Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ; tạo điều kiện cho phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện tham gia vào các hoạt động chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ NGỌC MAI
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở THỊ XÃ TAM ĐIỆP – TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Công tác xã hội
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ NGỌC MAI
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở THỊ XÃ TAM ĐIỆP – TỈNH NINH BÌNH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Minh Ngọc
Hà Nội-2013
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC HỘP, BẢNG BIỂU 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 17
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 18
5 Phạm vi nghiên cứu 18
6 Câu hỏi nghiên cứu 19
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 19
8 Giả thuyết nghiên cứu 19
9 Phương pháp nghiên cứu 20
10 Kết cấu của đề tài 21
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 22
1.1 Các khái niệm cơ bản 22
1.1.1 Giới, vai trò giới 22
1.1.2 Bình đẳng giới 23
1.1.3 Bất bình đẳng giới 24
1.1.4 Bất bình đẳng giới trong lao động 24
1.1.5 Vai trò công tác xã hội 25
1.1.6 Vai trò của công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động 27
1.1.7 Công tác xã hội nhóm 28
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong lĩnh vực hỗ trợ bình đẳng giới trong lao động 28
1.2.1 Một số lý thuyết về giới và phát triển 28
1.2.2 Một số quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới 31
Trang 41.3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu – Thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình 37
1.3.3 Tổng quan về công ty giầy da Adora 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở THỊ XÃ TAM ĐIỆP – TỈNH NINH BÌNH 43
2.1 Bất bình đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp hiện nay tại thị xã Tam Điệp – tỉnh Ninh Bình 43
2.1.1 Bất bình đẳng giới về lao động trong tuyển dụng lao động 43
2.1.2 Bất bình đẳng giới về lao động trong thu nhập 45
2.1.3 Bất bình đẳng giới và khả năng di động xã hội 48
2.1.4 Bất bình đẳng giới trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội 49
2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trong lao động tại địa phương 50
2.2.1 Yếu tố văn hóa truyền thống 55
2.2.2 Quan niệm, nhận thức của người lao động 57
2.2.3 Môi trường chính sách liên quan đến lao động và vấn đề giới 59
2.2.4 Yếu tố giáo dục – truyền thông 60
2.3 Hiệu quả thực hiện các chính sách, biện pháp nhằm giảm thiểu tình tra ̣ng bất bình đẳng giới trong lao đô ̣ng cho phu ̣ nữ tại địa phương 62
2.3.1 Các chính sách, biện pháp đã thực hiện 50
2.3.2 Kết quả của các chính sách, biện pháp đã thực hiện 52
2.3.3 Hạn chế của các chính sách, biện pháp đã thực hiện 53
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở THỊ XÃ TAM ĐIỆP – TỈNH NINH BÌNH TỪ GÓC NHÌN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI 65
3.1 Đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp - tỉnh Ninh Bình 65
3.1.1 Tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông 65
Trang 53.1.2 Thúc đẩy giáo dục, cơ hội tiếp cận giáo dục góp phần giảm bất bình đẳng
trong lao động 66
3.1.3 Phát triển cơ cấu ngành nghề hợp lý 67
3.1.4 Nâng cao chuyên môn, tay nghề lao động 68
3.1.5 Tăng cường hoạt động chăm sóc sức khoẻ và an toàn lao động cho phụ nữ 69
3.1.6 Chính quyền thị xã cần rà soát lại các chính sách và hệ thống luật pháp 70
3.1.7 Tích cực vận dụng các phương pháp, kỹ năng của công tác xã hội trong việc triển khai, thực hiện các hoạt động nhằm hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới 71
3.2 Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc giải quyết vấn đề 71 3.2.1 Vai trò của công tác xã hội trong doanh nghiệp 71
3.2.2 Nội dung thực hiện phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc giải quyết vấn đề 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BBĐG Bất bình đẳng giới
CBXH Công bằng xã hội
CTXH Công tác xã hội
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
ILO Tổ chức lao động quốc tế (International labour Organization) NCFAW Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ
TBCN Tư bản chủ nghĩa
TBXH Tiến bộ xã hội
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TTKT Tăng trưởng kinh tế
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC HỘP, BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Dân số trung bình các năm phân theo giới tính và
phân theo thành thị, nông thôn (Đơn vị: người) 37
2 Bảng 1.2: Nguồn lao động (Đơn vị: người) 38
3 Hộp 2.1: Tuyển nhân viên: Nhà máy xi măng Tam Điệp 43
4
Bảng 2.1: Tỷ lệ người đang làm việc từ 15 tuổi trở lên theo
cấp độ đào tạo và giới (%) 44
5 Bảng 2.2: Loại công việc theo giới (%) 45
6
Bảng 2.3: Tỷ lệ người đang làm việc từ 15 tuổi trở lên theo
cấp độ đào tạo về giới (%) 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bình đẳng giới một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S.Phuriê đã nhận định: trình độ giải phóng phụ nữ là thước
đo trình độ phát triển của xã hội Luận điểm này tiếp tục được khẳng định trong học thuyết Mác – Lênin ngay từ khi nó ra đời và được phát triển ở trình
độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo Những quan điểm trên đã cổ vũ cho nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ, trở thành một trong những mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới trước đây
và cho tới hiện nay Chính vì vậy từ giữa những năm 1980 đến nay, bình đẳng giới là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như quản lý trên thế giới và lĩnh vực này đã đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ Trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng được thu hút vào các hoạt động của xã hội, trong phạm vi gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử, tư tưởng trọng nam kinh
nữ, áp lực công việc gia đình, những định kiến có tính chất bất công đối với phụ nữ vẫn đang tồn tại ở những mức độ khác nhau trong nhiều quốc gia, khu vực Đặc biệt đối với các nước đang phát triển thì khoảng cách bất bình đẳng giới đang còn khá lớn, hạn chế khả năng đóng góp của mỗi giới vào sự phát triển nói chung làm ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững Ở Việt Nam, tư tưởng về bình đẳng giới đã có ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và được thể hiện trong văn kiện đầu tiên của Đảng Trong Chính cương vắn tắt của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố thực hiện nguyên tắc
“nam nữ bình quyền” Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khẳng định: phụ nữ và nam giới được bình đẳng với nhau trên mọi
phương diện Hơn 80 năm qua, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được Đảng,
