Tại hầu hết các quốc gia phát triển, tỷ lệ mắc bệnh thương hàn đã giảm trong nửa đầu thế kỷ 20 do tiêm chủng và cải thiện hệ thống vệ sinh công cộng và các điều kiện vệ sinh.. Điều trị t
Trang 1BỆNH THƯƠNG HÀN
Trang 2I Định nghĩa
Typhoid fever = enteric fever = Thương hàn
Tác nhân gây bệnh: Salmonella typhi
Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi khó chẩn đoán
Biểu hiện kinh điển: sốt, mệt mỏi, lơ mơ, đau bụng và táo bón
Trước kia, bệnh gây nhiều biến chứng trầm trọng (sảng, mê, xuất huyết tiêu hóa, thủng ruột, biến chứng tâm thần kinh) và tử vong cao Ngày nay, do mầm bệnh kháng thuốc, biến chứng và tử vong vẫn còn xảy ra
Việt Nam và các nước đang phát triển: thỉnh thoảng xảy ra dịch
Trang 3S typhi theo tiếng Hy lạp cổ là typhos
Các tên khác của bệnh thương hàn: gastric fever, abdominal typhus, infantile remittent fever, slow fever, nervous fever, pythogenic fever, etc
Louis Pasteur, 1829, gọi là typhoid – là 1 biến thể từ typhus
Đã có 1 trận dịch lớn gây chết người tại thành Athens (1/3 dân số) vào cuối cuộc chiến Pelopennesian (430–426 B.C)
Những bản ghi của sử gia Thucydides là những mô tả đầu tiên về
dịch thương hàn
II Lịch sử
Trang 4• Abigail Adams, (phu nhân Tổng thống thứ 2 của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ), vợ của John Adams
• Quận công xứ Saxe-Coburg-Gotha, chồng Nữ hoàng Victoria
• Edward VII, (khỏi bệnh)
• Louisa May Alcott, tác giả của Little Women nhiễm bệnh từ Bệnh viện Sketches
• Charles Darwin, nhiễm bệnh trong chuyến đi đến Chile bằng con tàu Beagle của Hải quân hoàng gia Anh vào năm 1835
• Eugenia Tadolini, danh ca giọng nữ cao người Ý Italian, đã chết vì bệnh thương hàn tại Paris vào năm 1872
• Frank McCourt, nhà văn Mỹ gốc Ireland, tác giả truyện ký
Angela's Ashes
• Jeanne Pasteur (b 2-Apr-1850, d 10-Sep-1859 typhoid fever)
• Cecile Pasteur (b 1-Oct-1853, d 23-May-1866 typhoid fever)
Những nhân vật nổi tiếng có liên quan
đến bệnh thương hàn
Trang 5Typhoid Mary
Trang 6Mary Mallon ("Typhoid Mary") tại giường bệnh
Trang 7Mary Mallon, làm nghề đầu bếp tại New York; được cho là nguồn lây bệnh thương hàn cho hàng trăm người khác
Có 47 cas mắc bệnh, trong đó có 3 cas tử vong đã được tìm thấy mối liên quan gần với Marry
1907, bà là người lành mang trùng đầu tiên được phát hiện tại Mỹ
và được giám sát trong 3 năm liên tiếp
Các bác sĩ sức khỏe cộng đồng đã cho bà chọn 1 trong 2 điều kiện:
bỏ nghề nấu ăn hay cắt bỏ túi mật Bà ta đã nghỉ việc nhưng sau
đó quay lại làm đầu bếp dưới 1 cái tên giả
Bà ta đã bị buộc thôi việc và quản thúc sau khi 1 trận dịch thương hàn xảy ra Bà đã chết vì viêm phổi sau 26 năm bị quản thúc tại bệnh viện (1915 – 1938)
Trang 81897, Almroth Edward Wright tìm được vaccine có hiệu quả
1909, Frederick F Russell, 1 bác sĩ quân y Mỹ, tìm ra vaccine ngừa bệnh thương hàn, và 2 năm sau đó vaccine này được sử dụng để chủng ngừa cho quân đội Mỹ và đã ngăn được thương hàn trong quân đội Mỹ
Tại hầu hết các quốc gia phát triển, tỷ lệ mắc bệnh thương hàn đã giảm trong nửa đầu thế kỷ 20 do tiêm chủng và cải thiện hệ thống
vệ sinh công cộng và các điều kiện vệ sinh Điều trị thương hàn bằng kháng sinh được áp dụng từ năm 1942, làm giảm đáng kể tử vong
Hiện nay, tần suất mắc bệnh thương hàn hàng năm tại các nước đang phát triển là 5 cases /1,000,000 người
Lịch sử việc ứng phó với bệnh thương hàn
Trang 10Kháng nguyên H : hoặc kháng
nguyên lông (roi), dễ bị hủy bởi
nhiệt.
Kháng nguyên O : polysaccharide, hoặc kháng nguyên thân, bền với nhiệt.
Kháng nguyên Vi :
polysaccharide, có trong vỏ S typhi
và S paratyphi C.
