Tiểu luận về bất bình đẳng giáo dục, trong việt nam hiện nay dưới cái nhìn cua công tác xã hội về công lý, công bằng trong xã hội hình thành hiện nay Trong quan điểm của Đảng nêu rõ “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, thấy được rằng vai trò của giáo dục là hết sức quan trọng trong quá trình phát triển con người và chiến lược phát triển đất nước. Trong bản Tuyên ngôn độc lập “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” (Minh 1945) nó được Hồ Chí Minh dịch từ bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nó thể hiện được rằng con người với con người là bình đẳng với nhau. Nhiệm vụ của quốc gia là làm cho người dân được bình đẳng với nhau, trong giáo dục dù có nhiều thành tích xong vẫn có hạn chế trong việc tiếp cận giáo dục của người dân và dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục.
Trang 1Viết bài luận về công bằng hoặc bất bình đẳng ( bất bình đẳng trong giáo dục)
Trong quan điểm của Đảng nêu rõ “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, thấy được rằng vai trò của giáo dục là hết sức quan trọng trong quá trình phát triển con người và chiến lược phát triển đất nước Trong bản Tuyên ngôn độc lập “Người ta sinh ra tự do
và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.”[ CITATION HồC45 \l 1066 ] nó được Hồ Chí Minh dịch từ bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nó thể hiện được rằng con người với con người là bình đẳng với nhau Nhiệm vụ của quốc gia là làm cho người dân được bình đẳng với nhau, trong giáo dục dù có nhiều thành tích xong vẫn có hạn chế trong việc tiếp cận giáo dục của người dân và dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục
“Bình đẳng trong giáo dục có thể hiểu là bình đẳng về cơ hội giáo dục, cơ hội học tập mà cụ thể nhất ở đây là bình đẳng về cơ hội đến trường của các nhóm xã hội”[CITATION Hùn15 \l 1066 ] Đầu tiên ta phải hiều về bất bình đẳng xã hội, “Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng về cơ hội xã hội giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội, sự không ngang bằng nhau về xã hội liên quan chặt chẽ đến sự không ngang bằng nhau về của cải, uy tín, quyền lực, giữa các cá nhân và nhóm”[CITATION Kho16 \l 1066 ] Nhưng bất bình đẳng giáo dục tiếp cận theo hai góc độ là “thứ nhất là bất bình đẳng về giáo dục là sự phân phối (phân chia) những thành tựu giáo dục đạt được cho các thành viên một cách ngẫu nhiên trong xã hội, theo góc độ này, bất bình đẳng về giáo dục được so sánh tương tự như bất bình đẳng về thu nhập Thứ hai, bất bình đẳng về giáo dục là sự phân phối những thành tựu giáo dục đạt được cho các thành viên theo những cơ sở xã hội khác nhau, có nghĩa là những người có cơ sở xã hội khác nhau sẽ nhận được những mức độ giáo dục khác nhau Ta có thể đo lường sự bất bình đẳng về giáo dục theo góc độ này thông qua chỉ số phân hóa (chỉ số chênh lệch) giữa các nhóm cơ sở khác nhau”[CITATION Hằn18 \l 1066 ] Tiếp cận theo hai góc độ giống với cách nhìn bất bình đẳng xã hội vì đều nhìn dưới hai hướng là cơ hội
và kết quả Vấn đề cả xã hội hiện nay là việc với nguồn lực kinh tế không đồng đều, cũng hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục của số đông người trong xã hội
Kết quả Tổng điều tra năm 2019 cho thấy, cả nước có khoảng 91,7% dân số trong
độ tuổi đi học phổ thông hiện đang đi học[ CITATION Tổn19 \l 1066 ] vậy là vẫn có
Trang 2khoảng 8,3% dân số trong độ tuổi đi học hiện đang không đi học Cũng theo báo cáo này thì tỉ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở cả nước giảm theo từng cấp học, ở tiểu học là 98%, THCS là 89,2% và với THPT là 68,3% Đồng nghĩa với việc bất bình đẳng cơ hội tăng dần theo từ cấp học.Khu vực sống ảnh hưởng tới cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân, ở khu vực kinh tế kém phát triển hon thì cơ hội càng hạn chế hơn, điều kiện văn hóa xã hội cũng tác động đến cơ hội của họ