Trang 9Nhà nước tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện một cách triệt để Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ; tạo điều kiện cho phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện
tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Bình đẳng
giới trở thành mục tiêu của sự phát triển đồng thời cũng trở thành vấn đề trung tâm của phát triển, và là một trong những mục tiêu tăng trưởng của Quốc gia, xoá đói giảm nghèo và quản lý Nhà nước có hiệu quả.[12]
Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan lieu bao cấp sang
cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc hình thành và phát triển nhiều thành phần kinh tế, việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã tạo ra những thuận lợi, mở ra những cơ hội cho sự phát triển của lực lượng lao động nói chung, lao động nữ nói riêng, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đối với lực lượng này, làm cho khoảng cách bất bình đẳng giới trong lao động có xu hướng gia tăng nhanh Do những hạn chế về trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp nên phụ nữ thường gặp khó khăn trong lựa chọn nghề nghiệp, thu nhập và cơ hội thăng tiến Mức thu nhập bình quân thấp hơn nhiều so với nam giới cùng làm một công việc với trình độ như nhau Lao động nữ chủ yếu tập trung trong những ngành đòi hỏi kỹ năng lao động ở mức thấp, nặng nhọc, thu nhập thấp Có khoảng 70% lao động nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Trong những lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghiệp những ngành có lợi thế trong nền kinh tế thị trường phụ nữ được đào tạo chuyên môn chỉ có 27,3% Phụ nữ còn gánh nặng công việc gia đình, sinh
đẻ và chăm sóc con cái nên ít có cơ hội cạnh tranh trên thị trường lao động, không có thời gian trau dồi kiến thức kỹ năng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn Để có thể thăng tiến chị em phải cố gắng gấp 3-4 lần nam giới
Trang 10bởi quan niệm chung cho rằng phụ nữ năng lực có hạn, hơn nữa còn phải mang thai, sinh đẻ, nuôi con…
Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của phụ nữ nói riêng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn xã hội về kinh tế- văn hoá- chính trị… Đặc biệt, sự bất bình đẳng trong lao động sẽ dẫn đến những bất công xã hội, sự phân biệt đối xử giới, sự phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo Do vậy, thực hiện bình đẳng giới trong lao động nhằm tạo điều kiện để phụ nữ được hưởng các quyền cơ bản của mình, tham gia và hưởng thụ một cách bình đẳng và đầy đủ trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đang trở thành mục tiêu được quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước hiện nay
Thị xã Tam Điệp - tỉnh Ninh Bình là một thị xã công nghiệp trẻ với những đặc điểm điển hình của vùng đồi núi, người trong độ tuổi lao động chiếm 68% dân số Phần lớn lao động nữ còn gặp nhiều khó khăn trong kiếm việc làm và chịu nhiều bất bình đẳng trong thu nhập so với lao động nam Thậm chí, việc thực hiện luật bình đẳng giới trong các ngành, các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân còn gặp nhiều khó khăn Trên thực tế, chưa có những đánh giá chuyên sâu, giúp việc tổ chức thực hiện luật bình đẳng giới ở Ninh Bình có hiệu quả Chính vì vậy, việc nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng giới trên nhiều phương diện, nhất là trong phân công lao động theo giới cần được xem xét, đánh giá một cách khách quan, nghiêm túc, cần nhận diện đúng nguyên nhân, đề xuất giải pháp đột phá, khả thi nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương bình đẳng giới mà đảng ta đã khởi xướng trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, tạo cơ hội bình đẳng và điều kiện giúp phụ nữ và nam giới có việc làm và thu nhập chính đáng, vươn lên khẳng định vị thế của mình trong kinh tế, xã hội
Trang 11Xuất phát từ các lí do trên, tôi quyết định chọn vấn đề : "Vai trò của
công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp ở thị
xã Tam Điệp - tỉnh Ninh Bình" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng Trong giai đoạn hiện nay, thúc đẩy bình đẳng giới từ góc độ phân công lao động theo giới là vấn đề hết sức quan trọng góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững
Việc nghiên cứu phân công lao động theo giới là loại hình phân công lao động xã hội xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Phản ánh bản chất quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới cũng như trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của các xã hội khác nhau
Trong thập kỷ vừa qua, đã có khá nhiều nhà tư tưởng và nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng như nhiều công trình nghiên cứu quan tâm bàn luận vấn đề phân công lao động theo giới trên phương diện giải phóng phụ nữ Tiêu biểu là những công trình nghiên cứu sau:
Công trình "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" của Engels (1884) là một trong những nghiên cứu về phân công lao động theo giới sớm nhất Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử, Engels đã mô
tả sự phân công lao động theo giới gắn liền với sự tồn tại của hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, các kiểu hôn nhân và gia đình khác nhau Theo đó, địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới đã thay đổi khi có sự thay đổi
về quan hệ đối với tư liệu sản xuất, về kỹ thuật cũng như hình thái hôn nhân
và gia đình
Một trong những công trình nghiên cứu khác được nhiều người biết đến
Trang 12Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh) Trong tác phẩm này, tác giả đã giải thích các nguyên nhân dẫn đến "địa vị hạng hai" của phụ nữ Bà khẳng định rằng phụ nữ phải đảm nhận phần lớn các công việc nội trợ Phụ nữ càng làm việc thì quyền lợi của họ càng thấp kém Từ đó, bà lên tiếng bênh vực cho quyền lợi của họ và đấu tranh nhằm xoá bỏ tình trạng bất bình đẳng nam -
nữ trên thế giới [34]
Nghiên cứu của E Boserup với tiêu đề "Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế" (1970) đã làm thay đổi nhận thức về phân công lao động theo giới của con người "Lần đầu tiên Boserup đã xác định một cách có hệ thống
và ở phạm vi toàn thế giới sự phân công lao động theo giới trong các nền kinh
tế nông nghiệp" [30, tr.45] Những khám phá của bà đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa bức tranh về phân công lao động theo giới thông qua việc phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của lao động nữ trong các nước thuộc thế giới thứ ba, đặc biệt là trong sản xuất lương thực, thực phẩm cho toàn thế giới
