Sách giáo khoa tin học 9
Trang 1CHƯƠNG I
MẠNG MÁY TÍNH VÀ INTERNET
Chương I trình bày một số kiến thức
cơ bản của mạng máy tính, giới thiệu
một số dịch vụ trên Internet
§ 1 MẠNG MÁY TÍNH
1 Kết nối các máy tính
Kết nối các máy tính là tổ chức việc truyền thông giữa các máy tính Chúng ta
có thể kể ra một số vấn đề không thể giải quyết nổi nếu như không tổ chức việc truyềnthông giữa các máy :
tài nguyên đắt tiền như bộ xử lí tốc độ cao, đĩa cứng dung lượng lớn, máy inlaser màu tốc độ cao, cơ sở dữ liệu
trong thời gian ngắn mà việc truyền tải thông tin qua đĩa mềm hoặc dĩacompact là không đáp ứng được
2 Khái niệm mạng máy tính
Mạng máy tính là hệ thống trao đổi thông tin giữa các máy tính Một mạng máy tính bao gồm các thánh phần cơ bản:
Mạng truyền tin (gồm các kênh truyền tin và các phươngtiện truyền thông)
Các máy tính được kết nối với nhau.
Hệ điều hành mạng.
Người sử dụng mạng máy tính có khả năng sử dụng các tài nguyên chung nhưchương trình, các thiết bị kĩ thuật, các thông tin
Mạng máy tính bao gồm các nút (các máy tính, các trạm làm việc, ) và các
kênh nói chung Kênh nối là đường nói trực tiếp hai nút.
Các máy tính có thể nối thành mạng theo nhiều dạng
Mạng máy tính được nối liên tiếp nhau trên một đường thẳng gọi là mạngđường thẳng
Mạng máy tính được nối liên tiếp nhau trên một đường tròn gọi là mạng vòng.Mạng máy tính được nối với nhau chung quang một máy tính nào đó được gọi
là mạng hình sao
Trang 2Mạng hình saoHình 1 Sơ đồ các cấu trúc mạng thường gặp.
Các kiểu cấu trúc mạng có ảnh hưởng đến khả năng của mạng:
Loại thiết bị mạng cần
Các khả năng của thiết bị
Sự phát triển của mạng
Cách quản lí mạng
Người ta có thể cài đặt mạng theo một hoặc
một số kiểu tuỳ theo điều kiện và nhu cầu thực tế
Để thực hiện kết nối các máy tính cần sử dụng
các thiết bị đặc chủng như: Cáp mạng, Giắc cắm, Card
mạng, Hub, Bộ khuyếch đại và chuyển tiếp (Repeater), Bộ chuyển mạch (Switch)
3 Phân loại các mạng máy tính
Trang 3Mạng diện rộng ( WAN – Wide Area NetWork ) là mạng kết nối những máy
tính ở cách nhau một khoảng cách lớn Mạng diện rộng thông thường liên kết các mạng cục bộ
4 Truyền thông trong mạng
Việc tổ chức truyền thông giữa các máy tính có thể được thực hiện thông quacác cổng của chúng bởi các kênh truyền : cáp nối, đường điện thoại, các vệ tinh liênlạc
Để các máy tính có thể giao dịch được với nhau, cần phải có các quy định đặcbiệt gọi là các giao thức truyền thông
Khi làm việc trong mạng, máy tính cần phải
được cài đặt một số phần mềm chuyên dụng, thực
hiện việc truyền dữ liệu tuân theo các giao thức
truyền thông
Dữ liệu cần truyền được tổ chức thành các
gói tin có kích thước xác định Các gói tin được đánh
Khi truuyền tin, nếu có lỗi thì gói tin phải truyền lại
Việc phối hợp xử lí giữa các máy tính trong mạng
được thực hiện theo một số mô hình Dưới đây là hai mô hình thông dụng :
a) Mô hình khách - chủ (Client – Server)
Trong mô hình này khi kết nối hai máy tính, một máy sẽ được chọn để đảmnhận việc cung cấp tài nguyên (chương trình, dữ kiệu, ), còn máy khác đảm nhậnviệc sử dụng các tài nguyên này Trong trường hợp đó, máy thứ nhất được gọi là máychủ (server), còn máy thứ hai – máy khách (client)
Ví dụ, máy chủ có thể là máy tính công suất lớn chứa cơ sở dữ liệu trung tâmcòn máy khách là máy khi có nhu cầu có thể đòi hỏi thông tin từ máy chủ
b) Mô hình ngang hàng (peer to peer) Trong mô hình này, tất cả các máy
tính đều bình đẳng với nhau Điều đó có nghĩa là mỗi máy vừa có thể cung cấp các tàinguyên của mình cho máy khác, vừa có thể sử dụng tài nguyên của máy khác trongmạng
Hình 4 Mạng diện rộng
Trang 4§ 2 MẠNG THÔNG TIN TOÀN CẦU INTERNET
Internet là mạng máy tính toàn cầu khổng lồ, kết nối hàng trăm nghìn mạng
máy tính trên khắp thế giới Internet cung cấp nguồn tài nguyên thông tin hầu như vôtận, các chỉ dẫn bổ ích, hỗ trợ giảng dạy và học tập, giải trí, giao tiếp với nhau, muabán trên mạng, truyền tệp, thư tín và nhiều khả năng khác
Nhờ có Internet mà ta có thể tiếp cận một cách thuận tiện với giá rẻ đến mộtkhối lượng thông tin khổng lồ và đa dạng Người sử dụng ở bất cứ đất nước nào cũng
có thể liên hệ với những người khác, chia sẻ mối quan tâm của mình hoặc thu đượccác thong tin quí báu từ các thư viện diện tử ngay cả ở các nước khác, cách xa nơimình ở hàng nghìn cây số
Các thông tin cần thiết xuát hiện trên máy của người sử dụng sau thời gianngắn (tính bằng giây), sau khi có thể đã qua dãy dài các máy tính trung gian theođường cáp nối hoặc theo đường truyền vô tuyến, qua nhiều núi, nhiều biển, qua đạidương mênh mông và qua vệ tinh
Internet được tài trợ bởi các chính phủ, các cơ quan khoa học và đào tạo các
doanh nghiệp và hàng triệu người trên thế giới, nhưng không có một ai là chủ sở hữu
của nó Điều khiển mạng này là “Hội đồng về kiến trúc Internet” gồm những cá nhân
tình nguyện
Internet được thiết lập vào năm 1984 và hiện tại đã có hàng triệu người sửdụng Internet phát triển không ngừng, bởi vì có rất nhiều người sử dụng có trình độcao đã viết các chương trình trước tiên là cho bản thân mình,sau đps lại chia sẻ chomọi người sử dụng Các máy chủ mới xuất hiện không ngừng, còn các máy hiện cóluôn cải tiến phương thức hoạt động của mình Nguồn thông tin trên mạng tăng vọt
Kết nối bằng cách nào? Một số cách kết nối Internet, trong đó có 2 cách sau:
1. Sử dụng môđem qua đường điện thoại Để tiến hành cài đặt, kết nối
máy tính với Internet theo cách này cần có hai điều kiện:
thoại
Hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP–InternetService Provider) Qua đó người sử dụng được cấp tên người sử dụng(User name) và mật khẩu (Password) để có quyền truy cập Internet
Hiện nay ngành bưu điện nước ta đảm bảo cho thuê bao điện thoại có thể kếtnối trực tiếp vào mạng Internet qua đường điện thoại
2. Sử dụng đường truyền riêng Với cách này :
Một máy tính (gọi là máy uỷ quyền (Proxy)) trong mạngLAN được dùng để kết nối với ISP Mọi yêu cầu truy cập Internet từ cácmáy trong mạng LAN được thực hiện thông qua máy uỷ quyền
Trang 5Do giá thành đắt nên chỉ các cơ quan, trường học, công ti lớn, mới sử dụngcách thức này.
Các mạng trong Internet kết nối với nhau như thế nào ?
