Khi nhắc đến lĩnh vực công tác xãhội, người ta thường nghĩ ngay đó là các hoạt động công tác xã hội được thực hiệnở các Trung tâm Bảo trợ Xã hội đối với các nhóm đối tượng yếu thế trong
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI DỊCH, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
Trang 3VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH KHƯƠNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI DỊCH, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 4Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Mai Lan
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “ Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” (Nghiên cứu thực hiện tại địa bàn Trường Tiểu học Mai Dịch) là đề
Trang 5tài nghiên cứu của riên tôi Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn làtrung thực và không trùng lặp với đề tài khác.
Học viên
Trần Thị Minh Khương
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ 11
1.1 Cơ sở lý luận về công tác xã hội 11
1.2 Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 16
1.3 Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 23
1.4 Cơ sở pháp lý của giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 32
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI DỊCH, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 35
2.2 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 39
2.3 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại trường tiểu học Mai Dịch 48
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI DỊCH, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55
Trang 73.1 Giải pháp ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân vào can thiệp 01
trường hợp trẻ tự kỷ 55
3.2 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ 69
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, SƠ ĐỒ
1 Bảng 2.1: Số lượng trẻ tự kỷ tham gia học hòa nhập tại Trường Tiểu
2 Bảng 2.2: Mức độ thường xuyên thực hiện nhiệm vụ trang bị kiến
thức, kỹ năng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 39
3 Bảng 2.3: Mức độ thực hiện nhiệm vụ trang bị kiến thức nhằm nâng
4 Bảng 2.4: Mức độ thực hiện nhiệm vụ trang bị kỹ năng nhằm nâng cao
5 Bảng 2.5: Mức độ thực hiện nhiệm vụ đánh giá nhu cầu, cùng xây
6 Bảng 2.6: Kết quả thực hiện nhiệm vụ đánh giá nhu cầu, cùng xây
Trang 98 Biểu đồ 2.1: Nhiệm vụ tham vấn đối với phụ huynh, giáo viên và
những người tham gia hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ 47
9 Biểu đồ 2.2: Bộ ba đặc điểm của trẻ tự kỷ khiếm khuyết 49
10 Biểu đồ: 2.3: Trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội 50
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề còn mới mẻ, non trẻ và được xem nhưmột vùng đất lạ mới được khai hoang ở Việt Nam Nhưng chỉ qua 5 năm hình thành
và phát triển, CTXH đã phần nào khẳng định được vai trò và vị thế của mình trongviệc giải quyết các vấn đề của xã hội
Khi xã hội ngày một phát triển, Đảng và Nhà nước ta càng quan tâm nhiều hơnnữa đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có người già, trẻ
em, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế khác nhằm giúp họ có cuộc sống ổnđịnh, có điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, tự vươn lên trong cuộc sống Đểthực hiện điều đó, nhiều chủ trương pháp luật về CTXH đã được Đảng và Nhà nướcban hành như: Bộ Luật Lao động, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luậtchăm sóc và bảo vệ trẻ em…Trên cơ sở chính sách được ban hành đã phần nào đápứng được một số nhu cầu cơ bản cho các đối tượng nói trên
Trong những năm gần đây, công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật nóichung và trẻ tự kỷ (TTK) nói riêng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng
Để tạo cơ hội cho các em được tới trường học tập như mọi trẻ em bình thường khác,nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành như: Thông tư Liêntịch số 42 (2013 BGDĐT, BTC và BLĐTBXH) đã ban hành hướng dẫn về việcnhập học, tuyển sinh, miễn giảm học phí và một số nội dung môn học và cho phépcác trường yêu cầu nguồn kinh phí để hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật;Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục hòa nhậpdành cho người khuyết tật (23/2006/QĐ- BGD&ĐT);… Những văn bản pháp lý nóitrên đã quy định về vấn đề GDHN cho trẻ khuyết tật ở nước ta Song điều đáng nói
ở đây là trẻ tự kỷ lại chưa được pháp luật chính thức công nhận là một dạng khuyếttật Do vậy, các em chưa có điều kiện để được tham gia vào quá trình GDHN như
Trang 11trẻ khuyết tật khác Trẻ tự kỷ chưa có chế độ miễn giảm một số khoản phí như trẻkhuyết tật khi học hòa nhập tại các trường
Theo Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội, năm học 2011-2012, có hơn 1.000 trẻ tự
kỷ đang học cấp tiểu học và con số này không ngừng gia tăng Tuy nhiên, để trẻ tự
kỷ được đi học hòa nhập lại không hề đơn giản, việc xin vào học tại các trường tiểuhọc phần lớn phụ thuộc vào mối quan hệ cá nhân của cha mẹ, hoặc phải thông quacác Trung tâm hỗ trợ GDHN do tư nhân thành lập Trên thực tế, nhiều trường khôngmuốn nhậntrẻ tự kỷ, nhiều giáo viên không muốn dạy vì lo ảnh hưởng đến thànhtích chung của trường, của lớp Khi trẻ tự kỷ đi học, cha mẹ các em phải chi trả mộtkhoản chi phí khá lớn trong mỗi tháng, gây nên áp lực về kinh tế cho những giađình có hoàn cảnh khó khăn
Tại môi trường giáo dục hòa nhập, bên cạnh những mặt tích cực đã mang lạithì còn tồn tại hàng loạt những khó khăn mà trẻ tự kỷ phải đối mặt Do trẻ tự kỷ hạnchế về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội, có những hành vi không bình thườngnên khi học chung với các trẻ khác trẻ tự kỷ dễ bị cô lập, bị bắt nạt, bị kì thị Đặcbiệt trẻ tự kỷ khó tiếp thu kiến thức như các bạn cùng lớp Những người tham gia hỗtrợ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ chưa được đào tạo chuyên sâu về vấn đề củatrẻ
tự kỷ ; chưa có hệ thống giáo trình hỗ trợ dạytrẻ tự kỷ; thiếu sự hợp tác của gia đìnhtrẻ tự kỷ; do vốn kinh nghiệm của bản thân về GDHN cho trẻ tự kỷ còn hạn chế; ítđược đào tạo ngắn hạn, tập huấn, học hỏi kinh nghiệm về giáo dục hòa nhập cho trẻ
tự kỷ Trước hàng loạt những khó khăn và thách thức về công tác GDHN cho trẻtự
kỷ, cần có sự phối hợp liên ngành bao gồm cả ngành CTXH mới có thể giải quyếtmột cách tốt nhất các vấn đề còn tồn tại đó
Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” để làm luận văn thạc sỹ Luận văn nhằm làm sáng tỏ lý
luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ; Thực trạng công tác xã
Trang 12hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại trường tiểu học, đồng thời chỉ ra sựcần thiết của CTXH về giáo dục hòa nhập trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như giađình các em Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiệncông tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại trường tiểu học nói chung
và Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nói riêng
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài
trên thế giới
Công tác xã hội đã phát triển trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX,tiêu biểu như là ở Anh, Mỹ, Canada, Úc… Đến nay CTXH đã có mặt ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới, với nỗ lực trợ giúp các nhóm người yếu thế (trẻ em, phụ nữ,người cao tuổi, người khuyết tật…), những cộng đồng nghèo để họ vươn lên hòanhập với sự phát triển chung của xã hội, đảm bảo an sinh cho mọi người dân, tất cả
vì sự tiến bộ của nhân loại và công bằng xã hội Đã có nhiều hội thảo, hội nghị, bàibáo, công trình khoa học nghiên cứu hoạt động của CTXH đối với nhóm yếu thế.Trong đó, có các nghiên cứu cụ thể về CTXH đối với người khuyết tật như: Dark
and Light Blind Care (2008), “Inclusion of disabled people in Vocational Training
and income.” Trong cuốn báo cáo tổng kết chương trình công tác xã hội với người
khuyết tật, nhóm tác giả đã nêu lên được các chương trình chính sách, quyền củangười khuyết tật; Các phương pháp, cách thức hỗ trợ người khuyết tật trong vấn đềviệc làm và hòa nhập với đời sống xã hội, giảm sự phụ thuộc tối đa của ngườikhuyết tật đối với xã hội Trong những năm gần đây, trẻ tự kỷ cũng được coi lànhóm yếu thế trong xã hội và là đối tượng của ngành công tác xã hội Hiện nay tự
kỷ là một vấn đề toàn cầu, dành được nhiều sự quan tâm của các cơ quan đoàn thểcủa nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, mới chỉ có những chương trình hoạtđộng mang tính chất CTXH dành cho trẻ tự kỷ [19]
Trang 13Một tổ chức chuyên nghiên cứu về biện pháp can thiệp giúp cải thiện nhậnthức ở trẻ tự kỷ đã ghi nhận hiệu quả của phương pháp tương tác xã hội đối với trẻ
tự kỷ Nghiên cứu này được thực hiện tại đại học ở Washington, nằm trong chuỗichương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về phương pháp cải thiện nhân thức vàphản ứng của não bộ trẻ tự kỷ Đứng đầu nhóm nghiên cứu bà Geraldine Dawson
cho biết: “Quá trình lớn lên và tiếp thu của một đứa trẻ đang tập đi ảnh hưởng rất
nhiều đến khả năng tương tác xã hội hàng ngày của các em Riêng đói với những đứa trẻ mắc chứng tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé nhận thức được sự tương tác, quan tâm của cộng đồng” [20]
Ngày 11/4 được Liên Hợp Quốc chọn làm ngày tự kỷ ( Autism AwarenessDay) Theo báo cáo của Bộ Y tế Trung Quốc, nước này có khoảng 1,6 triệu trẻ tự kỷ(2006) Với đặc trưng là để lại hậu quả lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân Vềmặt nhân văn đây là vấn đề cần xã hội hỗ trợ,can thiệp; về mặt kinh tế xã hội, việccan thiệp sớm sẽ giúp giảm bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội Nghiêncứu ở Mỹ cho biết con số đánh giá đối với những trẻ sinh vào năm 2000, toàn bộ chi phícho suốt cuộc đời một đứa trẻ tự kỷ là 3,4 triệu đô la Mỹ, trong đó chi phí lớn nhất làmất sức lao động chiếm 60% tổng chi phí Do vậy, cần có sự phối hợp liên ngành đặcbiệt là sự tham gia của CTXH trong việc nghiên cứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ
Tính cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới chỉ có những hoạt động mangtính chất công tác xã hội dành cho trẻ tự kỷ, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sựkết hợp của lĩnh vực CTXH trong việc trợ giúp trẻ tự kỷ nói chung, và trợ giúp vềgiáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ Sự tham gia của công tác xã hộitrong việc nghiêncứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ về các mặt nói chung và hỗ trợ trẻ tự kỷ về giáo dục hòa nhập
Trang 14nhiều người còn chưa biết đến công tác xã hội Khi nhắc đến lĩnh vực công tác xãhội, người ta thường nghĩ ngay đó là các hoạt động công tác xã hội được thực hiện
ở các Trung tâm Bảo trợ Xã hội đối với các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hộinhư: người cao tuổi, người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyếttật… Tuy nhiên, trong những năm gần đây trẻ tự kỷ và công tác GDHN cho các emđược coi là vấn đề nóng của xã hội , các em chính là những nhóm người yếu thế cầnđược sự bảo trợ của xã hội để có cơ hội phát triển theo khả năng thế mạnh củamình, các em đang cần sự chung tay giúp đỡ của toàn xã hội, trong đó có vai trò đặcbiệt quan trọng của công tác xã hội Công tác xã hội đối với nhóm yếu thế nóichung và trẻ tự kỷ là lĩnh vực còn khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu trongnước còn hạn chế, tác giả xin khái quát một số công trình, kết quả khoa học đã đượcthực hiện ở Việt Nam
Phạm Văn Quyết (2012), “Công tác hỗ trợ nhóm yếu thế ở Việt Nam.” Trongbài viết của mình tác giả đã nêu lên thực trạng đời sống xã hội của các nhóm ngườiyếu thế ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu của nhóm người yếu thế, những rào cản làmảnh hưởng đến đời sống và hòa nhập của nhóm người yếu thế trong cộng đồng [12]
Một nghiên cứu khác về vấn đề việc làm cho thanh niên tự kỷ của Trần Thị
Minh Thư với nhan đề "Những cơ hội việc làm cho các bạn thanh niên tự kỷ - một
trường hợp của Việt Nam" Đây là luận văn thạc sĩ chuyên ngành CTXH tại đại học
Linnaeus (Thụy Điển).Tác giả nghiên cứu đã tìm hiểu vấn đề cơ hội việc làm chothanh niên tự kỷ trên khía cạnh hòa nhập xã hội đối với thanh niên tự kỷ để họ cómột nghề nghiệp (công việc) thích hợp Tại thời điểm này, các thanh niên tự kỷ vàcha mẹ các em (người đóng vai trò là người đào tạo nghề và là người vận động,người biện hộ cho các em) gặp rất nhiều khó khăn Khó khăn, trở ngại chính baogồm: bản thân thanh niên tự kỷ thiếu hỗ trợ của luật/chính sách và người sử dụnglao động, hạn chế của các mô hình việc làm Đây là một trong số rất ít nghiên cứu
Trang 15tại Việt Nam về vấn đề hòa nhập xã hội của người mắc tự kỷ từ cách tiếp cận củangành công tác xã hội [15].