Vào thập kỷ 90, Carolin O.N Moser đã cho ra đời tác phẩm "Kế hoạch hoá về giới và phát triển - lý thuyết, thực hành và huấn luyện" (theo bản dịch của Nguyễn Thị Hiên) Cuốn sách này không chỉ cung cấp những khái niệm then chốt có liên quan đến phân công lao động theo giới và các công cụ phân tích và lập kế hoạch về giới trong các chương trình phát triển mà còn chỉ ra thực trạng phân công lao động theo giới ở nhiều xã hội khác nhau Không những thế, như trong lời giới thiệu của cuốn sách dịch sang tiếng việt: "mục đích của kế hoạch hoá giới là giải phóng phụ nữ khỏi vị thế yếu kém, phục tùng của họ và đạt đến công bằng, bình đẳng và có quyền" [29, tr.1]
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và Nhà nước ta ngay từ những ngày đầu của cách mạng đã quan tâm đến vấn đề này, coi việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài
xã hội, thực hiện bình đẳng nam nữ là một nội dung của cách mạng xã hội chủ
Trang 13nghĩa Cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tâm huyết của các nhà khoa học, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề giới, bình đẳng giới đã được đặt ra để xem xét và đề ra những biện pháp giải quyết
Đã có không ít những nghiên cứu thực hiện với chủ đề phân công lao động trong công việc nội trợ, như Lê Tiêu La & Lê Ngọc Hùng (1998), Vũ Tuấn Huy & Deboran S (2000), Nguyễn Linh Khiếu (2002), Vũ Mạnh Lợi (2004), Lê Ngọc Văn (2004) Các nghiên cứu này có chung một nhận định là phụ nữ vẫn là người đảm nhiệm chính công việc nội trợ trong gia đình Nhìn chung, trong các nghiên cứu phân tích về gia đình, các tác giả trên đã chú ý phân tích khía cạnh giới trong gia đình, bởi vì giới là chủ đề quan trọng không chỉ trong đời sống gia đình - xã hội, trong nghiên cứu phụ nữ, nghiên cứu giới
mà còn được xem là nội dung cơ bản của nghiên cứu xã hội học Khía cạnh giới trong phân công lao động, tác giả Vũ Tuấn Huy (1997) với nghiên cứu của mình cho rằng: trong hầu hết những công việc của nhà nông, phụ nữ hầu như tham gia chủ yếu trong mọi công việc khía cạnh về bất bình đẳng giới hiện nay của phân công lao động không chỉ về phương diện đánh giá vai trò của phụ nữ trong việc nâng cao thu nhập hộ gia đình ở nông thôn mà cả ở khả năng di động trong các nhóm xã hội và nghề nghiệp Thực tế, tham gia lao động của phụ nữ trong phân công lao động sẽ là điều kiện để ổn định tương đối của gia đình
Quan tâm đến mô hình sống, mối quan hệ trong gia đình; vai trò của người chồng, người cha, vị thế của người phụ nữ; vai trò của gia đình trong vấn đề giải quyết việc làm cho con cái, các tác giả Lê Mạnh Năm (2000), Vũ Tuấn Huy (2002), Nguyễn Linh Khiếu (2002), Mai Quỳnh Nam (2004), Đặng Thị Hoa (2009) đã có những phân tích khá chi tiết và cụ thể về vấn đề mình quan tâm Tác giả Nguyễn Linh Khiếu (2002) trong nghiên cứu vị thế của
Trang 14vai trò là người làm chính các công việc sản xuất kinh doanh nhưng người chồng vẫn là người quyết định chính các công việc này Quyền quyết định các khoản chi tiêu, số con trong gia đình thì cả hai vợ chồng cùng quyết định, chiếm tỷ lệ cao nhất Vai trò, vị thế của người phụ nữ mặc dù đã có cải thiện
so với trước đây nhưng về cơ bản vẫn chưa tương xứng với vai trò thực sự của họ
Bên cạnh đó, có thể kể đến một số công trình khác như:"Phụ nữ Việt Nam: việc làm, thu nhập, sự nghèo khổ Một vài quan điểm xem xét từ góc độ giới" của Lê Thi (1990) cho thấy thực trạng lao động nặng nhọc nhưng thu nhập thấp, mức sống thấp của phần lớn phụ nữ thế giới và ở nước ta hiện nay
Từ đó, tác giả đưa ra một số định hướng về tạo việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống của phụ nữ Tác giả Đào Thế Tuấn trong nghiên cứu có nhan
đề "Phụ nữ trong kinh tế hộ nông dân" (1992) cho rằng cần phải thay đổi kiểu phân công lao động theo giới hiện tại để giảm gánh nặng công việc và nâng cao địa vị xã hội của người phụ nữ Với tiêu đề "Khoán 10 với đời sống phụ
nữ miền núi" (1993), tác giả Nguyễn Phương Thảo với cách nhìn tổng quan
về tác động của Nghị quyết 10 đối với cộng đồng miền núi đã chỉ ra rằng phụ
nữ miền núi là người giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất nhưng họ là người chịu nhiều thiệt thòi và có địa vị xã hội thấp hơn nam giới Tác giả Lê Thị Quý với đề tài: "Vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" (1994) đã cho thấy cường độ lao động quá cao của phụ nữ dưới tác động của cơn lốc thị trường để mưu sinh và những mặt trái của thực trạng ấy Với "Vấn
đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La, Lai Châu hiện nay" tác giả cũng
đề cập khá rõ nét về mối quan hệ giới của các dân tộc ít người ở địa phương thông qua phân công lao động theo giới, địa vị xã hội của phụ nữ và việc thực hiện chính sách bình đẳng giới ở địa phương Tác giả Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn (2005) với công trình "Phân công và hợp tác lao động theo giới
Trang 15trong phát triển hộ gia đình và cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam hiện nay - thực trạng và xu hướng biến đổi" đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở cộng đồng ven biển trong đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, nội trợ, v.v Ảnh hưởng của giới tính, tuổi, học vấn, dân tộc, tôn giáo đến phân công lao động theo giới cũng được làm rõ Đề tài
"Một số khía cạnh giới của cộng đồng dân tộc Cơ Tu, huyện Nam Đông, Tỉnh Thừa Thiên Huế" (2005) của Lê Thị Kim Lan đã đề cập một số nét về mô hình phân công lao động giữa phụ nữ và nam giới Cơ Tu trong sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng cũng như sự bất bình đẳng nam nữ trong cộng đồng dân tộc ít người này
Đề tài "Phân công lao động theo giới của người nông dân" (1997) của tác giả Lê Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở khu vực nông thôn trong thời kỳ kinh tế thị trường Với xu thế nam giới được khuyến khích chuyển sang các hoạt động thu nhập tiền mặt, phụ nữ gắn liền với công việc tái sản xuất và sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của gia đình Sự phân công lao động ấy đã tạo ra sự bất lợi cho phụ nữ trong nâng cao học vấn, sức khoẻ và trình độ học vấn của họ Nghiên cứu "Về sự phân công lao động
ở các gia đình phụ nữ nghèo miền Trung" của Bùi Thị Thanh Hà (1997) đã chỉ ra rằng trong gia đình phụ nữ nghèo, phụ nữ đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong công việc gia đình mà còn cả trong công việc sản xuất ngoài đồng ruộng mặc dầu nam giới có sự chia sẻ ở mức độ nhất định Với tiêu đề "gia đình phụ nữ nghèo: Phân công lao động và mối quan hệ giữa các thành viên" (1997), tác giả Ngô Thị Ngọc Anh đã khảo sát 500 phụ nữ nghèo thành thị và chứng minh rằng họ là những người trụ cột trong công việc nuôi sống gia đình và các công việc nội trợ, chăm sóc và nuôi dạy con cái
TS Trần Thị Thu (2003) “Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ
Trang 16động xã hội, Hà Nội Cuốn sách đã chỉ ra, trong thời kỳ đổi mới đất nước đã
và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm cho lao động nữ trong các khu vực kinh
tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao động nữ
Đề tài “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và
một số gợi ý giải pháp chính sách” của ThS Nguyễn Thị Nguyệt, Bộ Kế
hoạch đầu tư – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương Nghiên cứu này chủ yếu đi sâu tìm hiểu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam, và gợi ý một số giải pháp về chính sách
Báo cáo “Bất bình đẳng thu nhập và tài sản ở Việt Nam” của Ngân
hàng phát triển Châu Á (ADB) Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của những qui định về lao động và tiền lương hiện hành ảnh hưởng đến chênh lệch về tài sản ở việt Nam Nghiên cứu này cũng xác định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới, và ảnh hưởng tiềm năng của các qui định về lương và lao động đến người nghèo
Nghiên cứu Những yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong phân
công thực hiện công việc nội trợ giữa vợ - chồng của Th.s Trương Thu Trang
(Thông tin khoa học xã hội số 4.2008) đi sâu nghiên cứu thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ, và phân tích những yếu tố dẫn đến thực trạng đó
Tóm lại, cho đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về sự phân công lao động theo giới, các hướng nghiên cứu chính chủ yếu đề cập đến yếu tố thu nhập, hoặc phân công lao động theo giới chỉ trong phạm vi gia đình và tìm hiểu những yếu tố văn hoá, xã hội, tộc người ảnh hưởng đến địa vị phụ nữ và nam giới trong gia đình; sự biến đổi cấu trúc, chức năng, vai trò, các mối quan
hệ gia đình cho tới các khía cạnh cụ thể Trên thực tế, còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu đề cập đến bất bình đẳng giới trong lao động ở các doanh
Trang 17nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, trên các bình diện sản xuất, nghề nghiệp…Do vậy, khó đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động trong đó có các yếu
tố phi kinh tế, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đến sự bất bình đẳng giới trong lao động Hơn nữa, công tác xã hội trong lĩnh vực giới và phát triển là một lĩnh vực mới và có tầm ảnh hưởng lớn Việc nghiên cứu và vận dụng phương pháp công tác xã hội nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động và nâng cao vị thế người phụ nữ là rất quan trọng và cần thiết Tuy nhiên do công tác xã hội mới bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam, nên hiện nay vẫn chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu của công tác xã hội về vấn đề bình đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để vận dụng được các phương pháp của công tác xã hội vào hỗ trợ, giải quyết việc bất bình đẳng trong lao động ở Việt Nam nói chung, cũng như ở các doanh nghiệp tại địa bàn thị xã Tam Điệp – Ninh Bình nói riêng Thách thức đặt ra cho những nhà lãnh đạo, quản lý xã hội và những cán bộ làm công tác xã hội hiện nay là làm thế nào
để cải thiện và nâng cao địa vị người phụ nũ trong lao động ở gia đình và xã
hội Cho nên, việc nghiên cứu vấn đề: "Vai trò của công tác xã hội về bình
đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp - tỉnh Ninh Bình" góp phần giải đáp các khoảng trống trong lý luận và thực tiễn công tác
xã hội về thực hiện luật bình đẳng giới Đề tài đã nhằm vào vấn đề có ý nghĩa
lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Bước đầu hệ thống hoá cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Đề xuất hướng tiếp cận và phương pháp công tác xã hội nhóm về vấn
đề bất bình đẳng giới trong lao động
Trang 18Tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để tổ chức thực hành công tác xã hội nhóm với vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phong phú giúp nhân viên công tác xã hội có nhận thức đúng, có thái độ tích cực, có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lao động tại địa phương, góp phần đem lại những thay đổi tích cực, hiệu quả, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp
4.2 Khách thể nghiên cứu
Người lao động tại 2 doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Tam Điệp
Các cấp lãnh đạo, nhà tuyển dụng lao động của 2 doanh nghiệp tại địa phương
Các ban ngành, đoàn thể có liên quan như: Hội phụ nữ thị xã, Phòng Lao động Thương binh xã hội, tổ chức Công đoàn của các doanh nghiệp
5 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Bất bình đẳng giới được biểu hiện trong nhiều
lĩnh vực (kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế ) Tuy nhiên, do điều kiện thời gian
và tài liệu có hạn đề tài chỉ tập trung nghiên cứ u vai trò của công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động tại 2 doanh nghiệp
- Giới hạn về thời gian: Từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 7 năm 2013
Trang 19- Giới hạn về không gian: Khảo sát tại phân xưởng thành phẩm và phân
xưởng chuẩn bị liệu của Nhà máy Xi măng Tam Điệp; phân xưởng sản xuất
đế giầy và phòng tiêu thụ của Công ty giày Adora
6 Câu hỏi nghiên cứu
Vai trò của công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp, Ninh Bình đang diễn ra như thế nào? Làm thế nào để vận dụng lý thuyết công tác xã hội vào việc đề xuất biện pháp tích cực can thiệp giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới tại thị xã Tam Điệp – tỉnh Ninh Bình
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực tra ̣ng vai trò của CTXH về bình đẳng giới trong lao đô ̣ng tại các doanh nghi ệp ở thị xã Tam Đi ệp – Ninh Bình, chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng và dự báo xu hướng biến đổi Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp công tác xã hô ̣i nhằm tr ợ giúp, giảm thiểu tình trạng b ất bình đẳng giới trong lao đô ̣ng tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp – tỉnh Ninh Bình
7.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu;
- Nghiên cứu thực trạng bất bình đẳng giới trong lao động ta ̣i các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điêp – Ninh Bình Chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng và dự báo xu hướng biến đổi bình đẳng giới trong lao động;
- Đề xuất giải pháp và mô hình can thiệp của Công tác xã h ội nhóm trong viê ̣c trợ giúp, kiểm soát, cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động cho phụ nữ tại thị xã Tam Điệp – Ninh Bình
8 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động tại các
doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp – Ninh Bình đang diễn ra khá phổ biến với
Trang 20Giả thuyết 2: Trong các doanh nghiệp tại thị xã Tam Điệp còn thiếu
vắng vai trò cuả công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động