Các mạng con của Internet có kiến trúc khác nhau, và được nối với nhau Cácthông tin truyền đi sẽ được phân chia thành các gói nhỏ Mỗi gói sẽ di chuyển trongmạng một cách độc lập, không phụ thuộc vào các gói khác
Các mạng trong Internet hoạt động liên tục và trao đổi với nhau, bởi vì tất cảcác máy tính tham gia vào truyền dữ liệu cùng sử dụng các giao thức truyền thông
thống nhất là bộ giao thức TCP|IP.
Bộ giao thức TCP|IP gồm nhiều giao thức, trong đó có hai giao thức chính,
chúng xác định các khía cạnh khác nhau của việc truyền tin trên mạng :
Giao thức TCP (Transmission Control Protocol) – Giao thức điều khiển
truyền tin, thực hiện một cách tự động việc truyền lại các gói tin có lỗi Giao thứcnày có chức năng thực hiện phân chia thông tin truyền thành các gói nhỏ và phụchồi thông tin gốc ban đầu từ các gói tin nhận được
Giao thức IP (Internet Protocol) giao thức tương tác trong mạng, chịu trách
nhiệm về địa chỉ và cho phép các gói tin trên đường đến đích đi qua một số mạng.Truyền thông theo giao thức TCP|IP như sau: Giao thức TCP Phân chia thôngtin ra thành các gói nhỏ và đánh dấu số tất cả các gói tin, sau đó với giao thức IP tất cảcác tin được truyền cho người nhận, ở đó giaop thức TCP lại kiểm tra xem đã thunhận đủ các gói tin hay chưa Sau khi đã nhận đủ các gói tin giao thức TCP sẽ sắp xếpchúng theo đúng thứ tự cần thiết và nối chúng lại thành một khối thống nhất
Làm thế nào gói tin đến đúng người nhận ?
Như ta biết, mỗi máy điện thoại có một số máy gồm mã vùng và số thuê bao
Mã vùng để xác định vị trí của máy điện thoại ở thành phố hay tỉnh nào Số thuê bao
là số xác định duy nhất cho một máy điện thoại ở địa phương đó Tương tự như vậy,mỗi máy tính khi nối vào mạng đều có địa chỉ
Địa chỉ này được lưu hành trên mạng dưới dạng số gọi là địa chỉ IP, ví dụ:145.39.5.235 Để thuận tiện cho người sử dụng, nhiều địa chỉ IP còn được biểu diễndưới dạng kí tự, ví dụ laodong.com.vn, Mỗi địa chỉ có thể gồm nhiều trường phân
cách nhau bởi dấu chấm “.” Thông thường trường cuối cùng là tên viết tắt của tên
nước: vn: Việt Nam, jp: Nhật Bản, fr: Pháp Ví dụ, máy chủ của Bộ giáo dục và Đàotạo Việt Nam có địa chỉ (tên miền) moet.edu.vn., hoặc Sở GD-ĐT Thừa Thiên Huếthuathienhue.edu.vn
Mỗi mạng kết nối với các mạng khác trên Internet đều phải có các máy dẫnđường – là máy tính được cài đặt các chương trình để phát các gói tin theo hướngthích hợp Máy dẫn đường dựa vào địa chỉ của gói tin để chuyển nó đến mạng tiếptheo trên hành trình tới đích
Trang 6§ 3 MỘT SỐ DỊCH VỤ CƠ BẢN CỦA INTERNET
Trên Internet có rất nhiều dịch vụ Dưới đây giới thiệu hai dịch vụ cơ bản
1 Tổ chức và tìm kiếm thông tin
Các thông tin trên Internet thường được tổ chức dưới dạng siêu văn bản Dưới
gốc độ người sử dụng, siêu văn bản là tổng thể trong đó tích hợp: văn bản, hình ảnh,
âm thanh, video và một số liên kết với các siêu văn bản khác Các liên kết này thường
được thể hiện bằng cách gạch chân hoặc đổi màu một số từ hay hình ảnh
Ví dụ, với siêu văn bản bản đồ thế giới, nếu như người sử dụng nháy chuột vàomột nước nào đó, người đó có thể nhận được các thông tin về quốc gia đó: Dưới dạngvăn bản như dân số, diện tích, ; Dưới dạng hình ảnh như bản đồ địa lí, quốc kì, ;Dưới dạng âm thanh như quốc ca, nhạc dân tộc,
Để tìm kiếm các siêu văn bản nói riêng, các tài nguyên trên Internet nói chung
và đảm bảo việc thâm nhập đến chúng, người sử dụng hệ thống WWW Hệ thống này
được xây dựng trên giao thức truyền tin đặc biệt, gọi là giao thức truyền tin siêu văn
bản HTTP (HyperText Transfer Protocol) và được cấu thành từ các trang WEB.
Trang WEB đặt trên một máy chủ tạo thành WEBsite
Trang WEB được tạo ra nhờ sử dụng ngôn ngữ siêu văn bản HTML(HyperText Markup Languge).
Ngôn ngữ HTML cho phép bổ sung vào văn bản các thẻ lệnh (tag), nhờ đó cóthể liên kết các đoạn văn bản này với các văn bản khác hoặc với các âm thanh, hìnhảnh,
Mỗi WEBsite có thể có nhiều trang, trang đầu tiên gọi là trang chủ (homepage)– là văn bản chứa các chỉ dẫn móc nối đến các trang khác của nó Địa chỉ của trangchủ được lưu hành trong Internet như là địa chỉ WEBsite
Hiện có nhiều phần mềm hướng dẫn cho mỗi có nhân, tổ chức xây dựng trangWEB riêng của mình Để truy nhập đến các trang WEB người sử dụng cần phải dùngcác chương trình hệ thống được gọi là các trình duyệt WEB
Trình duyệt WEB là chương trình giúp người sử dụng thực hiện đối thoại với WWW: duyệt các trang WWW, tương tác với các máy chủ trong WWW và các tài nguyên khác của Internet.
Có nhiều trình duyệt WEB khác nhau, trong đó thông dụng nhất là các trìnhduyệt WEB : Internet Explorer và Netscape Navigator
Trang 7Khi biết địa chỉ của một trang WEB nào đó, để truy cập vào nó ta phải gõ địachỉ đó vào dòng địa chỉ (Address) Trình duyệt WEB sẽ hiển thị trang WEB đó.
Các trình duyệt WEB có khả năng tương tác với các dạng máy chủ, sử dụngcác giao thức riêng của chúng Thông tin thu được thừ máy chủ sẽ được trình duyệtWEB đưa ra màn hình dưới dạng chuẩn, thuận tiện cho việc theo dõi
Nói cách khác, khi ta muốn sử dụng bất cứ một dịch vụ nào của Internet ta phải chỉ rõ các thành phần trong dòng địa chỉ, ví dụ: http://www.moet.edu.vn đó là
ta sử dụng giao thức http của dịch vụ www với địa chỉ (tên miền) moet.edu.vn mỗidịch vụ đều có giao thức riêng
2 Thư điện tử (E-mail)
Thư điện tử là dịch vụ thực hiện việc chuyển thông tin trên Internet thông quacác hộp thư điện tử Sử dụng dịch vụ này ngoài nội dung thư có thể truyền kèm cáctệp âm thanh, hình ảnh và cả các chương trình
Khi sử dụng hộp thư điện tử, mỗi thuê bao có một địa chỉ riêng có dạng:
<tên thuê bao>@<tên máy chủ của hộp thư>
Ví dụ: minhanh@yahoo.com, trong đó minhanh là tên thuê bao còn yahoo.com
là tên máy chủ
Thông tin truyền đến E-mail sẽ được cất giữ ở máy chủ Nhờ một chương trìnhchuyên dụng, thuê bao có thể mở thư của mình để xem và khi muốn có thể tải về máycủa mình
Để gửi thư điện tử, người gửi cần biết địa chỉ hộp thư của người nhận Thôngthường thư điện tử sẽ đến hộp thư của người nhận rất nhanh
Hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử cho phép người sửdụng đăng kí hộp thư của riêng mình như FPT, Yahoo,
3 Vấn đề bảo mật thông tin
Ngoài việc khai thác các dịch vụ trên Internet, người dùng cần phải biết bảo vệmình trước các nguy cơ trên Internet như tin tặc, virus, thư điện tử không rõ nguồngốc, Vấn đề bảo mật thông tin rất quan trọng trong thời đại Internet
a) Quyền truy cập website
Có nhiều cách để bảo vệ các trang web, một trong các cách đó là chỉ cho phéptruy cập có giới hạn, người dùng muốn sử dụng các dịch vụ hoặc xem thông tin phảiđăng nhập bằng tên và mật khẩu Nếu không được cấp quyền hoặc gõ không đúng mậtkhẩu thì sẽ không thể truy cập được nội dung của website đó
Nhiều cơ quan, trường học, công ti sử dụng cách này để một mặt cho phépthông tin có thể được phổ biến rộng rãi, mặt khác chỉ dành cho đúng các đối tượngquan tâm hoặc các đối tượng được phép sử dụng
Ví dụ, trong các website của một số công ti có những thông tin mà chỉ số ítngười có trách nhiệm mới được quyền truy cập, còn phần lớn nhân viên không được
Trang 8quyền truy cập Nhiều website hỗ trợ học và thi của các trường đại học cũng phânquyền truy cập thông tin, chẳng hạn có thông tin chỉ cho phép giảng viên hoặc cán bộquản lí đào tạo được biết, có thông tin dành cho rộng rãi học viên, sinh viên như bàikiểm tra, kết quả thi,
b) Mã hoá dữ liệu
Ta đã biết đến việc mã hoá thông tin thành dữ liệu để đưa vào máy tính ở các lớp trước Việc mã hoá thông tin còn được sử dụng vào nhiều mục đích khác, chẳng hạn để bảo mật thông tin
Mã hoá dữ liệu được sử dụng để tăng cường tính bảo mật cho các thông điệp
mà chỉ người biết cách giải mã mới đọc được Việc mã hoá có thể thực hiện bằng nhiều cách, kể cả bằng phần cứng lẫn phần mềm
Ví dụ Với tập chữ cái La-tinh, người ta có thể mã hoá một văn bản bằng cách
thay thế mỗi chữ cái trong văn bản bởi chữ cái khác trong bảng chữ cái La-tinh theo
quy tắc dịch chuyển vòng tròn một độ dài cố định k Trong bảng mã hoá dưới đây k =
Ví dụ, từ "bac" được mã hoá thành "dce"
c) Nguy cơ nhiễm virus khi sử dụng các dịch vụ Internet
Khi tải về từ Internet các tệp tài liệu, âm thanh hay một chương trình tiện ích, thì tệp đó có thể đã bị nhiễm virus Ngay khi chỉ duyệt các trang web, thông tin cũng
có thể bị mất hoặc bị nhiễm virus Để tự bảo vệ máy tính của mình, người dùng nêncài đặt một phần mềm chống virus (chẳng hạn, Norton Anti-Virus, BKAV, ) Phầnmềm này sẽ kiểm tra tệp tải về và sẽ thông báo nếu tệp đó có chứa virus Tuy nhiên,mỗi phần mềm chống virus chỉ có thể phát hiện, ngăn ngừa hoặc tiêu diệt được một sốloại virus nhất định Do vậy, cần cập nhật thường xuyên các phần mềm chống virus đểđảm bảo ngăn ngừa những loại virus mới xuất hiện
Trang 9- Khởi động trình duyệt I.E.
- Nhập địa chỉ trang WEB
- Tìm kiếm thông tin
1 Khởi động Trình duyệt I.E.
Thực hiện một trong các thao tác sau:
- Nháy chuột vào biểu tượng của I.E trên màn hình:
- Gõ phím Internet trên bàn phím (nếu có)
- Trên màn hình xuất hiện của sổ làm việc của I.E (hình 40).
2 Gõ địa chỉ trang web trên dòng Address
Chẳng hạn để truy cập địa chỉ http://www.vnn.vn ta cần thực hiện:
trang thông tin này đến
một trang thông tin
khác ta nháy chuột vào
các địa chỉ móc nối,
vào (back) để quay
về trang trước hoặc (Forward) để đến trang tiếp theo trong các trang mà chúng ta
đã duyệt qua Các địa chỉ móc nối thường là các dòng chữ được gạch chân hoặc đượchiển thị với màu nổi bật Có thể dễ dàng nhận biết các địa chỉ móc nối bằng việt dichuyển con trỏ chuột đến gần vị trí tương ứng, nếu đó là vị trí móc nối thì con trỏ
Trang 10chuột sẽ chuyển sang hình dạng của bàn tay với ngón trỏ hướng lên phía trên mànhình.
Ta thử dạo qua một địa chỉ móc nối trang www.vnn.vn chẳng hạn nháy đúpvào địa chỉ móc nối văn hóa, trang thông tin về văn hoá của www.vnn.vn sẽ được hiểnthị, ví dụ như trong hình dưới đây:
Có thể đọc các thông có trên trang này, hoặc lại nhấp vào các địa chỉ móc nối
có trên nó để đọc thêm các thông rinh liên quan ở trên các
trang khác
4 Cất giữ thông tin vào đĩa
Thông tin có trên trang web nhìn thấy trên màn hình
có thể đưa ra máy in hoặc cất giữ lên đĩa Ví dụ để ghi hình
ảnh có trên trang www.vnn.vn đã mở ở trên ta cần nháy
chuột phải vào hình ảnh cần lưu giữ, khi đó màn hình hiển
thị bảng chọn nháy chột vào save picture as, khi đó
windows sẽ hiển thị bảng ra bảng chọn để ta lựa chọn vị trí
cất giữ ảnh Hãy lựa chon thư mục, đường dẫn thích hợp và
đặt tên cho tệp ảnh nếu không chấp nhận tên do windows
đề xuất, sau đó nháy chuột vào save
để hoàn tất việc cất giữ
Để cất giữ tất cả các thông tin có trên trang Web hiện thời,nháy chuột vào chức năng file trong thanh công cụ I.E, bảngchọn xuất hiện
Chọn save as, windows sẽ hiển thị cửa sổ, trong đó ta có
thể đặt tên tệp chứa thông tin cần cất dữ, cũng như lựa chọnthích hợp để cất dữ tệp này
Trang 11Để in thông tin chứa trong trang web hiện thời, tiến hành tương tự như việc cất
giữ, chỉ khác là thay vì lựa chọn save as ta lựa chọn chức năng print trong bảng
chọn Khi đó Windows sẽ hiển thị bảng chọn để ta có thể tiến hành thao tác in
5 Làm việc với thư điện tử
Trong phần này ta thực hành công việc sau:
o Đăng kí hộp thư
o Xem thư
o Soạn và gửi thư
a) Đăng kí hộp thư
Ví dụ trên trang www.vnn.vn nháy chuột vào địa chỉ móc nối Checkmail trang
sau sẽ được tải về và hiển thị lên màn hình
xem thư Trang sau
đây sẽ được hiển
thị
Trang 12Theo chỉ dẫn trên trang này có thể :
Đọc các thư đã được gủi vào hòm thư
soạn thư và gửi
Tải các thông tin trong hòm thư về máy cá nhân để cất giữ
Các thao tác cần thực hiện: Cài đặt, thiết lập các thông số của phần mềm, thựchiện phần mềm trên máy của mình,…
Tập cho học sinh tìm kiếm và lấy về (download) một số phần mềm diệt virus.Các tình huống khi máy tính bị virus
Trang 13
Bài đọc thêm
SỰ RA ĐỜI VÀ NGUY HẠI CỦA VIRUS.
1949 Lý thuyết đầu tiên về các chương trình tự sao chép ra đời
1981 Apple II là những virus đầu tiên được phát tán thông qua hệ điều hành
của hãng "Apple", lây lan khắp hệ thống của công ty Texas A&M, thông qua các tròchơi ăn cắp bản quyền trên đĩa mềm Những người đầu tiên phát hiện còn gọi nó là
Elk Cloner 1983 Fred Cohen, một sinh viên đại học Mỹ, đã đưa ra định nghĩa đầu
tiên về virus: “Là một chương trình máy tính có thể tác động những chương trình
máy tính khác bằng cách sửa đổi chúng bằng phương pháp đưa vào một bản sao của nó” Fred Cohen luôn là cái tên được nhắc đến khi nói về lịch sử virus 1986 Hai
anh em lập trình viên người Pakistan là Basit và Amjad thay thế mã thực hiện(executable code) trong rãnh ghi khởi động của một đĩa mềm bằng mã riêng của họ,được thiết kế với mục đích phát tán từ một đĩa mềm 360 K khi cho vào bất cứ ổ đĩanào Loại đĩa mềm mang virus này có mác “© Brain” Đây chính là những virus MS-
DOS xuất hiện sớm nhất 1987 Lehigh, một trong những virus file đầu tiên xâm nhập
các tệp lệnh command.com (virus này sau đó tiến hoá thành virus Jerusalem) Mộtvirus khác có tên IBM Christmas, với tốc độ phát tán cực nhanh (500.000 bảnsao/tiếng), là cơn ác mộng đối với các máy tính lớn (mainframe) của Big Blue trong
suốt năm đó 1988 Một trong những virus phổ biến nhất, Jerusalem, xuất hiện Được
kích hoạt vào các thứ Sáu ngày 13, virus này tác động file có đuôi exe và com, xoátất cả những ứng dụng chạy trong ngày hôm đó Cùng năm này, virus MacMag andthe Scores gây ra đợt bùng phát lớn đầu tiên trên các máy Macintosh Đây là cuộckhủng hoảng Internet đầu tiên khiến một số lượng lớn máy tính bị tê liệt Cũng từ đó,Trung tâm điều phối phản ứng nhanh (CERT) đã ra đời để đối phó với những sự cố
tương tự 1989 Xuất hiện chương trình Trojan có tên AIDS Virus này nổi tiếng vì có
khả năng khống chế giữ liệu giống như con tin Nó được gửi đi dưới dạng một chươngtrình thông tin về bệnh suy giảm hệ miễn dịch Khi được kích hoạt, AIDS sẽ mã hoá ổcứng của nạn nhân và yêu cầu người sử dụng phải nộp tiền nếu muốn được giải mã
1990 Symantec tung ra công cụ Norton AntiVirus, một trong những chương
trình diệt virus đầu tiên do một công ty lớn phát triển Thị trường trao đổi virus đầutiên (VX) được tung lên mạng từ Bulgaria Tại đây, các tin tặc có thể buôn bán mã và
giao lưu ý tưởng Cùng năm này, cuốn Sách đen về virus máy tính của tác giả Mark
Ludwig được xuất bản 1991 Tequila, một trong những virus phát tán dưới nhiều hình
dạng đầu tiên được phát hiện Những sâu loại này khiến cho việc xác định và truy
quét chúng trở nên khó khăn do sự thay hình đổi dạng sau mỗi lần lây nhiễm 1992.
Trong vòng 2 năm, người ta ghi nhận tổng số 1.300 virus đang tồn tại, tăng 420% sovới tháng 12/1990 Xuất hiện DAME (Dark Avenger Mutation Engine), một bộ công
cụ cho phép chuyển những virus thông thường thành những chương trình có khả năngthay đổi hình dạng Sau đó là VCL (Virus Creation Laboratory), công cụ sáng tácvirus thực sự đã ra đời Sự xuất hiện của virus Michelangelo làm dấy lên những lờicảnh báo về thiệt hại quy mô lớn trên toàn cầu, mặc dù cuối cùng những gì xảy ra
không như người ta lo ngại 1994 Trò lừa qua e-mail đầu tiên xuất hiện trong cộng
Trang 14đồng tin học Trò này cảnh báo người sử dụng về một loại virus có thể xoá toàn bộ ổcứng ngay khi mở e-mail có dòng chủ đề “Good Times” Mặc dù không gây thiệt hại
gì mà chỉ có tính chất doạ dẫm, trò lừa này vẫn tiếp tục xuất hiện trong chu kỳ từ 6
đến 12 tháng/lần 1995 Word Concept xuất hiện, tấn công các văn bản Microsoft Word và trở thành một trong những virus ghê gớm nhất vào giữa thập kỷ này 1996.
Baza, Laroux (virus macro) và một số virus Staog xuất hiện lần đầu tiên, tấn công các
file trong hệ điều hành Windows 95, chương trình bảng tính Excel và cả Linux 1998.
Không được đánh giá là nguy hiểm và chưa phát tán rộng, StrangeBrew là virus đầutiên lây nhiễm vào file Java Virus này sửa đổi các file CLASS để đưa một bản saocủa nó vào giữa mã file để có thể bắt đầu chạy một vùng virus Virus Chernobyl, haycòn gọi là CIH, phát tán rất nhanh qua các file exe Ngay như cái tên nó đã thể hiện,virus này có sức tàn phá khủng khiếp, không chỉ tấn công file mà cả chip trong máy bị
nhiễm 1999 Virus Melissa (W97M/Melissa) chạy một macro trong văn bản đính
kèm e-mail, gửi tiếp thư này tới 50 người khác sử dụng Outlook Virus này cũng lâynhiễm vào các văn bản Word và tiếp đó gửi chúng đi như những nội dung đính kèm.Melissa phát tán nhanh hơn bất kỳ virus nào từng xuất hiện trước đó, đạt tổng số 1triệu máy tính nạn nhân Bubble Boy là sâu máy tính đầu tiên không dựa vào việcngười nhận e-mail có mở file đính kèm hay không Chỉ cần thư được mở ra, nó vẫn sẽ
tự hoạt động Tristate là virus macro đa chương trình đầu tiên xuất hiện, tấn côngnhiều ứng dụng như Word, Excel và PowerPoint
2000 Love Bug, còn gọi là virus ILOVEYOU, phát tán qua OutLook (giống
như Melissa) trong một file đính kèm VBS và xoá hết các file MP3, MP2, và JPG
Nó còn ăn cắp và gửi tên người sử dụng và mật khẩu về cho tin tặc
W97M.Resume.A, một biến thể mới của Melissa, được tung ra, sử dụng một macro
trong Word để lây lan vào Outlook Virus Stage, giả dạng một e-mail với nội dung
ngộ nghĩnh về những giai đoạn đời người, lan rộng trên Internet Khác với nhữngvirus trước đó, nó ẩn trong một file đính kèm với một đuôi giả “.txt”, để dễ lừa ngườinhận mở file Cho đến nay, virus này không còn tác động nữa Các cuộc tấn công từchối dịch vụ bằng virus của hacker đã đánh bật khỏi mạng nhiều website như Yahoo,
eBay, Amazon,… trong nhiều giờ đồng hồ 2001 Nimda (vẫn được gọi là Quái vật đa
đầu) với sức mạnh kết hợp từ 5 loại virus với phương thức hoạt động khác nhau tấncông hàng trăm nghìn máy tính trên thế giới Đây là một trong những virus phức tạpnhất tới nay mà người ta xác định được Virus mang tên nữ hoàng quần vợt Nga AnnaKournikova, tự sao chép vào danh sách địa chỉ e-mail trong Microsoft Outlook vàmặc dù không gây hại nhiều, vẫn khiến các nhà phân tích lo sợ đây là một sản phẩmđược thiết kế từ công cụ hỗ trợ viết virus, nhờ đó những tin tặc ít kinh nghiệm lậptrình nhất cũng có thể chế tác các chương trình phá hoại Hàng loạt sâu mới xuất hiệnvới những cái tên như Sircam, CodeRed và BadTrans Sircam phát tán qua văn bản e-mail Internet CodeRed tấn công những trang web có khiếm khuyết và thậm chí cònlái hướng tấn công tới trang chủ của Phủ Tổng thống Mỹ Trong vòng 12 giờ đầu tiên,virus này đã xâm nhập 359.000 máy tính BadTrans là loại sâu được thiết kế để ăn cắp
mật khẩu và thông tin thẻ tín dụng 2002 David L Smith, tác giả của virus Melissa, bị
Trang 15kết án 20 năm tù Tháng 1, virus LFM-926 xuất hiện trong các file Shockwave Flash(.swf) với thông điệp mời tải phim (Loading.Flash.Movie) Liên tiếp phát hiện nhữngvirus sử dụng tên các nhân vật và nghệ sĩ nổi tiếng như Shakira, Britney Spears vàJennifer Lopez Klez, một ví dụ tiêu biểu của xu hướng gia tăng những loại sâu e-mail, viết đè lên file, tạo ra các bản sao ẩn của bản gốc và vô hiệu hoá nhiều công cụphòng chống thông thường Sâu Bugbear lần đầu tiên xuất hiện vào tháng 9, với tính
chất phức tạp và sử dụng nhiều phương thức lây lan 2003 Tháng Giêng, sâu
Slammer ra đời và đến nay vẫn được coi là loại virus có tốc độ phát tán nhanh nhất:75.000 máy tính chỉ trong 10 phút, tức là trong phút đầu tiên, trung bình cứ 8,5 giây,con số này lại được nhân đôi Virus Sobig ra đời và trở thành công cụ ưa thích củacộng đồng spam Những hệ thống máy tính bị nhiễm virus này trở thành trạm tiếp vậnphát tán thư không mời Nhiều kỹ thuật spam được sử dụng trong Sobig giúp nó gửi
đi lượng bản sao e-mail khổng lồ Tuy nhiên, sự kiện đáng chú ý nhất trong năm nay
là Blaster (còn có tên MBlast hay LoveSan), là một trong những loại virus có sức lâylan rất mạnh, nhắm vào máy tính sử dụng hệ điều hành Windows 2000 và XP Bắt đầuxuất hiện ngày 11/8, chỉ trong chưa đầy 1 tuần, Blaster đã xâm nhập ít nhất 300.000máy tính tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam Khi xâm nhập vào một máy tính bị lỗiWindows, Blaster tự động tải đoạn mã từ PC bị nhiễm trước đó để tự nhân bản và tiếptục phát tán Sau đó, nó tìm quét những máy tính khác có lỗ hổng tương tự và tấncông Những máy tính đã nhiễm, mỗi khi kết nối Internet được vài phút liền bịshutdown tự động
Các thuật ngữ chính
Mạng máy tính, máy chủ, máy khách, giao thức truyền thông, mạng cục bộ,mạng diện rộng, Internet, TCP/IP, WWW, Trang Web, trình duyệt Web, E-mail
Câu hỏi
1 Việc kết nối các máy tính nhằm mục đích gì?
2 Hãy mô tả các dạng cơ bản của kiểu cấu trúc của mạng máy tính.
3 Hãy phân biệt máy chủ với máy khách.
4 Giao thức truyền thông là gì?
5 Địa chỉ IP làm gì?
6 Hãy nêu sự khác nhau và sự giống nhau của các mạng LAN và WAN.
7 Hãy kể tên các dịch vụ cơ bản của Internet Em có sử dụng dịch vụ nào
không ?
Trang 16vụ quốc phong Mĩ đã thành lập cơ quan dự án nghiên cứu các vấn đề cao cấp thuộc
bộ quốc phòng mĩ nhằm phát triễn khoa học và công nghệ cao phục vụ cho quân sư
Năm 1969 bộ quốc phong Mĩ đã xây dựng dự án ARPANET để nghiên cứulĩnh vực mạng, theo đó các máy tính được liên kết với nhau và có khả năng tự địnhđường truyền tin ngay sau khi một phần mạng đã bị phá huỷ trong một cuộc chiếntranh
Năm 1972 diễn ra hội nghị quốc tế về truyền thông máy tính Ở đó Bob Kahn
đã trình diễn mạng ARPANET, liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí giao tiếp giữacác trạm cuối Cũng năm nay nhóm InterNET Working Group do Vinton Cerf làmchủ tịch để đáp ứng nhu cầu thiết lập giao thức bắt tay Năm 1972 cũng là năm RayTomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng Suốt hai mươi nămliền, E-mail là một trong những dịch vụ được dùng nhiều nhất
Năm 1973, các trường đại học của Anh và của Na Uy kết nối vào ARPANET.Cũng vào thời gian đó ở đại học Harvard, Bod metcalfe đã phác hoạ ra ý tưởng vềEthenet và Bob Kahn đưa ra vấn để Internet, khởi đầu chương trình nghiên cứu lênmạng tải ARPA Tháng 9/1973 Vinto cerf và Bob Kahn trình bày ý tưởng của Internet
Đó là những nét chính của giao thức TCP/IP
Năm 1974 BBN đã xây dựng giao thức ứng dụng Telnet cho phép máy tính sửdụng từ xa
Năm 1976 AT & T Labs phát mịnh ra dịch vụ truyền thông qua mạng FTP.Tháng 7/1977 lần đầu tiên trình diễn ARPANET /Packet Radio Net/SATNETtheo giao thức Internet
1978 Tom Truscott và Steve Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho nhữngngười sử dụng UNIX.Mạng USENET là một trong những mạng phát triển sớm nhất
và thu hút nhiều người nhất Trên USENET hình thành dich vụ New groups là mộttrong những dịch vụ phát triển mạnh mẽ của Internet sau này
Năm 1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình INTERNET
Năm 1981 mạng CSNET do nhiều nhà khoa học máy tính phối hợp và cáctrường đại học Csnet cung cấp các dịch vụ mạng cho các nhà khoa học ở các trườngđại học mà không cần truy cập vào mạng Arpanet Csnet sau này được xem như mạngphục vụ cho khoa học và máy tính
Năm 1982 giao thức TCP và IP được DAC và ARPA dùng đối với mạngARPANET Sau đó TCP/IPđược chon là giao thức chuẩn, kết nối trực tiếp giữa các
Trang 17nước Hà Lan, Đan Mạch, Thuỷ Điển và Anh được thực hiện tiếp theo đó truy cập vàoARPANET đựoc miễn phí.
Năm 1983 ARPANET được tách ra thành ARPANET và MILNET MILNETtích hợp cùng mạng dữ liệu quốc phòng ARPANET trở thành một mạng nhân sự Banhoạt động Internet ra đời Cũng vào năm này, quỹ khoa học quốc gia Mĩ NSF tài trợcho việc xây dựng NSFnet
Thời kì bùng nổ lần thứ nhất của Internet
Năm 1986 Mạng NSFnet chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máytính đây cũng là năm có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là các trường đại học Như vậy làNSF và ARPANET song song tồn tại theo cùng một giao thức, có kết nối với nhau
Năm 1987 phiên bản 2 NSFnet ra đời với 100.000 máy tính tham gia, 3.400trung tâm nghiên cứu được kết nối, tốc độ truyền 45 triệu bít/giây
Năm 1988 một số vùng của Canada, Đan mạch, Phần Lan, Pháp, Na uy, ThuỷĐiển nối vào NSFnet
1989 số lượng máy chủ vượt quá 100000, mạng Êunt và AUSIBnet gia nhậpmạng Internet Đức, I-xra-en, Ý, Mêhicô, Hà lan, Niu-di-lân, pu-éc-tô, Ricô, UK(Vương quốc Anh) nối vào NSFnet, nhưng các doanh nghiẹp không được sử dụngNSFnet, tuy nhiên họ có thể tham gia mạng ARPANET
Năm 1990, với tư cách là một dự án ARPANET ngưng hoạt động nhưng mạng
do NSF và ARPANET tạo ra được sử dụng trong mục đích dân dụng, đó chính là tiềmthân của mạng Internet ngày nay Một số hãng lớn bắt đầu tổ chức kinh doanh trênmạng, trong đó có mạng AOL nổi tiến hiện nay Các nước Ác-hen-ti-na, Áo, Bỉ, Chi
Lê, Ấn Độ, Ai-Len, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ nối vào NSFnet
Đến lúc này đối tượng sử dụng Internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu vàdịch vụ phổ biến nhất là E-mail và FTP Internet chưa phải là một phương tiện đạichúng
Bùng nổ lần thứ 2 với sự xuất hiện của WWW
Năm 1991 Tim Berners Lee ở trung tâm nghiên cứu điện tử châu âu phát minh
ra World Wide Web dựa theo ý tưởng về siêu văn bản đươc Ted Nelson đưa ra từ năm
1985 Có thể nói đây là một cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể tra cứumột cách dễ dàng các thông tin
Cũng vào thời gian này NSFnet backbone được nâng cấp đạt tốc độ 44736Mbps NSFnet truyền một tỷ tỷ Byte/tháng và mười tỷ gói tin/một tháng Các nướcCrô-a-ti-a, Séc, Hồng Kông, Hung-Ga-Ri, Bồ Đào Nha, Xin-Ga-Po, Nam phi, ĐàiLoan, Tuy-Ni-Di nối vào NSFnet
Năm 1992 Internet Society bước vào hoạt động, số lượng máy chủ vượt quacon số 100.0000 IAB trở thành một thành phần Internet Society Các nước Cam-Mơ-
Trang 18Ru, Síp, Ê-cu-a-đo, Ê-xtô-ni-a, Cô-oét, Lát-vi, Luých-Xăm-Bua, Malaysia, Xlôvakia,Thailand, Vênêxuêla, nối vào NSFnet.
Năm 1993 NSF cho ra đời InterNIC, cung cấp các dịch vụ Internet như: dịch
vụ về cơ sở dữ liệu và thư mục, dịch vụ đăng kí , dịch vụ thông in, liên hiệp quốc trựctuyến Các nước Bun-Ga-Ri, Côxtarica, nối vào mạng NSFnet, nâng tổng số cácnước tham gia mạng Internet lên hơn 59 quốc gia
Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thốngnhất dụng giao thức TCP/IP và bỏ yêu cầu chỉ dùng chuẩn OSI WWW đã trở thànhdịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FTP Những hình ảnh Video đầu tiên đượctruyền từ trên mạng Internet
Năm 1995 NSF kết thúc việt tài trợ và NSFnet thu lại thành một mạng nghiêncứu Trong ba tháng WWW vượt trội hơn FTP và trở thành một dịch vụ có sự lưuthông lớn nhất căn cứ trên số lượng gói tin truyền và số Byte truyền Các hệ thốngquay số trực tiếp truyền thống như Compurserve, AmericanOnline, Prodigy bắt đầukhả năng tiếp cận mạng Internet Số các máy tính kết nối với mạng Internet là khoảng3.2 triệu với 42 triệu người dùng từ 42.000 mạng máy tính khác nhau trên 84 nướctrên toàn thế giới
Triển lãm Internet 1996 World Exposition là triễn lãm thế giới đầu tiên trênmạng Internet
Tính đến 7/1997 đã có 171 nước tham gia Internet với 19.500.000 máy chủ kếtnối vào mạng
Hiện nay có hơn 300 triệu người dùng Internet thường xuyên Dự tính đến
2004 sẽ có 900 triệu người sử dụng Internet
Chính Internet là môi trường thông tin chờ đợi Điều mà kĩ thuật còn tiếp tụcphải giải quyết năng lực truyền thông của các mạng viễn thông công cộng Đó là nộidung kĩ thuật của cái gọi là “Siêu xa lộ thông tin” mà các nước phát triển đang đầu tưquyết liệt Trong các nước phát triển, nhờ Internet mà các dịch vụ tại nhà như giáodục từ xa, mua hàng, tư vấn y tế, và rất nhiều điều khác trở thành hiện thực Người tathấy rằng Internet nhân gấp bội hiệu quả lao động trí tuệ của con người Hầu hết cácnước miễn phí cho sinh viên, cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học (phí ở đây bao gồmchi phí đường truyền - thường là các công ti bưu điện chủ và phí khai thác các cơ sở
dữ liệu - vì phải có chi phí tạo ra thông tin đưa lên máy)
Internet ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu thử nghiệm kết nối với Internet từ năm 1992 Đến năm 1997Việt Nam chính thức tham gia Internet Chính phủ đã ra nghị định 21/CP về quy chế
sử dụng Internet Theo đó có năm chủ thể tham gia Internet:
IAP (Internet Access Provider) - người cung cấp dịch vụ đường truyền để kết
nối với Internet, quản lí cổng (gateway) nối với quốc tế
Trang 19Hiện nay đơn vị duy nhất được làm IAP là Công ti Dịch vụ truyền số liệu VDCthuộc Tổng Công ti Bưu chính Viễn thông.
Các ISP (Internet service Provider) - người cung cấp các dịch vụ Internet.
Các ISP phải thuê đường và cổng của một IAP Các ISP có quyền kinh doanh thôngqua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Inter net cho các tổ chức và cá nhân
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ISP, ví dụ :
Công ti dịch vụ truyền số liệu VDC của Tổng Công ti Bưu chính Viễnthông là ISP lớn nhất;
Công ti FPT thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường;
thực hiện kết nối Internet;
SaiGon Postel là công ti cổ phần bưu điện của TP Hồ Chí Minh;
Viễn thông quân đội VietTel;
Viễn thông điện lực;
;
Các ISP dùng riêng
Các ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ Internet Điềukhác nhau duy nhất giữa ISP và ISP dùng riêng là ISP dùng riêng không cung cấpdịch vụ Internet với mục đích kinh doanh Đây là loại hình dịch vụ Internet của các cơquan hành chính, các trường Đại học hay Viện nghiên cứu
Các mạng dùng riêng phải cung cấp dịch vụ thông qua một ISP nào đó Mạngcủa Trung Tâm khoa học và Kĩ thuật hạt nhân là ISP dùng riêng đầu tiên ở Việt Nam.Hiện nay, ở Việt Nam đã có hàng chục ISP dùng riêng
Các ICP (Internet Content Provider)
Đây là các nhà cung cấp thông tin lên mạng Internet Các ISP có thể đòng
thời là ICP Một số ICP không có tjiết bị, họ có thể dặt máy chủ cung cấp thông tintrong mạng của một ISP
Thuê bao Internet : Người dùng chỉ cần thoã thuận với một ISP hay một ISP
dùng riêng nào đó về các dịch vụ được sử dụng và thủ tục thanh toán Tính tới cuốinăm 2001 có khoảng 800.000 người đăng kí sử dụng Internet Đó là chưa kể nhữngngười truy cập tự do qua đường điện thoại, trả tiền trực tiếp như dịch vụ giá trị giatăng của dịch vụ điện thoại
Một việc không kém phần quan trọng để thực hiện đầy đủ quyền quản lí nhànước đối với Internet là quản lí địa chỉ và tên miền (tên trên Internet) cho các cơ quan,
tổ chức tai Việt Nam Chính phủ tổ chức Trung tâm thông tin mạng Việt Nam(VNNIC) với các chức năng chính là :
Trang 20 Làm đầu mối quốc tế về các vấn đề địa chỉ IP và tên miền;
Quản lí tên miền vn và các tên miền dưới cấp 2 các tên miền docác ISP cấp đến cấp 3;
nhiều hạn chế Ngày 23/08/2001, Chính phủ ra nghị định 55/2001/NĐ-CPthay thế cho nghị định 21/CP trước đây với nhiều thay đổi trong đó có bổsung các chủ thể sử dụn Internet Theo gnhị định này:
Mọi thành phần kinh tế đều có thể trở thành các nhà cung cấpdịch vụ Internet;
Ngoài 5 chủ thể nêu trên có thêm một số chủ thể mới bao gồm :
1 Các doanh nghiệp phục vụ kêt nối gọi là IXP; 2 Các doanh nghiệpcung cấp dịch vụ ứng dụng Internet OSP;
Mở toàn bộ các cổng dịch trước đây bị khoá
Rõ ràng là trong một tương lai gần, Internet sẽ có một vai trò to lớn tại ViêtNam Đối với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo, Internet sẽ là một phương tiện trao đổi
rẻ tiền, nhanh chóng và tiện lợi Internet cũng sẽ là một phương tiện giáo dục và giảitrí đến từng gia đình Đối với các công ti sản xuất và thương mại, Internet sẽ là mộtphương tiện giao tiếp với khách hàng Đó là chưa kể đến các diễn đàn mà mội có nhânđều có thể tìm thấy những lợi ích của mình trong công việc và cuộc sống thườngngày
Trang 21CHƯƠNG II
THIẾT KẾ WEB
Chương này trình bày cách tạo ra một trang web đơn giản mà chưa phải sử dụng một công cụ nào khác ngoài notepad
§ 4 THIẾT KẾ MỘT TRANG WEB ĐƠN GIẢN
Một trang Web thực chất chỉ là một tập tin văn bản dạng text (text file), tuynhiên khi đặt tên cho nó bạn cần chú ý là thay vì dùng phần đuôi thông thường là txtthì bạn phải dùng html hay htm Tập tin này còn được gọi là một tập tin HTML(HTML file) HTML là chữ viết tắt của HyperText Mark-up Language Để viết mộtHTML file chỉ cần dùng một phần mềm soạn thảo text (text editor), như Notepadtrong hệ điều hành Windows chẳng hạn Tất nhiên là khi viết bạn sẽ phải tuân theo cúpháp của HTML
Sau khi viết xong một trang Web, để mở nó ta dùng một phần mềm khác, gọi
là một trình duyệt web (web browser), chẳng hạn như Internet Explorer trong hệ điềuhành Windows Browser sẽ hiểu cú pháp HTML và hiển thị trang Web đó cho ngườiđọc
Nhiều công ty phần mềm đã sản xuất các phần mềm để giúp soạn thảo HTMLnhư FrontPage, Dreamweaver Khi dùng các phần mềm này hầu như không cần phảihọc cú pháp HTML Những phần mềm như FrontPage hay Dreamweaver chỉ giúp bạn
đỡ mất công gõ cú pháp HTML mà thôi
I Trang Web cơ bản
Để bắt đầu hãy mở Notepad (click Start, chọn Programs, vào Acessories vàchọn Notepad) và viết những dòng sau:
<HTML>
</HTML>
Mỗi nhóm ký tự bao gồm giữa các dấu <> được gọi là một tag Hầu hết cáctags đều đi thành từng cặp, mỗi cặp gồm tag mở đầu và tag kết thúc Để có tag kếtthúc, chỉ việc thêm ký tự / vào tag mở đầu Có thể viết các tag bằng chữ thường hoặcchữ hoa
Các tags là những thông điệp gửi tới web browser Trong trường hợp trênchúng ta vừa báo cho browser biết rằng đây là khởi đầu của một HTML file(<HTML>), và đây là kết thúc của file đó (</HTML>)
Bên trong các tags HTML lúc nào cũng phải có các tags HEAD:
<HTML>
<HEAD>
</HEAD>
</HTML>
Lưu ý là không được chừa khoảng trống giữa dấu < với tên của tag, giữa dấu <
với dấu /, hay giữa dấu / với tên của tag và áp dụng cho tất cả các tags
Trang 22Bên trong các tags HEAD là các tags TITLE:
Lưu tài liệu vừa soạn thảo vào file văn bản có phần đuôi là HTML
II Thay đổi nền của trang Web
Đoạn mã sau để đăt màu nền màu xanh:
<BODY BGCOLOR="#00FFFF">
Chao cac ban !
</BODY>
Trang Web của bạn trông sẽ như sau:
Chao cac ban !
BGCOLOR là một attribute (tính chất) của tag BODY, cho phép thay đổi màunền của trang Web (BGCOLOR là chữ viết tắt của background color, là màu nền)
Lưu ý là luôn luôn có một khoảng trống giữa BODY và
BGCOLOR Điều này cũng áp dụng cho mọi tags khác và cácattributes của chúng
Trong ví dụ trên #00FFFF là mã số của màu xanh da trời
Trang 23Ta cũng có thể dùng một ảnh làm nền cho trang Web Sau đây là một ví dụ thay
Khi đó bạn nhớ là phải thêm đường dẫn tới ảnh nền như sau:
<BODY BACKGROUND="hinhanh/swirlies.gif">
Chao cac ban !
</BODY>
III Định dạng văn bản
1 Xuống dòng, phân đoạn:
Mở file vừa viết ở trên thêm phần text sau đây:
<BODY BGCOLOR="#CCFFDD">
Chao cac ban !
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Trang Web mới của chúng ta:
Chao cac ban ! Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi!
Cú pháp HTML quy định là mỗi khi muốn xuống dòng bạn phải nói rõ cho browser biết bằng cách dùng tag <BR> (viết tắt của chữ Break) Ta thêm tag đó như sau:
<BODY BGCOLOR="#CCFFDD">
Chao cac ban !<BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Ghi lại các thay đổi vừa rồi và nhấn nút Refresh trong Internet Explorer, trang Web của bạn trông sẽ như thế này:
Trang 24Chao cac ban !
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
Tag <BR> chỉ đứng một mình cuối dòng chứ không có tag kết thúc </BR> Muốn phân đoạn phải báo cho browser biết bằng cách bọc mỗi đoạn văn trong các tags <P></P> (viết tắt của chữ Paragraph) như sau:
<BODY BGCOLOR="#CCFFDD">
<P>Chao cac ban !</P>
<P>Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !</P>
</BODY>
Vẽ thêm một đường ngang ngăn cách hai đoạn văn với tag <HR> như sau (HR
là chữ viết tắt của Horizontal Ruler):
Trang 253 Sắp xếp nội dung:
Nhiều khi bạn cần sắp xếp nội dung thành nhiều đoạn như trong một danh sáchhay một bảng liệt kê Khi đó bạn phải dùng các tags <UL></UL> (Unordered List, danh sách không thứ tự) hay <OL></OL> (Ordered List, danh sách có thứ tự) như trong ví dụ sau:
<LI>Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !</LI>
<LI>Welcome to my Website !</LI>
Cách thức các tags được lồng vào nhau đều có ý nghĩa rõ ràng:
<UL></UL> được lồng vào trong <P></P> vì List của chúng ta nằm trong một Paragraph
<P></P> lại được lồng vào trong <DIV ALIGN="RIGHT"></DIV> vì chúng ta muốn ép cả Paragraph này sang phải
Thông thường font chữ dùng để hiển thị trang Web được lựa chọn sẵn trongweb browser Nhưng ta cũng có thể dùng font chữ do chúng ta quy định, tất nhiên vớiđiều kiện là máy tính dùng để coi trang Web của bạn phải có font chữ đó
Trang 26Để quy định một font chữ dùng trên toàn bộ trang Web của mình, bạn có thểdùng tag <BASEFONT> Hãy mở trang khuon.html trong Notepad và thêm phần text
có màu đỏ sau:
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC">
<BASEFONT FACE="ARIAL">
Chao cac ban !<BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Chao cac ban !
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
Chúng ta đã dùng tag <BASEFONT> với attribute là FACE="ARIAL" để địnhloại font là Arial Tag <BASEFONT> chỉ đứng một mình chứ không có tag kết thúc Cũng có thể quy định cỡ chữ trong <BASEFONT> với attribute SIZE="n",trong đó n là một số nguyên trong khoảng từ 1 cho đến 7, còn nếu không định rõ cỡchữ thì browser sẽ tự động dùng cỡ chữ là 3
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC">
<BASEFONT FACE="ARIAL" SIZE="4">
Chao cac ban !<BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Trong <BASEFONT> còn có attribute COLOR="#nnnnnn", trong đó
#nnnnnn là mã số màu, dùng để định màu chữ trong trang Web
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC">
<BASEFONT FACE="ARIAL" SIZE="4" COLOR="#339900">
Chao cac ban !<BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Tag <BASEFONT> quy định kiểu chữ dùng trong cả trang Web Tuy nhiên,trong từng câu từng đoạn ta vẫn có thể thay đổi kiểu chữ được Muốn vậy, hãy dùngtag <FONT></FONT> để bao câu hay đoạn văn ấy lại Ví dụ:
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC" >
<BASEFONT FACE="ARIAL" SIZE="4" COLOR="#339900">
<FONT FACE="COURIER NEW">Chao cac ban !</FONT><BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Font chữ trong câu thứ nhất đã được thay đổi từ Arial thành Courier New,nhưng phần còn lại của trang Web vẫn dùng font Arial, là font quy định bởi
<BASEFONT>
Trang 27Do không định cỡ chữ trong FONT, nên browser dùng giá trị quy định trong
<BASEFONT> là 4 Nếu dùng attribute SIZE="+1" thì cỡ chữ được tăng thêm mộtmức so với cỡ chữ quy định trong <BASEFONT>, tức là bằng 5
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC" >
<BASEFONT FACE="ARIAL" SIZE="4" COLOR="#339900">
<FONT FACE="COURIER NEW" SIZE="+1">Chao cac ban !</FONT><BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
Ta cũng có thể định màu chữ trong FONT với attribute COLOR="#nnnnnn"
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC" >
<BASEFONT FACE="ARIAL" SIZE="4" COLOR="#339900">
<FONT FACE="COURIER NEW" SIZE="+1" COLOR="#FF9900">Chao cac ban
!</FONT><BR>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
</BODY>
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
Có thể viết chữ nghiêng (Italic), chữ in đậm (Bold) hay gạch dưới (Underlined) với
các tags <I></I>, <B></B> và <U></U>
<BODY BGCOLOR="#FFFFCC">
<BASEFONT FACE="ARIAL" SIZE="4" COLOR="#339900">
<FONT FACE="COURIER NEW" SIZE="+1" COLOR="#FF9900"><B>Chao cac ban
!</B></FONT><BR>
<U>Chuc mung</U> cac ban den voi <B><I>trang Web</I></B> cua toi !
</BODY>
Chao cac ban !
Chuc mung cac ban den voi trang Web cua toi !
Trang 28Để viết tiếng Việt, ta dùng một bộ gõ tiếng Việt như VietKey để soạn thảo bìnhthường trong NotePad Tuy nhiên, bạn cần chú ý hai điều sau đây:
Nếu dùng font Unicode thì khi Save bạn phải chọn kiểu Encoding là Unicode(trong dialog box Save As), còn với các fonts khác thì kiểu Encoding làANSI
Thêm tag <META> sau đây vào trong phần giới hạn giữa các tags
<HEAD></HEAD> của trang Web:
<META HTTP-EQUIV="Content-Type" CONTENT="text/html;
CHARSET=unicode">
nếu dùng font Unicode, hay
<META HTTP-EQUIV="Content-Type" CONTENT="text/html; defined">
Muốn trang trí trang Web của mình bằng hình ảnh Save ảnh sau đây vàofolder hinhanh, giữ nguyên tên ảnh là friends.gif:
Thêm vào phần text sau đây:
Trang 29<IMG SRC="hinhanh/party.gif" WIDTH="100" HEIGHT="50">
</BODY>
2 Chèn âm thanh
Muốn chèn âm thanh vào cần phải có các điều kiện sau:
Máy tính bạn đang dùng phải có sound card và loa
Ngoài ra, browser phải có plug-in (phần mềm gắn thêm vào) để chơi cácaudio files
Ví dụ:
<BODY BGCOLOR="#FFFFFF">
<IMG SRC="hinhanh/friends.gif" WIDTH="90" HEIGHT="40"> Chào các bạn !
<IMG SRC="hinhanh/party.gif" WIDTH="100" HEIGHT="50">
<IMG SRC="hinhanh/friends.gif" WIDTH="90" HEIGHT="40"> Chào các bạn !
<IMG SRC="hinhanh/party.gif" WIDTH="100" HEIGHT="50">
Khi dùng có thể bấm nút play trên toolbar để nghe bản yelowros.mid
Chúng ta đã dùng tag <EMBED> để đưa âm thanh vào trang Web Các attributes(thuộc tính) trong đó có nghĩa như sau:
SRC Chữ viết tắt của Source, tức là nguồn Bạn dùng attribute này để xác định nguồn audio(đường dẫn và tên file) WIDTH, HEIGHT Xác định chiều rộng và chiều cao bằng pixels của hình ảnh toolbar Tùy loại plug-in, cóthể bạn phải thay đổi giá trị của chúng để hình ảnh toolbar trông đẹp hơn AUTOPLAY Chơi tự động Bạn dùng AUTOPLAY="false" để plug-in không tự động nghe nhạc khi
người xem mở trang Web ra Còn nếu muốn ngược lại thì bạn dùng
Trang 30AUTOPLAY="true"
CONTROLLER Bộ điều khiển Bạn dùng CONTROLLER="true" để browser hiển thị toolbar điều khiển
của plug-in Nếu không muốn như vậy thì bạn dùng CONTROLLER="false"
LOOP Lập đi lập lại Bạn dùng LOOP="false" để plug-in không lập đi lập lại bản nhạc Nếu
muốn ngược lại thì bạn dùng LOOP="true"
Có trường hợp khi mở một trang Web ra bạn nghe ngay một bản nhạc, điệunhạc này cứ lập đi lập lại suốt thời gian bạn coi trang Web Đó là nhạc nền
Ví dụ, nếu chọn bản yelowros.mid trên đây làm nhạc nền bạn hãy viết dòngsau đây vào đâu đó trong phần <BODY></BODY> của trang Web
<EMBED SRC="midi/yelowros.mid" AUTOPLAY="true" CONTROLLER="false"
LOOP="true">
Muốn đưa một đoạn phim (video clip) vào trang Web của mình Cách làm vàđiều kiện của máy tính cũng tương tự như với âm thanh Ví dụ:
<BODY BGCOLOR="#FFFFFF">
<IMG SRC="hinhanh/friends.gif" WIDTH="90" HEIGHT="40"> Chào các bạn!
<IMG SRC="hinhanh/party.gif" WIDTH="100" HEIGHT="50">
Ví dụ:
<BODY BGCOLOR="#FFEEFF">
Mời bạn đến thăm <A HREF="trang01.html">trang Web của tôi</A> !
</BODY>
Trang Web mới sẽ thể hiện như sau:
Mời bạn đến thăm trang Web của tôi !
Khi click lên liên kết đó bạn sẽ được đưa tới trang01.html (Ở đây giả sử ta choliên kết trang web của tôi đến trang01) Để biến một phần text nào đó thành một liênkết bạn chỉ cần đặt phần text ấy vào giữa các tags <A></A> A là chữ viết tắt củaAnchor, nghĩa là cái neo Tại đó chúng ta đã "bỏ neo" cho một trang khác
Trang 31Trong tag <A> bạn dùng attribute HREF để cho biết đường dẫn và tên củatrang Web mà liên kết sẽ đưa tới HREF là chữ viết tắt của Hypertext Reference, tức làmột tài liệu tham khảo dạng hypertext
Tương tự như trên, bạn cũng có thể tạo một liên kết tới một địa chỉ trên mạngInternet Trong phần file nguồn ta thêm đoạn mã sau:
<BODY BGCOLOR="#FFEEFF">
Mời bạn đến thăm <A HREF="trang01.html">trang Web của tôi</A> !<BR>
Go to <A HREF="http://www.yahoo.com/">Yahoo</A> !
</BODY>
Ghi lại thay đổi vừa rồi và nhấn nút Refresh trong cửa sổ Internet Explorer ta sẽ thấy:
Mời bạn đến thăm trang Web của tôi !
Go to Yahoo !
Nếu máy tính đang nối mạng thì khi click vào liên kết thứ hai sẽ đưa bạn tớiwebsite nổi tiếng Yahoo Trong attribute HREF hãy chú ý cách viết một địa chỉInternet, luôn luôn có http:// đi trước tên của website Một địa chỉ Internet như thếđược gọi là một URL, là chữ viết tắt của Uniform Resource Locator
Địa chỉ http://www.yahoo.com.vn trong đó http:// là giao thức (phươngthức giao tiếp); www: dịch vụ web; yahoo.com.vn: tên miền tại vn
Muốn mọi người gửi thư đến cho chúng ta, thêm vào đoạn mã:
Trang Web của bạn sẽ trở thành:
Mời bạn đến thăm trang Web của tôi !
Go to Yahoo !
Hãy gửi thư cho tôi !
Nếu máy tính của mình đã cài đặt để dùng e-mail thì click lên liên kết thứ ba sẽlàm xuất hiện phần mềm viết e-mail, qua đó ta có thể viết và gửi thư cho địa chỉ nêutrong attribute HREF
Ngoài các công cụ trên, chúng ta có thể tạo ra các biểu bảng như trong phầnmềm soạn thảo MS Word, tuy nhiên chúng ta phải dùng các thẻ và thuộc tính tương