1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn thi diễn tiến các thể thơ dân tộc trong văn học trung đại việt nam văn học đương đại văn học dân gian

37 1,7K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 54,22 KB
File đính kèm Đề cương thi hết môn.rar (52 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

STLB là 1 thể thơ mang nhiều đặc trưng dân tộc, một “lối vần riêng của ta mà Tàu k có”. Thơ STLB có dung lượng phóng khoáng, nhịp điệu kết cấu ổn định, tạo cảm giác lặp đi lặp lại thường phù hợp với nhu cầu miêu tả sự sâu sắc, phong phú của tâm trạng trong những tác phẩm vãn, khúc ngâm. Về cấu trúc, thơ STLB gồm nhiều khổ thơ, mỗi khổ thơ có 1 cặp thất và 1 cặp lục bát. Một khổ thơ STLB có 28 chữ, bằng số chữ một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Tuy nhiên, sự đan xen câu thất với câu lục, câu bát ở thơ STLB tạo nên sự co duỗi nhịp nhàng, phù hợp để diễn tả những cung bậc tâm trạng liên tiếp.

Trang 1

Đề cương môn: Diễn tiến các thể thơ dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam

1 Đặc trưng thơ song thất lục bát

STLB là 1 thể thơ mang nhiều đặc trưng dân tộc, một “lối vần riêng của ta màTàu k có”

Thơ STLB có dung lượng phóng khoáng, nhịp điệu kết cấu ổn định, tạo cảmgiác lặp đi lặp lại thường phù hợp với nhu cầu miêu tả sự sâu sắc, phong phúcủa tâm trạng trong những tác phẩm vãn, khúc ngâm

Về cấu trúc, thơ STLB gồm nhiều khổ thơ, mỗi khổ thơ có 1 cặp thất và 1

cặp lục bát Một khổ thơ STLB có 28 chữ, bằng số chữ một bài thơ thất ngôn

tứ tuyệt Tuy nhiên, sự đan xen câu thất với câu lục, câu bát ở thơ STLB tạonên sự co duỗi nhịp nhàng, phù hợp để diễn tả những cung bậc tâm trạng liêntiếp

Có khi là 4-2: VD: Khéo vô duyên bấy / cửu trùng

- Câu bát thường được chia thành 4 nhịp 2,

có khi là 3-3-2 Hoa đèn kia với bóng người khá thương

hoặc 2-4-2: Bên đường / trông lá cờ bay / ngùi ngùi

Trong thơ STLB có sự kết hợp dòng thơ có số chữ lẻ với dòng thơ có số chữchẵn Thơ STLB kết hợp 7-7-6-8 tức là kết hợp dòng thơ có số chữ lẻ vớidòng thơ có số chữ chẵn Sự kết hợp này làm cho nhịp thơ phong phú, tiếtđiệu trong khổ thơ đa dạng Nhà nghiên cứu Nguyễn Phan Cảnh đã dùng 4chữ căng thẳng – giải tỏa để hình dung sự thay đổi tiết điệu từ cặp thất đến

Trang 2

cặp lục bát Hai câu thất thường gợi sự “căng thẳng” Cặp lục bát lại gợi sự

“giải tỏa”, tạo cảm giác nhẹ nhàng Sự đan xen căng thẳng – giải tỏa tạo nên

sự thay đổi tiết điệu, tạo nên giá trị miêu tả tâm lí, cảm xúc của thơ STLB

Về thanh điệu

Tiếng thứ 3 và tiếng thứ 7 cả dòng thất dưới đều là tiếng thanh bằng nhưngsắp đặt thanh bằng cao (B) và thanh bằng thấp (b) xê dịch theo 4 kiểu:

- Tiếng thứ 3 và tiếng thứ 7 đều là thanh bằng cao (BB)

VD:Sớm đã trông nào thấy hơi tăm

- Tiếng thứ 3 là thanh bằng thấp, tiếng thứ 7 là thanh bằng cao (bB)VD: Mảnh quần hồng hoen ố rượu rơi

- Tiếng thứ 3 là thanh bằng cao, tiếng thứ 7 là thanh bằng thấp (Bb)VD: Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng

- Tiếng thứ 3 và tiếng thứ 7 đều là thanh bằng thấp (bb)

VD: Gieo bói tiền tin dở còn ngờ

Về cách gieo vần

Trong một khổ thơ STLB gồm 1 cặp thất và 1 cặp lục bát có 5 chỗ gieo vần,

có khả năng kết nối các câu thơ và các khổ thơ với nhau Trong 5 chỗ gieovần đó bao gồm cả vần chân và vần lưng Trong thơ thất ngôn Trung Quốcchỉ gieo vần chân và thanh bằng, còn thơ STLB của nước ta gieo cả vần chân

và vần lưng, cả thanh bằng và thanh trắc Thanh trắc gợi sự căng thẳng, thanhbằng gợi sự dàn trải Sự kết hợp luân phiên bằng trắc giúp nhịp thơ co duỗinhịp nhàng