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014) , “Hoàn thiện mô hình Công tác xã hội hỗ trợ
trẻ tự kỉ thích nghi với quá trình hoà nhập tại trường tiểu học” (Luận văn chuyên
ngành Công tác xã hội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội) Tác giả nghiên cứu tìm hiểu mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thíchnghi với quá trình học hòa nhập tại tiểu học, thông qua sự giúp đỡ của nhân viên xãhội với vai trò là giáo viên hướng dẫn trực tiếp cho trẻ tự kỷ Vấn đề nghiên cứuchủ yếu hướng đến mục tiêu: trẻ có tương tác xã hội, kĩ năng học đường, kiến thứcvăn hoá, hành vi Đồng thời giúp cho trẻ tự kỷ tăng khả năng tự lập khi học hòanhập tại trường [13]
Vũ Thị Thanh Nga (2014), “Công tác xã hội với vấn đề hòa nhập của trẻ mắc
hội chứng tự kỉ tại các trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội” (Luận văn thạc sĩ
CTXH) Tác giả nghiên cứu về lĩnh vực công tác xã hội học đường, tìm hiểu nhữngrào cản khó khăn trong vấn đề hòa nhập của trẻ tự kỷ ở trường tiểu học, với mụcđích xây dựng giải pháp cũng như phương án trợ giúp từ góc độ của nhân viên côngtác xã hội chuyên nghiệp đối với đối tượng này [10]
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà (2015): “ Công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ từ
thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” (Luận văn thạc sĩ CTXH) Tác giả nghiễn cứu về lĩnh
vực đối với trẻ tự kỷ, tác giả tìm hiểu những khó khăn về mặt chăm sóc, giáo dục.Đồng thời đưa ra các hoạt động công tác xã hội nhằm trợ giúp trẻ tự kỷ và gia đình,tập trung nâng cao kỹ năng giao tiếp cho thân chủ thông qua ứng dụng phương phápcông tác xã hội cá nhân cá nhân [2]
Các nghiên cứu có liên quan về tự kỷ, về vấn đề giáo dục hòa cho TTK ở cáctrường tiểu học theo khía cạnh của CTXH còn ít và chưa có tính ứng dụng cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 16Trên cơ sở nghiên cứu lýluận và phân tích thực trạng công tác xã hội về giáodục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thànhphố Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này Trên cơ sở đó, đề xuất một sốbiện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối vớitrẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Xây dựng cơ sở lý luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
- Phân tích thực trạng công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội về giáo dục hòanhập đối với trẻ tự kỷ
4 Đối tượng và Phạm nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
4.2 Khách thể nghiên cứu
Các khách thể nghiên cứu là 30 trẻ tự kỷ đang học hòa nhập ; 32 cha mẹ có trẻ
tự kỷ đang học hòa nhập; 18 giáo viên trực tiếp hỗ trợ trẻ tự kỷ (giáo viên đi kèm)học hòa nhập ; 16 giáo viên chủ nhiệm lớp có trẻ tự kỷ học hòa nhập và 2 cán bộquản lý tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
4.3.1 Phạm vi nội dung
- Xây dựng cơ sở lý luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
- Phân tích thực trạng công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội về giáo dục hòanhập đối với trẻ tự kỷ
4.3.2 Phạm vi không gian
Trang 17Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng là trẻ tự kỷ đang học hòanhập tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu công tác xã hội trên cơ sở cách tiếp cận đa ngành, liên ngành giáodục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ Sau đó đánh giá thực trạng CTXH về giáo dục hòanhập đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thànhphố Hà Nội Từ đó phân tích, đánh giá và đưa ra những biện pháp tăng cường công tác xãhội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại các trường tiểu học trên cả nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu các loại tài liệu, văn bản có liên quan tới côngtác xã hội, trẻ tự kỷ, giáo dục hòa nhập , giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, công tác
xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ để hệ thống hóa cơ sở lí luận của vấn đềnghiên cứu
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng phương pháp này để tiến hành thu thập thông tin bằng các phiếu hỏiđối với 16 giáo viên chủ nhiệm lớp có trẻ tự kỷ học hòa nhập; 32 phụ huynh có trẻ
tự kỷ; 18 giáo viên đi kèm hỗ trợ trẻ tự kỷ đang học hòa nhập để đánh giá thựctrạng những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ công xã hội xã hội
về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại trường tiểu học
Trang 18kỷ học hòa nhập , cán bộ quản lý tại trường có trẻ tự kỷ học hòa nhập để đánh giáthực trạng những khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội về GDHN chotrẻ tự kỷ và đánh giá nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ.
5.2.4 Phương pháp quan sát
Quan sát trẻ tại môi trường lớp học, sân trường, gia đình… để thu thập thôngtin; đánh giá thái độ của bạn bè, thầy cô, phụ huynh về trẻ tự kỷ; nhu cầu của trẻ vàcha mẹ trẻ; môi trường giáo dục trẻ tại trường học
5.2.5 Phương pháp chuyên gia
- Thực hiện để triển khai xây dựng công cụ đánh giá vấn đề tự kỷ, trẻ tự kỷ,giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
- Để xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH về giáo dục hòa nhậpđối với trẻ tự kỷ
5.2.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sau khi đã xử lý các kết quả điều tra khảo sát thông qua bảng hỏi, phỏng vấnsâu sẽ được kiểm tra kỹ càng rồi lập các bảng số liệu thực trạng, bảng số liệu về sựliên quan giữa các biến số về độ tin cậy của các số liệu điều tra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 19Kết quả nghiên cứu sẽ nâng cao nhận thức của toàn xã hội, cộng đồng về vị trívai trò của nghề công tác xã hội, các nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là tầm quantrọng của nhân viên xã hội trong các trường học đang thực hiện giáo dục hòa nhậpcho trẻ tự kỷ Những phát hiện của nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho việchoạch định cơ chế chính sách và xây dựng các chương trình hỗ trợ GDHN cho trẻ tự
kỷ tại các trường phổ thông nói chung, đặc biệt là tại các trường tiểu học
Bên cạnh đó đề tài nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo dành chongười làm công tác xã hội, giáo viện dạy trẻ tự kỷ, các lực lượng tham gia hỗ trợgiáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ Đồng thời tiếp tục bổ sung , kiện toàn hệ thống lýthuyết công tác xã hội về GDHN cho trẻ tự kỷ
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần: mục lục, danh mục các bảng, hình vẽ, mở đầu, kết luận, vàdanh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷChương 2 Thực trạng công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
từ thực tiễn Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Chương 3 Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội về giáo dụchòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thànhphố Hà Nội
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA
NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1 Cơ sở lý luận về công tác xã hội
1.1.1 Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội cũng được xem như là một khoa học ứng dụng, là một nghềchuyên nghiệp ra đời vào đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới Nó có vị tríquan trọng trong đời sống xã hội của con người, của mỗi quốc gia Sự gia đời vàphát triển CTXH đã góp phần đáng kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề
xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốcgia [9, tr.12]
Từ điển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995) có ghi: Công tác xã hội là
một môn khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người,tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội[9], [16]
Các khái niệm nêu trên đều khẳng định tác động của công tác xã hội nhằm tạo
ra thay đổi xã hội và đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân Đây là một cáchhiểu về công tác xã hội theo một nghĩa khá rộng và tổng quát
Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: công tác xã hội là một nghề
nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng nhữnghoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa
con người và môi trường có hiệu quả Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi
năng lực bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội, và phòng ngừa sự suygiảm chức năng xã hội [9], [16]
Trang 22Nhìn chung, công tác xã hội đã trở thành một khoa học và một nghề chuyênmôn từ lâu đời ở các nước Hoạt động trợ giúp của CTXH thúc đẩy sự thực hiệnchức năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng qua việc đáp ứng nhu cầu của họ.