Giả thuyết 3: Mô hình sinh hoạt câu lạc bộ về sự tiến bộ phụ nữ có thể trợ
giúp, kiểm soát tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động tại các doanh nghiệp
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp phân tích tài liệu
- Thu thập, tổng hợp các tài liệu: Văn kiện đại hội Đảng, luật bình đẳng giới, báo cáo của thị xã Tam Điệp – Ninh Bình, báo cáo của phòng thống kê
và phòng lao động thương binh và xã hội thị xã, báo cáo của các doanh nghiệp, các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước; các bài viết đăng trên các báo, tạp chí cũng như các sách, kỷ yếu khoa học đã được công bố và các văn bản, tài liệu của các ngành có liên quan
9.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến dùng bảng hỏi
Phương pháp áp dụng hỏi những nhà quản lý nhân sự, người lao động tại 2 doanh nghiệp nhằm đưa ra được những số liệu về thực trạng, nguyên nhân vấn đề bất bình đẳng giới trong lao động, qua đó thống kê những nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục hậu quả
Tiến hành điều tra với 220 phiếu hỏi, bao gồm 20 phiếu hỏi dành cho
bộ phận quản lý nhân sự của 2 doanh nghiệp và 200 phiếu hỏi dành cho người lao động tại 2 doanh nghệp
9.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu dùng để phỏng vấn những người làm công tác tuyển dụng, quản lý, chính sách và chính những người lao động để có thể nắm bắt được rõ hơn điều kiện về hoàn cảnh, văn hoá, truyền thống và đưa ra những kết luận về tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động
Thực hiện 20 phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn bao gồm:
Cán bộ phòng lao động thương binh và xã hội thị xã Tam Điệp
Trang 21Phòng tổ chức – hành chính – quản trị của 2 doanh nghiệp
Ban giám đốc, tổ chức Công đoàn 2 doanh nghiệp
Người lao động tại 2 doanh nghiệp
9.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến tư vấn của các chuyên gia, các thầy/cô giáo, các nhà hoạch định chính sách, các nhà công tác xã hội
10 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng vai trò của công tác xã hội về bình đẳng giới
trong lao động tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp – Ninh Bình
Chương 3: Một số biện pháp hạn chế tình trạng bất bình đẳng giới
trong lao động tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp – Ninh Bình từ góc nhìn của công tác xã hội
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Giới, vai trò giới
1.1.1.1 Giới
Có những quan niệm khác nhau về giới, như một số định nghĩa sau đây:
“Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa
vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ
Vậy giới là gì? Nói đến giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi
mà xã hội quy định cho người nam và người nữ Bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia nguồn lợi và tương quan về địa vị xã hội của nam giới và nữ giới trong một bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể Thuật ngữ giới đề cập đến những đặc tính và cơ hội về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lý gắn với việc là phụ nữ hay nam giới
1.1.1.2 Vai trò giới
Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam
và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là
Trang 23thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong
một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó [4; 12]
Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau:Vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng
Bình đẳng giới: Là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
(Điều 5, Luật Bình đẳng giới)
Khi bàn về bình đẳng giới, chú ý đến phân biệt các cấp độ khác nhau Ở đây chủ yếu nói về hai cấp độ chính là bình đẳng trên văn bản và bình đẳng thực tế Hai cấp độ này đều có tầm quan trọng riêng và bổ sung cho nhau Bình đẳng trên văn bản có nghĩa là các nguyên tắc bình đẳng ghi nhận trong pháp lý Nó có phạm vi tác động rộng lớn lâu dài Bình đẳng trên thực tế là kết quả đạt được của việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng ghi nhận ở văn bản pháp lý Bình đẳng trên thực tế là lợi ích phụ nữ được hưởng trên cơ sở bình quyền với nam giới Tuy vậy, những lợi ích thiết thực này thường biến động do tác động của nhiều yếu tố trong đó nổi bật là tình hình phát triển kinh
tế xã hội và hiệu quả giám sát của thực hiện các chủ trương
Trang 241.1.3 Bất bình đẳng giới
Sự bất bình đẳng đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức trong cuộc sống Theo ILO thì bất cứ sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội mà có ảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và nghề nghiệp thì được coi là có sự bất bình đẳng
Như vậy, bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người,
đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước.[11; 52]
Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội
Trên thực tế có thể thấy có sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng giới ở hầu hết các xã hội Sự phân biệt đối xử thường được thấy ở bốn lĩnh vực là: lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận với các cơ hội kinh tế (VD: tham gia vào thị trường lao động, thu nhập) và tham gia vào lãnh đạo và tham chính Sự phân biệt đối xử này xuất phát từ quan niệm dập khuôn cho rằng phụ nữ có ít quyền tự quyết hơn, có ít nguồn lực để sử dụng hơn và có ít ảnh hưởng đối với quá trình ra quyết định có liên quan tới xã hội và cuộc sống riêng của họ Nó đặt người phụ nữ vào một vị trí phải phục tùng và bất lợi so với nam giới
1.1.4 Bất bình đẳng giới trong lao động
Bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt trên cơ sở giới tính mà sự phân biệt này ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển của con người Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận
Trang 25các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ [11; 55]
1.1.5 Vai trò công tác xã hội
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đê xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đê gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững.[13;10]
Vai trò của CTXH là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội
Để đạt được các điều này, ngành CTXH phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, ví dụ như tùy thuộc vào nhu cầu của người nhận dịch vụ và nguồn lực có được, cũng như tùy vào vai trò cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức mà NVCTXH sẽ phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp NVCTXH có thể làm việc trong các cơ quan nhà nước ở các cấp, ở cộng đồng và trong các cơ sở cung cấp dịch vụ, trong các trung tâm như cơ sở bảo trợ