Mô hình gieo vần của thơ STLB là: Vẽ mô hình

Tiếng thứ 7 của câu thất trên bắt vần với tiếng thứ 5 , của câu thất dưới Tiếngthứ 7 của câu thất dưới bắt vần với tiếng thứ 6 của câu lục, tiếng thứ 6 của câulục lại bắt vần với tiếng thứ 6 của câu 8 Tiếng thứ 8 của câu bát lại bắt vầnvới tiếng thứ 5 của câu thất ỏ khổ tiếp theo

VD: Lòng này gửi gió đông có tiện (vần chân)

Trang 3

Ngàn vàng xin gửi đến non Yên (vần lưng - chân)

Non Yên dù chẳng tới miền (vần chân)

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời (vần lưng - chân)

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu (vần lưng - chân)

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong (vần lưng - chân)

Cảnh buồn người thiết tha lòng (vần chân)

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun… (vần lưng)

Gieo vần ở các chữ: tiện – đến - Yên – miền – lên – / Trời – vời – thấu – đáu– xong – lòng – trùng

Về đối

Một trong những đặc điểm nghệ thuật cần phải nhắc đến khi nghiên cứu vềthơ STLB chính là đối, các chi tiết đối phải cân với nhau về nhiều bình diện.Đối thường chia ra có bình đối, tiểu đối

Bình đối: Chàng thì đi cõi xa mưa gió >< Thiếp thì về giường cũ chiếu chănTiểu đối: Dây uyên kinh đứt >< phím loan ngại chùng

2 Ứng dụng phân tích một đoạn thơ STLB

Trang 4

Môn Văn học đương đại Việt Nam – diện mạo và đặc trưng

Câu 1: Phân tích khuynh hướng chủ đạo trong văn xuôi thời kì đổi mới

từ 1986 đến nay Chứng minh qua 1 tác phẩm cụ thể.

Bài làm

1 Nhu cầu đổi mới (giống bài về thơ)

2 Khuynh hướng nổi bật của văn xuôi thời kì đổi mới từ 86 đến nay làkhuynh hướng đạo đức –thế sự

Từ sau 1986, khuynh hướng sử thi – lãng mạn ngự trị văn học 45-75 đãđược thay thế bằng cảm hứng đạo đức – thế sự Con người sử thi trong vănhọc trước 75 được thay thế bằng con người “nếm trải’ Đề tài chủ đềkhông còn bó hẹp, thiên về khai thác các vấn đề liên quan đến nhữngnhiệm vụ chính trị trước mắt mà được mở rộng từ đề tài gia đình, thânphận tình yêu, số phận con người đến chiến tranh cách mạng, sản xuất xâydựng Các nhà văn không né tránh, ngại ngùng khi khai thác các mặt trái,góc khuất, phần chìm của hiện thực cuộc sống (Cái đêm hôm ấy, Đêm gìcủa Phùng Gia Lộc, Suy nghĩ trên đường làng của Hồ Trung Tú, Vua lốp

và Thủ tục cho người còn sống của Trần Huy Quang ) Vào cuối nhữngnăm 80 và đầu những năm 90, khuynh hướng nhận thức lại hiện thực vớicảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản xuất hiện, với sự mởđầu là tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Chiến tranh được NguyễnMinh Châu nhìn nhận từ phía tác động của nó đến số phận và tính cáchcon người (Cỏ Lau, Mùa trái cóc ở Miền Nam), còn Bảo Ninh thì thể hiệnthấm thía nỗi buồn chiến tranh của những thế hệ phải trải qua cuộc chiến

ấy trong Thân phận tình yêu Hậu quả của chiến tranh ở thời hậu chiếncũng được cảm nhận thấm thía đến cuộc đời và số phận của những conngười đã đi qua cuộc chiến (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai, Chim én bay –Nguyễn Trí Huân, Người sót lại của rừng cười – Võ Thị Hảo ) NguyễnHuy Thiệp lại phơi bày tình trạng khủng hoảng của xã hội qua sự khủng

Trang 5

hoảng của các giá trị và lối sống (Tướng về hưu, Không có vua, Huyềnthoại phố phường) CÒn Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đấtlắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường…lại là những bức tranhhiện thực với nhiều mẩng tối trước đây thường bị khuất lấp, nay đã hiện ratrên trang sách với biết bao điều xót xa về số phận con người, về những bikịch của niềm tin và ảo tưởng lầm lạc.

Nhiều cây bút đi vào thẻ hiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân vànhững quan hệ đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp và vĩnh hằng.Con người tự nhiên và những chiều sâu bí ẩn của tâm linh, tiềm thức, vôthức vốn là một phần k thể thiếu của đời sống con người nhưng trước đây

do nhiều nguyên nhân mà nó thường bị văn học xem nhẹ,bỏ qua Naydường như để bù lại phần thiếu hụt ấy của văn học một thời, nhiều tácphẩm đã đi vào khám phá và thể hiện phần bản năng tự nhiên của conngười và trong một số tác phẩm người ta đã thử thăm dò vào lĩnh vực tâmlinh,vô thức còn đầy bí ẩn Nhấn mạnh phương diện bản thể tự nhiên củacon người là chỗ gặp gỡ của nhiều cây bít như Nguyễn Huy Thiệp, MaVăn KHáng, Phạm thị Hoài, Nguyễn Bản

3 Chứng minh qua 1 tác phẩm

Câu 2: Phân tích khuynh hướng chủ đạo trong thơ thời kì đổi mới từ

1986 đến nay Chứng minh qua 1 tác phẩm cụ thể.

Bài làm

Văn học VN trong 30 năm, từ 45-75 đã làm tròn sứ mệnh cao cả của 1 nền

VH phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, vì TQ, dân tộc, nhân dân ĐÓ làmột nền văn học theo khynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Nhưng từsau chiến tranh, nhất là sau 86, những thay đổi lớn trong đời sống chính trị,kinh tế, xã hội, văn hóa đã dẫn đến nhu cầu phải đổi mới văn học Đó là đỏihỏi chung của cả giới sáng tác, lí luận lẫn công chúng Sự kiện ĐH Đảng toàn

Trang 6

quốc lần thứ 6 cùng những chỉ đạo trực tiếp của TBT NVL là những yếu tốthúc đẩy trực tiếp sự đổi mới văn học.

+ Đại hội Đảng toàn quốc lần VI – 1986 là nỗ lực của Đảng và nhà nước đổimới đất nước trên nhiều phương diện, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội,trong đó có những đổi mới về văn học Đây cũng là thời kì chúng ta mở rộnggiao lưu, tiếp xúc với quốc tế, đưa đất nước đi vào quỹ đạo chung của quátrình phát triển, họi nhập đang diễn ra khắp các quốc gia trên thế giới

+ Cuộc gặp gỡ giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và gần 200 nghệ sĩ, tríthức và các nhà khoa học tiêu biểu ở HN và các tỉnh lân cận vào ngày 6-7/10/1987 Tại cuộc gặp gỡ này TBT đã nhấn mạnh vấn đề đổi mới tư duy

Đó là một yếu tố sống còn của văn nghệ Văn nghệ sĩ phải cởi trói cho mình,phải tự cứu mình trước khi trời cứu TBT cũng yêu cầu văn học không được

né tránh cái xấu, cái tiêu cực Tuy nhiên, văn học phản ánh chứ không bôi đenchế độ TBT cũng nhấn mạnh đến tính dự báo của văn học, dự báo cả nhữngđiều tốt và những điều xấu Bài nói chuyện của TBT được xem như 1 kim chỉnam, định hướng và thúc đẩy văn nghệ phát triển

+ Nghị quyết 05 của Bộ chính trị, nhấn mạnh vai trò, chức năng của văn nghệ

sĩ, của văn học, nhấn mạnh đến đườnglối đổi mới văn học

Trang 7

phức tạp trong các tập “Di cảo thơ”, chỉ được công bố sau khi ông qua đời ĐỐi mặt với thực tại nhiều phức tạp ngang trái, thơ nói nhiều đến nỗi buồn và

cả sự xót xa, day dứt về thời thế, nhân thế, bằng sự trải nghiệm thấm thía và ý thức trách nhiệm công dân của nhà thơ Nhiều nhà thơ không ngần ngại phô bày tất cả những cái sần sùi thô ráp, những nghịch lý của đời thường

Đề tài chiến tranh, người lính vẫn xuất hiện trong thơ ca sau 86 như một quán tính, nhưng các nghệ sĩ đi sâu vào số phận người lính sau chiến tranh với những nỗi buồn và mất mát lớn lao (Cánh rừng nhiều đom đóm bay – NguyễnĐức Mậu, Mùa xuân về - Nguyễn Hoa, Ra đi – Phùng Khắc Bắc)