Còn công tác xã hội ở Việt Nam được các tác giả xem xét từ những khía cạnhkhác nhau
Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là một hoạt động thực tiễn, mang
tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất địnhnhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề Qua đó CTXH theođuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội công tác xã hội làhoạt động thực tiễn bởi vì nhân viên xã hội luôn làm việc trực tiếp với các đốitượng, với nhóm người cụ thể Công tác xã hội không phải hướng tới giải quyết mọivấn đề xã hội mà chỉ hướng vào giải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sốnghàng ngày của con người Thực hành CTXH được diễn ra ở những lĩnh vực khác nhaunhằm giải quyết các vấn đề khác như : tệ nạn xã hội như: tệ nạn xã hội, vấn đề ngườinghèo, vấn đề gia đình, hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể nhằm đem lại
sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cộng đồng xã hội [11]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đápứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội vềchính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết
và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [9, tr 19]
Theo tác giả Nguyễn An Lịch: Công tác xã hội là vận dụng kiến thức khoa học
và kỹ năng công tác xã hội để tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, nhóm giađình và cộng đồng bằng các hoạt động tập chung vào các quan hệ xã hội của họ, tạonên sự tương tác giữa con người với môi trường xung quanh [8]
Trang 23Công tác xã hội tại Việt Nam cũng được xem là sự vận dụng các lý thuyếtkhoa học về hành vi con người, hệ thống xã hội, nhằm khôi phục lại các chức năng
xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thếhướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyênmôn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãnnhững nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vaitrò xã hội của mình
Mặc dù các tác giả nhìn nhận về công tác xã hội ở những khía cạnh khác nhau,song còn tồn tại một số điểm chung: Công tác xã hội là một khoa học, một hoạtđộng chuyên môn; Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, gia đình và cộngđồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như: trẻ em, phụ nữ, ngườinghèo…, những người trong hoàn cảnh khó khăn nên khó hòa nhập xã hội; Hướngtrọng tâm của công tác xã hội là tác động tới con người như một tổng thể; Mục đích củaCTXH là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng caonăng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của
họ, từ đó giúp họ hòa nhập xã hội Công tác xã hội thúc đẩy các điều kiện xã hội để
cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhucầu cơ bản; Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự canthiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như
sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khỏe, tâm thần, thiếu việc làm, khôngđược đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm Vấn đề của họ cũng
có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trường xung quanh bởi môitrường đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá nhân, gia đình hay cộngđồng được tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
Trong các khái niệm đã nêu trên, tôi sẽ sử dụng khái niệm của tác giả Bùi ThịXuân Mai làm khái niệm công cụ để nghiên cứu
1.1.2 Nhiệm vụ của công tác xã hội
Trang 24Công tác xã hội có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đềcủa thân chủ:
- Công tác xã hội trợ giúp cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng vượt qua khókhăn, trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng nhằm thực hiện tốt các chức năng xã hội
- Triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ cho con người, một mặt giúp đỡnhững người gặp khó khăn, nâng cao năng lực của con người trong giải quyết cácvấn đề, đương đầu và hành động có hiệu quả
- Công tác xã hội giúp những người trong hoàn cảnh khó khăn nối kết cácnguồn lực xã hội cần thiết để tự họ đáp ứng các nhu cầu, góp phần giảm bớt nhữngkhác biệt về kinh tế, xã hội giữa các thành viên và phòng chống các vấn đề xã hội
1.1.3 Phương pháp công tác xã hội
Phương pháp công tác xã hội là cách thức mà công tác xã hội viên tác độngvào hệ thống đối tượng được giúp đỡ Hệ thống đối tượng bao gồm các cá nhân,nhóm và cộng đồng Công tác xã hội bao gồm 3 phương pháp can thiệp chính đó làphương pháp công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm và công tác phát triểncộng đồng
1.1.3.1.Công tác xã hội cá nhân
Trang 25Phương pháp công tác xã hội cá nhân là phương pháp mà nhân viên CTXHcan thiệp giải quyết vấn đề cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xãhội của cá nhân đó.
Công tác xã hội cá nhân được xem là một phương pháp công tác xã hội thôngqua mối quan hệ tương tác 1- 1 giữa nhân viên xã hội và thân chủ nhằm trợ giúp họgiải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi của môi trường, giúp họ điều chỉnhbản thân và cách thức tương tác với môi trường [18]
Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1997) cho rằng : “Công tác xã hội cá nhân là mộtbiện pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một đối tượngcảm nghiệm” [11]
Mối quan hệ một - một được nhắc đến như một chìa khóa quan trọng trongphương pháp CTXH cá nhân, quyết định vai trò và việc lựa chọn các kỹ năng tác nghiệpcủa ngườinhân viên công tác xã hội Khi tác nghiệp, thân chủ cùng với các mối quan hệ
xã hội của thân chủ là mối quan tâm hàng đầu của công tác xã hội viên [9]
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thị Thư đưa ra quan điểm: “ Công tác xãhội cá nhân là phương pháp của CTXH nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân nâng cao nănglực tự giải quyết vấn đề thông qua mối quan hệ làm việc một - một” [14]
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Thái Lan và Bùi Thị Xuân Mai [7], phươngpháp CTXH cá nhân được thực hiện theo tiến trình gồm 7 bước: Bước 1: Tiếp cậnthân chủ; Bước 2: Xác định vấn đề; Bước 3: Thu thập thông tin; Bước 4: Đánh giáchuẩn đoán; Bước 5: Lên kế hoạch giải quyết vấn đề; Bước 6: Thực hiện kế hoạch;Bước 7: Lượng giá và kết thúc
1.1.3.2.Công tác xã hội nhóm
Phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp can thiệp chính củacông tác xã hội Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong
Trang 26nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻnhững mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhómnhằm đặt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đíchcủa cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt động công tác
xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điềuphối của nhân viên CTXH (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm)[6, tr 28 - 29]
1.1.3.3.Công tác xã hội cộng đồng
Phát triển cộng đồng là một phương pháp can thiệp của CTXH nhằm trợ giúpmột cộng đồng phát triển những tiềm năng sẵn có của họ, hướng tới sự phát triểnkhông ngừng về đời sống vật chất, tinh thần của người dân thông qua việc nâng caonăng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân vớinhau, giữa người dân với tổ chức và giữa tổ chức với nhau trong khuôn khổ cộngđồng [14, tr 63 - 64]
Như vậy, công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp sử dụng 3 phương phápcan thiệp chính là công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm và công tác xã hộivới cộng đồng Mỗi phương pháp công tác xã hội là một tiến trình giải quyết cácvấn đề khác nhau của từng nhóm đối tượng, đòi hỏi người nhân viên CTXH biếtứng dụng phương pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể trong quá trình trợ giúpđối tượng
1.2 Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
1.2.1 Giáo dục hòa nhập
1.2.1.1 Khái niệm giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ
Trang 27Theo tác giả Nguyễn Xuân Hải: khái niệm giáo dục hòa nhập hiện đang được thừanhận và sử dụng tương đối phổ biến ở Việt Nam Khái niệm GDHN được xác định nhưsau: “ Giaso dục hòa nhập là phương thức giáo dục cho những trẻ có hoàn cảnh đặc biệtcùng học với trẻ em khác, trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống” [3, tr 20].Giáo dục hòa nhập là một khái niệm được điều chỉnh trong giáo dục đặc biệt.
Hòa nhập có nghĩa là bao gồm, bao hàm, được khởi nguồn từ khái niệm là: “Giáo
dục cho tất cả mọi người” (EFA: Education for ALL, Liên hợp quốc- Năm quốc tế
xóa mù chữ, 1990) và “Giáo dục theo nhu cầu đặc biệt” (SNE: Special Needs
Education- Tuyên bố Salamanca về các nguyên tắc, chính sách và thực hiện tronggiáo dục theo nhu cầu đặc biệt và Cương lĩnh hành động Salamanca, Tây Ban Nha,UNESCO, 1994) [17, tr.223-224]
Tác giả Nguyễn Thị Mai Lan khẳng định: Giáo dục hòa nhập là phương thức giáodục trong đó trẻ khuyết tật nói chung được học tập cùng với những trẻ em bình thườngtại các trường công lập hoặc dân lập ngay chính tại địa bàn các em sinh sống [5, tr.198].Trong các khái niệm đã nêu trên, tôi sẽ sử dụng khái niệm của tác giả NguyễnThị Mai Lan làm khái niệm công cụ để nghiên cứu
1.2.1.2.Nhiệm vụ của giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập có rất nhiều nhiệm vụ, nhưng trong nghiên cứu tôi chỉ đưa
ra một số nhiệm vụ cơ bản nhất:
Thứ nhất, tạo điều kiện cho các trẻ khuyết tật nói chung và làm tất cả mọi thứ
có thể để đảm bảo cho trẻ được học tập cùng với những trẻ em bình thường tại cáctrường công lập hay dân lập ngay tại chính địa bàn các em sinh sống
Thứ hai, đảm bảo quyền cơ bản của con người, đó là quyền được đến trường.
Cụ thể ở đây, chính là đảm bảo quyền bình đẳng cho trẻ khuyết tật nói chung đượcđến trường học tập như trẻ bình thường Đảm bảo cho trẻ khuyết tật hưởng những
Trang 28quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào mọi hoạt động xãhội và có cơ hội cống hiến
Thứ ba, trợ giúp trẻ khuyết tật phát triển toàn diện các mặt: đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và khả năng lao động Nói cách khác là phát triển kiến thức, kỹnăng văn hóa xã hội, thái độ tích cực Trợ giúp các cá nhân, gia đình có trẻ khuyếttật nói chung tiếp cận với các dịch vụ về giáo dục hòa nhập
Thứ tư, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội hiểu rõ hơn về khả
năng của trẻ khuyết tật nói chung, từ đó nhằm tạo cơ hội cho trẻ được hòa nhập tốtnhất; tạo cơ hội phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại của trẻ khuyếttật để các em hình thành và phát triển nhân cách
1.2.1.3 Phương pháp giáo dục hòa nhập
Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục hòa nhập, cần phải vận dụng nhiềuphương pháp giáo dục khác nhau Có rất nhiều phương pháp giáo dục hòa nhập, tuynhiên trong luận văn này tôi chỉ đưa ra một số phương pháp cơ bản nhất:
Tìm kiếm và tạo cho trẻ môi trường giáo dục hòa nhập phù hợp; Xây dựngquan điểm dân chủ, bình đẳng; Xây dựng nhà trường rộng mở và văn hóa trườnghọc chào đón sự đa dạng của học sinh; Xây dựng hệ thống hỗ trợ đối với giáo viên
về phương pháp dạy học và tư vấn
Giám sát đảm bảo kế hoạch giáo dục cá nhân cuả trẻ được thực hiện; Hỗ trợnhững công cụ cần thiết trong quá trình giáo dục hòa nhập; Phối hợp chặt chẽ giữagia đình, nhà trường và các bên tham gia trợ giúp giáo dục hòa nhập
Tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường nơi trẻ tự kỷ tham gia học hòa nhập
để tránh sự phân biệt đối xử, nhằm tăng cường sự giúp đỡ của các học sinh bìnhthường đối với trẻ tự kỷ
Trang 291.2.2 Trẻ tự kỷ
1.2.2.1 Khái niệm trẻ tự kỷ
- Khái niệm trẻ em:
Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989 xác định: Trẻ em là người dưới
18 tuổi Tuy nhiên tính đến sự khác biệt giữa các nước thành viên phê chuẩn văn
bản pháp lý quốc tế, công ước cũng thừa nhận pháp luật của quốc gia có thể quy định
độ tuổi trẻ em thấp hơn tùy điều kiện cụ thể của từng quốc gia
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ emđược Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5
thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 thì “Trẻ em quy định
trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Trong phạm vi nghiên cứu của
luận văn chúng tôi sử dụng khái niệm về trẻ em theo quy định của Công ước quốc tế
về Quyền trẻ em năm 1989
- Khái niệm tự kỷ:
Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ đã đưa ra định nghĩa: “Tự
kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiềumặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ
xã hội”
Tại Việt Nam các tác giả cũng đưa ra các khái niệm về tự kỷ như sau:
Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh (2007) cho rằng: “Tự kỷ là một bệnh lý thần kinhbao gồm những khiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác và giao tiếp xã hội đikèm với những quan tâm và hoạt động bó hẹp, định hình Tự kỷ là một hội chứngrối loạn phát triển ở trẻ em” [11, tr 7]
Trang 30Gần đây nhất, trong cuốn sách “ Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản”tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến nêu ra thuật ngữ tự kỷ như sau: Thuật ngữ này dùng
để chỉ những cá nhân có vấn đề về tương tác xã hội, về giao tiếp và có những mốiquan tâm và những hoạt động lặp lại, rập khuôn thời kỳ 36 tháng tuổi [17]
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai Lan: Tự kỷ là một dạng rốiloạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, người bị tự kỷ có những rối loạn vềnhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội và hành
vi [5, tr.107]
Mỗi tác giả có một quan điểm và đưa ra các khái niệm khác nhau về tự kỷ, tuynhiên các tác giả đều có chung một cách nhìn về biểu hiện rõ nét về tự kỷ là tươngtác và giao tiếp xã hội
- Khái niệm trẻ tự kỷ:
Dựa trên cơ sở khái niệm trẻ em và khái niệm tự kỷ nêu trên, tôi đưa ra khái
niệm TTK như sau: Trẻ tự kỷ là những trẻ dưới 18 tuổi, có biểu hiện về tương tác
-giao tiếp kém; thường lặp lại những thói quen hàng ngày; chậm chễ trong ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói khác thường; có những hành vi rập khuôn, định hình; khả năng tư duy trừu tượng hạn chế.
1.2.2.2 Tiêu chí chẩn đoán trẻ tự kỷ
Có rất nhiều tiêu chí để chẩn đoán trẻ tự kỷ, những trong luận văn tôi sử dụngtiêu chí của tác giả Nguyễn Hoàng Yến làm tiêu chí để thực hiện nghiên cứu đề tài.Theo tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến [9], tiêu chí chẩn đoán trẻ tự kỷ như sau:
(1) Giảm khả năng định tính trong tương tác xã hội thể hiện ở ít nhất hai trong số những biểu hiện sau:
Trang 31- Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa dạngnhư ánh mắt, nét mặt, các tư thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo ra sự liên hệ mangtính chất xã hội.
- Không có khả năng xây dựng các mối quan hệ đối với bạn đồng trang lứaphù hợp với mức độ phát triển
- Thiếu sự đòi hỏi tự nhiên đối với việc chia sẻ niềm vui, sở thích, các mốiquan tâm hay các thành tích đạt được với những người khác (ví dụ như không baogiờ mang hay chỉ cho người khác xem những thứ mình thích)
- Thiếu sự trao đổi qua lại về tình cảm hoặc xã hội
(2) Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ở ít nhất một trong số những biểu hiện sau:
- Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói (không có ham muốn bùđắp lại hạn chế này bằng các cách giao tiếp khác, ví dụ như những cử chỉ điệu bộthuộc kịch câm)
- Với những các nhân có thể nói được thì lại suy giảm khả năng thiết lập vàduy trì đối thoại
- Sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và rập khuôn hoặc sử dụng ngôn ngữ khác thường
- Thiếu những hoạt động/ cách chơi đa dạng, trò chơi đóng vai, hoặc thiếu hoạtđộng/ cách chơi bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức độ phát triển
(3) Những kiểu HV, những mối quan tâm và hoạt động lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn, thể hiện ở ít nhất một trong các biểu hiện sau:
- Quá bận tâm đến một hoặc một số những mối quan hệ có tính chất rậpkhuôn và bó hẹp với một mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường
Trang 32- Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và khôngmang tính chức năng.