Là quốc gia ảnh hưởng bởi Nho giáo với tinh thần “trọng nam kinh nữ” đó cũng
là yếu tố tạo nên sự bất bình đẳng giới ở Việt Nam từ đó mà cũng hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục của nữ giới Nhưng điều đó cũng được thay đổi “Tỷ lệ không đi học của dân số nữ thấp hơn dân số nam, tương ứng là 7,5% và 9,2%”[ CITATION Tổn19 \l
1066 ] Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2016 cho thấy trình học vấn của nữ giới đã thay đổi ngang bằng với nam giới hơn nhiều năm trước, thực tế là với trình độ đại học thì năm 2006 ở nữ giới là 3,8% nam giới là 5% năm 2016 tăng lên ở
nữ là 9,4% nam là 9,5%[ CITATION Tổn16 \l 1066 ] Điều kiện kinh tế là yếu tố quan trọng chỉ ra trọng, là tăng bất bình đẳng trong giáo dục là chênh lệch giàu nghèo Bất bình đẳng về tỉ lệ đi học đúng tuổi đại học giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất lên tới 88 lần: tỉ lệ nhập học đúng tuổi của nhóm giàu là 26,3% so với tỉ lệ nhập học đúng tuổi của nhóm nghèo là 0,3% Điều này có nghĩa là cứ 1 người xuất thân từ nhóm 20% nghèo nhất có cơ hội đến trường đại học thì có 87-88 người đến trường đại học xuất thân từ nhóm 20% giàu nhất.[CITATION Hùn15 \l 1066 ] Nhưng hiện nay có nhiều hiện tượng gian lận thi cử sử dụng quyền lực cá nhân lợi ích nhóm
để tăng cơ hội cho con cái mình, hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục của người khác Vụ
Trang 3gian lận kì thi trung học phổ thông 2018 diễn ra ở nhiều tỉnh thành phần lớn có sự góp mặt của các lãnh đạo cấp cao với những người được nâng điểm là con cái của họ và những người có tiền vào những trường đại học danh tiếng với điểm số cao, tạo nên sự bất công bằng
Thực tại chỉ ra bất bình đẳng trong giáo dục nó cũng có những nguyên nhân chủ yếu đều là sự không ngang bằng giữa các cá nhân và nhóm trong xã hội Với chủ yếu 4 nguyên nhân chính, thứ nhất kinh tế là nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến như kinh tế gia đình khó khăn, chi phí học cao, Thanh niên và gia đình của họ coi trọng cái lợi kinh tế trước mắt của việc bỏ học đi làm hơn là đầu tư đi học cao mà chưa chắc đã tìm được việc làm có thu nhập cao hơn[ CITATION HàT14 \l 1066 ] Thứ hai sự thiếu hụt
cơ sở hạ tầng, điều này có thể thấy rõ ở những vùng cao khi dân cư tập trung thưa thớt nên thiếu điểm trường cho các em học sinh, bản thân đối tượng hưởng giáo dục là người khuyết tật không thiếu cơ sở đào tạo Trường công lập vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong
hệ thống giáo dục, chưa có nhiều sự tham gia của các công ty tư nhân Các sở hiện nay chỉ mới tập trung vào dậy khoa học cơ bản mà thuyết nhưng trường học đào tạo nghệ thuật, thể thao tăng cường trao cơ hội cho người học Thứ ba là trình độ nhận thức của cộng đồng, ở đây có thể nói tới là quan niệm người cộng đồng tộc người về việc học ví
dụ tục tảo hôn của người H’mông, trình độ nhận thức của cha mẹ về sự cần thiết của trình độ học vấn Nhiều cha mẹ nghĩ rằng con gái không cần học cao chỉ cần học hết cấp ba thôi đi lấy chồng chăm sóc sự nghiệp nhà chồng là được rồi, hoặc do thấy nhiều người học cao mà cũng vẫn thất nghiệp nên khuyên con mình không cần học cao mà nên đi lao động kiếm tiền đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều nơi Thứ tư là về chính sách của nhà nước tiếp cận được người học tạo việc làm cho người học sau khi học và
sự bảo đảm chất lượng giáo dục khiến người học mất niềm tin