xã hội, trường giáo dưỡng, mái ấm, nhà mở hay các tổ chức phi chính phủ Khi NVCTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm thân chủ mà họ làm việc Theo quan điểm của Feyerico (1973) người NVCTXH có những vai trò sau đây:
Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân, gia đình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải
Trang 26tài chính, kỹ thụật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm
Vai trò là người kết nối - còn gọi là trung gian: NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho thân chủ các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan
tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để
có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề
Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng
Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền Ví dụ như sự vận động cho quyền lợi của những người khuyết tật được hưởng chính sách hoà nhập
Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết
Vai trò người tạo sự thay đổi: người NVCTXH được xem như người tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn
Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người già
Trang 27Vai trò là người tham vấn: NVCTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như NVCTXH tham gia tham vấn giúp trẻ em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng
Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXH còn được xem như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không
có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
Vai trò là người xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVCTXH nhiều khi phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn
Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVCTXH đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong
cộng đồng
1.1.6 Vai trò của công tác xã hội về bình đẳng giới trong lao động
Theo tôi, vai trò của CTXH về bình đẳng giới trong lao động là can thiệp vào cuộc sống của người lao động và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ người lao động đặc biệt là lao động nữ đạt được sự bình đẳng giới nhất định,
Trang 28cụ thể là ở các khía cạnh: tuyển dụng lao động, thu nhập, di động xã hội và đảm bảo an sinh xã hội
Để đạt được điều này, NVCTXH sẽ thực hiện các vai trò là người biện
hộ, vai trò là người vận động/ hoạt động xã hội, vai trò là người tạo sự thay đổi, vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng…
1.1.7 Công tác xã hội nhóm
Có nhiều cách hiểu , cách tiếp cận về Công tác xã hội nhóm , nhưng có
thể đi ̣nh nghĩa mô ̣t cách chung nhất như sau : Công tác xã hội nhóm là một
phương pháp công tác xã hội nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia
sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực
và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực [13;15]
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong lĩnh vực hỗ trợ bình đẳng giới trong lao động
1.2.1 Một số lý thuyết về giới và phát triển
1.2.1.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Các thuyết gia chức năng đương đại tập trung chú ý vào những vấn đề
ổn định xã hội và hòa thuận xã hội, đặc biệt những yếu tố góp phần giữ vững
ổn định xã hội hoặc làm thay đổi dần xã hội
Thay đổi xã hội được đặt trong khuôn khổ tiến hóa tự nhiên đáp ứng những cân bằng giữa chức năng và cấu trúc của các vai trò xã hội Điều này
có thể dẫn tới sự lặp lại không cần thiết như: Các yếu tố xã hội khuyến khích
sự ổn định được coi là chức năng và những yếu tố khuyến khích sự thay đổi
xã hội nhanh chóng được coi là phi chức năng Trong phạm vi này, việc tập
Trang 29trung chú ý vào phụ nữ là do chức năng và vai trò của họ trong xã hội góp phần vào sự ổn định, được xem là có tính chức năng, vì chúng góp phần làm thay đổi nhanh chóng, chẳng hạn như việc đi vào thị trường lao động được trả công với con số ngày một tăng bị coi là mang tính phi chức năng (Park,1967)
Như chúng ta thấy, quan điểm này không ủng hộ việc phụ nữ tham gia vào thị trường lao động, mà ủng hộ việc phụ nữ gắn với gia đình, với những công việc nội trợ, hi sinh vì chồng vi con
Một đại biểu của thuyết chức năng là Talcott Parson Ông nhìn nhận gia đình hạt nhân là điều tất yếu trong một xã hội công nghiệp hóa bị cô lập - phân hóa xã hội bởi sự cô lập, chuyển dịch địa lý và nhu cầu về nhân lực cho quốc gia công nghiệp hóa tạo ra Từ sự cô lập này nổi lên hai vai trò rõ rệt cho nam và nữ với nam đảm nhận vai trò công cụ tích cực và nữ đảm nhiệm vai trò tình cảm xã hội (Parson, 1949; Parson và Bales, 1955)
T Parson đã mở đường cho sự tranh luận về sự phân công lao động theo giới trong thuật ngữ về các vai trò Parson (1959) chứng minh rằng, phụ
nữ có một bản năng đối với việc nuôi dưỡng như là kết quả về vai trò tái sinh sản của họ được dựa trên cơ sở sinh học, và điều này tạo cho họ phù hợp một cách lý tưởng với một vai trò " tình cảm" trong gia đình hạt nhân
Khi tiếp cận với quan điểm của Parson về phân công lao động theo giới, cần chú ý đến bối cảnh kinh tế - xã hội ra đời luận điểm của ông Thời điểm mà ông cùng với đồng nghiệp thực hiện nghiên cứu này là vào những năm 1950, khi đó đa số phụ nữ làm việc bán thời gian hoặc làm nội trợ Vì thế, những phân tích của ông về vai trò giới thích hợp với bối cảnh kinh tế -
xã hội giữa thế kỉ 20
Trong đề tài này, tôi sử dụng lý thuyết này nhằm chỉ ra rằng mỗi phụ
nữ đều có vị trí khác nhau với các vai trò tương ứng Nếu đánh giá đúng khả
Trang 30năng và tạo điều kiện phù hợp để họ phát huy hết khả năng với đúng vai trò của họ thì kết quả công việc của họ mang lại cao
1.2.1.2 Lý thuyết Nhận thức – hành vi
Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội
Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi
Mô hình: S -> C -> R -> B
Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi
Gỉai thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và
về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R
Ví dụ: tâm lý của học viên khi có thông báo thanh tra xuống kiểm tra, người thì lo lắng không biết mình có bị phát hiện đi học hộ, người thì trách móc trước sự khắt khe của thanh tra, người thì nghĩ mình may mắn khi không nghỉ quá buổi học, người thì thấy đúng và ủng hộ => xuất phát từ nhận thức
về tác nhân kích thích thanh tra
Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm
Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns)
Trang 31Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại.(ví dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêu thương mình bằng em mình, từ đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với mẹ, không gần gũi…)
Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức
Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi sử dụng lý thuyết này để chỉ
ra rằng thực trạng bất bình đẳng giới trong lao động đang diễn ra tại các doanh nghiệp ở thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình do nguyên chính là yếu tố nhận thức của người lao động Nếu có những tác động tích cực, phù hợp để thay đổi nhận thức, phát huy khả năng của người lao động thì kết quả công việc của họ sẽ hiệu quả và những nỗ lực đó sẽ đạt được sự bình đẳng giới thực sự
1.2.2 Một số quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới
1.2.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
Trang 32Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và
Ăngghen đã chỉ rõ: Dựa vào địa vị quyền lực, giai cấp tư sản đã làm băng hoại đạo đức xã hội, làm tan nát gia đình Các nhà tư sản chưa thỏa mãn là có sẵn vợ và con gái của giai cấp vô sản để dùng, đó là chưa kể chế độ mại dâm
công khai, các ngài còn lấy việc “cắm sừng lẫn nhau làm thú vui đặc biệt”
Tình trạng này đã làm bại hoại đạo đức xã hội, làm trụy lạc những người phụ
nữ không may mắn rơi vào cảnh đó và làm băng hoại nhân cách toàn thế giới nam giới
Dưới chế độ TBCN, phụ nữ bị bứt ra khỏi nền sản xuất xã hội, vì vậy họ không có thu nhập Nếu họ muốn tham gia vào lao động xã hội, kiếm sống một cách độc lập thì họ không có điều kiện làm tròn nhiệm vụ đối với gia đình Vì vậy, khi đã kết hôn, công việc duy nhất của họ là thực hiện chức năng sinh đẻ,
lo công việc gia đình, còn nam giới kiếm tiền nuôi sống gia đình
Sự bất bình đẳng nam nữ trong gia đình dưới chế độ TBCN do chính nền sản xuất tư bản và các quan hệ tài sản do xã hội ấy tạo ra Vì vậy, muốn xóa bỏ gia đình tư sản, muốn giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng
nam nữ, quyền tự do kết hôn dựa trên tình yêu, theo Ăngghen phải “xóa bỏ
nền sản xuất TBCN và các quan hệ tài sản do nền sản xuất ấy tạo ra, gạt bỏ tất cả những lí do kinh tế” ra khỏi quan hệ hôn nhân và phải xây dựng xã hội
mới – xã hội XHCN – một xã hội không còn áp bức bóc lột
* Quan điểm của V.I.Lênin
Theo Lênin, dưới sự thống trị của chế độ tư bản, trong các gia đình vô sản phụ nữ là người chịu đau khổ nhất, họ sẵn sàng làm việc, nhận số tiền công hết sức rẻ mạt để kiếm thêm một mẩu bánh mỳ cho gia đình, nhưng họ
bị trói buộc áp bức từ mọi phía, bị cột chặt vào gia đình Phụ nữ vô sản không thể ngồi yên mà phải đứng lên cầm vũ khí cùng chồng con thủ tiêu ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, tiến hành công cuộc xây dựng CNXH Cách mạng
Trang 33tháng Mười Nga thành công là tiền đề cho một chế độ hôn nhân mới, bình đẳng Chính quyền Xô Viết không những thực hiện quyền bình đẳng của phụ
nữ ngoài xã hội, mà ngay cả trong gia đình, những đặc quyền nam giới, sự nô dịch của nam giới đối với vợ và con gái đều bị chính quyền Xô viết thủ tiêu Những đạo luật về quyền tự do kết hôn, tự do li hôn, về quyền lợi con ngoài giá thú và quyền đòi người cha phải chịu tiền nuôi nấng con đã được từng bước thực hiện
Song Lênin còn cho rằng, dù đã có luật giải phóng phụ nữ và thực hiện
bình đẳng nam nữ nhưng phụ nữ vẫn chưa thoát khỏi tình trạng “nô lệ trong
gia đình Công việc nội trợ, việc gia đình còn đè nặng lên lưng họ làm cho họ nghẹt thở, mụ mẫm, nhọc nhằn, ràng buộc họ vào bếp núc, vào buồng con cái, lãng phí sức lực của họ vào công việc cực kỳ kém năng suất, tủn mủn”
* Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) đã có điều khoản là mọi công dân Việt Nam không phân biệt gái trai, giàu nghèo, người Kinh với người dân tộc thiểu số được bình đẳng trước pháp luật và trong đời sống thực tế Hiến pháp
Trang 34quan điểm về bình đẳng giới của Hồ Chí Minh Người thấu hiểu nỗi khổ của phụ nữ dưới chế độ cũ bị ràng buộc khắt khe với bao tập tục lạc hậu đã làm cho phụ nữ dốt nát, cực khổ, tối tăm Tâm lý trọng nam khinh nữ của Nho giáo đã cột chặt người phụ nữ vào gia đình Hiểu và thông cảm sâu sắc với
phụ nữ, Hồ Chí Minh đã viết: “Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ
bị áp bức tàn tệ Ngoài xã hội, phụ nữ bị xem khinh như nô lệ Ở gia đình thì
họ bị kìm hãm trong xiềng xích tam tòng” [9; 395] Vì vậy, cần giải phóng
phụ nữ thóat khỏi những xiềng xích trói buộc họ, đó chính là nội dung của
cách mạng XHCN “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một
nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng CNXH chỉ là một nửa”[10;498] Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các cấp ngành nghiêm túc đôn đốc,
kiểm tra, theo dõi việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải làm tốt công tác vận động phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền
1.2.2.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới
Ngay từ khi mới thành lập, trong Luận cương chính trị của Đảng đã quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ Quan điểm bình đẳng nam nữ được thể hiện xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng của dân tộc Kể từ Hiến pháp đầu tiên (1946) với tuyên ngôn: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về chính sách, luật pháp của Đảng về bình đẳng nam nữ và chống phân biệt đối xử với phụ nữ Các văn bản hiến pháp tiếp theo ( 1959, 1980, 1992) đều kế thừa quan điểm
về bình đẳng của phụ nữ so với nam giới từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong xã hội Việt Nam
Trang 35Trong thời kì đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Đại hội Đảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ chính trị, Ban bí thư
về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ phụ
nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “ Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới” [28;120] Việc xây dựng và ban hành Luật Bình đẳng giới (có hiệu lực từ ngày 1/7/2007) nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ một cách tập trung, hệ thống và đầy
đủ trong giai đoạn mới là một biểu hiện của bước tiến mới trong việc thực thi quan điểm bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước
Nhà nước Việt Nam đã ban hành luật và các văn bản luật nhằm tạo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong lĩnh vực lao động việc làm:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (năm 2002) tiếp tục khẳng định những nguyên tắc về bình đẳng giới về lao động được đề cập trong Hiến pháp Những nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến chính sách đối với lao động nữ bao gồm một số vấn đề bảo hiểm xã hội, tiền lương, bảo hộ lao động, thời hiệu kỷ luật lao động Trong đó, điều 111 (chương X: Những quy định riêng đối với lao động nữ) có bổ sung: “ người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với phụ nữ
vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghệp chấm dứt hoạt động” và trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi “người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt lao động”
Trang 36Luật Bình đẳng giới, điều 13 (bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động) cũng quy định những điều cụ thể về bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới khi tham gia lực lượng lao động: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh
1.2.2.3 Quan điểm công bằng và tiến bộ xã hội
Phát triển đất nước theo định hướng XHCN đòi hỏi phải đạt được mục tiêu công bằng xã hội, tiến bộ lên trên hết, coi đó là mục tiêu của mọi chính sách kinh tế xã hội TTKT cũng vì mục tiêu đảm bảo CBXH, vì hạnh phúc cho con người Đồng thời tăng trưởng kinh tế cũng là mục tiêu bức thiết, xã hội không có TTKT thì không thể giải quyết được các vấn đề CBXH, vì vậy đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta khẳng định: “TTKT phải gắn liền với tiến bộ xã hội và CBXH ngay trong từng bước phát triển CBXH thể hiện ở các khâu phân phối hợp lí tư liệu sản xuất, lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, tư tưởng trên tiếp tục được
quán triệt: “TTKT phải gắn liền với tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước
phát triển CBXH phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có
cơ hội phát triển và sự dụng tốt năng lực của mình”
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định
và làm rõ thêm: “TTKT gắn liền với đảm bảo tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước phát triển… TTKT đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải
Trang 37thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và CBXH,
bảo vệ và cải thiện môi trường”
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu – Thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
Tam Điệp là đô thị miền núi phía nam của tỉnh Ninh Bình Đây là một thị xã công nghiệp nằm ở vị trí cửa ngõ miền Bắc Việt Nam, có vai trò là trung tâm vùng Nam Bắc Bộ Tam Điệp hiện là đô thị loại III, và hướng tới thành lập thành phố Tam Điệp Theo quy hoạch đô thị tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, thị xã Tam Điệp sẽ trở thành đô thị loại II vào những năm tới
Địa giới hành chính: Thị xã Tam Điệp có diện tích 110,9 km² với dân
số 55.021 người (thống kê 2009) gồm 5 phường và 4 xã Thị xã Tam Điệp nằm trên trục Quốc lộ 1A (đoạn chạy qua đây dài 12 km), là nơi tiếp giáp giữa vùng Bắc Trung Bộ và phía nam đồng bằng Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội
105 km về phía nam, cách thành phố Ninh Bình 12 km Đường sắt Bắc-Nam đoạn chạy qua đây dài 12 km với 2 ga: Ghềnh và Đồng Giao
* Kinh tế
Sau 30 năm kể từ ngày thành lập, Tam Điệp đã trở thành đô thị công nghiệp loại III với 2 Khu công nghiệp Tam Điệp 1 và Khu công nghiệp Tam Điệp 2, 10 nhà máy công nghiệp tập trung, 184 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 19 - 25% và đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng (75%), dịch vụ (21%), nông nghiệp (4%)
* Công nghiệp
Công nghiệp Tam Điệp nổi bật với ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nông sản Với lợi thế so sánh về tài nguyên khoáng sản
Trang 38kinh tế hiện tại như các nhà máy xi măng Hướng Dương, Tam Điệp, The Vissai, Công ty cổ phần bê tông thép Ninh Bình , Tam Điệp có lợi thế khá lớn về sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng với các sản phẩm như: xi măng, gạch gói, thép xây dựng, bê tông đúc sẵn Thị xã Tam Điệp thuộc miền núi, nơi có trữ lượng đá vôi lớn rất tốt cho công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng, hiện tại thị xã có khu công nghiệp Tam Điệp 1 với diện tích 450 ha đã hoạt động và khu công nghiệp Tam Điệp 2 Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp của Tam Điệp ước đạt 3.558 tỷ đồng, tăng 54% so với năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng tới 266%.[7] Tam Điệp phấn đấu đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 8.970 tỷ đồng, Tổng giá trị sản xuất đạt trên 12.000 tỉ đồng, đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 70% trong cơ cấu kinh tế của toàn thị xã
* Dịch vụ
Tam Điệp có các chợ sau là được xếp hạng chợ loại 2, 3 ở Ninh Bình: Chợ Bắc Sơn, Chợ Chiều, Chợ Đền Dâu, Chợ Đồng Giao, Chợ Đồng Sơn, Chợ Quang Sỏi
Hệ thống các siêu thị phát triển khá đồng bộ như: Siêu thị Viettel, Siêu thị Thế Giới Di Động, Siêu thị Điện Máy Long Việt, Siêu thị Điện Máy Thành Đồng, Siêu thị mini Tam Điệp, Siêu thị Đông Thành Plaza II, Ga ra sửa chữa ô tô HASCO
Hệ thống Ngân Hàng: Ngân Hàng Công Thương Tam Điệp Vietinbank; Ngân Hàng Nông Nghiệp Tam Điệp AgriBank; Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển VN BIDV; Ngân Hàng Quân Đội MB; Ngân Hàng Dầu Khí Toàn Cầu GPBank; Ngân Hàng Chính sách xã Hội Việt Nam
* Nông lâm nghiệp
Thị xã có diện tích lớn đất Feralit đỏ, vàng thích hợp trồng cây công nghiệp và ăn quả Nông trường Đồng Giao là doanh nghiệp nhà nước đóng tại
Trang 39địa bàn có nhiệm vụ sản xuất và chế biến nông sản Sản phẩm đặc trưng của Công ty Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao trồng trọt và chế biến các loại rau quả đóng hộp và rau quả tươi phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu như dứa, lạc, vải, ngô, đu đủ, na, ớt
Tam Điệp cũng có làng nghề trồng đào Đông Sơn nổi tiếng với thương hiệu đào phai Tam Điệp cung cấp cho thị trường miền Bắc và Bắc Trung Bộ
Phân theo giới tính Phân theo thành thị, nông
thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn
Trang 40Bảng 1 2: Nguồn lao động (Đơn vị: người)
(Nguồn:Niên giám thống kê –thị xã Tam Điệp năm 2012
* Y tế - Giáo dục
Trên địa bàn Tam Điệp có 8 trường Tiểu học, 7 Trường Trung học cơ sở, 2 Trường Trung hoc phổ thông, 1 trường Bổ túc, 2 Trường Trung cấp, 2 Trường Cao đẳng: Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Xây dựng Tam Điệp(Dự kiến nâng cấp lên Trường Đại học vào năm 2015), Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình(Dự kiến nâng cấp lên Trường Đại học vào năm 2015), 2 Trường Trung Cấp Nghề số 13 Bộ Quốc Phòng và Trường Trung Cấp Nghề số 14 Bộ Quốc Phòng, Trường THPT Nguyễn Huệ, Ninh Bình- được thành lập năm 1980, là trường Trung hoc phổ thông đạt chuẩn Quốc gia đầu tiên của Ninh Bình,
Trường Trung hoc phổ thông Ngô Thì Nhậm
Thị xã có tất cả 4 Bệnh viện và 9 trung tâm y tế xã phường và hàng chục các phòng khám, điểm khám chữa bệnh khác: Bệnh viện Đa khoa thị xã Tam Điệp, Bệnh viện Quân Y 145, Bệnh viện Điều dưỡng Ninh Bình, Bệnh viện Chỉnh hình Tam Điệp, Các Trung tâm y tế xã/phường
Năm 2000 2005 2006 2007 2008 Nguồn lao động 28.330 32.589 35.657 37.406 40.445
Số người trong độ tuổi lao động
- Có khả năng lao động
-Mất khả năng lao động
30.025 27.642 2.383
33.499 31.439 2.060
36.406 34.424 1.982
38.391 36.411 1.980
41.195 39.195
2000
Số người trên độ tuổi thực tế có
tham gia lao động
- Trên độ tuổi lao động
- Dưới độ tuổi lao động