Thơ ca còn thể hiện sự thức tỉnh nhu cầu cá nhân, thể hiện khao khát được bầy tỏ cái tôi bản thể Trở về với đời thường, thơ đòi hỏi sự thức tỉnh những nhu cầu cá thể, khẳng định cá tính Đi tìm lời đáp cho câu hỏi “Ta là ai” là một khao khát nhận diện chính mình, là ý thức về vị trí của mình trong cuộc đời này, dẫu sự tồn tại đó là nhỏ bé, thậm chí vô hình

Trong thơ ca thời kì đổi mới, tình yêu là một chủ đề được thể hiện ở nhiều góc độ Thành thực đối diện với cuộc sống như chính bản thân nó đang tồn tại, nhà thơ chấp nhận đối diện với tình yêu trong mọi dạng thức của nó, kể cảcảm giác bị bỏ rơi, bị lãng quên, cảm giác k trọn vẹn của kẻ đến sau Tình yêubao giờ cũng có 2 cung bậc; Tinh thần và vật chất Thơ tình hiện nay tô đậm nét cảm nhận về tình yêu trần thế, vấn đề tình dục được đặt ra một cách

nghiêm túc, vói tư cách là 1 yếu tố trong đời sống con người, là 1 nhu cầu mang tính nhân văn (Vi Thùy Linh, Nguyễn Thanh Hà, Đoàn Thị Lam Luyến,

Dư Thị Hoàn )

4 Chứng minh qua một tp

Cảm nhận bài thơ “Người dệt tầm gai” của Vi thùy Linh

Yêu thương, hạnh phúc, hờn ghen, nhớ nhung,…là những cung bậc cảm xúc bất biến tạo nên sự hấp dẫn kì diệu của tình yêu Bởi vậy tình yêu luôn trở

Trang 8

thành cảm hứng dồi dào nhất của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung

Thơ tình yêu cũng muôn màu muôn vẻ, từ sự hờn ghen cao cả củaTôi yêu

em (Puskin), sự yêu thương trong sáng trong Thuyền và biển (Xuân quỳnh) đến sự lâm li diễm lệ của Hai sắc hoa tigôn (TTKH),… tất thảy đều mục đích

chung khắc họa chân dung tình yêu Đến thời điểm hiện nay, nữ thi sĩ trẻ Vi Thùy Linh, bằng sức trẻ sôi nổi, cũng hăm hở đóng góp vào bộ sưu tập ấy

những chân dung tình yêu mới Bài thơ Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu

biểu như thế của chị

Nếu đánh giá bài thơ Người dệt tầm gai của Vi Thùy Linh, tôi không cho

rằng đây là một tác phẩm độc đáo to lớn về nội dung hay nghệ thuật Trên thực tế, để đánh giá một tác phẩm thơ cho đúng đắn thì cần thiết đòi hỏi những kĩ năng chuyên môn sâu sắc cùng một lượng thời gian hợp lí Bởi vậy

ở đây, tôi đơn giản chỉ muốn đề cập đến một câu chuyện tình yêu cùng những cung bậc cảm xúc tinh vi của nó Đồng thời, tôi cũng liên hệ so sánh với một

số tác giả, tác phẩm thơ trước hoặc cùng thời để thấy được một số nét nghệ thuật tiêu biểu của cây viết thơ trẻ Vi Thùy Linh

Vi Thùy Linh là một nhà thơ tuổi đời còn khá trẻ, nhưng với phong cách hiện đại và độc đáo, cô gái mảnh dẻ mới hơn 20 tuổi đầu đã trở thành “hiện tượng

Vi Thùy Linh” vào năm 1998 Với danh hiệu này, nữ thi sĩ Vi Thùy Linh đã thực sự có chỗ đứng vững chắc trong nền thơ ca Việt Nam đương đại Tuyển

tập các tác phẩm thơ Đồng Tử (2005), Linh (2000) và Khát (1999) của nhà

thơ đã nhận được nhiều sự quan tâm, yêu mến của người đọc đặc biệt là giới trẻ Yêu mến nhiều nhưng ác cảm cũng lắm Người khen hết lời mà người chêthì cũng mạnh mẽ Nhưng đây cũng là một dấu hiệu đáng mừng Bởi tác phẩm của chị đã không bị quên lãng Nó đã có đời sống và số phận của nó Đối với sự sáng tạo nghệ thuật, sợ nhất là sự im lặng Một tác phẩm ra đời màkhông gây nên tiếng vọng nào thì cũng chỉ như hạt cát ném vào sa mạc, rút cục là bị quên lãng mà thôi

Trang 9

Dù trở thành hiện tượng cách đây đã hơn 10 năm, nhưng dường như sức nóngcủa những tác phẩm Vi Thùy Linh vẫn chưa giảm xuống Đọc thơ Vi Thùy Linh, ta vẫn thấy mới mẻ, vẫn mạnh mẽ và hứa hẹn những ý nghĩa mà ta chưathể khám phá hết Tâm hồn thơ phong phú của chị đã tạo nên những vần thơ

nóng bỏng, tinh tế và đầy gợi cảm Người dệt tầm gai là một bài thơ tiêu biểu.