- Có những biểu hiện vận động mang tính lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn (ví dụ
gõ tay hoặc vặn tay, hoặc có kiểu di chuyển cả thân người một cách phức tạp), đitrên các đầu ngón chân
- Bận tâm dai dẳng đối với các bộ phận của vật thể
1.2.2.3 Đặc điểm, tâm sinh lý của trẻ tự kỷ
Đặc điểm, tâm sinh lý của TTK có rất nhiều biểu hiện khác nhau và rất phứctạp, trong luận văn tôi chỉ khái một vài đặc điểm tiêu biểu của TTK đang tham giahọc hòa nhập tại trường như sau: Cảm giác , tri giác chậm chạp, phân biệt kém,thiếu tính tích cực; Tư duy chủ yếu là tư duy cụ thể, tính không liên tục, tính logickém; Trí nhớ hiểu chậm , quên nhanh, ghi nhớ một cách máy móc bên ngoài; Chú ýthời gian ngắn, khó tập trung vào một công việc, thiếu tính bền vững; Ngôn ngữ rất hạnchế, vốn từ ít, phát âm thường sai, chậm nói…
Ngoài những đặc điểm trên, trẻ tự kỷ còn có nhiều biểu hiện khi tham gia họchòa nhập tại trường như:
Các em luôn thu mình, không hứng thú với các bạn trong lớp và trong trường.Trong lớp học, trẻ thường lầm lì, ít nói, cô gióa hỏi cũng không trả lời, không giơtay phát biểu ý kiến Không thích hoạt động theo nhóm, và không thiết lập đượcquan hệ với bạn bè cùng tuổi Trẻ tự kỷ có nhiều lời nói vô nghĩa không phù hợpvới hoàn cảnh, nhại lại lời người khác một cách chính xác nhưng không hiểu đượcnghĩa của chúng
Khi giao tiếp với giáo viên hay người khác, các học sinh tự kỷ thường khôngnhìn vào mặt người đối diện và rất ít hoặc không có tiếp xúc mắt mà thường nhìn đi
Trang 33chỗ khác khi nói hoặc phát biểu; Tình cảm rất hạn chế ngay cả với bố mẹ và ngườithân trong gia đình Không chia sẻ cảm xúc buồn vui, không quan tâm đến hoạtđộng xung quanh trẻ
Chưa kiểm soát được hành vi của mình, các em hay nói năng tự do trong giờhọc, khi cô giáo đang giảng bài hay học sinh khác đang làm bài, hay khóc khi khôngđược đáp ứng nhu cầu của bản thân; Khi tức giận hoặc không đồng ý điều gì, nhữnghọc sinh tự kỷ thường hét toáng lên, khóc, đập tay vào bàn, vò sách vở,tự cắn vào tay…gây sự chú ý của mọi người
Trẻ thường quá say mê một vật gì đó, lúc nào cũng giữ và ôm khư khư trongtay Các em rất thích xếp đồ vật theo thứ tự, ngăn nắp một cách kỳ lạ và có phảnứng mạnh mẽ khi thứ tự đó bị xáo trộn Trẻ tự kỷ rất kén chọn thức ăn, các em không
ăn những đồ ăn mà mình không thích
Những ngày thay đổi thời tiết, sau ngày nghỉ cuối tuần hay nghỉ lễ dài ngày, cáchọc sinh này thường có biểu hiện bất thường như: khóc không chịu vào lớp, hay la hét,không tập trung học tập, mệt mỏi, uể oải, không chấp hành quy định của giáo viên.Trong nhiều đặc điểm nói trên thì đặc điểm về ngôn ngữ, giao tiếp, chú ý vàhành vi là những đặc điểm nổi bật của trẻ tự kỷ
1.2.3 Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Có nhiều khái niệm khác nhau về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, song tôithấy khái niệm GDHN cho trẻ tự kỷ của tác giả Nguyễn Thị Mai Lan đưa ra thểhiện khá đầy đủ và cụ thể: “Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ được hiểu là hình thứcgiáo dục trẻ tự kỷ trong lớp học bình thường ngay tại địa bàn nơi trẻ sinh sống Tùythuộc vào mức độ tự kỷ của trẻ, nhà trường tiếp nhận và đưa trẻ vào lớp học phù
Trang 34hợp, kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các lực lượng tham gia vào quá trình giáodục nhằm đảm bảo cho TTK có được các điều kiện tốt nhất để học tập và phát triểnnhân cách” [10, tr.198].
Trong luận văn, tôi sử dụng khái niệm về GDHN cho trẻ tự kỷ của tác giảNguyễn Thị Mai Lan làm công cụ để nghiên cứu
1.2.3.2 Nhiệm vụ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Để dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ cần phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau,dưới đây là một số nhiệm vụ cơ bản nhất:
Tạo điều kiện cho trẻ tự kỷ và làm tất cả mọi thứ có thể để đảm bảo cho trẻđược học tập cùng với những trẻ em bình thường tại các trường công lập hay dânlập ngay tại chính địa bàn các em sinh sống Vận động gia đình trẻ tự kỷ tạo điềukiện để trẻ tự kỷ được tham gia học hòa nhập, tác động tới các trường phổ thông đểcán bộ quả lý và giáo viên có cái nhìn tích cực hơn về trẻ tự kỷ để tiếp nhận các emvào học tập
Đảm bảo quyền cơ bản của con người, đó là quyền được đến trường Cụ thể ởđây, chính là đảm bảo quyền bình đẳng cho trẻ tự kỷ được đến trường học tập nhưtrẻ bình thường Vận động chính sách, pháp lý có những văn bản chỉ đạo và hướngdẫn cụ thể đối với việc tiếp nhận trẻ tự kỷ vào học hòa nhập tại các trường phổthông như trẻ khuyết tật Đảm bảo cho trẻ tự kỷ hưởng những quyền giáo dục cơbản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào mọi hoạt động xã hội và có cơ hộicống hiến
Trợ giúp TTK phát triển toàn diện các mặt: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và khả năng lao động Nói cách khác là phát triển kiến thức, kỹ năng văn hóa xãhội, thái độ tích cực Khi đi học hòa nhập trẻ tự kỷ sẽ có cơ hội phát triển về thái độ
ý thức một cách tích cực hơn dưới sự hỗ trợ giúp đỡ của giáo viên, bạn bè Được
Trang 35học tập, trẻ tự kỷ được tiếp thu kiến thức theo khả năng của bản thân nhằm phát huyđược những mặt mạnh từ bản thân trẻ tự kỷ.
Trợ giúp các cá nhân, gia đình có TTK tiếp cận với các dịch vụ về giáo dụchòa nhập như : trường phổ thông tiếp nhận trẻ tự kỷ học hòa nhập; chế độ, chínhsách dành cho trẻ tự kỷ học hòa nhập hòa nhập, nguồn nhân lực hỗ trợ trẻ tự kỷ họchòa nhập…
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội hiểu rõ hơn về khả năngcủa trẻ tự kỷ, từ đó nhằm tạo cơ hội cho trẻ được hòa nhập tốt nhất; tạo cơ hội pháttriển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại của TTK để các em hình thành vàphát triển nhân cách Truyền thông cho mọi người hiểu rõ hơn về đặc điểm của trẻ
tự kỷ, khả năng của các em, những mặt mặt mạnh các em có thể phát huy đượcbằng cách phát tài liệu trực tiếp, tuyên truyền trên các kênh truyền hình, đưa sáchvào thư viện của các trường học…Đặc biệt đối với học sinh tiểu học, đưa các câuchuyện kèm theo tranh minh họa về học sinh tự kỷ, tấm gương tiêu biểu vượt khótrong học tập và rèn luyện vào thư viện trường học Thông qua cách giáo dục này,giúp cho học sinh ngay từ bậc tiểu học hiểu được vấn đề của trẻ tự kỷ, giúp cho các
em có thái độ nhìn nhận tích cực hơn về trẻ tự kỷ
1.2.3.3 Phương pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Khi thực hiện giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, cần sử dụng linh hoạt rất nhiềuphương pháp khác nhau để hỗ trợ trẻ tự kỷ Nhưng trong đề tài nghiên cứu của mìnhtôi chỉ đưa ra một số phương pháp cơ bản sau:
Xây dựng hệ thống hỗ trợ đối với giáo viên về phương pháp dạy học và tư vấn;Giám sát đảm bảo kế hoạch giáo dục cá nhân của trẻ tự kỷ được thực hiện; Hỗ trợ nhữngcông cụ cần thiết trong quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ; Phối hợp chặt chẽgiữa gia đình, nhà trường và các bên tham gia trợ giúp giáo dục hòa nhập cho trẻ tựkỷ; Tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường nơi trẻ tự kỷ tham gia học hòa nhập để
Trang 36tránh sự phân biệt đối xử từ các học sinh bình thường; Giáo viên tích cực phát triểnkhả năng linh hoạt của mình khi đối mặt với những thách thức trong việc đáp ứngnhu cầu của trẻ tự kỷ; Áp dụng tiếp cận dạy học đa dạng và tạo cơ hội để trẻ tự kỷphát huy tối đa tiềm năng của mình; Rút kinh nghiệm từ những việc thất bại đểhướng tới sự thành công trong GDHN cho trẻ tự kỷ; Thường xuyên trao đổi kinhnghiệm chuyên môn về GDHN cho trẻ tự kỷ để thực hiện có hiệu quả hơn.
Khi thực hiện giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, phương pháp được xem là hiệuquả nhất là giáo dục mọi lúc mọi nơi, giáo dục về mặt kiến thức, nề nếp sinh hoạthàng ngày, các hoạt vui chơi giải trí dành cho trẻ tự kỷ
1.3 Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
1.3.1 Khái niệm công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Trên cơ sở phân tích những khái niệm về công tác xã hội, giáo dục hòa
nhập,trẻ tự kỷ tôi đưa ra khái niệm như sau: Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập
đối trẻ tự kỷ là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp, nhằm trợ giúp trẻ tự kỷ trong quá trình tham gia giáo dục hòa nhập nâng cao năng lực, đáp ứng được nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội Thông qua các hoạt động cụ thể, nhân viên công tác xã hội thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và các dịch vụ nhằm giúp trẻ tự kỷ và gia đình các em giải quyết các khó khăn, trở ngại trong quá trình tham gia giáo dục hòa nhập Đồng thời góp phần đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ tự kỷ, tiến tới ổn định và công bằng xã hội.
Nhân viên công tác xã hội được hiểu là những người được đào tạo một cáchchuyên nghiệp về công tác xã hội; nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng và phươngpháp CTXH của mình để thực hiện các hoạt động trợ giúp cho cá nhân trẻ tự kỷ, giađình trẻ tự kỷ, giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường góp phần tích cực vào cải thiện
và nâng cao hiệu quả GDHN cho trẻ tự kỷ Trong luận văn, tôi coi giáo viên hỗ trợtrẻ tự kỷ là nhân viên công tác xã hội
Trang 371.3.2 Nhiệm vụ của công tác xã hội đối với giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Trong môi trường trẻ tự kỷ học hòa nhập, CTXH có nhiệm vụ hết sức quantrọng đối với những người tham gia hỗ trợ hòa nhập cho cá nhân trẻ tự kỷ ( giáoviên dạy lớp hòa nhập, cán bộ quản lý, gia đình trẻ và giáo viên đi kèm, các nhânviên khác)
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đó nhân viên xã hội cần tiến hành các hoạt động sau:
1.3.2.1 Trang bị kiến thức, kỹ năng cho phụ huynh, giáo viên và những người tham gia hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Nhân viên CTXH trang bị kiến thức, kỹ năng cho trẻ tự kỷ, gia đình trẻ tự kỷ,giáo viên chủ nhiệm và giáo viên hỗ trợ nhằm giúp đỡ trẻ tự kỷ khắc phục nhữngkhó khăn mà trẻ gặp phải trong môi trường giáo dục hòa nhập Nhân viên xã hộitrang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho TTK khi tham gia học hòa nhập: kỹnăng tự phục vụ bản thân, kỹ năng giao tiếp…; trợ giúp phụ huynh, giáo viên vànhững người tham gia GDHN cho trẻ tự kỷ hiểu chi tiết về biểu hiện của trẻ tự kỷ;đặc điểm về thể chất; đặc điểm về tâm lý; đặc biệt là trang bị kiến thức về nhu cầu
mà TTK cần được đáp ứng trong quá trình trẻ học hòa nhập; trang bị các kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng tạo lập mối quan hệ, kỹ năng ứng phó khi TTK không hợp tác;cải thiện các kiến thức, kỹ năng đó thông qua hình thức tuyên truyền trực tiếp haygián tiếp; thông qua các buổi tập huấn, tổ chức tọa đàm
Nhân viên CTXH trang bị cho phụ huynh, giáo viên và những người tham gia
hỗ trợ GDHN những kiến thức cơ bản nhất về trẻ tự kỷ Việc làm đầu tiên là giúp
họ nhận thấy những biểu hiện cơ bản nhất về hành vi của TTK như thu mình, khôngthích chơi với bạn bè, thỉnh thoảng nổi cáu khi các yêu cầu không được đáp ứng,các hành vi la hét, khóc lóc hay diễn ra khi thời tiết thay đổi, có những sở thích cábiệt… Đồng thời giúp những người tham gia hỗ trợ GDHN cho trẻ tự kỷ hiểu rõ đặcđiểm tâm lý của trẻ, những đặc điểm nổi trội như đặc điểm về ngôn ngữ, giao tiếp,