Với việc không được bất bình đẳng trong giáo dục có thể tạo nên những vấn đề như việc hạn chế sự phát triền của mỗi cá nhân, có thể làm thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao Trên hết việc thiếu cơ hội tiếp cận giáo dục như nhau có thể làm nhiều người không được đi học mù chữ, gia tăng tình trạng đói nghèo
Để giải quyết vấn đề này ta cần đưa ra nhưng nó về vấn đề cốt lõi là bất bình đẳng bản thân nó có liên quan mật thiết đến kinh tế, quyền lực và năng lực cá nhân Bản thân kinh tế chúng ta có nhóm giải pháp để giai tăng cơ hội cho nhóm không thể
Trang 4tiếp cận vì lý do kinh tế Xây dựng chính sách hỗ trợ kinh tế cho những đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ trợ vay vốn lãi xuất thấp, học nhà nước có thể thiết lập việc miễn giảm học phí các bậc học phổ thông để tăng cường tiếp cận thành viên trong xã hội
Về vấn đề cơ sở hạ tầng đặc biệt là vùng cao với địa hình khó khăn thiếu thốn nguồn nhân lực để vận hành thì cần phải đưa ra xây dựng chiến lược ổn định với người dân tộc thiểu số thuộc vùng cao Về cơ sở cho các đối tượng thuộc trường năng khiếu thì cần phải tạo cơ hội cho họ học tiếp với tài năng của mình, có thể thay vì thi đại học bằng những môn cơ bản có thể thay thế bằng môn năng khiếu như phù hợp với người học Có nhiều buổi tuyên truyền đối với các bậc phụ huynh để họ thấy được lợi ích của việc đưa trẻ đến trường Trên hết là cơ chế việc làm đối với người học, phân loại người học nếu không thể học lên cao thì có thể thay thế bằng học nghề tạo cơ hội việc làm tốt hơn với người học Vấn đề quan tâm trên hết là tạo nên môi trường bình đẳng với các
cá nhân khi với điều kiện ngang bằng nhau đều có thể tiếp cận những điều kiện như nhau
Trên hết có nhiều sự nhầm lẫn giữa việc công bằng và bình đẳng Bình đẳng là việc chúng ta có xuất phát giống nhau, đối xử như nhau Công bằng là nói đến kết quả
sự cống hiến, những yếu tố thiên về phấn đấu và năng lực bản thân Bạn không thể đồng nhất công bằng và bình đẳng với nhau vì bản thân việc đó là bất công bằng Chỉ
có thể đồng nhất khi chúng ta giới hạn các tiêu chí lại vì bản thân mỗi cá nhân sinh ra đều có sự khác biệt về thể chất, gia thế năng lực cá nhân Ngay từ ban đầu chúng ta sinh ra đã bất bình đẳng rồi, chỉ có thể là hạn chế sự bất bình đẳng trong giáo dục mới làm cho chúng ta tiến nhanh hơn tới sự công bằng của mỗi cá nhân
Trên hết bất bình đẳng về giáo dục chú trọng tới việc hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục của các cá nhân trong xã hội Giáo dục là vấn đề cốt lõi nếu giải quyết bất bình đẳng tốt thì có thể là gia tăng chất lượng giáo dục quốc gia và trình độ dân trí Nhưng
nó cũng đặt ra thách thức khi có chúng ta gia tăng cơ hội khi tăng tỉ lệ tiếp cận giáo dục các bậc đại học lên mà không có kiểm soát chất lượng sẽ hạn chế chất lượng nguồn nhân lực gây hiệu ứng ngược trong xã hội Có nhiều người có bằng cấp cao mà không có việc làm dân đến không có nhiều người học lên cao nữa sẽ rơi vào vong lặp của bất bình đẳng trong giáo dục
Trang 5Tài liệu tham khảo
1Hà, Trần Thị Thái, and Ngô Thị Thanh Tùng 2014 Mối quan hệ giữa thực trạng
giáo dục của thanh niên nông thôn và lựa chọn tiếp cận giáo dục của hộ gia đình Vol 30 3 vols VNU Journal of Science: Education Research.
2Hằng, Nguyễn Thị 2018 Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của vấn đề bất bình
đẳng về giáo dục ở việt nam qua một số nghiên cứu Vol 6 Tạp chí Giáo dục.
học,
3 Khoa xã hội 2016 Giáo trình Xã hội học đại cương Đại học quốc gia Hà Nội.
4 Hùng, Lê Ngọc 2016 Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở Việt Nam 1 vols Tạp
chí khoa học xã hội
5 Minh, Hồ Chí 1945 Tuyên ngôn độc lâp
6 Tổng cục thống kê 2019 Báo cáo sơ bộ về điều tra dân số 2019
7 — 2016 Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam