân Tuy nhiên, ở đây khi đề cập đến việc chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chúng tôi chỉ là muốn đề cập đến việc chấm dứt tư cách đại diện theo pháp luật của một người cụ thể được giao thẩm quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp Việc chấm dứt tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp của một cá nhân được giao thẩm quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp không làm chấm dứt thể chế đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vì doanh nghiệp ngay lập tức có thể bầu, bổ nhiệm người khác trừ khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động22
Như đã nói ở phần xác lập tư cách ngươi đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp của một cá nhân gắn liền với một chức danh nhất định như là Giám đốc đối với DNNN, Chủ nhiệm HTX đối với HTX Vì vậy, khi một cá nhân không còn nắm giữ chức danh gắn liền với thẩm quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp thì tư cách đại diện theo pháp luật của người đó cũng đương nhiên chấm dứt theo Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà pháp luật quy định các cách thức riêng về chấm dứt chức danh gắn liền với thẩm quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp.
q Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước: Người đại diện theo pháp luật của DNNN là Giám đốc (Tổng Giám đốc)
doanh nghiệp nên tư cách đại diện theo pháp luật sẽ chấm dứt khi người đó không còn giữ chức danh Giám đốc (Tổng Giám đốc) Chức danh Giám đốc
22
Khoản 1 Điều 108 BLDS quy định Pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp sau:
a) Hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia pháp nhân
b) Giải thể
c) Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản
Thêm vào đó, các văn bản pháp luật về doanh nghiệp đều có quy định riêng về chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37(Tổng Giám đốc) của DNNN có Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền quyết định miễn nhiệm theo đề nghị của Hội đồng quản trị (Điều 37 LDNNN) Chức danh Giám đốc của DNNN không có Hội đồng quản trị do người quyết định thành lập DNNN ra quyết định miễn nhiệm (Khoản 1 Điều 39 LDNNN)
q Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật hợp tác xã: Người
đại diện theo pháp luật của HTX là Chủ nhiệm HTX nên tư cách đại diện theo pháp luật của người đó đương nhiên chấm dứt khi không còn giữ chức danh Chủ nhiệm HTX Khoản 5 Điều 27 LHTX quy định Đại hội xã viên có quyền bãi miễn Chủ nhiệm HTX
q Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp:
Nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bị rơi vào một trong các trường hợp nêu ở Điều 9 LDN thì tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp của người này phải bị chấm dứt Tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp của người được giao thẩm quyền đại diện cũng chấm dứt khi người đó không còn giữ chức danh gắn với tư cách đại diện theo pháp luật do luật (hoặc điều lệ doanh nghiệp) quy định
• Doanh nghiệp tư nhân: Từ quy định ở Khoản 3 Điều 101 LDN:
“Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” có thể thấy rằng tư cách đại diện theo pháp luật cho DNTN của chủ doanh nghiệp sẽ chấm dứt khi DNTN chấm dứt hoạt động hoặc khi DNTN đã được bán cho người khác
• Công ty hợp danh: Do người đại diện theo pháp luật của CTHD phải
là thành viên hợp danh của công ty nên thành viên hợp danh nào được giao thẩm quyền đại diện theo pháp luật của công ty sẽ đương nhiên bị chấm dứt tư cách đại diện theo pháp luật khi tư cách thành viên hợp danh của người đó không còn Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau: đã chết hoặc bị Toà
án tuyên bố là đã chết; mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; tự nguyện rút khỏi công ty; bị khai trừ khỏi công ty (xem Khoản 1 Điều 31 Nghị định 03/2000/NĐ-CP) Ngoài ra, nếu Điều lệ công ty quy định người đại diện theo pháp luật của CTHD là Giám đốc công ty thì tư cách đại diện theo pháp luật của Giám đốc sẽ chấm dứt khi người này không còn giữ chức danh Giám đốc công ty
• Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên: Người đại
diện theo pháp luật của công ty TNHH là Giám đốc (Tổng Giám đốc) hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty nên tư cách đại diện theo pháp luật của người
đó sẽ chấm dứt khi không còn giữ chức danh gắn với thẩm quyền đại diện Điểm đ Khoản 2 Điều 35 LDN quy định Hội đồng thành viên có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; miễn nhiệm, cách chức Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty
• Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Người đại diện theo
pháp luật của công ty TNHH một thành viên là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty Điểm b Khoản 1 Điều 47 quy định Chủ sở hữu công ty có quyền miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý công ty nên tư cách đại diện
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38theo pháp luật của Chủ tịch Hội đồng quản trị (nếu điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty) hay Giám đốc công ty (nếu điều lệ công ty quy định Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty) chấm dứt khi bị Chủ sở hữu công ty miễn nhiệm, cách chức chức danh tương ứng với thẩm quyền đại diện
• Công ty cổ phần: Người đại diện theo pháp luật của CTCP là Giám
đốc (Tổng Giám đốc) hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty nên tư cách đại diện theo pháp luật của người đó sẽ chấm dứt khi không còn nắm giữ chức danh gắn liền với thẩm quyền đại diện Điều 81 LDN chỉ quy định Hội đồng quản trị có quyền bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị mà không quy định về việc miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị Tuy nhiên, do Chủ tịch Hội đồng quản trị là một thành viên của Hội đồng quản trị nên vẫn bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây: bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; từ chức; các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định và có thể bị bãi nhiệm theo quy định của Đại hội đồng cổ đông (Điều 84 LDN) Nếu Điều lệ CTCP quy định Giám đốc (Tổng Giám đốc) là đại diện theo pháp luật của công ty thì tư cách đại diện theo pháp luật của Giám đốc (Tổng Giám đốc) chấm dứt khi bị Hội đồng quản trị miễn nhiệm, cách chức (Điểm e Khoản 2 Điều 81 LDN)
q Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài:
• Doanh nghiệp liên doanh: Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp liên doanh Tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp liên doanh của người giữ chức danh Tổng Giám đốc chấm dứt khi người
này bị Hội đồng quản trị miễn nhiệm (Điều 14 LĐTNN)
• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Tổng Giám đốc là người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của người giữ chức danh Tổng Giám đốc chấm dứt khi không còn nắm giữ chức danh này Do Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự quản lý doanh nghiệp (xem Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003) nên cách thức miễn nhiệm hay cách chức Tổng Giám đốc sẽ do Nhà đầu tư nước ngoài quyết định
• Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài: Cách thức chấm dứt tư
cách đại diện theo pháp luật của Giám đốc (Tổng Giám đốc) CTCP có vốn đầu tư nước ngoài giống như cách thức chấm dứt tư cách người đại diện theo pháp luật của CTCP hoạt động theo LDN do Điều 19 Nghị định 38/2003/NĐ-CP quy định việc áp dụng một số quy định của LDN về CTCP đối với loại hình doanh nghiệp này)
Trên đây chỉ mới ghi nhận về thẩm quyền của doanh nghiệp đối với việc chấm dứt tư cách đại diện theo pháp luật của người được doanh nghiệp giao cho thẩm quyền đại diện theo pháp luật Về phía người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì người này cũng có quyền từ bỏ chức danh gắn liền với thẩm quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp thông qua việc từ chức nếu có lý
do chính đáng (như không đủ năng lực để thực hiện các công việc theo thẩm quyền đại diện được giao ) Ngoài ra, nếu người nắm giữ chức danh gắn liền với thẩm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39quyền đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp là người làm thuê cho doanh nghiệp thì tư cách đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp của người này đương nhiên chấm dứt khi hợp đồng lao động chấm dứt theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật lao động
2.2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIÊT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐẠI DIỆN THEO UỶ QUYỀN CỦA DOANH NGHIỆP
Hiện nay, vấn đề đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp bị chi phối bởi các quy định chung về đại diện và uỷ quyền trong BLDS, chỉ một số trường hợp đặc biệt về đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp (như đại diện thương nhân,
uỷ quyền đại diện sở hữu công nghiệp ) là được quy định trong LTM 1997 và một
số văn bản pháp luật khác Do đó, để tìm hiểu quy chế pháp lý về đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp trước tiên phải tìm hiểu các quy định về đại diện và uỷ
quyền trong Bộ luật dân sự
2.2.1 Xác lập tư cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp
2.2.1.1 Thể thức xác lập
Tư cách người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp được xác lập theo
sự thoả thuận giữa người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp với người được
uỷ quyền Sự thoả thuận này phải được lập thành văn bản gọi là hợp đồng uỷ quyền Hình thức của hợp đồng uỷ quyền được quy định ở Khoản 2 Điều 151 BLDS “ Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản” và ở Điều 586 BLDS: “Hình thức uỷ quyền phải được lập thành văn bản; nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định, thì hợp đồng uỷ quyền phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền” Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ thừa nhận duy nhất cách thức xác lập quan hệ đại diện theo uỷ quyền bằng hợp đồng viết23
Đối với doanh nghiệp, các giao dịch quan trọng nhất là các hợp đồng kinh
tế Việc ký kết hợp đồng kinh tế được pháp luật quy định rất chặt chẽ Theo Điều 9 của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 thì đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế và theo Điều 8 của Pháp lệnh việc người ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền là một nguyên nhân dẫn đến hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu Như vậy, đối với việc ký kết hợp đồng kinh tế nhất thiết người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp phải được người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp24 uỷ quyền bằng văn bản, nếu không có văn bản uỷ quyền đính kèm
23
Hình thức hợp đồng uỷ quyền bắt buộc phải bằng văn bản trong Bộ luật dân sự 1995 có phạm
vi hạn chế hơn quy định về hình thức uỷ quyền trong Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật 1939 và Bộ dân luật 1972:
- Điều 1397 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật quy định: “ Việc uỷ quyền hoặc làm thành giấy, hoặc chỉ nói miệng Việc uỷ quyền có thể chỉ mặc nhiên mà nhận và khi nào người thụ uỷ thi hành tức là nhận uỷ rồi.”
- Điều 1240 Bộ dân luật 1972 quy định: “Có thể uỷ nhiệm bằng văn thư hoặc khẩu ước
Sự thuận nhận có thể mặc nhiên, khi người thụ uỷ đã thi hành nhiệm vụ uỷ thác.”
Trang 40theo hợp đồng kinh tế thì hợp đồng có thể bị bên cùng tham gia giao dịch yêu cầu tuyên bố vô hiệu Vì thế, việc tuân thủ theo hình thức uỷ quyền do pháp luật quy định có tầm quan trọng rất lớn đối với vấn đề đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp
Trong thực tế, đối với một số giao dịch, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thường uỷ quyền miệng cho người khác thay mình thực hiện nhiệm
vụ đại diện cho doanh nghiệp và nếu các bên không kiện cáo về hình thức uỷ quyền thì việc uỷ quyền miệng vẫn có giá trị Ngược lại, nếu có tranh chấp các bên
có thể yêu cầu các cơ quan tài phán tuyên bố vô hiệu hợp đồng uỷ quyền miệng do
vi phạm hình thức luật định theo Điều 139 BLDS
2.2.1.2 Điều kiện về năng lực người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp
Khoản 2 Điều 151 BLDS quy định: “ Người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo uỷ quyền.” Căn cứ theo quy định này, người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp phải là người thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự Theo Điều 24, Điều 25 BLDS mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là các tình trạng pháp lý chứ không phải là tình trạng thực tế: để một người bị coi là mất năng lực hành vi hay hạn chế năng lực hành vi cần phải có một quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật25 Chính vì thế, nếu theo câu chữ của Điều khoản này thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp vẫn có thể uỷ quyền cho một người mất khả năng nhận thức về hành vi của mình hoặc một người phá tán tài sản khi người này chưa bị Toà án tuyên bố là người mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi Tuy nhiên, do người đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp chỉ là người thay mặt người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ đại diện cho doanh nghiệp trong trường hợp mà người đại diện theo pháp luật tự không thể đảm nhiệm trách nhiệm đại diện (như không có thời gian hoặc công việc thực hiện đòi hỏi phải có kỹ năng hay kiến thức đặc biệt) nên khi uỷ quyền người đại diện theo pháp luật phải biết rằng người được uỷ quyền có năng lực để thực hiện nhiệm vụ đại diện Nếu biết người được uỷ quyền không có năng lực thực hiện công việc nhưng vẫn uỷ quyền thì người đại diện theo pháp luật sẽ phải chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp về việc uỷ quyền
2.2.1.3 Phạm vi uỷ quyền
Khoản 2 và Khoản 3 Điều 153 BLDS quy định: “Phạm vi đại diện theo uỷ quyền được xác lập theo văn bản uỷ quyền Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện.”
Đối với đại diện theo uỷ quyền của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chỉ được uỷ quyền cho người khác thực hiện một hoặc một
số công việc trong phạm vi thẩm quyền đại diện của mình (ví dụ như nhân danh doanh nghiệp giao kết một hợp đồng bán sản phẩm, đại diện cho doanh nghiệp