Trang 38các nhu cầu mà trẻ cần đáp ứng Ngoài ra, còn giúp họ hiểu khả năng nhận thức vềhọc tập của trẻ tự kỷ Từ những kiến thức đó, giúp cho phụ huynh, gáo viên vànhững người tham gia hỗ trợ GDHN cho trẻ tự kỷ có cách nhìn nhận tích cực hơn
về trẻ tự kỷ, giúp họ hiểu rằng nếu giáo dục hòa nhập cho TTK đúng cách sẽ manglại sự phát triển toàn diện, khai thác tuyệt đối tiềm năng ở trẻ tự kỷ Đối với nhữngtrẻ có khả năng học ngoại ngữ, đàn, vẽ…các em có cơ hội để phát huy những thếmạnh đó ngay tại trường học hòa nhập
Nhân viên CTXH trang bị các kỹ năng cần thiết cho trẻ tự kỷ, phụ huynh ,giáo viên và các bên tham gia hỗ trợ GDHN kỹ năng tiếp cận với trẻ tự kỷ Để tiếpcận được với TTK thì những người tham gia hỗ trợ trẻ cần hiểu rõ sở thích, nhu cầucủa trẻ để tiếp cận với trẻ Đồng thời trang bị các kỹ năng giao tiếp với TTK bằnglời, không lời tùy vào đặc điểm của từng trẻ Có những trẻ thích vỗ về, nhưng cónhững trẻ thì không, chủ yếu khi giao tiếp với TTK cần sự nhẹ nhàng, khen ngợi khitrẻ làm được một việc gì đó Ví dụ: Khi TTK làm được một việc gì tiến bộ, cha mẹhay giáo viên nên khen động viên để trẻ thấy hứng thú với việc làm đó và tiếp tụcphát huy Một trong ngững kỹ năng rất quan trọng mà nhân viên CTXH cần trang bịcho các bên tham gia hỗ trợ GDHN là kỹ năng ứng phó với tình huống khi trẻkhông hợp tác bằng cách làm trái ý, ăn vạ, khóc lóc và hét to Khi trẻ phản ứngkhông hợp tác không nên dùng bạo lực với trẻ, người hỗ trợ thường sẽ im lặng chođến khi các hành vi phản ứng của trẻ hạ xuống, chú ý các sở thích của trẻ để làm dịucác hành vi này
Ngoài ra nhân viên CTXH cần trang bị cho các bên tham gia hỗ trợ hòa nhậpcác kỹ năng khác như kỹ năng tổ chức trò chơi tại trường, kỹ năng giúp TTK có khảnăng tự phục vụ bản thân đáp ứng những yêu cầu cơ bản khi học tại trường…
1.3.2.2 Tham vấn/ tư vấn cho trẻ tự kỷ, gia đình trẻ tự kỷ, giáo viên và những người tham gia hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ
Trang 39Nhân viên xã hội triển khai các hoạt động tư vấn/ tham vấn tâm lý cho TTK ,gia đình các em nhằm giúp đỡ TTK và gia đình các em vượt qua những gặp khókhăn, nâng cao năng lực ứng phó và khả năng giải quyết các vấn đề trong quá trìnhcác em tham gia học hòa nhập Từ đó làm giảm bớt tâm lý tự ti, mặc cảm, chán nảnbuồn rầu, lo lắng, không còn chút hy vọng vào tương lai của con mình, tránh khỏi
sự tách biệt với xã hội Tham vấn tâm lý cho phụ huynh chấp nhận với thực tại khi
có trẻ mắc tự kỷ, thay đổi suy nghĩ nhận thức về TTK để có các biện pháp giáo dụckịp thời Tham vấn cho phụ huynh thấy rõ phương pháp GDHN là phương phápmang lại hiệu quả tốt nhất cho trẻ Khi đi học hòa nhập, trẻ được học tập vui chơicùng với các bạn bình thường, nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và các bạn, quyềnhọc tập của trẻ được đảm bảo Khi tham gia học hòa nhập, trẻ tự kỷ sẽ được cảithiện về mặt giao tiếp, khả năng nhận thức, giảm bớt các hành vi lệch chuẩn, trẻ có
cơ hội phát huy những thế mạnh của bản thân
Tham vấn cho cán bộ quản lý nhà trường lồng ghép chương trình GDHN chotrẻ tự kỷ vào tiết Hoạt động tập thể tập thể, Thư viện, Đạo đức…nhằm giáo dục ýthức cho học sinh bình thường Thông qua bài học giúp các em biết quan tâm, giúp
đỡ trẻ tự kỷ, làm giảm sự phân biệt kỳ thị trong môi trường GDHN, tăng khả nănggiao tiếp cho trẻ tự kỷ
Tham vấn cho giáo viên dạy lớp hòa nhập về mặt tâm lý trước các hành vi bấtthường của trẻ tự kỷ , phương pháp truyền đạt, cách xử lý các tình huống ứng phókhi TTK không hợp tác, tích cực tham gia trợ giúp trẻ tự kỷ trong tiết học
Tham vấn cho giáo viên đi kèm các phương pháp hỗ trỡ trẻ trong giờ học, cáchthức tổ chức các hoạt động trò chơi, cách thức kết nối vòng tay bè bạn cho trẻ, giáo dụctrẻ mọi lúc mọi nơi, trong giờ học giờ chơi cũng như giờ ăn ngủ…nhằm trợ giúp trẻ tự
kỷ tăng cường khả năng tự phục vụ cho bản thân trong quá trình học hòa nhập tại trường.Tham vấn cho cán bộ quản lý Trung Tâm hỗ trợ hòa nhập thường xuyên tổchức hội thảo, tập huấn kiến thức chuyên môn về hỗ trợ GDHN cho cán bộ giáo
Trang 40viên, giáo viên đi kèm, phụ huynh và các bên tham gia hỗ trợ hòa nhập Quản lý sátsao GVĐK trong việc thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho từng trẻ tại trường.
1.3.2.3 Hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình tiếp cận các chính sách, nguồn lực xã hội
Nhân viên CTXH hỗ trợ trẻ tự kỷ và gia đình tiếp cận các chính sách, nguồnlực xã hội nhằm để trẻ tự kỷ được đáp ứng các nhu cầu, góp phần giảm bớt gánhnặng kinh tế cho gia đình khi TTK đi học hòa nhập Nhân viên CTXH trợ giúp giađình trẻ tự kỷ kết nối nguồn tài trợ từ các chương trình dự án, các tổ chức, cá nhândành cho trẻ tự kỷ Đề xuất chính sách giảm một phần phí hỗ trợ GDHN cho trẻ tự
kỷ Để thực hiện hoạt động vận động và kết nối nguồn lực, nhân viên công tác xãhội cần phải có các hoạt động tìm hiểu, thu thập thông tin, đánh giá nhu cầu, xácđịnh vấn đề,…của trẻ tự kỷ Từ đó, tìm hiểu các nguồn lực có thể huy động đượcnhư nguồn lực huy động từ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-
xã hội, cộng đồng, nhà hảo tâm, tổ chức phi chính phủ, sao cho phù hợp và đạt hiệuquả cao nhất trong hoạt động trợ giúp đối tượng giải quyết các vấn đề Nhân viênCTXH sẽ lên kế hoạch về bố trí nguồn lực (ngân sách, nhân lực, tài lực), vận độngđóng góp, lập hồ sơ xin tài trợ các nguồn lực trong nước và quốc tế Gặp gỡ trựctiếp các đối tác có thể huy động nguồn lực như người đứng đầu hoặc người được ủyquyền của các cơ quan, tổ chức nhà nước; chủ doanh nghiệp,…
1.3.2.4 Đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp (quản lý ca)
Nhân viên công tác xã hội cùng với giáo viên, gia đình trẻ tự kỷ, giáo viênchủ nhiệm, giáo viên hỗ trợ đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch trợ giúp ( quản lýtrường hợp) Nhân viên CTXH cần biết đánh giá các nhu cầu, mong muốn đích thựccủa cha mẹ trẻ tự kỷ khi các em tham gia GDHN tại trường, sau đó xác định nhữngnguồn lực phù hợp với nhu cầu của cha mẹ để từ đó kết nối một cách có hiệu quảnhững nhu cầu và nguồn lực đó Đây được xem như nhóm hoạt động rất quan trọngtrong việc trợ giúp cha mẹ TTK giải quyết các vấn đề khi con tham gia vào lớp