Bài thơ được làm theo thể thơ tự do, bởi vậy nó không bị gò ép, qua đó cảm

xúc của nhà thơ được thể hiện chân thực và tinh tế hơn Người dệt tầm gai là

một bài thơ tình diễn tả nỗi nhớ và sự chờ mong khắc khoải của người con gáikhi yêu Nó chất chứa cái thiếu thốn ngàn đời của trái tim, chất chứa cái đong đầy ngàn đời của khao khát yêu đương mê đắm Các cung bậc cảm xúc của người con gái khi yêu được khúc xạ qua từng câu, từng chữ trong bài Bất cứ người con gái nào khi yêu cũng có thể tìm thấy một phần bản thân của mình trong đó Vi Thùy Linh đã nói thay, nói hộ cho tâm trạng của biết bao người con gái

Bài thơ mở đầu với sự xuất hiện của một không gian đặc biệt: Không gian xa cách Chỉ bằng một câu thơ duy nhất, nhà thơ đã vẽ lên một không gian xa cách đầy thương nhớ giữa “em” và “anh”:

“Chúng mình ở hai miền”

Chúng mình là một đại từ nhân xưng chỉ sự kết hợp giữa em và anh Nó nhất quán thể hiện sự gắn bó gần gũi giữa hai con người yêu nhau Nhắc tới chúng mình là ta nghĩ ngay đến sự đoàn tụ Vậy mà ở đây, chúng mình lại được đặt trong không gian “hai miền” – không gian xa cách, chia lìa Điều đó khiến cho người con gái đau đớn và cô phải yếu đuối thú nhận:

“Ngày nào em cũng khóc”

Khi yêu tất yếu ai cũng có khao khát được ở bên cạnh người mình yêu

thương Đối với người con gái, điều này còn quan trọng hơn cả bởi con gái

Trang 10

cần lắm sự chiều chuộng chở che Vậy mà người con gái trong bài thơ phải chịu đựng cảnh chia lìa Nhưng cũng chính bởi vậy mà tình yêu trong cô càngtrở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết Tình yêu, nỗi nhớ, sự xa cách đã hợp lại tạonên sự khao khát mãnh liệt như những con sóng Bởi vậy mà dường như lúc này, không gì có thể ngăn cản cô gái hòa tan bản ngã trong tình yêu của mình:

“Anh yêu của em

Em yêu anh cuồng điên

Yêu đến tan cả em ra”

Ở mỗi thời đại khác nhau con người ta có cách thể hiện tình yêu khác nhau Qua rồi cái thời yêu thương nhung nhớ kín đáo nhẹ nhàng “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, một người chín nhớ mười mong một người” (Nguyễn Bính), thơ tình ngày nay có cách thể hiện tình yêu mạnh bạo hơn với những ý tưởng ngày càng lạ hơn “Yêu đến tan cả em ra” thể hiện một thứ tình yêu vô điều kiện, yêu đến tôn thờ, yêu đến độ sẵn sàng hòa tan mình, dâng hiến bản thân mình cho đến giới hạn cuối cùng

Hai câu thơ đầu tiên thật ngắn nhưng cũng thật đầy đủ để dựng lên một khônggian ngập căng nỗi nhớ Đó là sự súc tích trong ngòi bút của Vi Thùy Linh Đối với việc tạo dựng thời gian nghệ thuật trong bài, Vi Thùy Linh cũng tận dụng triệt để thủ pháp này Chị tạo dựng thời gian nghệ thuật bằng ba câu thơ:

“Ngày dài hơn mùa”

“Ngày nối ngày bằng hi vọng”

“Mỗi ngày dài hơn một mùa”

Ba câu thơ trên là ba câu thơ đặc sắc được thể hiện theo hình thức của nguyên

lí song song Nhưng ý đồ nghệ thuật của tác giả tập trung ở hai câu “Ngày dài

Trang 11

hơn mùa” và “Mỗi ngày dài hơn một mùa” Sự lặp đi lặp lại của cụm từ “ngàydài” có tác dụng tạo nên ấn tượng thời gian lặp đi lặp lại, bất biến Nó diễn tả tâm trạng chán chường của người con gái trước sự trôi chảy của thời gian Với cô, mỗi ngày không có anh là mỗi ngày giống nhau, buồn tẻ và dài đằng đẵng Ẩn sau ba câu thơ ta như nghe được tiếng thở dài của một tâm hồn mệt mỏi và tuyệt vọng Bằng chứng là câu thơ “ngày dài hơn mùa” so với câu thơ