Trang 11Khả năng sống của Samonella trong tự nhiên:
Vi khuẩn có thể sống nhiều ngày trong nước, nhất là trong nước ao tù và trong hố phân; trong rau cải, trong sò ốc hến
Bị tiêu diệt bởi:
• ánh sáng mặt trời,
• sức nóng (đun sôi 55oC trong 30 phút), cồn 90oC, diệt chúng trong vài phút
Salmonella có thể cấy trên những môi trường:
Chọn lọc thấp: thạch deoxycholate và Mac Conkey
Chọn lọc vừa: SS (Salmonella-Shigella), hoặc thạch Hektoen
Chọn lọc cao: selenite với brillant green, thạch Bismuth sulfite
Tạo sắc chọn lọc mới: thạch CHROM và COMPASS (chuyên biệt hơn các môi trường khác)
Canh cấy: Tetrathionate hoặc Tetrathionate với Brillant green, Selenite F
Trang 121 Liều nhiễm khuẩn
Nhiều nghiên cứu trên những người tình nguyện chứng tỏ số lượng vi khuẩn bị nhiễm càng nhiều thì tỉ lệ mắc càng cao và thời gian ủ bệnh càng ngắn.
Hornick và cộng sự đã cho những người tình nguyện uống S typhi
Trang 132 Quá trình nhiễm khuẩn
Trang 14Qua hàng rào acid dạ dày
Phagocytization
Trang 15Small intestine
Trang 19Nguồn lây
S.typhi và S paratyphi A chỉ lây truyền bệnh ở người.
Người bệnh: thải hàng triệu vi khuẩn sống theo phân, chất ói, đàm nhớt
hoặc các dịch thể khác
Người khỏi bệnh: còn có thể tiếp tục thải vi khuẩn sống theo phân thêm
một thời gian
Người lành mang trùng: Người không mắc bệnh thương hàn nhưng
mang vi khuẩn và có thể lây truyền bệnh
Người mang trùng kinh niên sau khi khỏi bệnh: khoảng 1-5%,
gieo rắc mầm bệnh trong nhiều năm, nhất là những người có
sỏi mật (thải đến 1011 vi khẩn /1g phân)
V Dịch tễ học
Trang 20Lây truyển
Bệnh thương hàn lây theo đường “phân-miệng”, do ăn uống thực phẩm hoặc nước ô nhiễm phân người,
hiếm khi do tiếp xúc trực tiếp (như nhân viên y tế mắc bệnh do
vệ sinh bàn tay kém hoặc cầm bệnh phẩm xét nghiệm)
Nước uống, sữa, rau cải, sò,ốc, hến là những nguồn nhiễm thương hàn quan trọng, lây cho người khi ăn uống các thức ăn nàymà không đun nấu kỹ Ruồi và các côn trùng khác có thể mang mầm bệnh từ phân vào thực phẩm, đôi khi gây thành dịch
Trang 23Cơ thể cảm thụ
1 Tuổi
• Tất cả lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đa số ở tuổi 30 tuổi
• Ở vùng bệnh lưu hành, trẻ con trên 1 tuổi là nhóm tuổi có nguy cơ cao nhất mắc bệnh vì thiếu miễn dịch
• Khi trẻ dưới 1 tuổi mắc bệnh thương hàn thì bệnh nặng và nhiều biến chứng hơn
2 Giới
Nam và nữ có tỉ lệ mắc bệnh xấp xỉ nhau
3 Cơ địa
• Người suy giảm miễn dịch, mắc bệnh liên quan hệ võng nội mô, hoặc
có bất thường đường tiểu và đường mật, thì nguy cơ mắc bệnh
thương hàn cao
• Người mang trùng kinh niên thường ở nữ giới hơn nam giới và ở
người già hơn trẻ
Trang 24Tình hình bệnh thương hàn trên thế giới
Thương hàn tiếp tục là một vấn đề y tế toàn cầu, với 16 triệu ca ước lượng trên thế giới và 600.000 người chết mỗi năm Bệnh lưu hành ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt ở Ấn Độ, Đông Nam Á, Nam và Trung Mỹ và châu Phi, với tần xuất bệnh hàng năm ước lượng hơn 900 /100.000 dân ở Ấn Độ Các nước này có chung các đặc điểm, gồm
phát triển dân số nhanh, đô thị hoá tăng, xử lý chất thải cuả người không đủ, cung cấp nước giới hạn, và hệ thống chăm sóc sức khoẻ còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu
Dịch thương hàn ở các nước đang phát triển có thể dẫn đến tỉ lệ mắc
và chết cao, nhất là khi gây ra bởi các dòng kháng thuốc
Trang 25Phân bố bệnh viêm gan siêu vi A và bệnh thương hàn
Trang 26Tình hình dịch bệnh thương hàn tại Việt Nam
Từ năm 1993-1994 đã xảy ra 3 vụ dịch thương hàn lớn:
năm 1993 ở huyện An Minh, tỉnh Kiên giang với 2.459 ca mắc và 2 ca chết;
năm 1994 ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng với 520 ca mắc, không có
tử vong
và ở huyện Thủ đức, TP Hồ Chí Minh với 380 ca mắc, không có ca
chết
Lứa tuổi mắc nhiều nhất là dưới 15 tuổi (65,9-79,3%)
Bệnh xảy ra quanh năm, nhiều nhất vào tháng 7
Bệnh nhân người lớn đa số từ 16-30 tuổi (77,5%)
Trang 281993
Trang 291994
Trang 30VI Lâm sàng
Trang 31Phân ly mạch nhiệt
Nốt hồng
Trang 36Sốt kéo dài
Trang 38VII Xét nghiệm
Công thức máu: có giá trị định hướng
Giảm bạch cầu (3000 – 4000/mm3), thường là bạch cầu đa nhân trung tính
Hoặc bạch cầu bình thường
Bạch cầu tăng, gợi ý biến chứng thủng ruột
Hồng cầu và tiểu cầu giảm nhẹ
Phân lập vi trùng:
Cấy máu (+), nhất là trong tuần đầu, trước khi dùng kháng sinh Khi đã dùng kháng sinh cấy máu thường (-)
Cấy tủy xương (+) cao,
Cấy phân, nước tiểu (+), thực hiện ở tuần thứ 3 của bệnh, thường để theo dõi tình trạng mang trùng
Cấy hồng ban (thực tế ít làm)
Cấy dịch tá tràng (duodenal string test ) (+) cao
Trang 40HUYẾT THANH CHẨN ĐOÁN THƯƠNG HÀN
Widal test: sử dụng kháng nguyên O và H của S typhi khảo sát
agglutinating antibody kháng O (lipopolysaccharide) và H (flagellar
protein)
Ủ huyết thanh pha loãng 1/100 với KN 37 o C 1 giờ
Ly tâm và đọc kết quả ngưng kết
Giá trị của test Widal: (chuẩn cấy máu)
Khảo sát trên 1400 BN cấy máu có S typhi, 45 S paratyphi A, 600
ca chứng
vớùi cut-off O 200hoặc H 100
Sensitivity: 74% trường hợp Thương hàn lâm sàng cấy
máu dương tính
Có 14% trường hợp dương tính giả
Có 10% trường hợp âm tính giả
Kháng thể kháng H có tính đặc hiệu cao hơn O agglutinins
Giá trị cao của Kháng thể kháng H có giá trị chẩn đoán hơn O agglutinins
O 400 hoặc H 200: có đủ tin cậy để chẩn đoán thương hàn
Widal vẫn là một test chẩn đoán thương hàn có giá trị
nếu biện luận cẩn thận
Test in diagnosis of Typhoid Fever in Vietnam.”
J Clin Microbiol 37(9): 2882-6.)
Trang 41HUYẾT THANH CHẨN ĐOÁN THƯƠNG HÀN
Các kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh mới
IDL tubex test (khảo sát IgM O9 antibody)
Typhidot M (anti LPS IgM)
IgM dipstick test
ELISA Khảo sát IgA nước bọt
(khảo sát trên 29 BN cấy máu dương, 125 người khỏe mạnh tại Srilanka)
Trang 42VIII Điều trị
1 Nguyên tắc
Sử dụng kháng sinh nhạy cảm, tới nơi vi khuẩn
Điều trị phối hợp
Theo dõi và điều trị biến chứng
Điều trị người lành mang trùng
Chloramphenicol
TMP/SMZ
QuinolonesBetalactames
Azithromycine
Corticoides
Trang 43Phát hiện và điều trị biến chứng:
Theo dõi lâm sàng: thân nhiệt, mạch, huyết áp, nghe tim, xem phân, khám bụng
Xét nghiệm: kiểm tra huyết đồ, bạch cầu, dung tích hồng cầu, máu trong phân
Điều trị sớm xuất huyết ruột: xem có chỉ định truyền máu hay
không
Điều trị thủng ruột: điều trị nội khoa bảo tồn (hồi sức …), hoặc phẫu thuật
Điều trị người lành mang trùng:
Ciprofloxacin 500 mg, hoặc Norfloxacin 400 mg, uống 2 lần /ngày,
trong 4 tuần
Trang 453 Tiêm chủng
Đối với người ở vùng bệnh lưu hành, khi có dịch, xét nghiệm viên,
người tiếp xúc với người bệnh hoặc trong nhà có người lành mang trùng
TAB: vaccin cổ điển, nhiều tác dụng phụ, hiệu quả bảo vệ kém.
Typhim Vi: hiệu quả khoảng 70%, rất ít tác dụng phụ Tiêm bắp 1 liều
duy nhất 25g, có tác dụng bảo vệ trong 3 năm
Ty 21 a (Vivotif): bảo vệ khoảng 43-96%, giảm tác dụng phụ nhiều
Uống 3 liều 109 vi khuẩn trong 3 ngày liên tiếp Nhắc lại mỗi 5 năm (chống chỉ định ở trẻ em dưới 6 tuổi, người suy giảm miễn dịch, hoặc đang điều trị kháng sinh) Thời gian bảo vệ tối thiểu được 3 năm