“mỗi ngày dài hơn một mùa” đã gia tăng về số lượng câu chữ, tính từ chỉ số lượng “mỗi” “một” xuất hiện Chỉ khi sự chờ đợi đã lâu dài đến độ đủ thiêu đốt trái tim thì cô gái mới có thể thẫn thờ ngồi đếm thời gian như vậy Ở đây

sự chờ đợi tuyệt vọng được gia tăng tỉ lệ thuận với cấp độ thời gian Nếu câu thơ thứ nhất đơn thuần chỉ thời gian thì câu thơ sau đã mang theo đầy đủ tâm trạng của cô gái: Mệt mỏi, khắc khoải và tuyệt vọng

Từ không gian, thời gian đầy cảm xúc, nhà thơ dần dần dẫn dắt người đọc bước vào thề giới tâm trạng của nhân vật trữ tình Mặc dầu không gian, thời gian hết sức quen thuộc trong thơ Việt Nam nhưng với biểu tượng thơ, Vi Thùy Linh đã táo bạo chọn cho mình một biểu tượng rất lạ lẫm và mang đậm phong vị cổ tích Nếu ta từng quen thuộc với các loại biểu tượng tình yêu như hoa hồng, trái tim, sôcôla, thì ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi bắt gặp biểu tượng tình yêu trong bài thơ này Đó là tầm gai Tầm gai vốn là một loài cây dùng để kéo sợi, hình dạng xấu xí lại vô cùng nhiều gai Vậy mà Vi Thùy Linh lại chọn nó làm biểu tượng của tình yêu Nhưng nếu ta biết đến câu truyện cổ tích về nàng Lidơ may áo bằng sợi tầm gai thì ta sẽ không còn ngạc nhiên nữa Xưa kia nàng công chúa Lidơ xinh đẹp tuyệt trần may áo bằng sợi tầm gai để giải thoát các anh trai mình khỏi lốt chim thiên nga do lời nguyền của mụ phù thủy độc ác Áo may xong cũng là lúc nàng giải thoát cho các anh, đồng thời đạt được hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời : có được người mình yêu thương Có lẽ câu truyện cổ tích cảm động này là nguồn cảm hứng

chính để Vi Thùy Linh viết Người dệt tầm gai Biểu tượng tầm gai xuất hiện

Trang 12

trở đi trở lại nhiều lần trong bài thơ, trở thành nỗi ám ảnh không ngừng trong tâm trí người đọc Tầm gai trở thành biểu tượng cho tình yêu, cho hạnh phúc

mà cô gái đeo đuổi bằng tất cả sự nhiệt tình và khao khát của mình Như nàngLidơ dệt áo tầm gai với những ngón tay rớm máu, nhân vật trữ tình trong bài thơ khao khát dệt nên hạnh phúc bằng niềm vui và cũng bằng cả nỗi buồn, nỗiđau:

“Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui

Nhưng lại gặp rất nhiều nỗi khổ

Truân chuyên đè lên thanh thản

Ôi sự trái ngược – những sợi tầm gai !

Không kỳ vọng những điều lớn lao

Em lặng lẽ dệt hạnh phúc từ những nỗi buồn – những sợi tầm gai – không ai nhìn thấy”

Có một nghịch lí đắng cay trong những câu thơ trên Cô gái khao khát yêu thương, khao khát hạnh phúc và gồng mình lên để đấu tranh cho hạnh phúc

ấy Nhưng cuối cùng thì cô lại chỉ nhận được “rất nhiều nỗi khổ” bởi chính thứ hạnh phúc cô đang đeo đuổi đã trở thành một camboorang, khi không thể mang lại hạnh phúc, nó quay lại đâm ngược vào chính trái tim cô:

“Gai tầm gai đâm em đau đớn

Em chờ anh mãi…

Tưởng chừng không thể vượt qua nổi cái lạnh, em đã khóc trên hai bàn tay trầy xước

Những giọt tâm hồn thấm xót mười ngón tay rớm máu”

Mỗi câu thơ đều mang nặng nỗi cô đơn xót xa đến tột cùng Phải từng trải, phải thẩm thấu được nỗi đắng cay của sự thất bại trong tình yêu thì mới có thểviết lên được những câu thơ gợi cảm đầy xót xa đến vậy Hình ảnh “hai bàn

Trang 13

tay trầy xước” cũng được lặp lại tới hai lần, lần nào cũng tràn ngập cảm xúc

Đó là sự chuyển hóa thành nỗi đau tinh thần thành nỗi đau thể xác Điều này khiến cho nỗi đau trở nên cụ thể, rõ nét hơn Không phải là nỗi đau tột cùng nhưng nó cứ ám ảnh và day dứt trong tâm hồn cô gái Điều này còn khó chịu hơn cả Cách thể hiện trên của Vi Thùy Linh còn đồng thời tạo cho người đọc

có thể cảm nhận được một cách sâu sắc hơn tâm trạng của nhân vật

Vi Thùy Linh đã vận dụng dày đặc những tính từ “cuồng điên”, “mong mỏi”,

“nông nổi”, “thảng thốt”,… Đồng thời sử dụng những động từ mạnh “tan”,

“run”, “nấc”, “đè” để bổ sung vào đó những trạng thái tình cảm phức tạp của nhân vật Đó là tâm trạng yêu thương trong hi vọng có xen lẫn nhiều hơn tuyệt vọng Mỗi từ ngữ, câu chữ được đặt đúng vị trí của mình một cách tinh

tế và tài tình Đó chính là cái tài của nhà thơ Bởi như chính nhà thơ đã tâm sự

“Tôi cho rằng viết “Tôi đang vui, tôi đang buồn, đang thất vọng” thì người nào đó biết chữ cũng có thể viết ra Những người đã mang chữ “sĩ” – nghệ sĩ, thi sĩ hay họa sĩ, văn sĩ thì phải biết thể hiện trang thái và thế giới và con người một cách khác thường…Nhà thơ phải đem đến cho người đọc những rung cảm mới đầy tinh tế, phóng khoáng và mãnh liệt”

Bài thơ là một bản nhạc với đủ các cung bậc cảm xúc Cuối bài thơ, cảm xúc của thi sĩ dâng lên đến cực điểm:

“Dệt tầm gai đến bao giờ?

Mỗi ngày dài hơn một mùa

Dệt tầm gai đến bao giờ?”

Sự lặp lại của câu hỏi là biểu hiện của một sự vô vọng Vô vọng trong tình yêu xa cách của người con gái đối với người con trai, vô vọng trong nỗi cô đơn cùng cực Bởi vậy câu “dệt tầm gai đến bao giờ?” lặp đi lặp lại thành nỗi

ám ảnh Câu thơ cuối cùng lại là sự lặp lại của những câu thơ trước:

Trang 14

“Về đi anh!

Cài then những ngón tay trầy xước của em bằng Anh!”

Đây là sự thành công của tác giả trong sự vận dụng cấu trúc trùng điệp Thủ pháp nghệ thuật này phát huy hiệu quả cao độ trong việc khắc họa tâm trạng rối ren phức tạp của nhân vật Hai câu thơ cuối đã chuyển bài thơ từ trạng tháikhao khát mong nhớ sang trạng thái van lơn Dường như lúc này nhân vật trong bài thơ đã không thể tiếp tục gồng mình lên để chịu đựng được nữa mà chấp nhận sự bất lực của mình và van lơn được lành lặn những nỗi đau xa cách Phải chăng đó là bi kịch của kiểu tình yêu “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”(Xuân Diệu)?

Bằng thủ pháp tạo dựng không gian, thời gian, biểu tượng cùng hệ thống ngônngữ mang tính chọn lọc, Vi Thùy Linh đã khắc họa thành công thế giới tâm trạng của một người con gái khi yêu Chủ đề của bài thơ không mới nhưng bằng cách thể hiện độc đáo, ta trực tiếp cảm nhận được một luồng không khí văn thơ mới mẻ Nếu đa phần trong số các bài thơ của chị nghiêng về bút pháp diễn đạt tâm trạng bằng những hình ảnh giàu tính nhục thể thì bài thơ này không thế Đây là một bài thơ giản dị, trong sáng với những hình ảnh đẹp

và lạ Chính bởi vậy mà bài thơ nhận được nhiều lời khen ngợi hơn là chê trách Bài thơ còn được nhạc sĩ Ngọc Đại phổ nhạc bằng những giai điệu

nồng nàn, nóng bỏng, đó là ca khúc Dệt tầm gai Ca khúc được đông đảo bạn

trẻ biết đến và yêu mến

Người dệt tầm gai là một bài thơ tình giàu nữ tính và cảm xúc Bài thơ đem

đến cho người đọc những cảm nhận mới trên nền đề tài tình yêu quen thuộc Người đọc yêu bài thơ bởi sự gợi cảm tinh tế của nó và bởi nếu đã từng đọc qua, không ai có thể quên được những câu thơ đẹp và lạ cứ mãi ám ảnh tâm trí:

Trang 16

Môn Giải mã Văn học dân gian từ mã văn hóa

I Khái niệm

1.1.Khái niệm văn hóa

Văn hóa là vấn đề liên quan tới con người và gắn bó với mọi quốc gia,mọi thời đại nên cho tới nay đã có rất nhiều cách nhìn nhận và rất nhiều địnhnghĩa khác nhau

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, nhà xã hội học người Anh Eduard BurnettTylor là người đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về văn hoá được nhận thức mộtcách rộng rãi như sau: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộphức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phongtục và những khả năng lực và tập quán khác mà con người có được với tưcách là một thành viên của xã hội”1 Từ thời điểm đó đến nay, vấn đề văn hoá

đã được cả thế giới quan tâm thông qua sự xuất hiện tới hàng trăm định nghĩa

về văn hoá cuả các nhà nghiên cứu Xin nêu dưới đây một vài trong số hàngtrăm định nghĩa đó:

Trên thế giới, các nhà văn hóa đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềvăn hóa Theo một số quan niệm chung cho rằng văn hoá là toàn bộ nhữngsản phẩm do con người sáng tạo ra từ xa xưa cho tới nay Một số học giả thìcho rằng văn hoá là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sốngcủa một cộng đồng dân tộc 2

Năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ A Kroeber và Cl Kluckhoh trong

cuốn Văn hóa: tổng quan về khái niệm và định nghĩa đã chỉ ra trên dưới 300

định nghĩa về văn hoá mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng đưa ratrước đó

Trong cuốn sách tiếp theo Văn hóa học, những lí thuyết nhân học văn hóa, hai ông A Kroeber và Cl Kluckhohn đã đưa ra một trong những định

1Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam Đại học quốc gia Hà Nội, 1996, tr.52

2 Dẫn theo Trần Quốc Vượng: 1000 năm giao thoa văn hoá Đông Tây.

Trang 17

nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hóa bao gồm những chuẩn mực nằm ở bêntrong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờcác biểu tượng: văn hóa xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa

sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất) Hạt nhân cơ bản của vănhóa gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên

là những tư tưởng có giá trị đặc biệt Hệ thống văn hóa có thể được xem xét,một mặt như là kết quả của hoạt động người, mặt khác, như là những sự điềuchỉnh những hoạt động đó” 3

Học giả A.A.Belik đã định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là phương thứchoạt động sống đặc biệt của con người, làm xuất hiện nhiều phong cách sống,các dạng thức vật chất để biến đổi thiên nhiên và sáng tạo các giá trị tinhthần” 4

Theo Bách khoa toàn thư Pháp, văn hóa được định nghĩa: “ Văn hoá

theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ,những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chuéc môi trường của conngười… những công cụ, nhà ở… và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thểtruyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm xãhội với môi trường sinh thái của nó”

Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô, văn hoá được định nghĩa: “Văn hoá là

trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người, biểu tượng trong cáckiểu và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con gười, cũng nhưtrong các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra Văn hoá cóthể được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của những xãhội, dân tộc, bộ tộc cụ thể (thí dụ văn hoá cổ đại, văn hoá Maya, văn hoáTrung Quốc…) Theo nghĩa hẹp, văn hoá chỉ liên quan tới đời sống tinh thầncủa con người”

3 A Kroeber và Cl.Kluckhohn: Văn hóa học, những lí thuyết nhân học văn hóa, Đỗ Lai Thúy dịch, Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật, H, 2000, tr.14.

4

A.A Belik, Văn hóa học, những lí thuyết nhân học văn hóa, Đỗ Lai Thúy dịch, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật,

H, 2000, tr.10

Trang 18

Nhà văn hoá học người Pháp Abraham Moles đã định nghĩa văn hoá:

“Văn hoá đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân tạo, do con người tạodưnngj nên trong tiến trình đời sống xã hội của mình”

Ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa về văn hoá một cách

cụ thể như sau:“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài ngườimới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoahọc, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh

đó tức là văn hóa” 5

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã viết về văn hoá: ”Nói tới văn hoá lànói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gìkhông phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trìnhtồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sốngdân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giátrị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạybén và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh củacộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và khôngngừng lớn mạnh” 6

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa của Việt Nam cũng đã có nhiều cách địnhnghĩa về văn hóa

Định nghĩa về văn hoá của GS Trần Quốc Vượng: “Văn hoá là cái tựnhiên được biến đổi bởi con người”

Định nghĩa về văn hoá của GS Hà Văn Tấn như sau: “Văn hóa là hệthống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội trong hoạt động sinhtồn của mình Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm của con người trong mối quan

hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian vàhoàn cảnh nhất định” 7

5Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr 431

6Văn hoá và đổi mới Nxb Chính trị quốc gia, H, 1994, tr.16

7 Hà Văn Tấn:Bản sắc văn hóa

Ngày đăng: 09/09/2016, 21:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w